Friday, January 2, 2015

Đã biết vô thường sao còn phiền não?

Bạn hiền,

Đời này tranh đấu là vì cái gì? Tất bật lo toan, bon chen cuộc sống cầu mong tiền tài vật chất danh vọng là vì cái gì? Yêu đương cuồng nhiệt, hờn ghen, oán giận đến mức tự làm hại bản thân và người khác cuối cùng là vì cái gì?

Con người đến với cuộc đời này có 2 bàn tay trắng, mà rời khỏi thế gian cũng hai bàn tay trắng, mang theo được gì? Một người tung hoành ngang dọc cả cuộc đời, danh vọng tiếng tăm lừng lẫy đến khi qua đời cũng giống như một người ăn mày ngoài phố, tay trắng vẫn là tay trắng. Tình cảm cũng thật vô thường, có lúc cuồng dại , có lúc lại lạnh băng đến tàn nhẫn. Vẫn biết là thay đổi, sao lòng vẫn cứ níu kéo? Mà chính cái níu kéo đó gây nên đau khổ vô cùng. Vẫn biết là đau khổ, vẫn biết là nhẫn tâm, vẫn biết đến cuối cùng tất cả chỉ là phù du, sao vẫn cố chấp?

Biết bạn là đạo Thiên Chúa, những lý lẽ Phật Pháp này có thể nghe lạ lẫm; vậy xin trích một đoạn tâm sự của Trịnh Công Sơn mà an ủi bạn vậy:

“Càng yêu ta càng thấy: có tình yêu thì khó mà mất tình thì quá dễ. Hôm qua mới yêu nhau đấy, hôm nay đã mất rồi. Mất sạch như người đi buôn mất hết vốn liếng. Cứ tự an ủi mình khi nghĩ rằng mình đau khổ thì có một kẻ khác đang hạnh phúc. Và biết đâu cái thời gian mình được yêu thì một người khác cũng đang đau khổ vô cùng. Nghĩ thế thì thấy cuộc đời bỗng nhẹ nhàng hơn và cũng dễ tha thứ cho nhau. Sống mà giữ mãi trong lòng những hờn oán thì cũng nặng nề.

Có người bỏ cuộc đời mà đi như một giấc ngủ quên. Có người bỏ cuộc tình mà đi như người đãng trí. Dù sao cũng đã lãng quên một nơi này để đi về một chốn khác. Phụ đời và phụ người hình như cũng vậy mà thôi. Người ở lại bao giờ cũng nhớ thương một hình bóng mình đã mất. Khó mà quên nhanh, khó mà xóa đi trong lòng một nỗi ngậm ngùi.

Tưởng rằng có thể quên dễ dàng một cuộc tình nhưng hóa ra chẳng bao giờ quên được. Mượn cuộc tình này để xóa cuộc tình kia chỉ là một sự vá víu cho tâm hồn. Những mảnh vá ấy chỉ đủ để làm phẳng lặng bên ngoài mà thôi. Mỗi một con người vì ngại chết mà muốn sống. Mỗi một con người vì sợ mất tình mà giữ mãi một lòng nhớ nhung. Cuối cùng thì lòng yêu thương cuộc sống cũng không giữ lại đời người. Cuối cùng thì tình yêu không giữ được người mình yêu…”(*)

Mong bạn mở lòng, đón tiếp những cơ hội mới. Cái gì nên thay đổi thì hãy thay đổi, biết đâu trong cái thay đổi đó bạn sẽ tìm được cái mãi mãi của chính mình.
Nguồn: akira147.wordpress.com


Càng sống nhiều ta càng thấy cái chết dễ dàng đến với bất cứ một ai. Chết quá dễ mà sống thì quá khó. Hôm qua gặp nhau đấy, ngày mai lại mất nhau. Sống thì có hẹn hò hôm nay hôm mai. Chết thì chẳng bao giờ có một cuộc hẹn hò nào trước. Một buổi sáng cách đây bốn năm, lúc tôi đang ngồi uống rượu với bạn, mẹ tôi bảo: "Mạ đi chơi chút nghe".  Thế rồi một giờ sau tôi được điện thoại báo tin mẹ tôi đã mất tại nhà người bạn.

Nhạc sĩ Xuân Hồng cũng đã từ biệt chúng tôi như thế. Không kịp nói một lời, không kịp đưa tay vẫy chào bạn bè, vẫy chào cuộc sống. Thế kỷ 21 thế mà cũng khó đến được dù chỉ còn mấy năm.

Càng yêu ta càng thấy: có tình yêu thì khó mà mất tình thì quá dễ. Hôm qua mới yêu nhau đấy, hôm nay đã mất rồi.  Mất sạch như người đi buôn mất hết vốn liếng. Cứ tự an ủi mình khi nghĩ rằng mình đau khổ thì có một kẻ khác đang hạnh phúc. Và biết đâu cái thời gian mình được yêu thì một người khác cũng đang đau khổ vô cùng. Nghĩ thế thì thấy cuộc đời bỗng nhẹ nhàng hơn và cũng dễ tha thứ cho nhau. Sống mà giữ mãi trong lòng những hờn oán thì cũng nặng nề.

Có người bỏ cuộc đời mà đi như một giấc ngủ quên. Có người bỏ cuộc tình mà đi như người đãng trí. Dù sao cũng đã lãng quên một nơi này để đi về một chốn khác. Phụ đời và phụ người hình như cũng vậy mà thôi. Người ở lại bao giờ cũng nhớ thương một hình bóng mình đã mất. Khó mà quên nhanh, khó mà xóa đi trong lòng một nỗi  ngậm ngùi.

Tưởng rằng có thể quên dễ dàng một cuộc tình nhưng hóa ra chẳng bao giờ quên được. Mượn cuộc tình này để xóa cuộc tình kia chỉ là một sự vá víu cho tâm hồn. Những mảnh vá ấy chỉ đủ để làm phẳng lặng bên ngoài mà thôi. Mỗi một con người vì ngại chết mà muốn sống. Mỗi một con người vì sợ mất tình mà giữ mãi một lòng nhớ nhung.

Cuối cùng thì lòng yêu thương cuộc sống cũng không giữ lại đời người. Cuối cùng thì tình yêu không giữ được người mình yêu...

Trịnh Công Sơn(1996)
Và bạn có thể xem trang Thơ Văn của Trịnh Công Sơn TẠI ĐÂY

Thursday, January 1, 2015

Kiếm sống và … gì nữa

Có thể thấy mối tương quan giữa đời sống văn hóa xã hội và đời sống kinh tế trong xã hội hiện nay. Chính trong một cuộc sống nhiều khó khăn, thể chế xã hội không đủ bảo đảm các vấn đề an sinh, người ta phải tự lo cho mình và gia đình của mình, không chỉ vì cái ăn mà còn là sự tích lũy chính đáng.

Cái xã hội không tạo sự an tâm cho chính mình và quan tâm đến người khác làm cho người ta đi quá giới hạn của hành vi lao động để kiếm sống. Người ta lao vào kiếm sống bằng mọi giá và bằng mọi cách, quên cả nhân phẩm của chính mình và các tương quan xã hội. Cái cách vơ vét tất cả khi có thể, vì quyền lợi của mình bất chấp quyền lợi người khác, kể cả những lợi ích thiêng liêng của quốc gia và dân tộc…thì sẽ không từ một thủ đoạn nào: bon chen, xu nịnh, giả dối và sẵn sàng chà đạp người khác. Cái xu thế đó đang hình thành một lối ứng xử xu thời trong xã hội, hình thành nên một lớp người trong xã hội chỉ vì tiền, và đã góp phần làm băng hoại một thế hệ con người. Và khi một xã hội không có đạo đức, không thể xây dựng một xã hội lành mạnh vì dân sinh.

Đành rằng con người sinh ra là phải làm việc, người ta làm việc trước hết vì trách nhiệm với mình và gia đình mình, đó là trách nhiệm để một xã hội tồn tại. Lao động không phải là một lời nguyền rủa đối với thân phận con người “phải vất vả mới có cái để ăn”. Bạn cần nhìn thấy nơi đó mình được là mình, được suy nghĩ và sáng tạo, được làm người đúng nghĩa khi mình là chủ nhân của công việc mình đang làm. Nhờ lao động bạn hiểu được giá trị của những hạt mồ hôi, giá trị của chén cơm bạn đang ăn … bạn học được sự kiên nhẫn, sự hy sinh, những giá trị nhân văn ẩn chứa trong từng sự vật và cả sự mong manh của kiếp người. Nhờ lao động, bạn cũng có thể cảm nhận được giá trị của những hy sinh, sự đồng cảm với những cái nghèo, những thân phận “thiếu trước hụt sau”, những thân phận thiếu may mắn … mà cho dù có nhiều tiền đem cho bạn cũng không có được sự đồng cảm như vậy. Chính cái nhìn lao động không gì khác ngoài việc để kiếm sống đã dẫn tới những thái độ và cung cách làm việc như chúng ta thấy nhan nhản hiện nay.

“Vì nhân dân” hay “vì con người” hiện nay thực ra đang là một khẩu hiệu để mị dân không hơn không kém, để đổ lỗi cho những sai lầm hay để che đậy cho những thủ đoạn của mình.

Chỉ khi có những chính sách vì con người thực sự, mới trả con người về đúng môi trường của nó. Con người ở đây được hiểu với đầy đủ nhân phẩm, được sống và làm việc, không phải chỉ để quần quật kiếm miếng ăn, mà còn được phát huy những khả năng, được yêu thích trong nghề nghiệp, được làm chủ công việc và xã hội, được cảm nhận những giá trị cao quý từ sản phẩm mình làm ra, được chia sẻ và cảm thông với đồng loại, được thấy ích lợi mang lại cho xã hội từ những công việc mình làm…

Để có được một môi trường như thế, xã hội còn nhiều việc phải làm.

Miếng ăn

Miếng ăn có quan trọng không?

Họa có người điên mới bảo không quan trọng. Đói quá thì chân tay bủn rủn, mắt hoa, tai ù…, bởi thế Chúa mới bảo các môn đệ lo cho dân chúng ăn.

Miếng ăn quan trọng, bởi người ta cũng đã chứng kiến bao nhiêu sự hèn hạ và tội ác do đói mà ra.

Miếng ăn luôn là thách thức cho con người, có lẽ từ khi con người bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng với lời nguyền phải làm lụng vất vả mới có miếng mà ăn. Cho nên miếng ăn nó ám ảnh con người.

Không chỉ vì những miếng không hiểu có gọi là miếng ăn nữa không khi có những bát phở giá một triệu đồng hay một con cua giá năm triệu đồng.

Cho đến những quay cuồng bon chen, giành giật, tích lũy … đến mức không còn giờ ăn uống, nghỉ ngơi.

Khi đó miếng ăn cũng là miếng …nhục, khi chỉ vì miếng ăn mà đánh mất cả phẩm giá, tư cách con người mình.

Miếng ăn quan trọng, nhưng có quan trọng nhất đời mình không? Hay cũng để trả lời câu hỏi: sống để ăn hay ăn để sống?

Đừng dùng câu “có thực mới vực được đạo” để biện minh cho những lý do lao vào làm ăn kiếm sống, bất chấp đạo lý và không còn thì giờ chăm lo cho đời sống tinh thần và tâm linh của mình.

“Con người phải làm lụng vất vả mới có miếng ăn” không phải là lời nguyền. Đúng hơn đó là lời mời gọi trong việc cải tạo và biến đổi thế giới, xây dựng những giá trị tốt đẹp cho mình và cho người khác. Hơn hết là thấy mình được làm người hơn trong việc làm chủ thế giới qua những công việc đó.

Nên nếu có nhiều tiền gởi trong ngân hàng “ăn ba đời” không hết, thì cũng nên kiếm một công việc mà làm. Vì lao động không phải chỉ để kiếm miếng ăn, mà còn làm mình thành người hơn.

Đạo đức làm người: sống không làm khổ mình khổ người

Đạo đức không làm khổ mình khổ người đã được Đức Phật cách đây 2542 năm, Ngài đã dạy chúng ta học tập và tu sửa mỗi mỗi hành động thân, miệng, ý, đầy đủ những đạo đức và những đạo hạnh làm Người, làm Thánh Nhân.

Hành động sống của con người thật là người thì không còn mang bản chất hung ác của loài cầm thú nữa, thì đó mới thật là hành động “đạo đức nhân quả không làm khổ mình khổ người”, còn ngược lại, làm khổ cho nhau là những hành động của loài cầm thú, không có đạo đức.

Người thiếu giáo dục đạo đức về tư cách đi, đứng, nằm, ngồi thì cách thức ngồi nào họ cũng ngồi được cả, họ đâu biết rằng, con người vừa sanh ra thì cũng giống như một con thú vật, nếu không tập đi hai chân thì con người cũng đi bốn chân như con thú vật mà thôi; nếu không tập nói thì con người cũng chỉ biết kêu thét và la hú như con thú vật; nếu con người không tập luyện mỗi mỗi hành động của mình cho đúng tư cách làm người thì con người chỉ là con thú vật mà thôi. Cho nên muốn làm người không phải dễ, người xưa nói: “làm người khó! làm người khó !”

Đừng bảo rằng: “Trời sanh sao để vậy, sống tự nhiên cho khỏe hơn”, đó là sự hiểu sai, không đúng. Một cây kia nếu không được sự rong uốn thì cây kia cong queo trở thành vô dụng chỉ có làm củi mà thôi. Con người mà không học đạo đức khi sanh ra sống tự nhiên thì chẳng khác nào giống như một con thú vật. Bởi vậy, con người cần phải được giáo dục đạo đức toàn diện từ cách thức đi, đứng, nằm, ngồi, cho đến mọi cách thức ăn, nói, giao tiếp và xã giao với mọi người, không những đối với con người mà còn đối xử với tật cả loài cầm thú, lúc nào cũng phải lịch sự và lễ độ để tránh những hành động vô đạo đức vừa làm khổ mình làm khổ người và khổ chúng sanh. Đó là mọi hành động cách thức con người vượt ra khỏi những hành động của loài cầm thú để không còn làm khổ, giết hại và ăn thịt lẫn nhau nữa. Nhờ vượt thoát ra khỏi những hành động của loài cầm thú, nên không gây ra những hậu quả khổ đau sau này.

Vì thế chúng ta mới học đạo đức, nếu không ích lợi như vậy thì học đạo đức để làm gì? Nếu con người không chà đạp lên sự sống của nhau và không làm khổ đau cho nhau thì học đạo đức cũng chỉ bằng thừa mà thôi. Cho nên, đạo đức rất quan trọng cho đời sống của loài người trên hành tinh này.

Chính vì con người đã tự làm khổ mình và làm khổ người khác, nên nói có đạo đức không làm khổ mình khổ người ra đời để dạy cho con người thoát khổ, tức là thoát kiếp làm loài động vật hung ác, gian xảo, lừa đảo, điêu ngoa, xảo quyệt, v.v...

Đã không sanh ra làm người thì thôi, mà đã sinh ra làm người thì phải sống cho đúng tư cách đạo đức làm con người, chứ đừng sống như con thú vật, chỉ biết có đấu tranh vì miếng ăn, vì dục vọng, thì còn nghĩa lý gì là con người?

Con vật không có trí tuệ như con người, vì thế những hành động của loài vật thường xâu xé lẫn nhau vì miếng ăn, chỗ ở, vì ghen tuông, ganh tỵ, thù hận, v.v… Con người thì không lẽ như vậy được.

Bởi vậy, làm người phải có những hành động thật là con người, cho xứng đáng là con người, đừng sống theo kiểu nửa người nửa thú vật để biến sự sống trên hành tinh này thành cảnh địa ngục, luôn luôn tạo ra muôn vàn sự khổ đau cho nhau.

Làm người chúng ta phải hiểu rằng: là một con vật thì phải có những hành động của một con vật; là một con người thì phải có những hành động của một con người. và hiểu biết như vậy mới gọi là người hiểu biết. Nếu không vậy mà gọi con người có sự hiểu biết thì không đúng.

Hiểu biết cái gì?

Hiểu biết những hành động đạo đức không làm khổ mình, khổ người. Còn ngược lại, có những người hiểu biết rất nhiều, có trình độ học thức rất cao, có bằng tiến sĩ, có sự thông hiểu Tam Tạng Kinh Điển mà vẫn thiếu đạo đức, thường mang tự ngã, xem mình là trên hết nên thường làm khổ mình khổ người, thường nói xấu người khác, đổ tội cho người khác khi mình làm sai, làm lỗi, nhất là rất hèn hạ khi làm lỗi mà không dám nhận lỗi.

Sống còn tham ăn, tham ngủ như loài cầm thú thì những người ấy chưa được gọi là những người hiểu biết; những người ấy vẫn là những người còn vô minh mang đầy bản chất của loài thú vật.

Những hành động thân, miệng, ý không làm khổ mình khổ người là những hành động đạo đức mang đầy tính nhân bản. Cho nên hành động đạo đức không thể giống như những hành động của một con thú, hành động của một con thú không thể gọi là hành động đạo đức của một con người được, vì hành động của một con thú thường làm khổ cho nhau, giết hại lẫn nhau chỉ vì một miếng ăn rất nhỏ mọn, hèn hạ, đê tiện, v.v…

Thế mà, trong đời sống hằng ngày, chúng ta đã chứng kiến biết bao nhiêu hành động của con người thiếu đạo đức, tranh giành, chà đạp lên nhau và giày xéo lẫn nhau, chỉ vì miếng cơm, manh áo và những vật chất tầm thường, đã biến con người mất hết đạo đức và lương tri để trở thành những con thú vật mang hình người. Nhưng cũng có những con thú vật lại có những hành động đạo đức, không khác gì con người, đó là những con người còn mang lớp thú; nhưng cũng có những con người có những hành động như con thú, thiếu đạo đức, gian tham, xảo quyệt, lừa đảo, hung dữ, ganh tỵ ,tật đố, sân hận, thù hằn, ích kỷ, hẹp hòi, v.v... đó là con thú mang lớp người

Một con vật nhờ có bộ lông, nhưng lại sống hở han, không kín đáo, bày da, bày thịt, gợi dâm gợi dục, không biết xấu hổ, nên gọi là con vật. còn con người thì khác, biết xấu hổ, biết anh em chị em, biết cha mẹ ông bà, biết mặc quần áo cho kín đáo thân, không bày da bày thịt, không khiêu gợi dâm dục, những hành động như vậy là hành động đạo đức của con người, còn ngược lại là những hành động của loài thú vật.

Con người thoát ra bản chất loài thú vật là ở chỗ có những hành động đạo đức biết xấu hổ, biết giữ gìn kín đáo, biết luân thường đạo lý.

Nhìn con người và con thú khác nhau là ở chỗ có những hành động đạo đức hay không đạo đức, biết xấu hổ hay không biết xấu hổ mà thôi, không phải nhìn ở hình tướng bên ngoài của con người mà đánh giá trị họ được, mà hãy nhìn những hành động thiện ác là biết ngay người hay thú, Thánh Nhân hay loài ác quỷ.

Bởi vậy, những hành động đạo đức là những hành động thoát ra khỏi bản chất loài cầm thú và ác quỷ. Nếu con người không có học đạo đức thì không biết đạo đức, nên dễ có những hành động vô tình của mình mà đã trở thành những hành động của một con thú vật hay là ác quỷ.

Có những người học đạo đức nhưng không thực hiện đạo đức, sống hành động theo dục vọng như một con thú vật, những loại người này được xem là ác quỷ, chứ không phải loài cầm thú nữa.

Thời nay, người phụ nữ ăn mặc hở hang bày da, bày thịt, khiêu dâm, gợi dục giống như loài cầm thú chẳng khác nào. Nhất là gần đây, người Đông Phương chịu ảnh hưởng của người Tây Phương về cách thức ăn mặc hở hang. Người Tây Phương họ sống theo vật chất dục vọng nên thiếu đạo đức không như người Đông Phương của chúng ta.

Thấy lối sống và hành động của con người hiện giờ, biết là đạo đức của con người đang xuống dốc, và đang trở về đời sống của loài thú vật.

Người ta lo sản xuất vật chất và thực phẩm để phục vụ đời sống con người rất đầy đủ và tiện nghi, nhưng người ta lại quên xây dựng một nền đạo đức nhân bản cho con người. Vì thế, con người không thoát ra khỏi bản chất của loài cầm thú và ác quỷ mà còn trở lại bản chất của loài cầm thú và ác quỷ hơn nữa, nên hành động hằng ngày của mọi người đối xử với nhau rất là thú vật, gần như không còn có đạo đức chút xíu nào cả. Ngoài mặt làm ra vẻ đạo đức, còn bên trong tâm của họ toàn là con thú vật, và ác quỷ.

Giới luật Phật là những hành động đạo đức chân thật của con người không làm khổ cho nhau; là thước đo để chúng ta nhận xét biết được mọi con người, họ là con người hay là thú vật; họ là người tu thật hay là tu giả; họ là Thánh nhân hay là Ác quỷ.

Vì thế, chúng ta tu theo Đạo Phật không phải cầu thiền định; không phải cầu thần thông phép tắc hoặc cầu chết đi được sanh về Niết Bàn, Cực Lạc, hoặc cầu danh, cầu lợi, hoặc cầu cơm ăn áo mặc, hoặc cầu chùa to Phật lớn, hoặc cầu làm chức Hòa Thượng, Thượng Tọa, Viện Trưởng , Viện Chủ, v.v...

Chúng ta đến với Đạo Phật cũng không phải cầu kiến tánh thành Phật, Thánh, Tiên, Hiền Nhân, Quân Tử, v.v...

Chúng ta đến với Đạo Phật chỉ cầu tu tập trau dồi sửa tâm tánh của mình có những hành động đạo đức không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sanh, để chúng ta thoát ra khỏi những hành động của loài cầm thú và ác quỷ.

Đến với Đạo Phật nếu được vậy chúng ta đã mãn nguyện lắm rồi. Chúng ta không dám ước nguyện một điều gì ngoài tầm sức của mình; không dám mơ tưởng những gì cao siêu huyền bí; và cũng không dám mơ tưởng làm Bồ Tát độ hết chúng sanh, vì độ hết chúng sanh sức của chúng ta không kham nổi, chỉ tùy duyên mà thôi, ai có duyên với mình thì độ không duyên thì thôi, chúng ta chẳng dám ước vọng, vì ước vọng như Phật và Bồ Tát của Đại Thừa sẽ không thực hiện được, thiếu thực tế và còn mơ hồ, trừu tượng, khiến cho chúng sanh nghi ngờ, mất niềm tin với Đạo Phật.

Chúng ta cũng ước mong sao cho tất cả mọi người trên thế gian này đều được tu học đạo đức như chúng ta để hưởng được một mùa xuân vĩnh cửu.

Tóm lại, làm con người phải học đạo đức, nếu không học đạo đức thì không thể xứng đáng làm con người. Con người không học đạo đức lần lần nhiễm ác pháp trở thành những con thú hung dữ, và còn hơn nữa là loài ác quỷ. Cho nên, dù trong hoàn cảnh nào chúng ta cũng phải cố gắng học đạo đức làm người. Không nên xem thường đạo đức, vì đạo đức sẽ xác định cho chúng ta biết là con người, con thú vật hay là ác quỷ.

Muốn thoát ra khỏi bản chất loài cầm thú không gì hơn chúng ta phải thực hiện đạo đức nhân quả làm người, không nên làm khổ mình khổ người và luôn luôn còn phải biết thương yêu nhau, tha thứ cho nhau những lỗi lầm của nhau, và còn biết đùm bọc lẫn nhau trong những lúc gặp hoạn nạn, tai ương, những lúc tối lửa tắt đèn, cùng những lúc trên đường tu hành gian nan khó khổ, để cùng nhau chia xẻ ngọt bùi, cay đắng, v.v…

Trưởng Lão ThíchThông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây

Năng khiếu

Hỏi: Kính thưa Thầy, qua gương hạnh đáng kính của cô Út Diệu Quang, theo con nhận xét sự tu tập rèn luyện thân tâm không phải tầm thường. Một người tu đạt kết quả như vậy, họ có sẵn một cái tài hay một năng khiếu, một trí thông minh... nên con đường tu mau kết quả, có phải vậy không thưa Thầy?

Đáp: Sự tu tập nào có được nhanh chóng, đều phải nhờ nhiều đời huân tu chớ không phải có sẵn tài, trí và năng khiếu. Tài trí và năng khiếu là do sự huân tập nhiều đời mà có. Nếu đời này con không trau dồi, tu tập rèn luyện tài trí và năng khiếu thì đời sau con cũng chẳng có.

Tu tập và xả tâm càng gặp khó khăn, đừng nên chán nản, mà phải quyết tâm khắc phục cho được, xả bỏ cho được, quyết thực hiện cho bằng được thì người đó, sẽ trong một đời này thành tựu viên mãn, chỉ có “quyết tâm” là làm nên việc lớn, Đời cũng như Đạo.

Trí thông minh và năng khiếu không phải người có, người không, mà tất cả mọi người ai cũng có, nhưng chỉ vì chúng ta không huân tập nên không có mà thôi.

Ví dụ: Trong một lớp học có 60 học sinh, nhưng học sinh giỏi thì có năm ba đứa, chúng học rất nhanh và mau thuộc bài, môn học nào chúng cũng xuất sắc. Thật sự số học sinh này rất ít, nghĩa là học sinh giỏi tất cả các bộ môn.

Còn số học sinh giỏi từng môn thì nhiều, kẻ giỏi toán, người giỏi văn, người giỏi sinh ngữ v.v..

Đó là vì chúng ta đã có học tập trong đời trước, nên đời này chúng học lại môn đó, tức là ôn lại, nên học rất nhanh làm bài rất giỏi. Còn những người đời trước không học, đời nay học, nên học lâu thuộc bài, nhiều khi học mãi mà không thuộc.

Lịch sử Việt Nam, có nhắc lại ông Lê Quý Đôn, khi ông bố sai mua một cuốn lịch xem ngày, ông đem tiền ra mua giấy và đến cửa hàng bán lịch ông xin cho mượn xem, xem xong ông trả lại cho hàng sách, về nhà ông chép lại cho bố một cuốn lịch mà không sai một chữ nào.

Bên Trung Hoa, đời Tam Quốc, bên Tây Thục sai một người đi sứ qua Bắc Ngụy, tức là Tào Tháo. Tào Tháo viết một cuốn sách lấy tên là Tào Mạnh Đức Kinh, đem khoe với vị sứ giả. Vị sứ giả bảo bên nước tôi trẻ con đều thuộc làu kinh sách này. Tào Tháo không tin mới bảo Ông hãy đọc cho Tào Tháo nghe một đoạn, Ông bảo Tào Tháo xin Ngài đưa cho tôi xem có đúng không? Rồi tôi sẽ đọc cho Ngài nghe. Tào Tháo đưa cho Ông đọc, Ông đọc xong trả lại cho Tào Tháo, Ông cả cười nói: “Tôi nói đâu có sai, đúng là trẻ con của nước tôi từng đã đọc sách này”, Ông bắt đầu đọc cho Tào Tháo nghe không sai sót một chữ nào. Tào Tháo tán thán và không bắt tội Ông được.

Trí thông minh như vậy quá tuyệt vời, đọc qua là thuộc làu, thế mà trí thông minh đó dùng vào việc gì, chỉ đi ra làm quan mà không giải quyết sự khổ đau của dân tộc. Trong thời làm quan, các vị này cũng chẳng làm được những gì lợi ích cho dân, cho nước nhiều, mà chính sự thông minh đó cũng chẳng giải quyết được gì, cho đời sống của các Ông cả, các Ông ấy cũng chỉ khổ đau vì danh, vì lợi như bao nhiêu người khác.

Làm được như Thầy (tức là làm chủ tham, sân, si) không để tâm mình phiền não khổ đau, giận hờn, thương ghét, ấy là tài năng và trí tuệ. Thông minh cũng như năng khiếu đó mới chính là tài năng, trí tuệ, thông minh của đạo Phật, còn ngược lại tài năng, trí tuệ, thông minh và năng khiếu mà tự làm khổ mình, khổ người. Đó là tài năng trí tuệ của phàm phu, của người thường trong thế gian.

Bởi vậy, người có tài năng, trí tuệ, thông minh của đạo Phật là sống thanh thản, an lạc không làm khổ mình, khổ người (chỉ có những bậc Thánh Alahán mà thôi). Người có được trí tuệ như vậy, không phải từ trên trời rơi xuống, mà do công huân tu tập của chúng ta nhiều ngày và nhiều đời, cũng như bây giờ con thấy Cô Út Diệu Quang có được tri kiến như vậy, cũng chính là đời trước cũng phải huân tu rất nhiều, huân tu mà còn phải có ước nguyện, khi mình cố gắng xả tâm được, thì mình làm nghịch hạnh, để vừa xả tâm mình, vừa hướng dẫn mọi người đồng được giải thoát khỏi kiếp đời trầm luân khổ đau.

Như các con đã biết, Cô Diệu Quang chẳng học Kinh sách Phật, chẳng chịu ảnh hưởng của một tôn giáo nào, Cô chỉ có công giúp Thầy tu trong thất bằng cách làm kinh tế, mua gạo và thực phẩm để mẹ Thầy nấu cơm cúng dường Thầy ăn và tu hành.

Mục đích của Thầy tu là tìm sự giải thoát, khi nào giải thoát được thì mới dạy người tu, còn đang tu thì nhất định không dạy ai hết, cho nên Cô Diệu Quang chỉ biết trợ giúp cho Thầy tu, chứ không có tu hành gì cả.

Đến khi Thầy tu xong, về trình sự tu hành của mình cho Hòa Thượng Thanh Từ, thì cũng năm đó Phật tử tìm về kiếm Thầy hỏi pháp, do Hòa Thượng Thanh Từ báo cho Phật tử biết chính là Thầy đã tu chứng quả “A-La-Hán”. Đó là vị cư sĩ tìm về đây đầu tiên là Ông Chánh Giải ở Châu Đốc. Khi gặp Thầy ông xin Thầy cho phép đảnh lễ vì Hòa Thượng đã cho Ông biết Thầy đã chứng quả A-La-Hán.

Từ đó, Cô Út Diệu Quang trở thành một người phục vụ cho tu sĩ cũng như Phật tử thì còn đâu có thì giờ mà tu tập.

Lúc nào rảnh rỗi hoặc nửa đêm, Cô mới có thì giờ ngồi tập dừng cái ý, thời gian ấy không lâu chỉ độ 30 phút là cao.

Hoàn cảnh tu sĩ và Phật tử là một trở ngại rất lớn cho sự sống yên tĩnh tu hành của Cô. Cô bị mọi người khen thì ít, mà chê thì nhiều, nhất là tâm phàm phu của thiên hạ. Nhất là dựa theo tâm lý phàm phu của thế tục mà suy diễn về cô Diệu Quang, thì những sự suy nghĩ đó, sẽ đem lại ác pháp cho người, chứ cô Diệu Quang như thế nào thì cô tự biết, đó là nhân quả của Cô, chứ Thầy không ý kiến gì hết. Thầy chỉ thấy đó là duyên phước chúng sanh chưa đủ phước, và là luật nhân quả đời trước. Từ những sự việc đó xảy ra, tự Cô phải đương đầu với nội tâm của mình, tâm như biển sóng dồn dập, Cô như chiếc thuyền nan trên mặt biển.

Cô vừa chiến đấu với nội tâm để xả những u hoài khổ đau của mình vừa phản công những đối tượng bên ngoài (Phật tử và tu sĩ).

Phiền não tức Bồ Đề, nhờ các đối tượng ấy, Cô đã tìm ra phương pháp xả tâm để cứu mình thoát khổ. Đối với những người, đã làm Cô khổ, nhưng có điều là Cô không oán hận những người đó, Cô xem đó như bình thường, không có gì cả, và khi những người đó hữu sự, có tai nạn, thì Cô sẵn sàng khuyên lơn và giúp đỡ. Cô nói nặng nhẹ người khác. Bởi vì, Cô đang còn trên đường tu tập xả tâm, nhưng lòng yêu thương đối với con người không xa lìa, lúc nào cũng thương yêu mọi người, sẵn sàng giúp đỡ, nhưng sẵn sàng nói nặng, vì hạt giống tham, sân, si vẫn còn, để người ấy xả tâm thật sự hay không. Nếu xả tâm thật sự, thì người ấy sẽ chiến thắng được mình. Vả lại, Cô cũng đang còn trên đường tu tập xả tâm, vẫn còn tham, sân, si, mạn, nghi… nên các con hãy lấy Cô làm đối tượng nghịch cảnh để buông xả tâm mình, đừng oán giận Cô.

Khi Cô cố gắng để xả được tâm mình không còn khổ đau, thù hận, xem mọi việc như không, nghĩa là mọi việc không làm Cô bận tâm. Cũng từ đó, tri kiến của Cô phát triển, như các con hiện giờ đã thấy. Cô đối đáp giải quyết theo bản năng tự nhiên của đời trước đã huân tu, chứ không phải trong đời nay và trong kinh sách.

Các con đừng hiểu rằng, đời trước là một đời kế đây, đời trước ở đây là một đời mà nhiều đời và cũng có thể đồng thời với đức Phật, Cô là người đã học và tu trong những thời đó, kiếp này Cô được làm người, nó đã sống lại trong quá khứ xa xưa kia. Vì thế, các con nên nhớ những gì mà các con tu đúng pháp, dù muôn đời nó vẫn không mất, nó sẽ làm sống lại nơi tâm hồn của các con mà các con sẽ gọi nó là tài năng, năng khiếu hay là trí thông minh. Nhưng nếu các con tu sai, nó vẫn sống lại và đưa các con vào biển khổ bằng ảo tưởng như đồng cốt, những người này họ đâu có tu hành trong đời này, nhưng đời trước họ đã tu theo tà đạo, đời này năng khiếu đó, nó sống lại, cho nên họ trở thành là những loại đồng cốt, ông lên, bà xuống, bóng chàng v.v..

Những người ở đời này, tu Thiền Đông Độ, Thiền xuất hồn, Thiền Yoga và tất cả các loại Thiền tưởng, kiếp sau họ trở thành những thầy cúng, phù thủy, đồng, cốt, thầy bói, thầy bùa, thầy ngải v.v.. Nói chung kiếp này tu sai chánh pháp, kiếp sau làm những điều mê tín, tiếp tục lừa đảo người khác, đó là năng khiếu tà giáo ngoại đạo. Khi chúng ta huân tu thì nó không bao giờ mất, nó sẽ sống lại trong khi chúng ta sanh lên làm người. Còn chúng ta tu đúng theo chánh pháp của Phật thì luôn luôn lúc nào cũng xả tâm ly dục ly ác pháp. Tuy rằng, cuộc sống có nhiều sóng gió ba đào, nhưng chúng ta không bị lạc vào hoang đảo, cũng vì nhờ đức hạnh và giới luật, nó là ngọn hải đăng đưa tàu vào bến an toàn.

Cuộc đời tu hành của Thầy cũng vậy, khi mất cả hy vọng trên đường tu tập, chới với giữa biển pháp của Đại Thừa, bước đường cùng, chỉ còn chết mà thôi.

Trong khi mất hết cả niềm hy vọng, thì năng khiếu trỗi dậy để cứu mình, nên trong tiềm thức của Thầy nhớ đến lời của Hòa Thượng Minh Châu. Trong khi sắp chết đuối, một chiếc phao đã hiện ra và đã cứu Thầy.

Thầy đã tìm được lối thoát mà xưa kia Thầy đã từng tu học giáo pháp này, nên đọc tới đâu Thầy nhận ra pháp hành tới đó và thực hành có kết quả ngay liền, nghĩa là Thầy tu lại theo lời dạy của đức Phật đã dạy trong Kinh Nguyên Thủy pháp “Như Lý Tác Ý” mà hơn nửa đời người theo đạo Phật tu hành chẳng có một vị Thầy nào dạy tu tập điểm này với pháp môn này, Thầy đã nhận ra bí quyết thành công của pháp môn này là “Độc Cư”.

Pháp Như Lý Tác Ý và Độc Cư là năng khiếu của Thầy trỗi dậy. Xưa, đức Phật cũng vậy, khi con đường tu tập tận cùng, Ngài như sắp chết, thì năng khiếu Ngài trỗi dậy. Ngài nhớ lại đạo lộ Tứ Thánh Định, Ngài liền bỏ sạch các pháp môn của ngoại đạo, Ngài không tu khổ hạnh nữa, tiếp tục sống đúng đời sống Phạm hạnh, khi cơ thể Ngài bình phục, 49 ngày dưới cội Bồ Đề do đạo lộ Tứ Thánh Định, Ngài đã viên mãn con đường tu giải thoát, thỏa mãn được ước vọng của Ngài làm chủ sanh, già, bịnh, chết.

Bởi vậy, muốn có năng khiếu và trí thông minh thì phải tu tập pháp “Hướng Tâm” và “Độc Cư” con ạ!

Quyết định phải tu cho bằng được phải không con? Dù cho xương có tan, thịt có nát nhất định chúng ta phải thành công, thì đó là con đã huân tập một tài năng, một tri kiến, một năng khiếu.

Hiện giờ, Cô Diệu Quang có trắc nghiệm bằng một phương pháp nào, mà có tận cùng sự khổ đau thì nhất định tâm con cũng như cục đất phải không con? Có như vậy, mới thấy tâm được giải thoát thanh thản, an lạc và vô sự, đó là kết quả của tâm bất động.

Trích Đường về xứ Phật tập I
Trưởng lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây

Ta đi tìm chính ta

Bạn đã có lúc nào đứng tựa trên cái bao lơn cao nhìn những người đi lại dưới đường như một con sông khi nhanh, khi châm, khi ồn ào, khi trịnh trọng, đi hoài đi mãi tới những cái đích tầm thường và vụn vặt không?

Và trong những lúc ấy, câu hỏi tự nhiên đến trong tâm trí bạn há chẳng phải là: vì đâu bao nhiêu sự nhọc nhằn, chật vật, bao nhiêu điều đau khổ, bao nhiêu điều vui mừng? Đâu cái mục đích cuối cùng của đời người?

Một câu hỏi đặt ra từ ngàn xưa, một câu hỏi chưa hề được trả lời chắc chắn.

Khi tâm hồn đã đến lúc trưởng thành. .. trí tuệ cũng vừa đủ để nhận thức mọi việc, thì vấn đề về sự sống và tình yêu của ta cũng đã lớn mạnh. Trong tâm hồn ấy nó bắt đầu biết yêu thương, muốn yêu và được yêu. Trong tâm hồn và trái Tim đầy nhiệt huyết ấy, đang bùng lên ngọn Lửa của Yêu thương. .. Song hành với tình yêu trong bản thân ta, thì một vấn nạn về sự sống cũng bắt đầu xuất hiện: Ta là ai? và sinh ra đời này để làm gì? Tại sao Ta phải sống để rồi lại phải chết đi? ??

(Cuộc sống của con người sẽ như con thuyền giữa biển khơi động sóng. .. Sẵn sàng bị áp lực của mưu sinh, sự học. .. Tình yêu nhấn chìm)

Vấn đề này nó bắt đầu làm cho ta phải chịu dằn vặt. .. thật là khó khăn để giải quyết chính cái Sống của bản thân mình. Hầu như mọi ngày, vấn nạn này không rời khỏi tâm trí, nó bắt ta phải tư duy không ngừng nghỉ cho chính bản thân mình.

Ta nhận thấy sự học hỏi chỉ là để có phương tiện tốt hơn cho việc mưu sinh của ta, nó không thật là mục đích để làm người và để sống. .. Con người càng có phương tiện địa vị, tài lợi thì càng xa cách cái Chân, Thiện, Mỹ của chính mình. .. Và cũng có nghĩa là, chính ta chỉ là một trong những phương tiện để tự mưu sinh. .. Tiền tài, vật chất, địa vị và quyền lực. .. ta nhận ra chỉ là phương tiện để ta sống mà thôi, ta không thể là những chuyến Xe đi đi về về. ..

Cao hơn thế nữa, ta cũng nhận ra rằng những lý tưởng về Tôn Giáo chỉ để tự tìm một nơi trốn tránh bình yên của tâm hồn đang gào thét. .. Những lý tưởng về chính kiến, khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật. .. . chỉ là một mớ bồng bông do con người tạo ra, để lao mình vào đó, tự xoa dịu nổi đau, cho một thân phận đã được sinh ra làm người, mà chính nó không thể nào tự biết nó.
(Con người đã bị sự vô minh của chính mình dồn tới chân bờ vực thẳm)

Thế rồi cuối cùng không còn đường nào khác, nó chọn cho mình một phương cách để sống, đi vào con đường Thiện vậy. .. Nhưng hỡi ơi! chỉ là những xiềng xích nô lệ bản thân. .. khi nó chợt nhận ra, kẻ sống ác tự trói mình bằng xích Sắt, và người hành Thiện cũng đã tự trói mình bằng xích Vàng. .. Nó thật sự không biết mình phải đi như thế nào. Hoàn toàn mù mịt không lối thoát. .. .

Chợt nhận ra bản thân mình Vốn: Đói khát, Ngu si, Yêu thương và phải Chết. ..

Sự đói khát, bệnh tật khiến mình phải lo toan và đầy sợ hãi; phải lo tích luỹ của cải tiền tài. .. . Ngu si càng làm cho mình kinh hãi hơn. .. Mãi mê lo học hỏi, hiếu tri để tự hoàn thiện cho cái ngu đó.
(Tình yêu đã khép cánh vĩnh viễn với những tâm hồn ích kỷ nhỏ nhen chỉ vì cái tôi của mình)

Tình yêu thì luôn ở cùng ta. .. muốn được yêu và yêu. .. nhưng luôn lo lắng sẽ bị tổn thương chính tình yêu của mình. .. luôn yêu cho chính bản thân mình, chỉ vì chính mình thôi. .. một tình yêu nhỏ nhen, ích kỷ đầy tham vọng đã được thành lập trong ta! Ta không vì ta e rằng: "trời tru đất diệt. .. " mà có vậy chăng hỡi người? Cuối cùng cái bất hạnh lớn nhất mà ta phải cưu mang; là ta biết ta phải Chết, mà vẫn phải Sống để rồi chờ Chết mỗi ngày. ..

Sau bao ngày miệt mài tìm lại chính mình, mà vẫn không lối thoát. .. Ta chợt tự hỏi cái khôn ngoan, thông minh, trí tuệ của ta đâu rồi? Tại sao trí tuệ ấy không giải quyết được vấn nạn của chính nó. .. ? Ta là ai? ta sống để làm gì đây hỡi người. .. ? Trí tuệ ư? Khôn ngoan ư? Có chăng? !!! Ta Chợt nhận ra rằng ta thật sự thấp hèn. .. Ta hèn mọn thật. .. những ngạo mạng, tự hào chính bản thân ta từ xưa cho đến giờ đã vội bỏ ta đi. .. Những tình cảm nhỏ nhen và đầy ích kỷ ti tiện ấy, ta cảm nhận thật sự đáng hổ thẹn. .. Tất cả chỉ vì một cái Tôi đáng thương xót, đáng tội nghiệp của chính mình. ..

(Con người sống chung với nhau và chà đạp độc ác, sân hận giết hại nhau chỉ vì tình tiền, lợi danh)

Ta thật ra không là gì cả, không chút gì gọi là trí tuệ hay thông minh. .. khôn ngoan nào đã cho ta một cái sống vô nghĩa lý như thế này? Ta Chợt nhận ra cái chân thật của Trí Tuệ mà bấy lâu nay là hằng hãnh diện và cưu mang nó. .. Ta chợt nhận ra Tình yêu của ta. .. Một tình yêu chỉ phản nghịch lại là lòng hận thù vô nghĩa. ..

(Ta ca hát trong bóng đêm của tâm thức và cuộc đời cứ thế mãi trôi lê lết tới cái chết của chính ta)

Ôi! Một cái Tâm vô nghĩa thế ư? Ta Biết Thật ta chính là ai rồi. .. . Từ đây tất cả đã đều được khép lại. .. những hợm mình, nông nổi. .. những con vật trong ta đã có tự ngàn xưa đã chết. .. Loài Cục súc vô tri giả từ cho một thân phận. .. TÁI SINH.

Nguồn: Blog Trang Chu

Bàn về tính đố kỵ, ganh ghét

Tính đố kỵ, ganh ghét từ xa xưa đã có. Trong truyện “Tam quốc diễn nghĩa” Chu Du vì ghen tức Gia Cát Lượng tài trí hơn mình đã bao lần đan tâm hãm hại mà không được, cuối cùng vì uất hận hộc máu mồm mà chết. Đó chính là một điển hình về lòng ganh ghét, đố kỵ.

Trong xã hội hiện nay, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, mối quan hệ giữa người với người ngày càng phức tạp, tâm lý ganh ghét, đố kỵ càng trở nên phổ biến. Ganh ghét, đố kỵ là gì? Do đâu mà có? Khắc phục nó như thế nào? Mời các các bạn cùng tôi luận giải xem.

Người ta hay so sánh mình với những người cùng điều kiện như mình, chẳng hạn như: Bạn cùng lớp, đồng nghiệp cùng cơ quan, hàng xóm láng giềng, thâm chí anh, chị, em ruột thịt trong nhà… đối với những người càng ở gần, càng nhiều quan hệ càng dễ nảy sinh ra lòng ganh tỵ. Nếu phát hiện ra những người quen biết xung quanh mình có một vài mặt nào đó hơn mình thì thường cảm thấy trong lòng mình kém vui, sốt ruột, lo lắng, buồn bã, xấu hổ, lặng thinh, ngờ vực… rồi thì bực bội, căm ghét, thấy mình bị xúc phạm, muốn trả thù… Tất cả các tâm trạng đó tổng hợp lại thành một trạng thái tâm lý phức tạp, khó lý giải. Đó chính là tính ganh ghét, đố kỵ.  

Ganh ghét và đố kỵ hầu như thể hiện ở mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực và mọi mặt trong cuộc sống. Dễ nhận thấy nhất là khi ai đó có thành tích, địa vị, vinh dự, chuyên môn, bằng cấp, của cải, nhân duyên, gia đình hạnh phúc, thành đạt là nảy sinh ganh ghét, đố kỵ… Có người thể hiện lòng ganh ghét, đố kỵ ra ngoài, nhưng có người lại “chôn kín” ở trong lòng. Nhưng dù bất cứ hình thức nào, lòng ganh ghét, đố kỵ đều ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống và công việc.

Trước hết sự ganh ghét, đố kỵ phá hoại mối quan hệ giữa người với người, hòa khí vốn có trước đây bổng chốc vì ganh tỵ mà rạn nứt, đổ vỡ, sức mạnh đoàn kết và sự hợp tác của tập thể bị tổn thương. Thứ nữa lòng ganh ghét, đố kỵ còn cản trở con người phát triển tài năng. Trong một tập thể chỉ cần phảng phất chút lòng ganh ghét, đố kỵ là nội bộ lủng củng, mất đoàn kết, mọi người không sao sống thân thiện, thoải mái, chân tình với nhau được thì nhân tài sẽ không có môi trường thuận lợi để phát huy tác dụng.

Ngoài ra lòng ganh tỵ, có ảnh hưởng rất to lớn đến sức khỏe thể chất và tâm thần của con người. Người có tính ganh ghét, đố kỵ bao giờ cũng căng thẳng về tinh thần và tổn hại về sức khỏe. Họ luôn bị một chứng bệnh khổ sở “stress” hành hạ.

Ở cơ quan tôi có hai anh Trưởng phòng, một làm Hành chính, môt làm Nghiệp vụ. Trong công việc cũng như ngoài đời họ là cặp đôi lý tưởng, tình bạn, tình đồng nghiệp của họ những tưởng luôn bền chặt theo năm tháng. Thân thiện, chín chắn, thẳng thắn và đầy trách nhiệm, đó là những gì tốt đẹp mà cấp dưới dành cho họ. Thế rồi, vì khuyết một vị trí Phó giám đốc, một trong hai người đã được Ban giám đốc đề bạt. Chỉ vừa mới nộp hồ sơ để làm thủ tục, qui trình, trong buổi họp ở cơ quan, anh Trưởng phòng Nghiệp vụ có đôi lời trao đổi, anh Trưởng phòng Hành chính đã hét lên: “Mày chưa là Sếp tao đâu mà ra lệnh!” nói hết câu đã bỏ ra ngoài cuộc họp, để lại bao lời xì xào, bàn tán. . .

Thế rồi từ đó tình bạn rạn nứt, mấy lần anh Trưởng phòng Nghiêp vụ chủ động qua phòng anh Trưởng phòng Hành chính làm lành đều bị anh ta từ chối, bỏ ra ngoài không tiếp. Ngày anh Trưởng phòng Nghiệp vụ nhận quyết định bổ nhiệm phó giám đốc, thì cũng chính là ngày anh Trưởng phòng Hành chính nộp đơn xin từ chức. Cũng từ đó, có dịp là anh ta công kích bất luận là đúng sai, phải quấy, miễn sao trút được cơn oán giận vô cớ trong lòng mình mới thỏa mãn. Người ngoài cuộc thì lấy đó làm trò đùa để tán gẫu, người trong cuộc lại tự nhủ đó là kẻ gác cổng giúp mình biết dừng lại trước “Ba-ri-e”. Ngẫm nghĩ thật tội nghiệp!

Hơn 2500 năm trước, trong 14 điều răn, Đức Thích Ca Mâu Ni đã từng dạy chúng sinh: “Khổ tâm lớn nhất của đời người là sự ganh ghét, đố kỵ. Sai lầm lớn nhất của đời người là tự đánh mất chính mình”.

Nhà văn Pháp De Balzac cũng đã từng nói: “Người có tính ganh tỵ khổ sở hơn bất cứ một người bất hạnh nào. Bởi vì hạnh phúc của người khác càng lớn bao nhiêu thì nỗi bất hạnh trong anh ta sẽ nhân lên bấy nhiêu lần”.

Chân tướng của sự ganh ghét và đố kỵ ta đã biết rõ, thế muốn xóa bỏ ganh ghét, đố kỵ ta phải làm gì? Xin có mấy ý kiến sau đây:

1/ Phải nhận biết cái mà người ta có, không phải tự dưng nó đến mà phần lớn là công sức lao động, học tập kết hợp với tài năng, trí tuệ hình thành. Phải biết chấp nhận trong cuộc sống một chút tài năng và may mắn sẽ đem lại sự thành đạt cho con người. Nếu họ như ta mà họ hơn ta, tức là họ có may mắn hơn ta. Còn tại sao may mắn lại cứ đến với họ mà không đến với ta thì nên xem lại các điều kiện ngoại cảnh, các mối quan hệ, bản lãnh sống của ta. Nếu có tin vào số mệnh thì hãy tự làm chủ số mệnh của mình:“việc gì đến nó sẽ đến”.

2/ Trước sự thành công của “Đối thủ” hãy bình tĩnh, tự tin và lạc quan. Hãy nhìn sự vật một cách biện chứng trong mối quan hệ vận động và phát triển. Không nản lòng, không nhụt chí trước những điều chưa đạt được, luôn tin tưởng ở bản thân, ở tương lai chính mình, thất bại chỉ là tạm thời, đời người không ai tránh khỏi thất bại. Hãy dùng phép thắng lợi tinh thần: “thất bại là mẹ thành công” chỉ cần ta có dũng khí, đứng thẳng trên đôi chân mình thế nào cũng đi đến đích. Hồn thanh thản khi ta vào cuộc chiến đấu mới.

3/ Học cái hay cái tốt của “đối phương”để bổ sung và hoàn thiện mình. Phát huy sở trường hạn chế sở đoản tìm kiếm những giá trị mới để bù đắp. Chẳng hạn, ban gái ghen tỵ với một người nào đó xinh đẹp hơn mình, cho dù bạn có đi giải phẫu thẩm mỹ, hoặc trang điểm, hoặc dùng hàng hiệu cỡ nào mọi người cũng không khen là bạn đẹp hơn. Sắc đẹp là trời phú, vậy thì làm sao? Tôi khuyên bạn hãy chú tâm vào những việc làm khác, chẳng hạn bạn siêng năng tập thể dục, chơi thể thao để có sức khỏe dồi dào, ít đau ốm. Mọi người nhìn bạn lúc nào cũng căng phồng đầy sức sống, sắc diện hồng hào, thân hình cân đối, dáng đi thanh nhã, gọn gàng… thêm nữa bạn hãy tập ăn nói lưu loát, nhẹ nhàng, thuyết phục… như thế chẳng phải “bằng chúng, bằng bạn”. Nhờ vào những giá trị mới này mà bạn vượt qua “đối thủ”.

4/ Cuối cùng, nếu không thể xóa bỏ được tâm lý ganh tỵ vì nó đã ăn quá sâu vào tâm trí ta, thì hãy làm cho nó có ý nghĩa tích cực hơn lên. Hãy cạnh tranh một cách lành mạnh, chính đáng. Bạn có thể so bì, ấm ức thì tại sao không biến những cái đó thành nghị lực để phấn đấu vươn lên. Hãy biến niềm kiêu hãnh của “người ta” thành liều thuốc kích thích cho chính mình. Tự đặt ra mục tiêu và tự kiên trì thực hiện, thực hiện bằng được. Nhưng đặt mục tiêu thì cần phải “biết người, biết ta thì mới trăm trận trăm thắng” và phải nhớ cho rằng: “Ước mơ càng lớn thì nghị lực càng cao”. Đó thử thách của lòng kiên trì và ý chí sắt đá của bạn.

Tóm lại: Chúng ta không vì sự ganh ghét, đố kỵ mà phải chán nản, đau khổ, buồn phiền. Càng không vì ganh tỵ mà thù oán, làm tổn thương, làm hại người mà ta ghen tức. Làm như thế chỉ tỏ ra ta là người yếu thế và tổn hại đến nhân cách ta mà thôi. Chúng ta không dấu ước mơ, hoài bão của mình, nhưng phải tỏ ra là người có ước mơ, hoài bão cao thượng và sẽ đạt được hoài bảo, ước mơ đó bằng các phương châm, phương thức và hành động đúng đắn.

Đối với tôi, tôi có chủ trương riêng không dám khuyên mọi người. Tôi sẳn sàng giúp đỡ, hợp tác, học tập kinh nghiệm của những người thành đạt để tỏ rõ bản lĩnh và giá trị đích thực của mình. Cách tôi tự khẳng định là học hỏi và nếu có thất bại thì cũng vượt qua được chính mình. (st)

Tính ghen tị ảnh hưởng thế nào đến cuộc sống?

Tính hay ghen tị hình thành bởi cảm giác kém vui, căm ghét, bực bội; cảm thấy tức giận lẫn chút xấu hổ khi so sánh, tị nạnh với những người quen biết chung quanh như bạn học, đồng nghiệp… Tính ghen tị hầu như thể hiện ở tất cả mọi mặt của đời sống con người như sự giàu có, sự thành đạt hoặc sự hấp dẫn về ngoại hình v. v…Tuy nhiên, đối với những người càng ở xa, quan hệ càng ít thì càng khó nảy sinh lòng ghen tị.  

Sự ghen tị có khi để lộ ra ngoài hoặc chôn giấu trong lòng, nhưng dù với hình thức nào, tính ghen tị đều ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống: “Ghen tị không chỉ thúc đẩy con người thực hiện các hành vi dại dột, mà còn gặm nhấm sức khỏe của chúng ta. “Nếu bạn là một người hay ghen tị, bạn sẽ có rất ít thời gian để nhận ra và hưởng thụ nhiều điều tốt đẹp trong cuộc sống”, Richard Smith, giáo sư tâm lý của Đại học Kentucky (Mỹ), kết luận.

Trước hết, lòng ghen tị phá hoại mối quan hệ giữa người và người, cản trở con người phát triển tài năng, đồng thời sức mạnh đoàn kết và tinh thần hợp tác ngày càng suy yếu. Sau nữa, chính tinh thần và thể chất của bản thân người có tính ghen tị bị tổn hại, bị chìm ngập trong các cảm xúc tiêu cực: buồn bực, lo lắng, căm ghét, cảm giác tự ti khiến bạn mệt mõi cả thể xác lẫn tinh thần. Nhà văn Balzac từng nói: “Người có tính ghen tị đau khổ hơn bất cứ một người bất hạnh nào, bởi hạnh phúc của người khác cộng với sự bất hạnh của mình làm cho ta đau khổ gấp nhiều lần”.

Vậy, làm thế nào để có thể xóa đi tâm lý ghen tị?

- Học cái hay của người khác, bổ sung cho mặt yếu của mình, gắng sức vượt qua đối thủ của mình, chuyển biến ghen tị trở thành ganh đua lành mạnh. Nếu ai đó thân với bạn gặt hái được thành công, hãy vui giùm họ thay vì cảm thấy bị qua mặt.

- Phát huy sở trường, hạn chế sở đoản, tìm kiếm những giá trị mới. Mình thua kém mặt này thì phát huy mặt khác, phương diện khác, bạn cũng có những ưu điểm tiềm tàng của riêng mình.

Mới đây, nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn ở Hà Nội, cho biết ông đang góp nhặt, tổng hợp và sẽ cho ra đời một tác phẩm nói về những thói hư tật xấu của người Việt Nam ta. Ông bảo rằng “người Việt cứ nghĩ ai nói ra cái xấu của mình thì là kẻ thù, và gạt đi cho bằng được. Mà như thế là tự chặt đi con đường nhận diện bản thân, thế giới, lúc nào cũng dương dương tự đắc”. . .

Người viết bài này cũng có suy nghĩ cho rằng, khi nói đến cái xấu, cái khiếm khuyết của người khác, dù là nói rất chân thành, nói đúng nơi đúng lúc. . . thì nhiều khi vẫn bị “người ta” ngấm ngầm oán trách, thậm chí tìm cách trả đũa, nặng hơn nữa là trả thù. Biết là vậy, nhưng viết một bài nói về cái tính cái tật đố kỵ, ganh ghét của người đời để cảnh báo một thói xấu đã đến lúc cần phải thay đổi, thì vẫn nên làm! Đặc biệt, trong lúc vận nước đang ngày càng sáng lên, mọi người hầu như chỉ tập trung bàn về cải cách hành chính, chuyển đổi cơ chế, tăng tốc phát triển kinh tế…, thì việc phải làm sao cho người dân ta bớt dần đi được các thói tật cố hữu, thiết nghĩ cũng là việc rất nên làm!

Còn nhớ vào khoảng giữa năm 2004, tại một diễn đàn trên mạng TS mang tựa đề “Phác thảo chân dung người Việt”, có ý kiến nêu khái quát đánh giá về 10 đặc điểm của người Việt Nam, nói rằng:

“Người Việt Nam cần cù lao động, song dễ thoả mãn nên tâm lý hưởng thụ còn nặng; thông minh sáng tạo, song chỉ mang tính chất đối phó, thiếu tầm tư duy dài hạn và chủ động; khéo léo, song không duy trì đến cùng, ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng của sản phẩm; vừa có tính thực tế vừa mơ mộng, song lại không có ý thức nâng lên thành lý luận; ham học hỏi, có khả năng tiếp thu nhanh, song ít khi học đến đầu đến cuối nên kiến thức không hệ thống, mất cơ bản. Nhiều người không coi học tập là mục tiêu tự thân. Khi còn nhỏ học vì gia đình. Lớn lên học vì sĩ diện và kiếm công ăn việc làm, ít vì ý chí, đam mê; xởi lởi chiều khách, song quan hệ không bền; tiết kiệm, song nhiều khi hoang phí vì mục tiêu vô bổ mang tính sĩ diện, khoe khoang, thích hơn đời; có tinh thần đoàn kết tương thân tương ái, song hầu như chỉ trong những hoàn cảnh, trường hợp khó khăn, bần hàn, còn trong điều kiện sống tốt hơn thì tinh thần này rất ít khi xuất hiện; yêu hoà bình, nhẫn nhịn, song nhiều khi lại hiếu thắng vì những lý do tự ái, lặt vặt, đánh mất đại cục; thích tụ tập nhưng lại thiếu tính liên kết để tạo ra sức mạnh. Cùng một việc, một người làm thì tốt, ba người làm thì kém, bảy người làm thì hỏng. . . ”

Cũng trên diễn đàn trực tuyến này, nhiều ý kiến nhận xét thẳng thắn về những tính xấu của người Việt Nam. Điển hình là tính a dua, không vững lập trường; tính không trung thực, thường là không trung thực ngay cả với chính bản thân mình; tính quá đề cao cái tôi và cá nhân; tính hay ghen tỵ, đố kỵ, tự mãn, không biết bảo vệ nhau mà ngược lại còn hay nói xấu nhau, vân vân và vân vân. . .

Nghe “thiên hạ” người ta nói về mình như vậy, chắc rằng nhiều người trong chúng ta đều nhận thấy “người ta” đã nói trúng. Có điều trúng vào đâu thì cần phân tích, mổ xẻ, bàn kỹ thêm xem từng cái tính xấu ấy nó biểu hiện như thế nào, vào lúc nào, có chữa được hay không?

Với chỗ đứng và tầm nhìn hạn hẹp, trong bài viết ngắn này, người viết xin được lạm bàn một số vấn đề mang tính đặc trưng về tính đố kỵ và cũng muốn góp phần nhỏ bé nhằm “giải mã” một vài vấn đề như đã nêu trên.

Theo cách hiểu thông thường, thì tính đố kỵ là tính thù ghét những ai có cái gì đó, điều gì đó hơn mình, được nhiều quyền lợi hơn mình. Thái độ đố kỵ là tỏ ra khó chịu khi thấy người khác được hơn mình. Trong lớp học thấy có người học giỏi hơn; trong cơ quan thấy có người vượt trội về năng lực chuyên môn; trong tranh luận, mạn đàm thấy có người tỏ ra thông hiểu nhiều lĩnh vực, thậm chí nghe người ta nói khúc chiết mạch lạc, mà cũng tỏ ra khó chịu(?). . . Chính cái khó chịu, bực bội trong lòng ấy là nguồn cơn tiềm tàng của sự đố kỵ. Thường là trong công việc, cứ khi bắt đầu có chút quyền lợi thì cũng nẩy sinh thái độ hơn thua, đụng chạm quyền lợi với người này người khác. Nếu không phải là người có cái tâm trong sáng, thì lúc đó tâm đố kỵ sẽ xuất hiện. Sự nguy hiểm của tâm đố kỵ chính là ở chỗ ác tâm, nhiều khi mang lòng thù ghét, thậm chí nghĩ ra cách làm hại người có những cái hơn mình. Mà sự đời thường là mỗi khi yêu nhau, vun đắp cho nhau thì cuộc sống vô cùng êm ả, bình dị. Nhưng hễ khi bị người nào đó rắp tâm hãm hại mình bằng cách này hay cách khác, thì cuộc sống trôi qua một cách nặng nề, bức xúc, có khi chẳng khác gì địa ngục.

Đố kỵ

Đố : Ghen ghét, kỵ hiền đố năng: ghen người hiền ghét người giỏi.

Kỵ : Ghen ghét, Bài kị: Ghen ghét muốn hại nhau, Hiềm kị : Ngờ vực, ghen ghét.

Đố kỵ : là hiện tượng con người tự nhiên ghen ghét (thù ghét) những ai hơn mình. Thái độ đố kỵ là tỏ ra khó chịu khi thấy người khác hơn mình.

Đồng nghĩa với Ganh tỵ, Ganh ghét.

Trái nghĩa với Ái mộ, Ngưỡng mộ, Thần tượng.

Đố kỵ là tính xấu phổ biến của con người.

Trong lớp học thấy có người học giỏi hơn, đẹp hơn mình; trong cơ quan thấy có người vượt trội về năng lực chuyên môn; trong tranh luận, mạn đàm thấy có người tỏ ra thông hiểu nhiều lĩnh vực, thậm chí nghe người ta nói khúc chiết mạch lạc, thì cảm thấy khó chịu. . . Chính cái khó chịu, bực bội trong lòng ấy được gọi tên là đố kỵ

Hậu quả của thói đố kỵ

Nhận thức không đúng sự vật, hiện tượng có liên quan.

Tự tạo cảm giác (tâm lý) mù quáng, nặng nề, mất bình tĩnh cho chính mình.

Cô độc, dễ phát sinh kẻ thù trong cuộc sống.

Có thể trở thành tội phạm.

Nguyên nhân của thói đố kị người khác.

Do thiếu tự tin, mặc cảm, tự ti.

Do tính tự cao, tự đại.

Do lối sống cô độc, ít giao tiếp.

Do thói quen hay chỉ trích, đả kích người khác.

Do cuộc sống thiếu tình cảm.

Do thường xuyên gặp thất bại.

Làm thể nào để hạn chế tật đố kỵ:

Tôn trọng quyền con người.

Tôn trọng sự tự do, độc lập của mỗi con người.

Tôn trọng quyền sở hữu cá nhân.

Yêu thích bảo vệ lẽ phải, bảo vệ cái đúng.

Có cái nhìn toàn diện về con người hoặc sự vật được xem xét.

Luôn luôn nhìn thấy cái tốt, điều tốt của người khác (đừng bao giờ đề cập đến cái xấu của họ) - Yêu thương đồng loại.

Sự đố kỵ - sản phẩm của thế giới hiện đại  

Tính đố kỵ đang trở thành một vấn đề nổi cộm của thế giới hiện đại và càng nổi bật hơn ở những xã hội đầy rẫy bất công. Mọi người đều biết đến cảm giác này. Nó xảy ra khi một đồng nghiệp được ông chủ khen, hay khi người hàng xóm bỗng dưng giảm được vài cân.

Tác giả nghiên cứu Antje Schrupp tại Frankfurt, Đức, cho rằng phụ nữ dễ nhiễm phải con quỷ ghen tị hơn bởi họ thường chịu nhiều thiệt thòi. Tuy nhiên, điều trớ trêu là cảm giác ganh tị không dành cho phái nam mà lại hướng về những phụ nữ khác được sở hữu nhiều hơn, trong khi không có nhiều ưu thế hơn. Một trong những điều kiện gây nên sự đố kỵ là khi điểm xuất phát ban đầu ngang nhau.

Nhà xã hội học Sighard Neckel thì cho rằng sự ghen ghét luôn là một đặc tính của con người và không phải phát sinh từ xã hội hiện đại. Loài người là những con vật xã hội xây dựng hình ảnh cái tôi bằng cách phân biệt với người khác. "Chừng nào con người còn so sánh lẫn nhau thì còn có sự đố kỵ", Neckel nói.

Sự ghen tị là một trong bảy tội lỗi nguy hiểm bị xã hội tẩy chay, bao gồm: tính tự phụ, sự cáu giận, sự lười biếng, lòng tham, thói phàm ăn và dục vọng. Nhưng lòng đố kỵ vẫn len lỏi để trở thành một trong những cột trụ của xã hội hiện đại. "Nó từng bị coi là điều cấm kỵ, nhưng ngành kinh tế thị trường đang tận dụng nó hiệu quả như một công cụ sinh lời", giáo sư tâm lý Rolf Haubl cho biết.

Những công dân bình thường ném ánh mắt ghen tị về những nhân vật kiệt xuất, thèm muốn được như họ, và bằng cách đó, xã hội luôn vận động. Nhưng trong thời đại của sự bất bình đẳng, thì hệ thống này đang có những vết rạn nứt. "Niềm tin rằng mỗi người đều có thể tự tạo dựng cuộc sống cho riêng mình đang dần tan biến", Haubl nhận định.

Thành công không còn gắn liền với thành quả mà ở sự ngẫu nhiên. Những đặc quyền dành cho người ưu tú không còn công minh. "Điều này dẫn tới việc tranh đua trở nên mất hiệu quả và kết quả là chuyển biến thành sự đố kỵ", Neckel nói.

Tác giả Antje Balters cho rằng về bản chất, lòng đố kỵ là cuộc chiến của chúng ta với chính bản thân. "Chúng ta chỉ có thể vượt qua sự đố kỵ bằng cách thay vì mải mê nhìn theo người khác thì hãy nhìn lại mình. Mỗi người cần phải bằng lòng với bản thân trong giới hạn khả năng cho phép. Đó là cách hiệu quả nhất để xoá bỏ lòng ghen tị".

Còn theo nhà tâm lý Haubl, những người ganh tị chỉ tự làm giảm khả năng của mình bằng cách chạy theo những thứ phù phiếm. Đồng thời họ lại lãng quên việc nuôi dưỡng tài năng vốn có. "Sự đố kỵ hình thành nên một tầm nhìn chật hẹp. Chúng ta cần phải thay đổi cách nhìn để đạt được những thứ trong tầm tay".

Antje Schrupp cho biết nhiều phụ nữ muốn được độc lập về mặt tài chính nhưng lại không sẵn sàng trả giá cho nó, như khả năng làm việc nhiều giờ. "Đàn ông thường thích khoe khoang về những chiến tích của họ. Nếu đàn bà ghen tị, họ sẽ không tiết lộ nữa. Và sẽ tìm đến những cô bạn thân khác để ba hoa".

Nhân quả

Hỏi: Kính thưa Thầy! Con người từ đâu sanh ra? Chết đi về đâu?

Đáp: Con người từ nhân quả sanh ra, sống trong nhân quả, chết đi về nhân quả. Trả lời như vậy, quý vị rất khó hiểu và cũng không hiểu được như thế nào là đúng?

Các tôn giáo khác, thường có câu hỏi: “Con người từ đâu sanh ra, chết đi về đâu?”. Có tôn giáo cho con người sanh từ đấng Tạo Hóa; lại có tôn giáo cho con người sanh ra từ khí Âm và khí Dương; lại có tôn giáo cho con người sanh ra từ Đại Ngã; lại có tôn giáo cho con người từ Bản Thể Vạn Hữu sanh ra; lại có tôn giáo cho con người sanh ra từ miệng Phạm Thiên, do đức Chúa Trời sinh ra v.v..

Tất cả những giả thuyết trên đúng hay sai chúng ta không có ý kiến, nhưng đứng trong tôn giáo Phật giáo, thì đức Phật đã xác định: “Con người từ nhân quả sanh ra, sống trong nhân quả, và chết trở về nhân quả”. Đó là lời xác quyết rất hùng hồn, chỉ vì Ngài đứng trên lập trường “duyên hợp” của các pháp. Trong thế gian này không có một vật thể nào độc lập riêng lẽ tự nó. Cho nên tất cả vạn vật sanh ra đều do các duyên hợp mà thành.

Các pháp sanh ra đều phải do có hành động, có hành động mới sanh ra được, nói một cách khác các duyên hợp lại, phải trực tiếp qua các hành động, nhưng mỗi hành động đều không có sự hiểu biết, sự hiểu biết có được là nhờ vào tri thức, nhưng tri thức hiểu biết chỉ biết trong giới hạn “hữu hạn” ngoài vô hạn thì tri thức không hiểu rõ, vì thế sự hiểu biết của tri thức còn trong vô minh. Hành động thiện và ác nó đều không biết, cho nên từ đó tri thức tạo tác những hành động thân, miệng, ý khiến cho mình khổ và người khác khổ. Nhưng hễ có hành động, tức là có nhân quả.

Phật dạy: “Vô minh sanh hành, hành sanh thức”. Vì vậy, con người từ hành động vô minh sanh ra, nói cách khác cho đúng câu trả lời trên: “Con người từ nhân quả sanh ra”.

Trưởng lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây