Friday, January 2, 2015

Con người và xã hội đương đại với những khủng hoảng

Chưa bao giờ nhân loại lại phải đương đầu với lắm tệ nạn xã hội, và hiện trạng phức tạp như ngày nay. Hằng ngày có không biết bao nhiêu cảnh tượng đau lòng khủng khiếp, xấu xa bại hoại diễn ra trên thế giới và trong xã hội mà chúng ta hoặc chứng kiến hoặc được báo chí truyền hình đã truyền tin đăng tải.

Nào là chiến tranh khủng bố, nào là giết người cướp của, nào là xì ke ma túy, nào là bạo động biểu tình. Rồi thì, sự trừng phạt của thiên nhiên do môi sinh bị tàn phá, sự bùng nổ của những căn bệnh thế kỉ, sự đau đớn của những nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da cam. Thêm vào đó, hiện tượng li hôn, phá thai, tự tử, đạo đức xuống cấp, và nhiều tệ nạn xã hội khác đang ngày càng gia tăng đến mức báo động.

Tất cả những hiện trạng này cho thấy rằng con người và xã hội hôm nay đang đứng trước những khủng hoảng về tư tưởng, đạo đức, đặc biệt là về một nếp sống đẹp, và những khủng hoảng này mang tính chất toàn cầu chứ không phải riêng của một hay chỉ vài xã hội quốc gia cá biệt nào.

Khủng hoảng tư tưởng

“Tư tưởng không mang đến tri thức như những nhà khoa học, tư tưởng không mang đến sự khôn ngoan hữu ích cho phương thế hành xử trong cuộc sống, tư tưởng không giải quyết bất cứ ẩn ngữ nào của thế giới, tư tưởng không mang đến tức khắc những sức mạnh cho hành động”.

Nhưng, tư tưởng thật sự quan trọng, bởi nó vạch ra mục đích và hướng dẫn thái độ sống của con người. Con người có sống tốt đẹp hay không, xã hội có được ổn định hay không đều bắt nguồn từ tư tưởng. Nói như Hòa thượng Thanh Từ:

“Động cơ chính gây nên tội ác hoặc khiến con người đầu ngục nhớp nhơ trong biển sanh tử là tư tưởng. Ngược lại tạo vô lượng phước đức, đưa con người đến quả thanh tịnh giải thoát cũng do tư tưởng. Tư tưởng thủ một vai trò trọng yếu nhất trong đời người. Người nên, hư, tốt, xấu, tiến, thối... đều do tư tưởng quyết định”.

Điều này có nghĩa là, con người không thể có một đời sống cao cả giá trị, nếu không có một tư duy tốt đẹp, đúng đắn; xã hội sẽ không được ổn định nếu bị hướng dẫn bởi các hệ tư tưởng lệch lạc sai lầm. Và ngày nay, nhân loại với những thảm họa khôn lường ấy, phải chăng chính là hệ quả bởi sự khủng hoảng một hệ tư tưởng nhân văn làm nền tảng cho sự phát triển và tồn tại của xã hội?

Hỏi đã hàm nghĩa trả lời. Hãy nhìn xã hội loài người mà xem, tại sao con người ta lại dễ dàng tự tử? Tại sao có quá nhiều người lảng phí và hủy hoại đời mình bằng các cuộc rượu chè cờ bạc, xì ke ma túy? Rõ ràng tư tưởng của họ đang khủng hoảng. Họ mất phương hướng sống, sống không có lí tưởng, không có mục đích, sống chới với giữa dòng đời trăm ngã, không tìm ra được ý nghĩa và giá trị đích thực của cuộc đời. Chính vì thế, đối với hạng người nầy, cuộc đời quả thật vô vị. Do đó họ dễ dàng kết liễu đời mình chỉ vì những chuyện “chẳng đâu vào đâu”. Trường hợp của N.V. Tâm sau đây là một điển hình.

Chuyện kể rằng, trưa hôm đó Tâm đi đám cưới người quen, tới chiều về nhà nồng nặc mùi rượu nên bị mẹ la “đã không tiền không lo mần ăn mà còn nhậu hoài!”. Tâm tự ái ra sau nhà lấy dây treo thắt cổ, không kịp trăng trối.

Rõ ràng là một cái chết lãng. Nhưng, thế giới nầy đâu chỉ có một N.V.Tâm mà còn nhiều N.V.Tâm như thế. Nguyên nhân tại đâu? há chẳng phải do sự bất ổn của tư tưởng mà ra? Các vấn đề còn lại như xì ke ma túy, rượu chè cờ bạc, và các tệ nạn xã hội khác cũng vậy, đều là biểu hiện của những người sống mất định hướng, không có một lí tưởng sống.

Mặt khác, khủng hoảng tư tưởng còn đuợc nhìn thấy ở những con người có lí tưởng có mục đích, nhưng mà lí tưởng và mục đích vị kĩ, thấp hèn, và tàn bạo. Đây chính là động cơ thúc đẩy các cuộc chiến tranh đẩm máu, khủng bố bạo động và sự hãm hại lẫn nhau trong cuộc sống hằng ngày. Đúng như lời của Hòa thượng K.Sri Dammanada:

“Là một con người, chúng ta phải có mục đích cho cuộc sống. Kẻ không theo đúng con đường Chân chánh của đời sống sẽ không bao giờ nhìn thấy mục đích của cuộc đời và nếu không giữ một vài nguyên tắc cao thượng, kẻ đó sẽ trở nên   nguy hiễm cho xã hội. Không nghi ngờ gì, các nhà khoa học, tâm lý học đã mở rộng tầm tri thức cho chúng ta, nhưng họ đã không thể cho chúng ta một mục đích sống mà những nguyên tắc thánh thiện có thể đem đến.”

(As human beings we must have an aim in our life. A peson not observing a righteous way of life and will never find the aim of life and if he does not uphold some noble principles he can even become a danger to society. No doubts scientists and psychologists have widened our intellectual horizon, but they have not likewise been able to give us a purposse in life, which only noble principles could do.)

Vậy, vấn đề đặt ra ở đây là con người không chỉ sống có lí tưởng, có mục đích, mà còn phải là những lí tưởng và mục đích cao cả chân chánh. Đây là điều kiện cần và đủ để con người sống xứng đáng là một con người. Từ đó tạo dựng một xã hội ổn định hơn và trật tự hơn. Thế nhưng thời nay con người ít sống với lí tưởng và mục đích như thế. Và đó là lí do khiến cho xã hội loài người ngày càng trở nên hỗn loạn và phức tạp.

Có lẽ xã hội đang thiếu vắng một tư tưởng hệ đúng đắn để chỉ đạo tư duy và nếp sống của con người. Mặc dù thế giới hôm nay có rất nhiều hệ tư tưởng, nhưng hầu hết các hệ tư tưởng ấy cũng đang rơi vào khủng hoảng, ngay cả các hệ tư tưởng được xem là “ Vị Nhân”như là hệ tư tưởng triết học, hệ tư tưởng khoa học, hay hệ tư tưởng tôn giáo học. Điều nầy cũng dễ hiểu, bởi lẽ trong khi thế giới đang đang đòi hỏi một hệ tư tưởng đúng đắn để chỉ đạo và hướng dẫn tư tưởng con người hướng về Chân- Thiện- Mỹ, thì triết học, khoa học, và một số tôn giáo học lại không làm được như thế. Chúng ta sẽ tìm hiểu sơ về tôn chỉ của ba hệ tư tưởng này để thấy rõ sự bất lực của nó trong thế giới hôm nay.

Tư tưởng triết học thì chỉ giải quyết được những thắc mắc nội tâm và nhu cầu tri thức của con người, như là trả lời câu hỏi “giữa vật chất và ý thức cái nào có trước cái nào có sau và cái nào quyết định cái nào” cũng như “con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?”. Điều nầy có ý nghĩa gì đối với hiện trạng rối ren của thế giới? Sau đây là nhận định của Thích Tâm Thiện :

“... Tư duy triết học quả là một tiến bộ của nhân loại. Song, những chủ đề mà tư duy triết học quan tâm, tìm kiếm như các chủ thuyết về duy tâm luận khách quan, chủ quan, ý chí kinh nghiệm, trực giác v.v... đều là những viễn kiến của tri thức hữu hạn của con người. Do đó mỗi chủ thuyết đều bị giới hạn bởi khái niệm, ngôn từ và nhất là bởi những thiên kiến. Tuy nhiên cái khuyết điểm lớn nhất của tư duy triết học là ở chổ tính chất giả định của nó hoàn toàn bất lực trong việc định hướng một con đường đi vào chân lí và hạnh phúc thật sự cho con người. Vì với con người, hạnh phúc là chân lí của đời sống hiện hữu chính là đối tượng thực thụ ngìn năm mà con người đi tìm kiếm. Vì thế, trước khát vọng thống thiết của con người: chân lí hạnh phúc, mọi cơ cấu của các luận triết trên đều rơi vào tha hóa”.

Nào riêng gì triết học, mà dưới sự thành tựu và phát triển của khoa học kĩ thuật, con người càng bị tha hóa nặng nề hơn và “toàn diện” hơn. Nói như thế không có nghĩa là chúng ta phủ nhận vai trò của khoa học. Nhưng sự thật là khoa học càng tiến bộ thì thế giới càng có nhiều biến động hỗn loạn. Điển hình như là sự ô nhiễm môi trường do chất thải từ các nhà máy, con người sát hại lẫn nhau thông qua các vũ khí hết sức hiện đại... Vụ khủng bố có tính chất lịch sử vào ngày 1-9-2001 tại Hoa Kì, các cuộc chiến tranh đẩm máu ở Apganistan, ở Irac v.v...tất cả đều có liên quan đến sự tiến bộ của khoa học kỉ thuật. Có thể nói rằng khoa học không những không giải quyết được những khủng hoảng của thế giới mà còn làm cho thế giới tăng thêm sự khủng hoảng.

Vậy, triết học, khoa học, không phải là cơ sở để ổn định thế giới đang hỗn loạn, thế thì tôn giáo có làm được chăng?

Chúng ta biết rằng, tôn giáo là điểm tựa cần thiết cho tinh thần của con người. Nhưng hầu hết các tôn giáo đều ru ngủ con người trong ảo tưởng bằng các thuyết thần linh định số, hay sự tồn tại của một đấng toàn năng. Điều này ở một mặt nào đó nó có lợi thật sự vì dù sao nó cũng cho con người một niềm tin để sống. Nhưng mặt khác nó làm tê liệt ý thức vươn lên để hoàn thiện nhân cách của con người, đồng thời nó khiến con người sống buông xuôi phó mặc. Đó là chưa nói đến các dị giáo cuồng tín như là các giáo phái “thiên niên kỉ”. Nhìn vào các dị giáo nầy ta mới thấy con người bị khủng hoảng tư tưởng đến mức độ nào.

Nói tóm lại, khủng hoảng tư tưởng là một bi kịch của cuộc sống, vì nó đưa xã hội loài người rơi vào hai cực đoan: một là sống phó mặc, bất cần đời, sa đọa và trụy lạc; hai là sống tham vọng, đấu tranh, bạo tàn và tội ác. Hệ quả của hai lối sống nầy là đạo đức con người bị suy thoái trầm trọng. Cho nên có thể nói rằng, liền theo sự khủng hoảng tư tưởng là khủng hoảng đạo đức.

Khủng hoảng đạo đức

Đạo đức là điều kiện không thể thiếu trong cuộc sống con người, là cơ sở chuẩn mực để con người được gọi là Người đúng với ý nghĩa đích thực của nó. Thế mà ngày nay đạo đức con người bị suy thoái trầm trọng. Cái gọi là đạo lý, là lương tâm, là tình người, càng ngày càng ít được quan tâm; để rồi sự hận thù, tranh chấp, ác độc, và tàn bạo lan tràn khắp mọi nơi.

Trong gia đình, cái đạo đức luân lí bị đảo lộn. Con cái thay vì “một lòng thờ mẹ kính cha” thì giờ đây lại xuất hiện cái tệ nạn chửi mắng, hành hung, thậm chí có kẻ nhẫn tâm giết chết người đã sanh ra mình. Vợ thì âm mưu hãm hại chồng để tự do qua lại với người đàn ông khác, chồng thì chỉ một chút giận hờn mà công khai dùng bạo lực đối với vợ.

Nhà trường, nơi được xem là nền tảng, là cơ sở cho sự hình thành và phát triển đạo đức thì giờ đây bị xúc phạm đáng kể. Một số học sinh rơi vào nghiện ngập tiêm chích, dẫn đến trộm cắp, thậm chí giết người cướp của. “Những thiên thần của thế giới” nầy thế là trở thành tội phạm của quốc gia. Hiện tượng trò đánh thầy cũng không phải là không có. Ở các nước phương Tây, nhất là ở Mỹ, học sinh tự do mang súng vào trường, chúng đe dọa, hành hung giáo viên, nếu những người này la rầy hoặc cho chúng điểm kém.

Ngoài xã hội, người ta mưu hại lẫn nhau để tranh giành danh vọng và địa vị. Hai chữ đạo đức hầu như bị lãng quên.

Đạo đức bị khủng hoảng, có những con người sống đời sống của những con quái vật, mang thân người mà hoàn toàn mất hết tính người. Đó là những kẻ giết người không gớm tay, xem sự giết chóc chỉ là trò chơi giải trí. Sự khủng bố tàn khốc vào ngày 1-9-2001 như trước đã nêu là một minh chứng vậy.

Trong lịch sử thế giới, có bao giờ con người lại ăn thịt đồng loại mình, thế mà ngày nay lại có mới là điều đáng nói. Sự thật này đã xảy ra trên đất nước Philipines mới hồi tháng 8 của năm (2004) nầy. Chuyện kể rằng, có bốn người sau khi giết người họ hàng của mình rồi dùng dầu hỏa và lá dừa để quay thịt người ấy. Ăn xong, họ đem số thịt còn lại “phục vụ” cho khách mời đám cưới ( vốn xỉn nên không hay biết gì).

Tóm lại, trong thế giới hôm nay, vấn đề đạo đức bị khủng hoảng trầm trọng. Từ châu Mỹ, châu Âu, cho đến tận châu Á; từ thế giới, xã hội, cho đến tận gia đình; từ đời thường, báo chí, cho đến tận phim ảnh...đâu đâu cũng thấy những hiện trạng suy thoái đạo đức, bại hoại gia phong. Đến nỗi, xem phim ảnh cũng khiến cho người ta cảm thấy căng thẳng và sợ hãi. Sau đây là lời tâm sự của nhà báo Đoha Chams, ông ta than phiền rằng, những triệu chứng hoảng sợ bắt đầu xuất hiện kể từ khi ông ta rinh chiếc ti vi vào phòng, ông phải nhiều đêm mất ngủ và mơ thấy những giấc mơ khủng khiếp bởi những hình ảnh cực kì bạo lực, cực kì xấu xa, và cực kì nhảm nhí mà ông đã được xem từ đó. Những hình ảnh ấy được Đoha Chams tường thuật như sau:

“Bấm remote ở beirut, bạn có thể thấy gì? Trên kênh đầu tiên, một thằng nhóc bị quỉ ám đang rình lúc trăng tròn để “thịt” cha mẹ nó. Tôi dừng lại hơi lâu ở kênh thứ hai, bởi vì ở đây có robert de niro (tài tử gạo cội Mỹ). Ông ta sắm vai chính trong một bộ phim có mấy anh em trai bị bà mẹ xúi quẩy ăn nằm với một cô gái trước khi “thịt” cô ta. Kênh kế tiếp có những sinh vật ngoài hành tinh với cái đầu và đôi tai dài ngoẵng, chỉ phản ảnh duy nhất ý niệm về “ người ngoài hành tinh” của các đạo diễn mỹ. Rồi tôi bấm kênh khác, thấy một đám diễu hành mà những người tham gia đều mặc đồ liệm. Đó là tin tức nói về cuộc trình diễn các xác chết ở Iraq xen lẫn với cuộc họp báo của tổ chức Ân xá quốc tế tố các lính Anh giết hại thường dân nước nầy. Bấm tiếp romote, tôi sang đén kênh tử vi của Rifaat al-Assad( bác của tổng thống syria), rồi đến một mộ phim nhiều tập của Mexicô, trong đó một ả đẹp ác lấy một anh chàng bô trai vừa mới li dị với cô bạn thân (cũng đẹp ác) của ả, trong khi bà mẹ chồng (đẹp dữ dội) tìm cách thủ tiêu ả. Kênh kế tiếp chiếu xác những binh lính Isreal bị hành quyết sau khi đột nhập giải gara. Kênh sau đó phát một bộ phim nhiều tập của Ai cập, trong đó mơn mớn niềm kiêu hãnh”bốn vợ”của nam giới trung lưu Ả rập”.

Đó là một bức tranh thu nhỏ về những “gương mặt đen của” xã hội đương đại. Chúng ta có thể cho rằng đó chỉ là phim ảnh, nhưng nó phản ánh đúng hiện thực của một xã hội xuống cấp về đạo đức.

Đạo đức là nét đẹp muôn thủa của con người. Nó là điều kiện đầu tiên cần phải có để con người xây dựng một nếp sống nhân bản, cao quý- Một nếp sống đẹp - Cho nên, một khi đạo đức bị khủng hoảng, thì nếp sống đẹp cũng bị khủng hoảng vậy.

Nói tóm lại, khủng hoảng tư tưởng làm cho con người mất thăng bằng trong cuộc sống, điều nầy có ảnh hưởng rất lớn đến đạo đức luân lí làm người, xã hội do đây thiếu vắng những nếp sống đẹp, xã hội mà thiếu vắng những nếp sống đẹp là động cơ cho các tệ nạn và bạo lực hoành hành. Chúng ta biết, đời người có ý nghĩa và giá trị, gia đình được hạnh phúc êm ấm, xã hội ổn định và trật tự, thế giới an lạc và thanh bình...tất cả đều do con người biết sống và sống đẹp. Thế mà ngày nay mọi nếp sống đẹp dần dần bị thiếu vắng. Các đạo lí vốn rất cao quý mà người Việt Nam thường quan tâm nhắc nhở như:

“Kính trên nhường dưới ”

“Thương người như thể thương thân”

“Lá lành đùm lá rách”

“Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”

. v.v.., đã bị mai một dần.

Xã hội thiếu đi sự tương thân tương ái, con người phần nhiều sống theo chủ nghĩa “sống chết mặc bay”, “mạnh ai nấy sống”. Nói chung, đạo đức và tình người ít được chú trọng. Các lối sống lịch sự, lễ độ, đức hạnh, nhân từ...thật đẹp biết dường nào, thế mà ngày nay chẳng có là bao. Người ta xung đột nhau bằng ánh mắt, ngôn từ, và hành động: nhìn nhau bằng cái nhìn ác cảm, thù địch; nói năng thì toàn những lời “bất hảo” làm nản lòng người; hành động thì trái với chân lí, trái với chuẩn mực xã hội, làm cho quan hệ giữa người và người ngày càng trở nên xấu đi. Đây quả là vấn đề hết sức nan giải mà con người và xã hội đương đại đang phải đối đầu. Nếu xã hội loài người cứ tiếp tục với những nếp sống như thế, thì không biết rồi thế giới nầy sẽ đi về đâu? Cho nên vấn đề cấp thiết được đặt ra bây giờ là, mọi người phải cùng nhau xây dựng nếp sống đẹp, vì đây là giá trị tồn tại của xã hội loài người. Song, muốn được như vậy, xã hội đòi hỏi phải có một triết lí nếp sống đẹp đúng đắn chung nhất để làm cơ sở chỉ đạo cho tất cả.

Chân Huệ Minh

Cách thức tu tập xả tâm

Muốn trau dồi tâm xả các pháp thì ta phải làm sao? Hãy tìm một nơi thanh vắng, tịch mịch như trong rừng, gốc cây, hang đá, khe núi, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, bóng mát, trong chòi lá để tập xả các pháp. Ở ngay trung tâm thành phố thì làm sao xả được?

Sau khi ăn cơm độ hai tiếng đồng hồ, khi thức ăn đã tiêu hóa, lúc không thấy no, ta mới bắt đầu tu tập: ngồi kiết già, lưng thẳng, an trú, đặt niệm trước mặt, quán sát:


Con người ta sinh ra từ sắc dục. Nó là con đường sanh tử, luân hồi, cho nên ta phải lấy nó làm đối tượng quán chiếu. Nó là con đường đưa đến đau khổ cho ta và cho người. Thương yêu, cưới nhau, rồi sinh con đẻ cái, lo nuôi nấng cho con lớn khôn, rồi dựng vợ, gả chồng cho nó. Cả một đời đau khổ! Vậy mà người ta cứ chạy theo sắc dục. Quả là vô minh! Quả là ngu si! Ta phải như lý tác ý: “Sắc dục là con đường sanh tử của muôn loài, con đường đau khổ từ kiếp này sang kiếp khác. Ta ph ải xả bỏ, từ khước, thoát ly, ra khỏi, từ giã, không nên để tâm vướng mắc nó nữa.” Ngồi yên lặng một lúc thì ta lại tác ý xả nữa, xả hoài cho đến khi nào ta thấy tâm ta hoàn toàn sạch hết thì sự tu tập mới viên mãn.

Đức Phật dạy như thế mà thôi, riêng Thầy, rút ra từ kinh nghiệm bản thân, Thầy dạy cho các con để tu tập rốt ráo, để thấy con đường giác ngộ thênh thang. Nếu không đặt niệm trước mặt, không dùng pháp hướng như lý tác ý thì khó mà xả được tâm này. Nó chờ cơ hội để bùng lên như lửa. Ta phải tu tập hoài để cho nó thấm nhuần tận xương tủy mới thôi. Chớ có tưởng ngồi im lặng một lúc thấy khinh an, hỷ lạc mà hài lòng. Hàng ngày các con phải siêng năng trau dồi, tu tập câu này để đoạn tuyệt, dứt tận tâm ái dục. Bản thân chúng ta sinh ra từ cha mẹ ta cũng là do tâm này, cho nên ta cũng không dễ gì mà dứt được tâm này.

Nếu câu này mà chưa đạt được kết quả (hãy còn dục) thì ta hướng tâm như lý tác ý: "Sắc dục là bất tịnh, là uế trược, nhớt nhao, hôi thúi, khó chịu vô cùng, tạo muôn ngàn tật bệnh, tai ương, và truyền nối nhau nhân quả luân hồi từ kiếp này sang kiếp khác, không bao giờ dứt, một người để lại muôn người khổ, nối tiếp nhau vô cùng vô tận. Ta phải xả bỏ, xa lìa, viễn ly vĩnh viễn, xem nó như rắn độc, ung nhọt, cho nó là hiểm nguy nhất, là tai họa, là ác độc, là bệnh truyền nhiễm, nan y, khó chữa. Dứt khoát từ bỏ!" Câu sau mạnh hơn, như truyền lệnh thì may ra ta mới có thể xa lìa. Cuộc đời tu hành là cả một sự rèn luyện, trau dồi chứ không thể nói suông được. Nhắc xong là ta ngồi đó để lặng tâm, giữ tâm thanh thản. Một lúc sau ta lại nhắc nữa, nhắc hoài như đập những nhát búa để cho tâm dần dần thấm nhuần, trau dồi tâm, xả sạch sắc dục, thấy sắc dục là ta hoảng sợ, không dám nghĩ tới. Nếu không thì nó sẽ ngủ ngầm, tạm thời nằm yên, nhưng có dịp là nó len lén ngắm nhìn (người nữ). Tu tập được thì thấy nó như rắn độc, là bệnh tật, là khổ đau, không còn cảm giác thích thú nữa.

Trong kinh Tứ Niệm Xứ có dạy trên thân quán thân, nhưng đây là dạy chung chung, người tu tập chưa nắm vững. Thí dụ Phật dạy trên thân quán thân để khắc phục tham ưu của mình mà mình không biết lúc nào khắc phục tham ưu, lúc nào khắc phục bất tịnh. Ở đây ta xả cái tâm sắc dục, tâm ái bằng cách đặt niệm trước mặt, tức là trên thân của ta quán thân, quán thân mình và quán các pháp bất tịnh. Sau này có dịp Thầy sẽ giảng rõ hơn, dùng câu pháp hướng nào để phá vỡ, cái nào mà ta đang bị vướng mắc. Người đọc kinh sách Phật, không hiểu mà tu tập, nay pháp này, mai pháp khác, không có kết quả cụ thể, càng tu càng chán nản, lầm đường, lạc vào pháp tu của ngoại đạo mà cứ tưởng là pháp Phật.

Tóm lại, muốn xả tâm vô lượng ly sắc dục thế gian thì ta phải siêng năng trau dồi tâm xả của ta. Hàng ngày không được biếng trễ thì mới xả ly được. Hãy tinh tấn, chớ có phóng dật theo nó, nghĩa là luôn luôn tinh tấn, ngăn chặn, nhất là đối với nữ sắc. Đó là điều tiên quyết quan trọng. Đừng có nhìn gương mặt người nữ, đừng có nhìn tướng tá, làn da người nữ, mắt, môi của người nữ. Phật dạy: Ta không thấy có một pháp nào lôi cuốn người nam bằng nụ cười, ánh mắt, làn da, hương thơm của người nữ. Vậy muốn tập xả tâm này thì ta không được phóng tâm theo nó, đừng chạy theo nó. Ráng tập luyện xa lìa nó như vậy độ ba tháng sau quý vị sẽ thấy kết quả rất tuyệt diệu. Nếu quý Thầy tu tập mà hôm sau gặp các bà, các cô mà nói chuyện huyên thuyên thì thà rằng trở về nhà cưới vợ cho xong, ngồi tu cho có hình thức làm gì, vô ích.

2. Xả tâm vô lượng của báu, vàng bạc của cải thế gian:

Xả tâm vô lượng là xả tất cả (vô lượng) các pháp, mà tiền bạc châu báu là thứ khó xả nhất. Bởi vậy phải tu tập, nhắc đi, nhắc lại nhiều lần. Ta nghe chuyện ông Bàng Long Uẩn đem hết của cải, vàng bạc đổ hết xuống sông, nhưng có mấy ai làm được? Có người cho rằng ông ta ngu quá, tại sao không cho người khác? Đó là suy nghĩ không đúng. Ta đã biết nó là tai họa, ta cố chừa bỏ mà ta lại mang cái khổ, cái họa cho người khác hay sao? Ông Bàng Long Uẩn thấu rõ điều ấy nên ông vứt bỏ, không nuối tiếc.

Ta phải ngồi kiết già, lưng thẳng, đặt niệm trước mặt, dùng pháp như lý tác ý câu này: "Tiền bạc, của cải, châu báu là những thứ vật chất lôi cuốn ta rất mạnh, làm cho tâm ta ưa thích, say mê mà chạy theo, tạo ra biết bao điều tội ác. Người nông dân khó nhọc mới có hạt gạo cho ta ăn, lưỡi cày đã cắt đứt biết bao nhiêu côn trùng, rồi thuốc trừ sâu, diệt cỏ ... Đó là cái nghề lương thiện mà còn mang nghiệp sát, huống hồ là những nghề không lương thiện, lường gạt, hãm hại nhau vì từng đồng bạc mà xâu xé giết hại nhau." Nên lấy câu trạch pháp này mà trau dồi nhiều lần để tâm ta thấm nhuần.

Tiền bạc của cải, châu báu thế gian là tên chủ độc tài, sai bảo ta làm bất cứ cái gì ta cũng mờ ám vâng theo, tạo ra rất nhiều tội lỗi. Vậy ta phải từ giã, xa lìa, ông chủ này để thoát kiếp nô lệ. Chính nó bắt ta hút thuốc, uống rượu, cờ bạc, tạo nhiều điều tội lỗi.

Những kẻ xa lìa tiền bạc, của cải, danh lợi mới là bậc chân tu. Khi họ cất chùa to là họ bị đồng tiền sai sử. Ta phải ghi nhớ điều này: người tu sĩ không nô lệ cho ông chủ tiền bạc. Nếu các tu sĩ mà còn cất giữ tiền bạc, tiếp nhận của cải vật chất thế gian càng nhiều thì càng ăn ngủ không yên (sợ vua tịch thu, chính phủ nghi ngờ, kẻ gian vào, trộm cướp hãm hại) mạng sống như chỉ mành treo chuông. Vì vậy ta phải xa lìa, dứt bỏ chúng. Phải ghi nhớ mãi câu pháp hướng, như lý tác ý để ta vĩnh viễn xa lìa vật chất chế gian, trau dồi tâm xả vô lượng.

Đó là xa lìa của cải, tài sản lớn. Người tu thì không ham tài sản, của cải lớn, nhưng có người lại kẹt vào tài sản, của cải nhỏ như cái y, cái bát, cố cất giữ cho riêng mình.

Tùy theo đặc tướng của mỗi người mà lựa chọn một trong hai pháp hướng kể trên. Hoặc có thể dùng câu pháp hướng sau đây: "Tài sản, của cải, vật chất chế gian là rắn độc, ung nhọt, truyền nhiễm. Có ngày ta sẽ bị rắn độc cắn, hoặc bị bệnh truyền nhiễm. Ta hãy xa lánh nó như bị bệnh cùi; đừng cất giữ, đừng tích trữ." Tóm lại, cần trau dồi, tu tập tâm này cho đến khi thấm nhuần mới mong viễn ly được tâm đắm nhiễm tiền bạc, châu báu thế gian.

3. Xả vô lượng tâm danh: Danh là tiếng khen, tiếng ca ngợi, tán thán, tốt đẹp, chứng ngộ, chứng đạo, được trao truyền quan chức, trao truyền tâm ấn, cấp bằng này, cấp bằng nọ, Đại Đức, Sư Bà, Sư Trưởng, Hòa Thượng, Thượng Tọa, Giám Đốc, Phó Giám Đốc, Viện Trưởng, Phó Viện Trưởng, Viện Chủ, Pháp Chủ, thiền đức, cao tăng, giới đức, thánh hiền, thần, thánh, tiên, Phật. Ai mà không muốn làm trụ trì? Ai mà không mong làm Pháp Chủ, Viện Trưởng? Khi được danh thì người ta thích thú, nên bị thu hút chạy theo danh. Có người quá cuồng loạn, rồi thất vọng, tự tử. Có người công danh không thành, tình yêu bị phụ rẫy nên vào chùa đi tu. Có kẻ mơ được cái danh nhỏ như làm thầy thông, thầy ký, thầy giáo, cô giáo (còn hơn là làm đầy tớ bị người ta xem thường). Có người làm phó đội trưởng mơ làm lên đội trưởng; khi làm đại tá thì mặt cứ ngẩng lên trời, nghênh ngang chẳng coi ai ra gì. Thật ra những người có quyền có chức cũng là con người như ta. Họ cũng có niềm vui, nỗi buồn, bệnh hoạn, khổ sở như bao nhiêu người khác. Vậy thì tại sao lại phải khúm núm trước kẻ quyền uy? Việc gì mà ta phải sợ hãi?

Có người đi làm từ thiện, kêu gọi người ta đóng góp, rồi cầm tờ giấy khen để khoe thiên hạ là mình đã cúng chùa bao nhiêu tiền, giúp cho bao nhiêu viện mồ côi, đã bao nhiêu lần tạc tượng, đúc chuông, v..v... Nhưng thử hỏi tâm họ có thật từ thiện không? Hay là mở miệng ra thì mắng chửi người như tát nước? Vậy thì ta thương người ở chỗ nào? Chạm tự ái họ là họ muốn giết ta. Có người thì đến đâu cũng có tiền hô hậu ủng, có năm, mười chiếc xe chạy theo hộ tống?

Tóm lại, danh là thứ dục nuôi lớn bản ngã con người. Bản ngã lớn lên theo cái danh vọng, địa vị của người ta. Hôm qua còn làm đầy tớ, ngày nay làm quan thì cái mặt cứ vênh váo. Như người đánh xe ngựa cho Thừa Tướng Yến Anh, anh ta cứ tưởng mình là Thừa Tướng, nên đi đâu cũng quát tháo, đánh đuổi người ta. May mà anh có bà vợ biết điều, đã sửa đổi tâm tánh anh. Bởi vậy ta phải thường xuyên như lý tác ý: "Tâm con người ai mà không háo danh. Phải đánh cho nó gục xuống, đừng bao giờ để cho nó có cơ hội vùng lên." Đến phần thực hành, chúng ta cần phải lưu ý, tâm chuyên nhất cảnh. Ta phải chọn một nơi thanh vắng, như bãi tha ma, sơn lâm, đống rơm, chòi lá, gò mả, đồng trống, gốc cây, gộp đá. Sau khi ăn cơm xong, nghỉ ngơi độ hai giờ, ta ngồi thẳng lưng, như lý tác ý. Thí dụ:

- "Danh là một dục lạc ảo giác, nuôi lớn ngã mạn, khiến tâm ta thường đau khổ, hay tranh cãi, lý luận, phiền não. Ta hãy xả bỏ, từ bỏ, chỉ biết có tu hành thanh tịnh tâm để ra khỏi sanh tử, luân hồi mà thôi."

- "Danh là tên giặc hão huyền không có thật. Nó thường lôi cuốn tâm ta tỏ ra những hạnh xấu, hiu hiu, tựđắc, tự cao, tựđại, cống cao, ngã mạn. Ta hãy xem như không có thật. Ta chỉ là một con người như bao nhiêu người khác, một con người rất tầm thường mà thôi."

- "Danh là một thứ dục lạc, vô hình, thu hút, cám dỗ ta rất mạnh, khiến cho ta thêm ngã mạn, cống cao, do đó sanh ra ngũ triền cái (tham, sân, si, mạn, nghi). Danh khiến cho triền miên đau khổ, vậy ta ph ải cương quyết từ bỏ, viễn ly, xa lánh cái danh."

 - "Danh là một dục lạc có một ma lực vô hình, cám dỗ, lôi cuốn con người vào trong sanh tử luân hồi. Vậy ta từ phải bỏ, viễn ly, xa lánh cái danh dù bất cứ trường hợp nào."

Người tu sĩ lãnh đạo tăng đoàn mà lãnh cái danh vào chùa là lãnh rắn độc, rắn sẽ cắn chết chúng tăng. Vậy người tu sĩ phải xa lánh cái danh, cái lợi để cứu lấy chúng tăng, và cứu lấy Phật giáo. Hàng ngày ta phải đặt niệm trước mặt, hướng tâm như thế, không khéo thì bản ngã ta nó đồ sộ thêm lên theo cái danh ấy. Người tu sĩ phải ghi nhớ là trong năm pháp dục lạc thì danh là hơn cả, khó trị vô cùng. Phải đập nhẹp nó, trừ khử nó. Đừng để cho nó vùng lên, và điều khiển ta.

4. Xả tâm vô lượng tâm ăn:

Làm người ai mà không thích ăn ngon. Xả cái ăn không có nghĩa là ta ăn muối, mà chính là xả cái tâm tham ăn. Nó là một dục lạc lớn trong đời ta. Nên nhớ ăn để mà sống, chớ không phải sống để mà ăn. Hãy quán cái ăn như uống thuốc, như trị bệnh ghẻ lở.

Ăn mà thấy ớn, thấy ngán, là bị dục lạc cám dỗ. Ăn mà thấy ưa thích cũng bị dục lạc cám dỗ. Chừng nào không ưa thích ăn ngon, không chê thức ăn dở, không ngán, không ớn là không bị dục lạc ăn cám dỗ.

Tóm lại, ăn là thứ dục lạc ghê gớm (do thức ăn tiếp xúc với vị giác) tạo nên sự ưa thích, cám dỗ khó cưỡng lại. Phàm phu không học thánh pháp và tùy pháp nên thường bị ngã gục trong mặt trận cám dỗăn uống này. Chỉ có bậc tu hành, giữđúng giới hạnh mới thoát ra được. Thí dụ lâu ngày không ăn đường thèm quá, thấy ai mời một ly sữa là phóng tới lấy ngay. Thèm chua, nghe người ta tả trái me chua cũng đủ chảy nước miếng, huống hồ là nghe người ta ăn, nhai nhóp nhép.

Muốn không thèm ăn thì phải thường như lý tác ý để cho thành tựu. Bị cám dỗ bởi cái kẹo, ly nước chanh, hay một viên sinh tố (vitamin) C, hoặc viên thuốc có dạng kẹo (kẹo ho) còn mang tội ăn phi thời, huống hồ là ăn các thức ăn khác. Người tu hành phải diệt trừ cái tâm tham ăn, làm chủ cái ăn, không ăn phi thời. Tu thiền mà ăn một ngày ba bữa thì chừng nào mới làm chủ được sống chết? Người nào còn chạy theo dục lạc ăn, ăn phi thời là phi phạm hạnh, là ngạ quỉ, quỉ sa tăng.

Phần đông các tu sĩ ngày nay, từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc đều bị quỷ dục lạc ăn cám dỗ và lôi cuốn xuống địa ngục. Không khắc phục được ma dục ăn thì làm gì tu được chánh thiền, chánh định! Tu sai một hào ly là cách xa đạo giải thoát một ngàn dặm. Đi tìm đạo giải thoát mà tự trói mình trong ăn uống thì giải thoát ở chỗ nào? Người ở thế gian bị lôi cuốn vào cái ăn đã đành, người tu sĩ không giải thoát được cái ăn không thấy xấu hổ sao? Như vậy thì làm sao giải thoát sinh tử? Có người nhập thiền định không ăn uống từ bảy ngày cho đến một tháng mà không chết (sau đó phục hồi dần cơ thể, sinh hoạt lại bình thường). Nhập thiền định một ngày là làm chủ sống chết một ngày, nhập được một tháng là làm chủ sống chết được một tháng.

Người tu làm chủ sanh, già, bệnh, chết, ưu bi, sầu khổ là chỗ nào? Đó là chỗ lìa được ba cái dục danh, sắc, lợi nói trên. Ở đây, lìa cái ăn tức là lìa sống chết. Người tu sĩ phải từ bỏ tài sản nhỏ, tài sản lớn, bà con quyến thuộc nhỏ, bà con quyến thuộc lớn, từ bỏ danh lợi thế gian, quyền tước lớn, nhỏ, để sống thiểu dục, tri túc (ba y một bát). Đó là sống như lời Phật dạy: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành thì mới giải thoát được sanh, già, bệnh, chết, ưu bi, sầu khổ, chấm dứt luân hồi.

5. Xả vô lượng tâm ngủ:

Ngủ là một trong năm thứ ngũ dục lạc, khiến cho ta thích thú, ham ngủ. Ngủ cũng là trạng thái ngu si, mê muội, bần thần, dã dượi, lười biếng. Cho nên người lười biếng là người ham ngủ. Ăn chơi, trác táng, cờ bạc, rượu chè, thức khuya, làm việc quá nhiều cũng sanh ra buồn ngủ.

Trong việc tu tập thiền định thì ngủ có nhiều cấp độ:

Hôn trầm: Ngồi một lúc là gục xuống, rồi lại ngẩng lên.

Thùy miên: Cúi đầu xuống, quẹo cổ qua một bên và ngủ thiếp đi.

Hôn tịch: Lúc mê, lúc tỉnh, mơ mơ, màng màng. Thí dụ: Ý tu tập đếm hơi thở mà lúc nhớ, lúc quên.

Vô ký: Chợt quên. Khi quên thì tâm không còn tỉnh giác, vọng niệm liền khởi.

Ngoan không: Vô ký kéo dài là ngoan không, còn gọi là không ngơ. Ngoan không là nguyên nhân phát sinh ra trí tuệ tưởng giải.

Phật dạy người mới tu phải tu Chánh Niệm Tỉnh Thức, kinh hành nhiều, (làm cho sức tỉnh thật mạnh), trên thân quán thân, theo hành tướng ngoại để sức quán cho vững, và không rơi vào hôn trầm, thùy miên, hôn tịch, vô ký. Không lo tu tập tỉnh thức mà lo ngồi kiết già, quán hơi thở, đặt đề mục, ngồi quá lâu, cơ thể mỏi mệt, thì hành giả sẽ thiếp dần trong trạng thái mỏi mệt, mất khả năng suy tư, làm cho ngu si, tu hành lạc nẻo mà không hay biết. Cho nên tất cả những loại ngủ này đều gọi chung là si thiền, si định. Người tu theo tà thiền, định tưởng thường rơi vài năm loại ngủ này, không sao tránh khỏi.

Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Xem thêm: Ba đức (nhẫn nhục, tùy thuận, bằng lòng); Ba hạnh (ăn, ngủ, độc cư) 
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây

Đã biết vô thường sao còn phiền não?

Bạn hiền,

Đời này tranh đấu là vì cái gì? Tất bật lo toan, bon chen cuộc sống cầu mong tiền tài vật chất danh vọng là vì cái gì? Yêu đương cuồng nhiệt, hờn ghen, oán giận đến mức tự làm hại bản thân và người khác cuối cùng là vì cái gì?

Con người đến với cuộc đời này có 2 bàn tay trắng, mà rời khỏi thế gian cũng hai bàn tay trắng, mang theo được gì? Một người tung hoành ngang dọc cả cuộc đời, danh vọng tiếng tăm lừng lẫy đến khi qua đời cũng giống như một người ăn mày ngoài phố, tay trắng vẫn là tay trắng. Tình cảm cũng thật vô thường, có lúc cuồng dại , có lúc lại lạnh băng đến tàn nhẫn. Vẫn biết là thay đổi, sao lòng vẫn cứ níu kéo? Mà chính cái níu kéo đó gây nên đau khổ vô cùng. Vẫn biết là đau khổ, vẫn biết là nhẫn tâm, vẫn biết đến cuối cùng tất cả chỉ là phù du, sao vẫn cố chấp?

Biết bạn là đạo Thiên Chúa, những lý lẽ Phật Pháp này có thể nghe lạ lẫm; vậy xin trích một đoạn tâm sự của Trịnh Công Sơn mà an ủi bạn vậy:

“Càng yêu ta càng thấy: có tình yêu thì khó mà mất tình thì quá dễ. Hôm qua mới yêu nhau đấy, hôm nay đã mất rồi. Mất sạch như người đi buôn mất hết vốn liếng. Cứ tự an ủi mình khi nghĩ rằng mình đau khổ thì có một kẻ khác đang hạnh phúc. Và biết đâu cái thời gian mình được yêu thì một người khác cũng đang đau khổ vô cùng. Nghĩ thế thì thấy cuộc đời bỗng nhẹ nhàng hơn và cũng dễ tha thứ cho nhau. Sống mà giữ mãi trong lòng những hờn oán thì cũng nặng nề.

Có người bỏ cuộc đời mà đi như một giấc ngủ quên. Có người bỏ cuộc tình mà đi như người đãng trí. Dù sao cũng đã lãng quên một nơi này để đi về một chốn khác. Phụ đời và phụ người hình như cũng vậy mà thôi. Người ở lại bao giờ cũng nhớ thương một hình bóng mình đã mất. Khó mà quên nhanh, khó mà xóa đi trong lòng một nỗi ngậm ngùi.

Tưởng rằng có thể quên dễ dàng một cuộc tình nhưng hóa ra chẳng bao giờ quên được. Mượn cuộc tình này để xóa cuộc tình kia chỉ là một sự vá víu cho tâm hồn. Những mảnh vá ấy chỉ đủ để làm phẳng lặng bên ngoài mà thôi. Mỗi một con người vì ngại chết mà muốn sống. Mỗi một con người vì sợ mất tình mà giữ mãi một lòng nhớ nhung. Cuối cùng thì lòng yêu thương cuộc sống cũng không giữ lại đời người. Cuối cùng thì tình yêu không giữ được người mình yêu…”(*)

Mong bạn mở lòng, đón tiếp những cơ hội mới. Cái gì nên thay đổi thì hãy thay đổi, biết đâu trong cái thay đổi đó bạn sẽ tìm được cái mãi mãi của chính mình.
Nguồn: akira147.wordpress.com


Càng sống nhiều ta càng thấy cái chết dễ dàng đến với bất cứ một ai. Chết quá dễ mà sống thì quá khó. Hôm qua gặp nhau đấy, ngày mai lại mất nhau. Sống thì có hẹn hò hôm nay hôm mai. Chết thì chẳng bao giờ có một cuộc hẹn hò nào trước. Một buổi sáng cách đây bốn năm, lúc tôi đang ngồi uống rượu với bạn, mẹ tôi bảo: "Mạ đi chơi chút nghe".  Thế rồi một giờ sau tôi được điện thoại báo tin mẹ tôi đã mất tại nhà người bạn.

Nhạc sĩ Xuân Hồng cũng đã từ biệt chúng tôi như thế. Không kịp nói một lời, không kịp đưa tay vẫy chào bạn bè, vẫy chào cuộc sống. Thế kỷ 21 thế mà cũng khó đến được dù chỉ còn mấy năm.

Càng yêu ta càng thấy: có tình yêu thì khó mà mất tình thì quá dễ. Hôm qua mới yêu nhau đấy, hôm nay đã mất rồi.  Mất sạch như người đi buôn mất hết vốn liếng. Cứ tự an ủi mình khi nghĩ rằng mình đau khổ thì có một kẻ khác đang hạnh phúc. Và biết đâu cái thời gian mình được yêu thì một người khác cũng đang đau khổ vô cùng. Nghĩ thế thì thấy cuộc đời bỗng nhẹ nhàng hơn và cũng dễ tha thứ cho nhau. Sống mà giữ mãi trong lòng những hờn oán thì cũng nặng nề.

Có người bỏ cuộc đời mà đi như một giấc ngủ quên. Có người bỏ cuộc tình mà đi như người đãng trí. Dù sao cũng đã lãng quên một nơi này để đi về một chốn khác. Phụ đời và phụ người hình như cũng vậy mà thôi. Người ở lại bao giờ cũng nhớ thương một hình bóng mình đã mất. Khó mà quên nhanh, khó mà xóa đi trong lòng một nỗi  ngậm ngùi.

Tưởng rằng có thể quên dễ dàng một cuộc tình nhưng hóa ra chẳng bao giờ quên được. Mượn cuộc tình này để xóa cuộc tình kia chỉ là một sự vá víu cho tâm hồn. Những mảnh vá ấy chỉ đủ để làm phẳng lặng bên ngoài mà thôi. Mỗi một con người vì ngại chết mà muốn sống. Mỗi một con người vì sợ mất tình mà giữ mãi một lòng nhớ nhung.

Cuối cùng thì lòng yêu thương cuộc sống cũng không giữ lại đời người. Cuối cùng thì tình yêu không giữ được người mình yêu...

Trịnh Công Sơn(1996)
Và bạn có thể xem trang Thơ Văn của Trịnh Công Sơn TẠI ĐÂY

Thursday, January 1, 2015

Kiếm sống và … gì nữa

Có thể thấy mối tương quan giữa đời sống văn hóa xã hội và đời sống kinh tế trong xã hội hiện nay. Chính trong một cuộc sống nhiều khó khăn, thể chế xã hội không đủ bảo đảm các vấn đề an sinh, người ta phải tự lo cho mình và gia đình của mình, không chỉ vì cái ăn mà còn là sự tích lũy chính đáng.

Cái xã hội không tạo sự an tâm cho chính mình và quan tâm đến người khác làm cho người ta đi quá giới hạn của hành vi lao động để kiếm sống. Người ta lao vào kiếm sống bằng mọi giá và bằng mọi cách, quên cả nhân phẩm của chính mình và các tương quan xã hội. Cái cách vơ vét tất cả khi có thể, vì quyền lợi của mình bất chấp quyền lợi người khác, kể cả những lợi ích thiêng liêng của quốc gia và dân tộc…thì sẽ không từ một thủ đoạn nào: bon chen, xu nịnh, giả dối và sẵn sàng chà đạp người khác. Cái xu thế đó đang hình thành một lối ứng xử xu thời trong xã hội, hình thành nên một lớp người trong xã hội chỉ vì tiền, và đã góp phần làm băng hoại một thế hệ con người. Và khi một xã hội không có đạo đức, không thể xây dựng một xã hội lành mạnh vì dân sinh.

Đành rằng con người sinh ra là phải làm việc, người ta làm việc trước hết vì trách nhiệm với mình và gia đình mình, đó là trách nhiệm để một xã hội tồn tại. Lao động không phải là một lời nguyền rủa đối với thân phận con người “phải vất vả mới có cái để ăn”. Bạn cần nhìn thấy nơi đó mình được là mình, được suy nghĩ và sáng tạo, được làm người đúng nghĩa khi mình là chủ nhân của công việc mình đang làm. Nhờ lao động bạn hiểu được giá trị của những hạt mồ hôi, giá trị của chén cơm bạn đang ăn … bạn học được sự kiên nhẫn, sự hy sinh, những giá trị nhân văn ẩn chứa trong từng sự vật và cả sự mong manh của kiếp người. Nhờ lao động, bạn cũng có thể cảm nhận được giá trị của những hy sinh, sự đồng cảm với những cái nghèo, những thân phận “thiếu trước hụt sau”, những thân phận thiếu may mắn … mà cho dù có nhiều tiền đem cho bạn cũng không có được sự đồng cảm như vậy. Chính cái nhìn lao động không gì khác ngoài việc để kiếm sống đã dẫn tới những thái độ và cung cách làm việc như chúng ta thấy nhan nhản hiện nay.

“Vì nhân dân” hay “vì con người” hiện nay thực ra đang là một khẩu hiệu để mị dân không hơn không kém, để đổ lỗi cho những sai lầm hay để che đậy cho những thủ đoạn của mình.

Chỉ khi có những chính sách vì con người thực sự, mới trả con người về đúng môi trường của nó. Con người ở đây được hiểu với đầy đủ nhân phẩm, được sống và làm việc, không phải chỉ để quần quật kiếm miếng ăn, mà còn được phát huy những khả năng, được yêu thích trong nghề nghiệp, được làm chủ công việc và xã hội, được cảm nhận những giá trị cao quý từ sản phẩm mình làm ra, được chia sẻ và cảm thông với đồng loại, được thấy ích lợi mang lại cho xã hội từ những công việc mình làm…

Để có được một môi trường như thế, xã hội còn nhiều việc phải làm.

Miếng ăn

Miếng ăn có quan trọng không?

Họa có người điên mới bảo không quan trọng. Đói quá thì chân tay bủn rủn, mắt hoa, tai ù…, bởi thế Chúa mới bảo các môn đệ lo cho dân chúng ăn.

Miếng ăn quan trọng, bởi người ta cũng đã chứng kiến bao nhiêu sự hèn hạ và tội ác do đói mà ra.

Miếng ăn luôn là thách thức cho con người, có lẽ từ khi con người bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng với lời nguyền phải làm lụng vất vả mới có miếng mà ăn. Cho nên miếng ăn nó ám ảnh con người.

Không chỉ vì những miếng không hiểu có gọi là miếng ăn nữa không khi có những bát phở giá một triệu đồng hay một con cua giá năm triệu đồng.

Cho đến những quay cuồng bon chen, giành giật, tích lũy … đến mức không còn giờ ăn uống, nghỉ ngơi.

Khi đó miếng ăn cũng là miếng …nhục, khi chỉ vì miếng ăn mà đánh mất cả phẩm giá, tư cách con người mình.

Miếng ăn quan trọng, nhưng có quan trọng nhất đời mình không? Hay cũng để trả lời câu hỏi: sống để ăn hay ăn để sống?

Đừng dùng câu “có thực mới vực được đạo” để biện minh cho những lý do lao vào làm ăn kiếm sống, bất chấp đạo lý và không còn thì giờ chăm lo cho đời sống tinh thần và tâm linh của mình.

“Con người phải làm lụng vất vả mới có miếng ăn” không phải là lời nguyền. Đúng hơn đó là lời mời gọi trong việc cải tạo và biến đổi thế giới, xây dựng những giá trị tốt đẹp cho mình và cho người khác. Hơn hết là thấy mình được làm người hơn trong việc làm chủ thế giới qua những công việc đó.

Nên nếu có nhiều tiền gởi trong ngân hàng “ăn ba đời” không hết, thì cũng nên kiếm một công việc mà làm. Vì lao động không phải chỉ để kiếm miếng ăn, mà còn làm mình thành người hơn.

Đạo đức làm người: sống không làm khổ mình khổ người

Đạo đức không làm khổ mình khổ người đã được Đức Phật cách đây 2542 năm, Ngài đã dạy chúng ta học tập và tu sửa mỗi mỗi hành động thân, miệng, ý, đầy đủ những đạo đức và những đạo hạnh làm Người, làm Thánh Nhân.

Hành động sống của con người thật là người thì không còn mang bản chất hung ác của loài cầm thú nữa, thì đó mới thật là hành động “đạo đức nhân quả không làm khổ mình khổ người”, còn ngược lại, làm khổ cho nhau là những hành động của loài cầm thú, không có đạo đức.

Người thiếu giáo dục đạo đức về tư cách đi, đứng, nằm, ngồi thì cách thức ngồi nào họ cũng ngồi được cả, họ đâu biết rằng, con người vừa sanh ra thì cũng giống như một con thú vật, nếu không tập đi hai chân thì con người cũng đi bốn chân như con thú vật mà thôi; nếu không tập nói thì con người cũng chỉ biết kêu thét và la hú như con thú vật; nếu con người không tập luyện mỗi mỗi hành động của mình cho đúng tư cách làm người thì con người chỉ là con thú vật mà thôi. Cho nên muốn làm người không phải dễ, người xưa nói: “làm người khó! làm người khó !”

Đừng bảo rằng: “Trời sanh sao để vậy, sống tự nhiên cho khỏe hơn”, đó là sự hiểu sai, không đúng. Một cây kia nếu không được sự rong uốn thì cây kia cong queo trở thành vô dụng chỉ có làm củi mà thôi. Con người mà không học đạo đức khi sanh ra sống tự nhiên thì chẳng khác nào giống như một con thú vật. Bởi vậy, con người cần phải được giáo dục đạo đức toàn diện từ cách thức đi, đứng, nằm, ngồi, cho đến mọi cách thức ăn, nói, giao tiếp và xã giao với mọi người, không những đối với con người mà còn đối xử với tật cả loài cầm thú, lúc nào cũng phải lịch sự và lễ độ để tránh những hành động vô đạo đức vừa làm khổ mình làm khổ người và khổ chúng sanh. Đó là mọi hành động cách thức con người vượt ra khỏi những hành động của loài cầm thú để không còn làm khổ, giết hại và ăn thịt lẫn nhau nữa. Nhờ vượt thoát ra khỏi những hành động của loài cầm thú, nên không gây ra những hậu quả khổ đau sau này.

Vì thế chúng ta mới học đạo đức, nếu không ích lợi như vậy thì học đạo đức để làm gì? Nếu con người không chà đạp lên sự sống của nhau và không làm khổ đau cho nhau thì học đạo đức cũng chỉ bằng thừa mà thôi. Cho nên, đạo đức rất quan trọng cho đời sống của loài người trên hành tinh này.

Chính vì con người đã tự làm khổ mình và làm khổ người khác, nên nói có đạo đức không làm khổ mình khổ người ra đời để dạy cho con người thoát khổ, tức là thoát kiếp làm loài động vật hung ác, gian xảo, lừa đảo, điêu ngoa, xảo quyệt, v.v...

Đã không sanh ra làm người thì thôi, mà đã sinh ra làm người thì phải sống cho đúng tư cách đạo đức làm con người, chứ đừng sống như con thú vật, chỉ biết có đấu tranh vì miếng ăn, vì dục vọng, thì còn nghĩa lý gì là con người?

Con vật không có trí tuệ như con người, vì thế những hành động của loài vật thường xâu xé lẫn nhau vì miếng ăn, chỗ ở, vì ghen tuông, ganh tỵ, thù hận, v.v… Con người thì không lẽ như vậy được.

Bởi vậy, làm người phải có những hành động thật là con người, cho xứng đáng là con người, đừng sống theo kiểu nửa người nửa thú vật để biến sự sống trên hành tinh này thành cảnh địa ngục, luôn luôn tạo ra muôn vàn sự khổ đau cho nhau.

Làm người chúng ta phải hiểu rằng: là một con vật thì phải có những hành động của một con vật; là một con người thì phải có những hành động của một con người. và hiểu biết như vậy mới gọi là người hiểu biết. Nếu không vậy mà gọi con người có sự hiểu biết thì không đúng.

Hiểu biết cái gì?

Hiểu biết những hành động đạo đức không làm khổ mình, khổ người. Còn ngược lại, có những người hiểu biết rất nhiều, có trình độ học thức rất cao, có bằng tiến sĩ, có sự thông hiểu Tam Tạng Kinh Điển mà vẫn thiếu đạo đức, thường mang tự ngã, xem mình là trên hết nên thường làm khổ mình khổ người, thường nói xấu người khác, đổ tội cho người khác khi mình làm sai, làm lỗi, nhất là rất hèn hạ khi làm lỗi mà không dám nhận lỗi.

Sống còn tham ăn, tham ngủ như loài cầm thú thì những người ấy chưa được gọi là những người hiểu biết; những người ấy vẫn là những người còn vô minh mang đầy bản chất của loài thú vật.

Những hành động thân, miệng, ý không làm khổ mình khổ người là những hành động đạo đức mang đầy tính nhân bản. Cho nên hành động đạo đức không thể giống như những hành động của một con thú, hành động của một con thú không thể gọi là hành động đạo đức của một con người được, vì hành động của một con thú thường làm khổ cho nhau, giết hại lẫn nhau chỉ vì một miếng ăn rất nhỏ mọn, hèn hạ, đê tiện, v.v…

Thế mà, trong đời sống hằng ngày, chúng ta đã chứng kiến biết bao nhiêu hành động của con người thiếu đạo đức, tranh giành, chà đạp lên nhau và giày xéo lẫn nhau, chỉ vì miếng cơm, manh áo và những vật chất tầm thường, đã biến con người mất hết đạo đức và lương tri để trở thành những con thú vật mang hình người. Nhưng cũng có những con thú vật lại có những hành động đạo đức, không khác gì con người, đó là những con người còn mang lớp thú; nhưng cũng có những con người có những hành động như con thú, thiếu đạo đức, gian tham, xảo quyệt, lừa đảo, hung dữ, ganh tỵ ,tật đố, sân hận, thù hằn, ích kỷ, hẹp hòi, v.v... đó là con thú mang lớp người

Một con vật nhờ có bộ lông, nhưng lại sống hở han, không kín đáo, bày da, bày thịt, gợi dâm gợi dục, không biết xấu hổ, nên gọi là con vật. còn con người thì khác, biết xấu hổ, biết anh em chị em, biết cha mẹ ông bà, biết mặc quần áo cho kín đáo thân, không bày da bày thịt, không khiêu gợi dâm dục, những hành động như vậy là hành động đạo đức của con người, còn ngược lại là những hành động của loài thú vật.

Con người thoát ra bản chất loài thú vật là ở chỗ có những hành động đạo đức biết xấu hổ, biết giữ gìn kín đáo, biết luân thường đạo lý.

Nhìn con người và con thú khác nhau là ở chỗ có những hành động đạo đức hay không đạo đức, biết xấu hổ hay không biết xấu hổ mà thôi, không phải nhìn ở hình tướng bên ngoài của con người mà đánh giá trị họ được, mà hãy nhìn những hành động thiện ác là biết ngay người hay thú, Thánh Nhân hay loài ác quỷ.

Bởi vậy, những hành động đạo đức là những hành động thoát ra khỏi bản chất loài cầm thú và ác quỷ. Nếu con người không có học đạo đức thì không biết đạo đức, nên dễ có những hành động vô tình của mình mà đã trở thành những hành động của một con thú vật hay là ác quỷ.

Có những người học đạo đức nhưng không thực hiện đạo đức, sống hành động theo dục vọng như một con thú vật, những loại người này được xem là ác quỷ, chứ không phải loài cầm thú nữa.

Thời nay, người phụ nữ ăn mặc hở hang bày da, bày thịt, khiêu dâm, gợi dục giống như loài cầm thú chẳng khác nào. Nhất là gần đây, người Đông Phương chịu ảnh hưởng của người Tây Phương về cách thức ăn mặc hở hang. Người Tây Phương họ sống theo vật chất dục vọng nên thiếu đạo đức không như người Đông Phương của chúng ta.

Thấy lối sống và hành động của con người hiện giờ, biết là đạo đức của con người đang xuống dốc, và đang trở về đời sống của loài thú vật.

Người ta lo sản xuất vật chất và thực phẩm để phục vụ đời sống con người rất đầy đủ và tiện nghi, nhưng người ta lại quên xây dựng một nền đạo đức nhân bản cho con người. Vì thế, con người không thoát ra khỏi bản chất của loài cầm thú và ác quỷ mà còn trở lại bản chất của loài cầm thú và ác quỷ hơn nữa, nên hành động hằng ngày của mọi người đối xử với nhau rất là thú vật, gần như không còn có đạo đức chút xíu nào cả. Ngoài mặt làm ra vẻ đạo đức, còn bên trong tâm của họ toàn là con thú vật, và ác quỷ.

Giới luật Phật là những hành động đạo đức chân thật của con người không làm khổ cho nhau; là thước đo để chúng ta nhận xét biết được mọi con người, họ là con người hay là thú vật; họ là người tu thật hay là tu giả; họ là Thánh nhân hay là Ác quỷ.

Vì thế, chúng ta tu theo Đạo Phật không phải cầu thiền định; không phải cầu thần thông phép tắc hoặc cầu chết đi được sanh về Niết Bàn, Cực Lạc, hoặc cầu danh, cầu lợi, hoặc cầu cơm ăn áo mặc, hoặc cầu chùa to Phật lớn, hoặc cầu làm chức Hòa Thượng, Thượng Tọa, Viện Trưởng , Viện Chủ, v.v...

Chúng ta đến với Đạo Phật cũng không phải cầu kiến tánh thành Phật, Thánh, Tiên, Hiền Nhân, Quân Tử, v.v...

Chúng ta đến với Đạo Phật chỉ cầu tu tập trau dồi sửa tâm tánh của mình có những hành động đạo đức không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sanh, để chúng ta thoát ra khỏi những hành động của loài cầm thú và ác quỷ.

Đến với Đạo Phật nếu được vậy chúng ta đã mãn nguyện lắm rồi. Chúng ta không dám ước nguyện một điều gì ngoài tầm sức của mình; không dám mơ tưởng những gì cao siêu huyền bí; và cũng không dám mơ tưởng làm Bồ Tát độ hết chúng sanh, vì độ hết chúng sanh sức của chúng ta không kham nổi, chỉ tùy duyên mà thôi, ai có duyên với mình thì độ không duyên thì thôi, chúng ta chẳng dám ước vọng, vì ước vọng như Phật và Bồ Tát của Đại Thừa sẽ không thực hiện được, thiếu thực tế và còn mơ hồ, trừu tượng, khiến cho chúng sanh nghi ngờ, mất niềm tin với Đạo Phật.

Chúng ta cũng ước mong sao cho tất cả mọi người trên thế gian này đều được tu học đạo đức như chúng ta để hưởng được một mùa xuân vĩnh cửu.

Tóm lại, làm con người phải học đạo đức, nếu không học đạo đức thì không thể xứng đáng làm con người. Con người không học đạo đức lần lần nhiễm ác pháp trở thành những con thú hung dữ, và còn hơn nữa là loài ác quỷ. Cho nên, dù trong hoàn cảnh nào chúng ta cũng phải cố gắng học đạo đức làm người. Không nên xem thường đạo đức, vì đạo đức sẽ xác định cho chúng ta biết là con người, con thú vật hay là ác quỷ.

Muốn thoát ra khỏi bản chất loài cầm thú không gì hơn chúng ta phải thực hiện đạo đức nhân quả làm người, không nên làm khổ mình khổ người và luôn luôn còn phải biết thương yêu nhau, tha thứ cho nhau những lỗi lầm của nhau, và còn biết đùm bọc lẫn nhau trong những lúc gặp hoạn nạn, tai ương, những lúc tối lửa tắt đèn, cùng những lúc trên đường tu hành gian nan khó khổ, để cùng nhau chia xẻ ngọt bùi, cay đắng, v.v…

Trưởng Lão ThíchThông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây

Năng khiếu

Hỏi: Kính thưa Thầy, qua gương hạnh đáng kính của cô Út Diệu Quang, theo con nhận xét sự tu tập rèn luyện thân tâm không phải tầm thường. Một người tu đạt kết quả như vậy, họ có sẵn một cái tài hay một năng khiếu, một trí thông minh... nên con đường tu mau kết quả, có phải vậy không thưa Thầy?

Đáp: Sự tu tập nào có được nhanh chóng, đều phải nhờ nhiều đời huân tu chớ không phải có sẵn tài, trí và năng khiếu. Tài trí và năng khiếu là do sự huân tập nhiều đời mà có. Nếu đời này con không trau dồi, tu tập rèn luyện tài trí và năng khiếu thì đời sau con cũng chẳng có.

Tu tập và xả tâm càng gặp khó khăn, đừng nên chán nản, mà phải quyết tâm khắc phục cho được, xả bỏ cho được, quyết thực hiện cho bằng được thì người đó, sẽ trong một đời này thành tựu viên mãn, chỉ có “quyết tâm” là làm nên việc lớn, Đời cũng như Đạo.

Trí thông minh và năng khiếu không phải người có, người không, mà tất cả mọi người ai cũng có, nhưng chỉ vì chúng ta không huân tập nên không có mà thôi.

Ví dụ: Trong một lớp học có 60 học sinh, nhưng học sinh giỏi thì có năm ba đứa, chúng học rất nhanh và mau thuộc bài, môn học nào chúng cũng xuất sắc. Thật sự số học sinh này rất ít, nghĩa là học sinh giỏi tất cả các bộ môn.

Còn số học sinh giỏi từng môn thì nhiều, kẻ giỏi toán, người giỏi văn, người giỏi sinh ngữ v.v..

Đó là vì chúng ta đã có học tập trong đời trước, nên đời này chúng học lại môn đó, tức là ôn lại, nên học rất nhanh làm bài rất giỏi. Còn những người đời trước không học, đời nay học, nên học lâu thuộc bài, nhiều khi học mãi mà không thuộc.

Lịch sử Việt Nam, có nhắc lại ông Lê Quý Đôn, khi ông bố sai mua một cuốn lịch xem ngày, ông đem tiền ra mua giấy và đến cửa hàng bán lịch ông xin cho mượn xem, xem xong ông trả lại cho hàng sách, về nhà ông chép lại cho bố một cuốn lịch mà không sai một chữ nào.

Bên Trung Hoa, đời Tam Quốc, bên Tây Thục sai một người đi sứ qua Bắc Ngụy, tức là Tào Tháo. Tào Tháo viết một cuốn sách lấy tên là Tào Mạnh Đức Kinh, đem khoe với vị sứ giả. Vị sứ giả bảo bên nước tôi trẻ con đều thuộc làu kinh sách này. Tào Tháo không tin mới bảo Ông hãy đọc cho Tào Tháo nghe một đoạn, Ông bảo Tào Tháo xin Ngài đưa cho tôi xem có đúng không? Rồi tôi sẽ đọc cho Ngài nghe. Tào Tháo đưa cho Ông đọc, Ông đọc xong trả lại cho Tào Tháo, Ông cả cười nói: “Tôi nói đâu có sai, đúng là trẻ con của nước tôi từng đã đọc sách này”, Ông bắt đầu đọc cho Tào Tháo nghe không sai sót một chữ nào. Tào Tháo tán thán và không bắt tội Ông được.

Trí thông minh như vậy quá tuyệt vời, đọc qua là thuộc làu, thế mà trí thông minh đó dùng vào việc gì, chỉ đi ra làm quan mà không giải quyết sự khổ đau của dân tộc. Trong thời làm quan, các vị này cũng chẳng làm được những gì lợi ích cho dân, cho nước nhiều, mà chính sự thông minh đó cũng chẳng giải quyết được gì, cho đời sống của các Ông cả, các Ông ấy cũng chỉ khổ đau vì danh, vì lợi như bao nhiêu người khác.

Làm được như Thầy (tức là làm chủ tham, sân, si) không để tâm mình phiền não khổ đau, giận hờn, thương ghét, ấy là tài năng và trí tuệ. Thông minh cũng như năng khiếu đó mới chính là tài năng, trí tuệ, thông minh của đạo Phật, còn ngược lại tài năng, trí tuệ, thông minh và năng khiếu mà tự làm khổ mình, khổ người. Đó là tài năng trí tuệ của phàm phu, của người thường trong thế gian.

Bởi vậy, người có tài năng, trí tuệ, thông minh của đạo Phật là sống thanh thản, an lạc không làm khổ mình, khổ người (chỉ có những bậc Thánh Alahán mà thôi). Người có được trí tuệ như vậy, không phải từ trên trời rơi xuống, mà do công huân tu tập của chúng ta nhiều ngày và nhiều đời, cũng như bây giờ con thấy Cô Út Diệu Quang có được tri kiến như vậy, cũng chính là đời trước cũng phải huân tu rất nhiều, huân tu mà còn phải có ước nguyện, khi mình cố gắng xả tâm được, thì mình làm nghịch hạnh, để vừa xả tâm mình, vừa hướng dẫn mọi người đồng được giải thoát khỏi kiếp đời trầm luân khổ đau.

Như các con đã biết, Cô Diệu Quang chẳng học Kinh sách Phật, chẳng chịu ảnh hưởng của một tôn giáo nào, Cô chỉ có công giúp Thầy tu trong thất bằng cách làm kinh tế, mua gạo và thực phẩm để mẹ Thầy nấu cơm cúng dường Thầy ăn và tu hành.

Mục đích của Thầy tu là tìm sự giải thoát, khi nào giải thoát được thì mới dạy người tu, còn đang tu thì nhất định không dạy ai hết, cho nên Cô Diệu Quang chỉ biết trợ giúp cho Thầy tu, chứ không có tu hành gì cả.

Đến khi Thầy tu xong, về trình sự tu hành của mình cho Hòa Thượng Thanh Từ, thì cũng năm đó Phật tử tìm về kiếm Thầy hỏi pháp, do Hòa Thượng Thanh Từ báo cho Phật tử biết chính là Thầy đã tu chứng quả “A-La-Hán”. Đó là vị cư sĩ tìm về đây đầu tiên là Ông Chánh Giải ở Châu Đốc. Khi gặp Thầy ông xin Thầy cho phép đảnh lễ vì Hòa Thượng đã cho Ông biết Thầy đã chứng quả A-La-Hán.

Từ đó, Cô Út Diệu Quang trở thành một người phục vụ cho tu sĩ cũng như Phật tử thì còn đâu có thì giờ mà tu tập.

Lúc nào rảnh rỗi hoặc nửa đêm, Cô mới có thì giờ ngồi tập dừng cái ý, thời gian ấy không lâu chỉ độ 30 phút là cao.

Hoàn cảnh tu sĩ và Phật tử là một trở ngại rất lớn cho sự sống yên tĩnh tu hành của Cô. Cô bị mọi người khen thì ít, mà chê thì nhiều, nhất là tâm phàm phu của thiên hạ. Nhất là dựa theo tâm lý phàm phu của thế tục mà suy diễn về cô Diệu Quang, thì những sự suy nghĩ đó, sẽ đem lại ác pháp cho người, chứ cô Diệu Quang như thế nào thì cô tự biết, đó là nhân quả của Cô, chứ Thầy không ý kiến gì hết. Thầy chỉ thấy đó là duyên phước chúng sanh chưa đủ phước, và là luật nhân quả đời trước. Từ những sự việc đó xảy ra, tự Cô phải đương đầu với nội tâm của mình, tâm như biển sóng dồn dập, Cô như chiếc thuyền nan trên mặt biển.

Cô vừa chiến đấu với nội tâm để xả những u hoài khổ đau của mình vừa phản công những đối tượng bên ngoài (Phật tử và tu sĩ).

Phiền não tức Bồ Đề, nhờ các đối tượng ấy, Cô đã tìm ra phương pháp xả tâm để cứu mình thoát khổ. Đối với những người, đã làm Cô khổ, nhưng có điều là Cô không oán hận những người đó, Cô xem đó như bình thường, không có gì cả, và khi những người đó hữu sự, có tai nạn, thì Cô sẵn sàng khuyên lơn và giúp đỡ. Cô nói nặng nhẹ người khác. Bởi vì, Cô đang còn trên đường tu tập xả tâm, nhưng lòng yêu thương đối với con người không xa lìa, lúc nào cũng thương yêu mọi người, sẵn sàng giúp đỡ, nhưng sẵn sàng nói nặng, vì hạt giống tham, sân, si vẫn còn, để người ấy xả tâm thật sự hay không. Nếu xả tâm thật sự, thì người ấy sẽ chiến thắng được mình. Vả lại, Cô cũng đang còn trên đường tu tập xả tâm, vẫn còn tham, sân, si, mạn, nghi… nên các con hãy lấy Cô làm đối tượng nghịch cảnh để buông xả tâm mình, đừng oán giận Cô.

Khi Cô cố gắng để xả được tâm mình không còn khổ đau, thù hận, xem mọi việc như không, nghĩa là mọi việc không làm Cô bận tâm. Cũng từ đó, tri kiến của Cô phát triển, như các con hiện giờ đã thấy. Cô đối đáp giải quyết theo bản năng tự nhiên của đời trước đã huân tu, chứ không phải trong đời nay và trong kinh sách.

Các con đừng hiểu rằng, đời trước là một đời kế đây, đời trước ở đây là một đời mà nhiều đời và cũng có thể đồng thời với đức Phật, Cô là người đã học và tu trong những thời đó, kiếp này Cô được làm người, nó đã sống lại trong quá khứ xa xưa kia. Vì thế, các con nên nhớ những gì mà các con tu đúng pháp, dù muôn đời nó vẫn không mất, nó sẽ làm sống lại nơi tâm hồn của các con mà các con sẽ gọi nó là tài năng, năng khiếu hay là trí thông minh. Nhưng nếu các con tu sai, nó vẫn sống lại và đưa các con vào biển khổ bằng ảo tưởng như đồng cốt, những người này họ đâu có tu hành trong đời này, nhưng đời trước họ đã tu theo tà đạo, đời này năng khiếu đó, nó sống lại, cho nên họ trở thành là những loại đồng cốt, ông lên, bà xuống, bóng chàng v.v..

Những người ở đời này, tu Thiền Đông Độ, Thiền xuất hồn, Thiền Yoga và tất cả các loại Thiền tưởng, kiếp sau họ trở thành những thầy cúng, phù thủy, đồng, cốt, thầy bói, thầy bùa, thầy ngải v.v.. Nói chung kiếp này tu sai chánh pháp, kiếp sau làm những điều mê tín, tiếp tục lừa đảo người khác, đó là năng khiếu tà giáo ngoại đạo. Khi chúng ta huân tu thì nó không bao giờ mất, nó sẽ sống lại trong khi chúng ta sanh lên làm người. Còn chúng ta tu đúng theo chánh pháp của Phật thì luôn luôn lúc nào cũng xả tâm ly dục ly ác pháp. Tuy rằng, cuộc sống có nhiều sóng gió ba đào, nhưng chúng ta không bị lạc vào hoang đảo, cũng vì nhờ đức hạnh và giới luật, nó là ngọn hải đăng đưa tàu vào bến an toàn.

Cuộc đời tu hành của Thầy cũng vậy, khi mất cả hy vọng trên đường tu tập, chới với giữa biển pháp của Đại Thừa, bước đường cùng, chỉ còn chết mà thôi.

Trong khi mất hết cả niềm hy vọng, thì năng khiếu trỗi dậy để cứu mình, nên trong tiềm thức của Thầy nhớ đến lời của Hòa Thượng Minh Châu. Trong khi sắp chết đuối, một chiếc phao đã hiện ra và đã cứu Thầy.

Thầy đã tìm được lối thoát mà xưa kia Thầy đã từng tu học giáo pháp này, nên đọc tới đâu Thầy nhận ra pháp hành tới đó và thực hành có kết quả ngay liền, nghĩa là Thầy tu lại theo lời dạy của đức Phật đã dạy trong Kinh Nguyên Thủy pháp “Như Lý Tác Ý” mà hơn nửa đời người theo đạo Phật tu hành chẳng có một vị Thầy nào dạy tu tập điểm này với pháp môn này, Thầy đã nhận ra bí quyết thành công của pháp môn này là “Độc Cư”.

Pháp Như Lý Tác Ý và Độc Cư là năng khiếu của Thầy trỗi dậy. Xưa, đức Phật cũng vậy, khi con đường tu tập tận cùng, Ngài như sắp chết, thì năng khiếu Ngài trỗi dậy. Ngài nhớ lại đạo lộ Tứ Thánh Định, Ngài liền bỏ sạch các pháp môn của ngoại đạo, Ngài không tu khổ hạnh nữa, tiếp tục sống đúng đời sống Phạm hạnh, khi cơ thể Ngài bình phục, 49 ngày dưới cội Bồ Đề do đạo lộ Tứ Thánh Định, Ngài đã viên mãn con đường tu giải thoát, thỏa mãn được ước vọng của Ngài làm chủ sanh, già, bịnh, chết.

Bởi vậy, muốn có năng khiếu và trí thông minh thì phải tu tập pháp “Hướng Tâm” và “Độc Cư” con ạ!

Quyết định phải tu cho bằng được phải không con? Dù cho xương có tan, thịt có nát nhất định chúng ta phải thành công, thì đó là con đã huân tập một tài năng, một tri kiến, một năng khiếu.

Hiện giờ, Cô Diệu Quang có trắc nghiệm bằng một phương pháp nào, mà có tận cùng sự khổ đau thì nhất định tâm con cũng như cục đất phải không con? Có như vậy, mới thấy tâm được giải thoát thanh thản, an lạc và vô sự, đó là kết quả của tâm bất động.

Trích Đường về xứ Phật tập I
Trưởng lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây

Ta đi tìm chính ta

Bạn đã có lúc nào đứng tựa trên cái bao lơn cao nhìn những người đi lại dưới đường như một con sông khi nhanh, khi châm, khi ồn ào, khi trịnh trọng, đi hoài đi mãi tới những cái đích tầm thường và vụn vặt không?

Và trong những lúc ấy, câu hỏi tự nhiên đến trong tâm trí bạn há chẳng phải là: vì đâu bao nhiêu sự nhọc nhằn, chật vật, bao nhiêu điều đau khổ, bao nhiêu điều vui mừng? Đâu cái mục đích cuối cùng của đời người?

Một câu hỏi đặt ra từ ngàn xưa, một câu hỏi chưa hề được trả lời chắc chắn.

Khi tâm hồn đã đến lúc trưởng thành. .. trí tuệ cũng vừa đủ để nhận thức mọi việc, thì vấn đề về sự sống và tình yêu của ta cũng đã lớn mạnh. Trong tâm hồn ấy nó bắt đầu biết yêu thương, muốn yêu và được yêu. Trong tâm hồn và trái Tim đầy nhiệt huyết ấy, đang bùng lên ngọn Lửa của Yêu thương. .. Song hành với tình yêu trong bản thân ta, thì một vấn nạn về sự sống cũng bắt đầu xuất hiện: Ta là ai? và sinh ra đời này để làm gì? Tại sao Ta phải sống để rồi lại phải chết đi? ??

(Cuộc sống của con người sẽ như con thuyền giữa biển khơi động sóng. .. Sẵn sàng bị áp lực của mưu sinh, sự học. .. Tình yêu nhấn chìm)

Vấn đề này nó bắt đầu làm cho ta phải chịu dằn vặt. .. thật là khó khăn để giải quyết chính cái Sống của bản thân mình. Hầu như mọi ngày, vấn nạn này không rời khỏi tâm trí, nó bắt ta phải tư duy không ngừng nghỉ cho chính bản thân mình.

Ta nhận thấy sự học hỏi chỉ là để có phương tiện tốt hơn cho việc mưu sinh của ta, nó không thật là mục đích để làm người và để sống. .. Con người càng có phương tiện địa vị, tài lợi thì càng xa cách cái Chân, Thiện, Mỹ của chính mình. .. Và cũng có nghĩa là, chính ta chỉ là một trong những phương tiện để tự mưu sinh. .. Tiền tài, vật chất, địa vị và quyền lực. .. ta nhận ra chỉ là phương tiện để ta sống mà thôi, ta không thể là những chuyến Xe đi đi về về. ..

Cao hơn thế nữa, ta cũng nhận ra rằng những lý tưởng về Tôn Giáo chỉ để tự tìm một nơi trốn tránh bình yên của tâm hồn đang gào thét. .. Những lý tưởng về chính kiến, khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật. .. . chỉ là một mớ bồng bông do con người tạo ra, để lao mình vào đó, tự xoa dịu nổi đau, cho một thân phận đã được sinh ra làm người, mà chính nó không thể nào tự biết nó.
(Con người đã bị sự vô minh của chính mình dồn tới chân bờ vực thẳm)

Thế rồi cuối cùng không còn đường nào khác, nó chọn cho mình một phương cách để sống, đi vào con đường Thiện vậy. .. Nhưng hỡi ơi! chỉ là những xiềng xích nô lệ bản thân. .. khi nó chợt nhận ra, kẻ sống ác tự trói mình bằng xích Sắt, và người hành Thiện cũng đã tự trói mình bằng xích Vàng. .. Nó thật sự không biết mình phải đi như thế nào. Hoàn toàn mù mịt không lối thoát. .. .

Chợt nhận ra bản thân mình Vốn: Đói khát, Ngu si, Yêu thương và phải Chết. ..

Sự đói khát, bệnh tật khiến mình phải lo toan và đầy sợ hãi; phải lo tích luỹ của cải tiền tài. .. . Ngu si càng làm cho mình kinh hãi hơn. .. Mãi mê lo học hỏi, hiếu tri để tự hoàn thiện cho cái ngu đó.
(Tình yêu đã khép cánh vĩnh viễn với những tâm hồn ích kỷ nhỏ nhen chỉ vì cái tôi của mình)

Tình yêu thì luôn ở cùng ta. .. muốn được yêu và yêu. .. nhưng luôn lo lắng sẽ bị tổn thương chính tình yêu của mình. .. luôn yêu cho chính bản thân mình, chỉ vì chính mình thôi. .. một tình yêu nhỏ nhen, ích kỷ đầy tham vọng đã được thành lập trong ta! Ta không vì ta e rằng: "trời tru đất diệt. .. " mà có vậy chăng hỡi người? Cuối cùng cái bất hạnh lớn nhất mà ta phải cưu mang; là ta biết ta phải Chết, mà vẫn phải Sống để rồi chờ Chết mỗi ngày. ..

Sau bao ngày miệt mài tìm lại chính mình, mà vẫn không lối thoát. .. Ta chợt tự hỏi cái khôn ngoan, thông minh, trí tuệ của ta đâu rồi? Tại sao trí tuệ ấy không giải quyết được vấn nạn của chính nó. .. ? Ta là ai? ta sống để làm gì đây hỡi người. .. ? Trí tuệ ư? Khôn ngoan ư? Có chăng? !!! Ta Chợt nhận ra rằng ta thật sự thấp hèn. .. Ta hèn mọn thật. .. những ngạo mạng, tự hào chính bản thân ta từ xưa cho đến giờ đã vội bỏ ta đi. .. Những tình cảm nhỏ nhen và đầy ích kỷ ti tiện ấy, ta cảm nhận thật sự đáng hổ thẹn. .. Tất cả chỉ vì một cái Tôi đáng thương xót, đáng tội nghiệp của chính mình. ..

(Con người sống chung với nhau và chà đạp độc ác, sân hận giết hại nhau chỉ vì tình tiền, lợi danh)

Ta thật ra không là gì cả, không chút gì gọi là trí tuệ hay thông minh. .. khôn ngoan nào đã cho ta một cái sống vô nghĩa lý như thế này? Ta Chợt nhận ra cái chân thật của Trí Tuệ mà bấy lâu nay là hằng hãnh diện và cưu mang nó. .. Ta chợt nhận ra Tình yêu của ta. .. Một tình yêu chỉ phản nghịch lại là lòng hận thù vô nghĩa. ..

(Ta ca hát trong bóng đêm của tâm thức và cuộc đời cứ thế mãi trôi lê lết tới cái chết của chính ta)

Ôi! Một cái Tâm vô nghĩa thế ư? Ta Biết Thật ta chính là ai rồi. .. . Từ đây tất cả đã đều được khép lại. .. những hợm mình, nông nổi. .. những con vật trong ta đã có tự ngàn xưa đã chết. .. Loài Cục súc vô tri giả từ cho một thân phận. .. TÁI SINH.

Nguồn: Blog Trang Chu