Wednesday, July 22, 2015

Lập trình Ngôn ngữ Tư duy cho mọi người (Chương 1 - Phần 1 - Phần 2)

Lập trình Ngôn ngữ Tư duy cho mọi người (Chương 1-Phần 1)


Chương 1. Tìm hiểu về NLP  (Phần 1)


Hãy xem một câu chuyện ngắn của người Hồi giáo Sufi [1] về người và hổ.

Một người đang bị một con hổ háu đói săn đuổi. Liều lĩnh và tuyệt vọng, ông quay lại đối diện với con hổ và hét lên: “Sao mi không chịu buông tha ta đi?”. Con hổ trả lời: “Tại sao ông cứ mãi trông ngon miệng thế kia?”

Trong bất kỳ mối giao tiếp nào giữa con  người với con người hay trong tình huống của câu chuyện trên, luôn luôn tồn tại những cách nhìn khác nhau đối với cùng một vấn đề nào đó. Đôi khi người ta không thể nắm bắt được sự kiện chỉ vì họ không biết điều chỉnh hành vi giao tiếp của mình để giúp họ đạt được điều mong muốn.

Lập trình Ngôn ngữ Tư duy (NLP) là một trong những phương pháp tinh vi và hiệu quả nhất hiện nay để giúp bạn giao tiếp thành công.Trọng tâm của NLP là giao tiếp và thay đổi. Ngày nay, mọi người cần có những kỹ năng để tạo nên sự linh hoạt cá nhân. Mọi mưu mẹo hay mánh lới đã không còn phù hợp vì người ta cần điều gì đó chân thực hơn.

Chào mừng bạn đã tham gia vào chuyến hành trình cùng chúng tôi: Trong chương này bạn sẽ được giới thiệu nhanh qua các chủ đề trọng yếu của NLP.


1.1 Giới thiệu NLP

Mọi người khỏe mạnh đều được sinh ra với hệ thần kinh cơ bản giống nhau.

Hệ thần kinh của bạn truyền thông tin bạn nhận được từ môi trường thông qua các giác quan để đến não bộ. Môi trường, trong bối cảnh này, là mọi thứ ở bên ngoài cơ thể của bạn, nhưng cũng bao gồm luôn cả những cơ quan cơ thể chẳng hạn như như mắt, tai, da, dạ dầy, và phổi. Não bộ  sẽ xử lý thông tin và truyền thông điệp trở lại các cơ quan này. Với đôi mắt của bạn, quá trình này có thể tạo ra kết quả, chẳng hạn như, bạn sẽ chớp mắt. Các thông tin được truyền đến cũng có thể tạo ra những cảm xúc, làm bạn cảm thấy vui vẻ, muốn khóc hay muốn cười. Tóm lại, bạn sẽ xử sự theo một cách thức nào đó.

Khả năng thực hiện nhiều hoạt động trong cuộc sống, như bơi theo chiều dài của bể bơi, nấu một bữa ăn, hay đọc quyển sách này…, tất cả đều phụ thuộc cách bạn phản ứng với các kích thích lên hệ thần kinh của mình. Vì vậy, phần nhiều nội dung của NLP là dành cho việckhám phá cách tư duy của bản thân và cách giao tiếp với người khác sao cho hiệu quả hơn.

Thuật ngữ Lập trình Ngôn ngữ Tư duy [2] được bóc tách ra để giải thích theo nội dung dưới đây:  

o Tư duy là khái niệm liên quan đến hệ thần kinh của con người. NLP được hình thành dựatrên quan điểm cho rằng con người trải nghiệm thế giới xung quanh thông qua các giác quan của mình và chuyển dịch những thông tin của giác quan vào quá trình tư duy, có ý thức lẫn vô thức. Quá trình tư duy kích hoạt hệ thần kinh, làm ảnh hưởng đến hoạt độngsinh lý, cảm xúc, và hành vi.

o Ngôn ngữ là khái niệm đề cập đến cách sử dụng ngôn ngữ để hiểu biết thế giới xung quanh, nắm bắt và khái niệm hóa các kinh nghiệm và truyền đạt những kinh nghiệm đó chongười khác. Trong NLP, ngôn ngữ học được xem là hoạt động nghiên cứu từ ngữ mà bạnsử dụng và cả những ngôn ngữ cơ thể ảnh hưởng đến kinh nghiệm bản thân.

o Lập trình là khái niệm được hình thành chủ yếu từ lý thuyết học tập, nó đề cập đến cách thức con người mã hóa và trình bày những kinh nghiệm của mình. Lập trình cá nhân của một người bao gồm các quá trình và các chiến lược nội tâm (mô hình tư duy) mà người đósử dụng để đưa ra quyết định, giải quyết vấn đề, học tập, đánh giá, và thu hoạch kết quả.Với NLP, bạn sẽ được hướng dẫn cách mã hóa lại kinh nghiệm và tổ chức lập trình nội tâm bản thân để có thể đạt được kết quả như mong muốn. 

Để xem quá trình này diễn ra như thế nào, bạn hãy chú ý đến suy nghĩ của mình. Hãy tưởng tượng vào một ngày hè nóng nực, bạn đang đứng trong nhà bếp của mình vào cuối ngày, trong tay đang cầm một quả chanh mới lấy ra từ tủ lạnh. Hãy nhìn bề  ngoài của quả chanh,vỏ của nó có màu vàng sáp với những đốm màu xanh ở cuống. Hãy cảm nhận hơi lạnh của quả chanh trong tay mình. Hãy đưa quả chanh lên mũi và ngửi nó. Hưmm!. Hãy bóp nhẹ và chú ý đến sức nặng của quả chanh trong lòng bàn tay bạn. Bây giờ hãy dùng dao và cắt đôi quả chanh. Hãy nghe tiếng nước chanh đang gỉ ra và bạn nhận thấy rằng mùi thơm đặc trưng của nó giờ đây trở nên rõ ràng hơn. Hãy cắn sâu vào quả chanh và để cho nước chanh quyện trong miệng của mình.  

Từ ngữ. Chỉ những từ đơn giản thôi đã có sức mạnh kích hoạt tuyến nước bọt của bạn. Chỉnghe một từ 'chanh’ là não của bạn đã bắt đầu hoạt động. Những từ ngữ bạn đã đọc sẽthông báo với não bộ của bạn rằng bạn đã có một trái chanh trong tay. Bạn có thể nghĩ rằngtừ ngữ chỉ mô tả ý nghĩa, nhưng thực ra chúng đã tạo ra thực tại. Bạn sẽ hiểu sâu hơn vềsự thật trên đây khi đọc cuốn sách này. 

1.1.1 Một vài định nghĩa nhanh về NLP

 NLP có thể được mô tả theo nhiều cách khác nhau. Theo định nghĩa chính thức thì NLP là khoa học “nghiên cứu về cấu trúc của kinh nghiệm chủ quan của chúng ta”. Dưới đây là mộtvài đáp án bổ sung cho câu hỏi không dễ trả lời "NLP là gì?": 

- Nghệ thuật và khoa học giao tiếp 
- Chìa khóa của sự học 
- Phương thức tìm hiểu những gì khiến cho bạn và người khác hành động 
- Lộ trình để đạt được kết quả mong muốn trong mọi lĩnh vực của cuộc sống 
- Cách thức gây ảnh hưởng đến những người khác một cách liêm chính  
- Cẩm nang  hướng dẫn hoạt động của não bộ 
- Bí quyết của những người thành công 
- Phương pháp tạo ra tương lai cho bản thân 
- Cách thức để giúp con người hiểu được hiện thực 
- Bộ công cụ tạo nên sự thay đổi cho cá nhân và tổ chức
(Còn tiếp) 

----- 
Chú thích của người dịch:

[1] Hồi giáo Sufi còn được gọi là Hồi giáo mật tông, một giáo phái thần bí của đạo Hồi xuất hiện gần như đồng thời với Hồi giáo trên cơ sở của chủ nghĩa khổ hạnh. Mục đích của Hồi giáo Sufi là sự nhận thức chân lý tuyệt đối thông qua tình yêu và sự hòa nhập với Thượng Đế.
[2] Từ “neuro” (trong cụm từ “Neuro-Linguistic Programming”) có nghĩa là “thần kinh”. Do ở Việt Nam cụm từ “tư duy” đã được sử dụng một cách quen thuộc trong cụm từ “Lập trình Ngôn ngữ Tư duy” (dịch từ “Neuro-Linguistic Programming”), cho nên trong bản dịch này chúng tôi dùng từ “tư duy” thay cho “thần kinh”.


Sách “Lập trình Ngôn ngữ Tư duy cho mọi người” (Neuro-Lingustic Programming for Dummies), tác giả: Romilla Ready và Kate Burton, NXB John Wiley & Sons, Ltd (2010).Sách “Lập trình Ngôn ngữ Tư duy cho mọi người” (Neuro-Lingustic Programming for Dummies), tác giả: Romilla Ready và Kate Burton, NXB John Wiley & Sons, Ltd (2010).















Lập trình Ngôn ngữ Tư duy dành cho mọi người (Chương 1 – Phần 2)


Chương 1: Tìm hiểu về NLP (Phần 2)

1.1.2 NLP - Khởi đầu và hướng phát triển 
  
NLP được hình thành ở bang California (Hoa Kỳ) vào đầu những năm 1970 tại Đại họcSanta Cruz. Richard Bandler, một học viên trình độ thạc sĩ ngành khoa học thông tin và toán học, và Tiến sĩ John Grinder, một giáo sư ngôn ngữ học, đã cùng nhau nghiên cứu nhữngcá nhân được xem là những nhà giao tiếp xuất sắc và thành công rực rỡ trong việc giúpngười khác thay đổi. Họ đã bị cuốn hút bởi cách mà những cá nhân này đã bất chấp khó khăn để tiếp cận thành công những người được cho là khó tính hoặc đang bị bệnh nặng về tâm lý trong khi những người khác lại không thể làm được điều đó. 
<p>  </p><p>Từ đó, NLP có nguồn gốc từ lĩnh vực trị liệu với ba nhà trị liệu tâm lý nổi tiếng thế giới mà hai ông Bandler và Grinder đã nghiên cứu: Virginia Satir (nhà phát triển Trị liệugia đình kết hợp) [1], Fritz Perls (người sáng lập Tâm lý học Gestal) [2], và Milton HErickson (người đóng góp chủ yếu vào sự phát triển của Trị liệu thôi miên lâm sàng)[3].  </p><p> </p><p>Trong công trình nghiên cứu của mình, hai ông Bandler và Grindercũng dựa trên tri thức chuyên sâu của hai nhà ngôn ngữ học Alfred Korzybski và Noam Chomsky, cùng với nhà nhân chủng học xã hội Gregory Bateson và nhà trị liệu tâm lý PaulWatzlawick. </p>
<p>  </p><p>Từ những ngày đầu cho đến nay, NLP phát triển như bùng nổ và được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau ở nhiều nước trên thế giới. Chúng ta không thể nào nhớ hết tên của tất cả các chuyên gia huấn luyện và những nhà thực hành NLP xuất sắc hiện giờ.Trong Phụ lục A của sách này, bạn có thể tìm thấy thông tin hướng dẫn giúp bạn mở rộngthêm kiến thức của mình về NLP. </p><p> </p><p> </p><p>Vào những năm 1980, Grinder đã không còn hài lòng với một số mô hình mã hóa [4] trong công trình nghiên cứu mà ông đã thực hiện trước đây cùng với Bandler, mà giờ đây ông gọi chúng là Bộ mã cổ điển. Cùng vớibà Judith De Lozier, ông đã khởi xướng một số mô hình mới và đặt tên là Bộ mã mới (nội dung được trình bày trong quyển sách do ông viết mang tên “Thì thầm trong gió”) [5]. Sau này ông tiếp tục công trình nghiên cứu của mình với bà Carmen Bostic St.Clair.</p><p> </p>
Những gì sẽ xảy ra tiếp theo đối với NLP? Xuất phát từ Santa Cruz trong những năm 1970,khoa học NLP rõ ràng đã đi qua một chặng đường dài. Kể từ khi chúng tôi viết phiên bản đầu tiên của cuốn sách này cho đến giờ, sự quan tâm đối với NLP không hề có dấu hiệu suygiảm [6]. Ngày càng nhiều hơn những người tiên phong nghiên cứu và phát triển khoa học này, làm cho nó trở nên thực tế và giúp thay đổi cuộc sống của nhiều người. Các tài liệu và các ứng dụng của NLP rất phong phú, các kết quả tìm kiếm trên Google sẽ cho thấy điều đó.Ngày nay bạn có thể nhìn thấy NLP được ứng dụng bởi bác sĩ và y tá, tài xế taxi, nhân viên bán hàng, huấn luyện viên, kế toán viên, giáo viên, người luyện thú, các bậc cha mẹ, công nhân, người về hưu và thanh thiếu niên vân vân. Trong chương 21, chúng tôi sẽ liệt kê mộtsố ứng dụng thực tế của NLP.
<p>  </p><p>Mỗi thế hệ sẽ nắm bắt những ý tưởng để tạo nên tiếng vang trong lĩnh vực họquan tâm; Họ sàng lọc, hiệu chỉnh và bổ sung vào kinh nghiệm, kiến thức riêng của mình.Nhiều nghiên cứu phát triển NLP ngày nay xoay quanh các khả năng ứng dụng chứ không phải nhằm xây dựng các mô hình cốt lõi. Những chuyên gia trong một lĩnh vực nào đó sẽ kết hợp các công cụ NLP để áp dụng chúng vào lĩnh vực riêng của họ. Nếu nhìn nhận rằng NLPluôn khuyến khích những tư duy và lựa chọn mới, đồng thời nó thừa nhận các chủ ý tích cựctrong mọi hành động thì tất cả những gì chúng ta có thể khẳng định là: Tương lai của NLPvẫn còn tươi sáng với nhiều khả năng phát triển. Phần còn lại chỉ còn tùy thuộc vào bản thân của bạn mà thôi.</p>
<p>  </p><p> </p><p>1.1.3 Lưu ý về liêm chính </p><p> </p><p> </p><p>Bạn có thể nghethấy những từ như “liêm chính” và “thao túng” gắn liền với với NLP, vì vậy chúng tôi muốntrao đổi thẳng thắn về đề tài này. Bạn luôn luôn gây ảnh hưởng đến người khác. Khi bạn làmđiều đó một cách có ý thức để đạt được những gì bạn muốn, câu hỏi về tính liêm chính sẽphát sinh. Bạn có đang thao túng người khác để có những gì mình muốn với chi phí của họhay không?</p><p> </p><p> Vì vậy, ví dụ như bạn đang ở trong một tình huống bán hàng.Hãy tự hỏi mình một câu đơn giản: Ý tốt của bạn dành cho người mua là gì, cho dù người mua đó là một cá nhân hoặc một công ty? Nếu ý định của bạn là tốt nhằm đem lại lợi ích chongười mua, bạn đã có được sự liêm chính: Đó là tình huống hai bên cùng thắng. Còn nếucâu trả lời là không, thì bạn đang thao túng người mua. Khi bạn xác định mục tiêu là hai bên cùng thắng, bạn đang đi đúng hướng để thành công. Và chắc là bạn cũng hiểu rằng: Gieo nhân nào sẽ gặt quả nấy.</p><p> </p>


1.2 Làm quen với những trụ cột của NLP: Trực tiếp và dễ hiểu

Điều đầu tiên cần được nắm vững: Có bốn thành tố được gọi là những trụ cột của NLP (XemHình 1-1). Bốn trụ cột nền tảng này có thể được mô tả như sau: 

o Quan hệ ăn ý: Cách thức xây dựng quan hệ ăn ý với người khác cũng như với chính mình có lẽ đó là món quà quan trọng nhất mà NLP mang đến cho bạn. Với tốc độ sống và làm việc hiện nay của hầu hết mọi người, vấn đề có ý nghĩa không nhỏ trong mối quan hệ đó là làm cách nào bạn có thể trả lời “không” khi người ta yêu cầu bạn phải bỏ thời gian để làm điều gì đó, nhưng vẫn duy trì được tình thân hữu cũng như các mối quan hệ nghề nghiệp? Để hiểu thêm về quan hệ ăn ý, như làm thế nào để xây dựng quan hệ đó và khi nào cần phá vỡ nó đi, bạn hãy tham khảo Chương 7.
<p>  </p><p>o Nhận thức giác quan: Mỗi khi bước vào nhà của một người nào đó, bạn cónhận biết được màu sắc, âm thanh và mùi trong ngôi nhà đó có sự khác nhau một cách tinh tế so với ngôi nhà của bạn hay không? Hoặc bạn có nhận biết khi một đồng nghiệp có vẻ lo lắng khi nói về công việc của mình. Có lẽ bạn cũng nhận biết màu sắc của bầu trời đêm hay sắc lá xanh tươi khi mùa xuân đến. Cũng giống như thám tử hư cấu nổi tiếng Sherlock Holmes, bạn bắt đầu nhận ra rằng thế giới của mình đang sống trở nên phong phú hơn nhiều nếu bạn quan tâm đến thế giới bằng tất cả các giác quan. Chương 6 sẽ giải thích mọi thứ cần thiết để bạn hiểu sức mạnh của nhận thức giác quan và làm thế nào bạn có thể sử dụng các khả năng tự nhiên của mình khi nhìn, nghe, chạm, cảm, nếm và ngửi, để mang lợi nhiều lợi ích cho bản thân.</p>
<p>  </p><p>o Tư duy kết quả: Bạn sẽ nghe thấy từ “kết quả” được đề cập nhiều lần trongcuốn sách này. Thuật ngữ này có ý kết nối với việc nên khởi động suy nghĩ về những gì bạn muốn, chứ không phải kiểu suy nghĩ loanh quanh những vấn đề tiêu cực. Các nguyên tắc tiếp cận định hướng kết quả sẽ giúp bạn ra quyết định và thực hiện lựa chọn một cách tốt nhất. Ví dụ như bạn sẽ làm gì vào cuối tuần này, hay nên điều hành một dự án quan trọng tại nơi làm việc ra sao, hoặc xác định mục đích thực sự của cuộc sống bản thân là gì. Hãy đọc Chương 4 để có được thêm những thông tin mà bạn mong muốn.</p><p> </p><p>oLinh hoạt hành vi: Thuật ngữ này có nghĩa là tìm cách làm điều gì đó khác đi khi những gìbạn đang làm đã không mang lại hiệu quả. Linh hoạt là chìa khóa để thực hành NLP và bạn có thể tìm thấy các công cụ và ý tưởng để phát triển kỹ năng này trong mỗi chương của cuốn sách. Chúng tôi giúp bạn tìm thấy những quan điểm mới và đưa chúng vào trong vốn sống của bạn. Bạn có thể sẽ muốn tìm hiểu thêm đề tài này ở Chương 5, là chương dành cho người mới bắt đầu học tập cách tối đa hóa tính linh hoạt của bản thân.</p><p> </p>
<p> </p><p>Dưới đây là một ví dụ cho thấy bốn trụ cột nêu trên có ý nghĩa như thế nào với bạn trong những sự việc diễn ra hằng ngày. Giả sử rằng bạn đặt mua hàng qua bưu điện, đó là một gói phần mềm để lưu trữ tên, địa chỉ và số điện thoại của tất cả bạn bè hoặc khách hàng của mình. Bạn cài đặt  nó trên máy tính, sử dụng được vài lần và sau đó nó ngừng hoạt động một cách bí ẩn. Đã xảy ra lỗi trong hệ thống, mặc dù bạn đã dành nhiều thời gian cài đặt phần mềm và nhập các địa chỉ liên lạc. Bạn đã gọi điện thoại cho nhà cung cấp vànhân viên phục vụ khách hàng, nhưng tất cả điều trở nên vô ích. Thậm chí họ còn có thái độ khiếm nhã đối với bạn.</p>
<p>  </p><p>Bạn cần sử dụng tất cả các kỹ năng của mình để xây dựng mối quan hệ ăn ý với viên quản lý bộ phận phục vụ khách hàng trước khi thực hiện việc khiếu nại. Bạn phải kết hợp các giác quan của mình, đặc biệt là đôi tai, khi lắng nghe cẩn thận những gì nhà cung cấp nói. Đồng thời bạn chú ý kiểm soát cảm xúc của mình và quyết định chọn cách phản ứngtốt nhất. Bạn phải xác định rất rõ ràng kết quả mong muốn của mình là như thế nào: Bạn mong muốn điều gì diễn ra sau khi bạn khiếu nại? Ví dụ, bạn có muốn được hoàn lại đủ tiền hay muốn có phần mềm khác thay thế? Cuối cùng, bạn có thể phải linh hoạt trong hành vi của mình và cân nhắc những lựa chọn khác nữa nếu chưa đạt được những gì mong muốnlúc ban đầu. </p><p> </p><p> </p><p> </p><p> </p><p> </p><p> (Còn tiếp)</p><p>  </p>
oooooooooooooooooo
Chú thich của người dịch:


[1] Trị liệu gia đình kết hợp (conjoint family therapy) là một hình thức trị liệu tâm lý, theo đó nhà trị liệu xem xét, đánh giá từng gia đình như một bộ phận hạt nhân riêng rẽ để làm cơ sở xác định và giải quyết những vấn đề tâm lý của một thành viên trong gia đình đó.


[2] Để hiểu chính xác hơn, Fritz Perls không phải là người sáng lập ra Tâm lý học Gestalt. Ông là người đầu tiên sáng lập ra phương pháp trị liệu Gestalt. Liệu pháp này được vợ ông là Laura Perls cùng những người khác, trong đó có Paul Goodman, kế tục và phát triển. Đây là một hệ thống trị liệu nhấn mạnh đến tính thống nhất giữa yếu tố sinh lý và yếu tố tâm lý để tạo ra con người với tư cách là một chỉnh thể. Mục tiêu chủ yếu của trị liệu Gestalt là làm cho người được điều trị ý thức được đến mức tối đa các cảm xúc của mình. 


[3] Trị liệu thôi miên lâm sàng (clynical hypnotherapy) được định nghĩa là liệu pháp tinh thần-thể xác liên quan đến trạng thái thư giãn sâu, hình tượng tâm lý được cá nhân hóa và sự ám thị điều trị.


[4] “Mã hóa” trong bối cảnh của NLP có nghĩa là “mô hình hóa” một kinh nghiệm nào đó và đặt tên cho nó theo một cách thức đã được xác định. Hoặc đơn giản hơn, nó có nghĩa là gán kinh nghiệm vào một mã phù hợp nào đó nếu mã đó đã được xác lập từ trước.


[5] Quyển “Thì thầm trong gió” (Whispering in the Wind) do bà Carmen Bostic St. Clair và ông John Grinder cùng viết chung, được xuất bản năm 2001.


[6] Ấn bản đầu tiên của quyển sách này được phát hành vào năm 2004.









Con lạc đà thứ mười tám - Một phút suy ngẫm - Luật hấp dẫn

Con lạc đà thứ mười tám
Bạn có thể nhận ra “Con lạc đà thứ mười tám” là một bài toán cổ khá nổi tiếng trong lịch sử toán học thế giới. Trong câu chuyện, một vấn đề hiểm hóc tưởng như đành “bó tay” nhưng đã được giải quyết một cách thông minh và nhanh chóng.
oOo
Chuyện kể rằng có một nhà thông thái cưỡi lạc đà đi vào một ngôi làng vắng vẻ lúc chiều tối khi mặt trời đang dần tắt. Trời đã tối nhưng ông vẫn cảm thấy cái nóng hầm hập của cả đoạn đường dài mà trong ngày ông đã đi qua. Bước xuống khỏi lạc đà, ông hỏi xin một dân làng chút nước uống.
“Được thôi, xin mời ông!”, người dân làng vừa nói vừa đưa cho ông một cốc nước.
Nhà thông thái uống cạn cốc nước, cám ơn rồi nói: “Anh xem, tôi có thể giúp được gì cho anh trước khi tôi đi tiếp?”
Người dân làng trả lời:“Thế thì tốt quá! Bởi vì gia đình tôi đang có chuyện tranh cãi với nhau. Tôi là con út trong gia đình có ba anh em. Gần đây cha tôi đã qua đời. Linh hồn ông giờ đang ở cùng Thượng đế. Ông để lại cho chúng tôi một đàn lạc đà, chính xác là 17 con. Cha tôi dặn dò trước khi qua đời rằng phân nữa số lạc đà sẽ thuộc về anh cả của tôi; một phần ba sẽ thuộc về anh kế của tôi; một phần chín của đàn lạc đà sẽ là sở hữu của tôi. Nhưng làm sao chúng tôi có thể chia nhau một đàn lạc đà gồm 17 con như thế được? Chúng tôi không muốn đem bất kỳ con lạc đà nào chặt ra từng khúc để chia nhau, bởi vì lạc đà sẽ có giá trị nhiều hơn khi chúng còn sống. Bên cạnh đó, cha tôi cũng không cho phép chúng tôi bán đi số lạc đà để lấy tiền chia nhau theo tỷ lệ trên.”
Nhà thông thái mĩm cười: “Tôi rõ rồi. Anh hãy đưa tôi về nhà đi.”
Khi bước vào nhà, ông nhìn thấy hai anh em và người mẹ góa đang cãi nhau quanh đóm lửa. Lời qua tiếng lại giữa họ xem ra càng lúc càng gay gắt. Người em út xen vào và giới thiệu vị khách mới đến. Khi đó nhà thông thái mới lên tiếng:“Mọi người hãy kiên nhẫn một chút. Tôi cho rằng tôi có thể giúp giải quyết được việc này. Bây giờ tôi sẽ đưa cho gia đình con lạc đà của tôi như một món quà. Thế là chúng ta có đến 18 con. Phân nữa lạc đà sẽ thuộc về anh cả, tức là 9 con. Một phần ba là của anh hai, đấy là 6 con. Còn một phần chín sẽ thuộc về anh bạn em út của tôi đây, có 2 con.”
“Vậy là tổng cộng số lạc đà đã chia chỉ có 17 con mà thôi!”, người em út kêu lên.
Nhà thông thái cười và nói: “Đúng vậy! Thật là sự trùng hợp đầy thú vị bởi vì con lạc đà thứ mười tám chính là con của tôi. Nó đã xong công việc ở đây rồi. Nếu các bạn trả nó lại cho tôi, tôi mới có thể tiếp tục cuộc hành trình được.”
Thế là ông rời đi…(1)
oOo
Trở lại câu chuyện “Con lạc đà thứ mười tám” ở trên, biết đâu chừng người cha đã muốn răn dạy các con của mình nhân chuyện phân chia khối tài sản gồm 17 con lạc đà. Có thể người cha thực tâm không muốn các con chia nhau đàn lạc đà; Ông muốn họ hợp tác cùng nhau để khai thác đàn lạc đà và phân chia kết quả có được theo tỉ lệ xác định. Hay có thể người cha cố ý đưa các con vào tình thế khó khăn, để họ phải biết khiêm tốn để học hỏi từ những người giỏi hơn. Hoặc có thể người cha mong muốn các con phải biết giúp đỡ lẫn nhau và giúp đỡ người khác để cùng nhau vượt qua mọi thách thức trong cuộc sống. Câu chuyện trên cho thấy: Nếu người con út không giúp nhà thông thái xoa dịu cơn khát nước trong chuyến hành trình của ông, thì chuyện gia đình của anh sẽ không mau chóng được giải quyết như thế!
Bên cạnh đó, chỗ bí hiểm của phép chia ở đây đó là nhà thông thái đã phát hiện ra tổng ba phân số biểu thị các phần được chia cho các người con theo di chúc là 17/18:
(1/2)+(1/3) +(1/9)=(9+6+2)/18=17/18
Cho nên với 17 con lạc đà mà phân chia theo các tỷ lệ 1/2,1/3 và 1/9 thì sẽ không bao giờ chia chẳn. Do vậy, nhà thông thái đem con lạc đà của mình để cộng vào nâng tổng số lạc đà thành 18 con. Con số 18 là bội số chung nhỏ nhất của 2, 3 và 9 nên luôn chia hết cho những số này. Sau khi đem 18 con lạc đà chia cho các người con theo các tỷ lệ nêu trên thì tổng số lạc đà được chia chỉ mất có 17 con. Còn dư một con lạc đà chính là con thứ mười tám của nhà thông thái.
Con lạc đà thứ mười tám trong câu chuyện trên như là một ẩn dụ về kỹ thuật NLP. Nó được mang đến bởi một nhà thông thái, để nhanh chóng giải quyết một vấn đề và cũng nhanh chóng biến đi như thể chưa bao giờ xuất hiện.
Trích “Khơi dậy tiềm năng”,
Tác giả Nguyễn Khắc Thành Đạt,
Certifed NLP Master Trainer
------
(1) Phỏng theo câu chuyện được kể trong quyển NLP Workbook. Joseph O’Connor (1990), NLP Workbook, tr.3.

Lập Trình Ngôn Ngữ Tư Duy NLP cho người Việt Nam
https://www.facebook.com/NLPvietnamese/posts/838793969521622

---------------------------------------------------------------------------

Một phút suy ngẫm
Trước đây, người ta cho rằng sức người không thể chạy khoảng đường một dặm với thời gian dưới bốn phút. Các nhà khoa học thời bấy giờ cũng khẳng định đó là giới hạn thể lực của con người. Giới hạn này trông rất thực giống như những những người đi biển thời cổ tin rằng giới hạn của các chuyến hải trình xa xôi là những thác nước khổng lồ ở bờ rìa của trái đất.
Khi Roger Bannister chạy một dặm với thời gian 3 phút 59,4 giây vào tháng 5 năm 1954 tại Oxford (Vương quốc Anh), ông là người đầu tiên phá vở cột mốt bốn phút trong lịch sử các kỷ lục. Cái giới hạn 4 phút đã không còn tồn tại!
Từ đó đến nay đã có hàng ngàn người cũng đã làm được như ông. Thực chất, kỷ lục mà Roger Bannister đã tạo được chỉ tồn tại có bảy tuần trước khi vận động viên người Úc John Landy đã phá lỷ lục chạy một dặm với thời gian 3 phút 58 giây .
Điều gì đã khiến cho một việc hầu như không thể đã trở thành có thể, khi mà nhiều vận động viên hàng đầu đã tập đi tập lại nhưng không thành công? Theo Roger Bannister, đã có sự thay đổi trong bản thân ông về thái độ tâm lý, chứ không phải đơn thuần là do ông được huấn luyện chuyên môn hay rèn luyện về thể lực. Ông nói: “… sức mạnh và năng lượng của tâm thức là không có giới hạn… Chúng sẽ được phóng thích nhờ vào thái độ đúng đắn của tâm thức.”
Khi chúng ta phá vỡ giới hạn tâm lý đang trì kéo bản thân, chúng ta sẽ đạt được thành công và thành tích ở cấp độ cao hơn. Bên cạnh đó, nếu chúng ta mô phỏng cách suy nghĩ, ứng xử và hành động của những người thành công trong một lĩnh vực cụ thể nào đó, chúng ta có thể có được thành quả tương tự. Hàng năm đều có nhiều kỷ lục thể thao đẳng cấp thế giới đã bị con người phá vỡ để thiết lập nên những kỷ lục mới.

-------------------------------------------------------------------------

Luật hấp dẫn
Shakti Gawain, tác giả cuốn "Hình dung sáng tạo" nói rằng "Tư duy và cảm xúc có năng lượng nam châm của chúng và có thể hút năng lượng cùng loại. Đây chính là quy luật gởi gì vào vũ trụ sẽ nhận lại được cái đó. Trên quan điểm thực tế thì điều này có nghĩa là chúng ta thu hút vào cuộc sống của mình cái mà mình hay nghĩ đến nhất, tin tưởng nhất hay mong đợi sâu sắc nhất hoặc tưởng tượng sống động nhất".
Richard Bach đã viết "Chúng ta hút vào đời sống của mình cái chúng ta nghĩ trong đầu".
Một ý nghĩ không thể "không là gì", mà là "một cái gì đó". Để nghĩ đến nó được thì nó phải tồn tại. Phải là điều gì hay vật gì đó. Vậy là nó sẽ có năng lượng của nó. Một ý nghĩ cũng sẽ tuân theo những quy luật hay nguyên tắc như tất cả những thứ khác trên đời này.
Có thể là do nhìn từ góc độ này, dễ xác nhận là quy luật hấp dẫn cũng có thật và mạnh mẽ như điện hay trọng lực vậy.

Tuesday, July 21, 2015

“Nguyễn Trường Tộ và vấn đề canh tân” của Bùi Kha (Sách)

“Nguyễn Trường Tộ và vấn đề canh tân” của Bùi Kha

do Trung tâm Nghiên cứu Quốc Học
và nhà xuất bản Văn Học ấn hành (tháng 5/2011)






LỜI GIỚI THIỆU

(Một cái nhìn khác và mới về Nguyễn Trường Tộ)


Nguyễn Trường Tộ (1828-1871) là một tên tuổi mà có lẽ không người Việt Nam có học nào trong thế kỷ XX và cả ngày nay chưa từng được một lần nghe đến. Trong học đường và trong học giới, người ta biết đến ông như một trí thức tân tiến của thế kỷ XIX, có tư tưởng canh tân, có tấm lòng yêu nước, đã từng dâng lên triều đình vua Tự Đức lúc bấy giờ nhiều đề nghị cải cách để làm cho dân giàu nước mạnh theo con đường văn minh của châu Âu. 

Song tiếc thay, dân ta lạc hậu, vua ta ngu tối, không nghe theo các điều trần đó. Cho nên khác với Nhật Bản, Việt Nam ta nước yếu, dân hèn, bị nước Pháp chinh phục và đô hộ. Có mấy câu ca tôi được dạy từ hồi còn học sơ học: "Nếu vua nghe lời/ Biết đường cải tổ/ Kén mặt dĩnh ngộ/ Trong bọn trẻ trai/ Đi học nước ngoài/ Thì đâu đến nỗi/ Dân ta tài giỏi/ Giàu mạnh bằng người/ Chắc rằng nước ngoài/ Hết nghề dòm dỏ...".

Mất nước vào tay người Pháp là vì vậy. Ở đời, mạnh được yếu thua, ngu hèn thì mình chịu, lỗi đâu tại người.

Từ nhỏ cho đến trọn đời, tôi không bao giờ tin rằng nhà trường, giáo dục là phi chính trị. Nguyễn Trường Tộ như một nhân vật lịch sử và văn hóa xuất sắc, lỗi lạc không những là hiểu biết của chúng tôi khi còn nhỏ dại mà của cả nhiều bậc thầy của chúng tôi. Lớn lên, chúng tôi được dạy: Nguyễn Trường Tộ là nhà yêu nước sáng suốt (un patriote eclairé), nhà cải cách cô đơn (un reformiste solitaire). Chúng tôi khâm phục ông, thương cảm ông và tự an ủi rằng: Dù sao thì nước mình cũng có những người yêu nước thông minh chứ không phải toàn bọn ngu dại cả.

Cách mạng tháng Tám rồi kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ, chế độ thực dân phong kiến bị xóa bỏ, nước nhà được độc lập, tự do, nhiều nhận thức sai lầm thời thuộc địa được điều chỉnh, nhiều thần tượng giả tạo mang tên Tây, tên Việt bị lật đổ, song cũng còn nhiều thần tượng khác sống sót. Nguyễn Trường Tộ có lẽ là một thần tượng như vậy. Tôi về Huế vẫn thường đi trên một con đường ở trung tâm thành phố mang tên Nguyễn Trường Tộ, thường đi mà không băn khoăn gì. Cùng với thời gian, nhận thức của tôi vẫn như xưa, mặc dù kiến thức có mở rộng hơn. 

Quyển sách đáng tin cậy của tôi về văn học thế kỷ XIX là Hợp tuyển thơ văn Việt Nam của NXB Văn Hóa Hà Nội có in tiểu sử và trích thơ văn của Nguyễn Trường Tộ, nhưng tiểu sử thì vắn tắt, thơ văn thì trích tuyển, không có gì khác hơn các truyền thuyết về ông. Về tác phẩm, sách trích tuyển hai bài văn nổi tiếng nhất của ông là Thiên hạ đại thế luận và Tế cấp bát điều. Đọc kỹ hai bài văn ấy, nếu chăm chú thì cũng thấy những chỗ "bất cập" trong đó, ví như tầm nhìn quốc tế của ông còn rất sơ lược và thiên lệch, những kiến nghị của ông cũng còn nhiều điểm đáng nghi ngờ. 

Không nói cái "đại thế thiên hạ" của ông rõ rệt có ý đề cao các nước đế quốc phương Tây, xem như chúng hoành hành khống chế thiên hạ, không gì ngăn cản được. Riêng trong "tám điều tế cấp" của ông lại có kiến nghị dùng chữ Hán đọc theo âm Việt để làm quốc ngữ, quốc văn. Tôi lấy làm lạ một người gọi là tân học tiên giác như ông mà lại không biết đến chữ Nôm và chữ Quốc ngữ. Nhưng lại nghĩ rằng: Dù sao ông cũng là người thế kỷ XIX, không thể giống với chúng ta ngày nay, dù sao như thế cũng đã là "đi trước thời đại" rồi.

Liên hệ với bản thân, tôi cho rằng, đa số người Việt Nam, kể cả giới trí thức và học giả, chỉ biết về Nguyễn Trường Tộ một cách gián tiếp qua truyền thuyết mà không để công đi sâu nghiên cứu, chỉ tin vào các công trình thời Pháp thuộc. Chúng ta biết về ông một cách sơ sài, nhiều sự kiện về ông vẫn còn trong bóng tối hay sương mù. Còn các tác phẩm của ông thì ngoài hai bài chính mà tôi đề cập trên đây (vốn bằng chữ Hán chưa được dịch toàn văn mà chỉ trích tuyển), các bản điều trần khác đều chưa được biết đến.

 Vấn đề Nguyễn Trường Tộ được quan tâm nhiều hơn do hai hoàn cảnh đặc biệt sau đây:

 1. Sau ngày nước nhà được hoàn toàn độc lập, thống nhất (1975), tiến vào công cuộc tái thiết đất nước sau chiến tranh, trước tình hình và nhiệm vụ lịch sử mới, không phải do tình thế một lúc mà còn do chiến lược lâu dài, Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra đường lối đổi mới, trong đó có vấn đề nhìn lại quá khứ để nhìn đúng hiện tại và nhìn rõ tương lai. Suy nghĩ (hay tư duy) của chúng ta trong hòa bình, độc lập, thống nhất, xây dựng, trên các vấn đề nhất định, phải đổi mới so với thời kỳ trước đó. 

Chúng ta có điều kiện để làm những việc trước đó phải gác lại. Không còn sức ép của chiến tranh, của ngoại xâm, đầu óc và tâm hồn chúng ta thoáng đãng, rộng rãi, tỉnh táo, toàn diện hơn. Và chúng ta cũng có thời gian và phương tiện để tìm hiểu nhiều vấn đề về lịch sử, văn hóa gần và xa, xưa và nay, ngoài và trong, thâu thái kinh nghiệm lịch sử và kinh nghiệm quốc tế để đổi mới nước nhà, phục hưng dân tộc. 

Nhìn lại quá khứ, không chỉ tinh thần ái quốc, ý chí quật cường của các thế hệ đi trước mà cả những đau thương, tủi hận, những thất thố, sai lầm của họ cũng trở thành thân thiết, dưới mắt nhìn nghiêm túc và bao dung, sáng suốt và thông cảm của thế hệ chúng ta. Giữ nước và dựng nước là sự nghiệp gian nan, khó khăn, đã chắc gì thế hệ chúng ta sáng suốt, khôn ngoan, tài trí hơn các thế hệ trước, phải rút kinh nghiệm từ thành – bại, cả từ những yếu kém, sai lầm của họ để làm vốn liếng tinh thần cho hiện tại và tương lai.


Di ảnh Nguyễn Trường Tộ

2. Riêng về nhân vật Nguyễn Trường Tộ cũng như các nhân vật tương tự như ông, sau hòa bình thống nhất, chúng ta có điều kiện để tìm hiểu nhiều hơn về ông, bổ khuyết những chỗ còn thiếu sót trong thân thế và sáng tác của ông. Công việc này được một người tri thức Công giáo yêu nước nổi tiếng ở miền Nam nay đã quá cố, Linh mục Trương Bá Cần, Tiến sĩ Sử học, từng nhiều năm sưu tập tư liệu và nghiên cứu về Nguyễn Trường Tộ. Kết quả là tập sách Nguyễn Trường Tộ, con người và di thảo được xuất bản.

 

sách Nguyễn Trường Tộ, con người và di thảo 

Mục đích công trình này của vị linh mục cũng dễ dàng nhận thấy: Ông muốn qua con người và di thảo của Nguyễn Trường Tộ để minh họa một điều mà có lẽ trong thâm tâm ông còn vương vấn: Đó là tấm lòng thiết tha với đất nước và những đóng góp trí tuệ của một người Công giáo Việt Nam cho vận mệnh của tổ quốc Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử đen tối, đau thương của đất nước này. 

Đó là một người đã từng là linh mục như bản thân tác giả, trong nghịch cảnh của lịch sử và của thân phận mình đã tìm cách bày tỏ lòng yêu nước và việc làm ích nước theo khả năng và tâm niệm của mình. Và đó cũng là một điểm son đáng kể trong truyền thống yêu nước của những người Công giáo Việt Nam. 

Dù bị định kiến như thế nào, truyền thống đó vẫn là chủ lưu trong dòng chảy tâm thức, tâm linh của người Công giáo Việt Nam kính Chúa yêu nước. Đó cũng là con đường trước đây là "tìm về dân tộc" và ngày nay là "sống Phúc Âm trong lòng dân tộc". Chính nhờ tâm thức đó của người tu sĩ yêu nước, cộng với thái độ cầu thị của nhà sử học, công trình Nguyễn Trường Tộ, con người và di thảo, với những tư liệu phong phú làm cơ sở của mọi nghiên cứu, thảo luận và tranh luận từ đó đến nay.

 Bản thân tôi cũng nhờ vào công trình của Linh mục Trương Bá Cần mới biết rõ thêm về con người và di thảo của Nguyễn Trường Tộ trong bối cảnh mới của đất nước để có được những thông tin mới và suy nghĩ mới.

Từ những tư liệu mới bổ sung, tôi ngộ thêm ra hai điều sau đây mà trước đó chưa thấy:

1. Về thân thế của ông, có hai sự kiện mới đối với tôi: Đó là ông cùng với Giám mục đỡ đầu của ông là Gauthier đã có mặt trong nhóm các giáo sĩ Pháp và Việt Nam dẫn đầu bởi Giám mục Pellerin đến Đà Nẵng để đón tiếp đoàn quân viễn chinh Pháp năm 1958 đánh vào Cửa Hàn, khởi đầu cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp đối với nước ta. Vì Rigault de Genouilly nhận thấy thời cơ bất lợi (còn chiến tranh ở Nam Trung Quốc) và lực lượng không đủ nên không dám tiến sâu vào nội địa của ta theo khẩn cầu của nhóm giáo sĩ này, nên buộc họ trở về nhiệm sở, còn thầy trò Gauthier và Nguyễn Trường Tộ thì theo yêu cầu của R. de Genouilly phải lánh sang Hồng Kông. Cho đến đầu năm 1861, lại theo yêu cầu của Phó Đô đốc Pháp Charner, hai thầy trò trở về Gia Định để giúp Tướng Charner tiến công và mở rộng chiếm đóng 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ. 

Trong thời gian này, ông cộng tác với quân Pháp, cùng với Trương Vĩnh Ký và Tôn Thọ Tường làm việc phiên dịch tài liệu từ chữ Hán ra chữ Pháp cho Bộ Tham mưu quân Pháp. Ông còn có lúc làm trung gian hòa đàm giữa đại diện triều đình Huế với đại diện quân Pháp, giúp đạt được hưu chiến tạm thời, sau khi Pháp chiếm xong 3 tỉnh miền Đông cần nghỉ ngơi để củng cố lực lượng và ổn định vùng đất mới chiếm được. Còn hơn cả Trương Vĩnh Ký, thời gian này, ông và Giám mục Gauthier còn liên lạc với triều đình Huế để gởi các "điều trần" cho triều đình, thậm chí có lúc nhận lãnh sứ mệnh của triều đình sang Pháp mua máy móc, mời giáo viên về mở trường kỹ thuật ở Huế. 

Tất cả những việc này ông làm trong thời gian giặc lần lượt chiếm hết Nam Kỳ và vua Tự Đức còn sống. Kể ra, triều đình đối xử với thầy trò ông cũng không đến nỗi kỳ thị. Bình Tây sát Tả là chuyện mãi về sau. Cho đến cuối đời (1871), ông và Gauthier còn có vai trò liên lạc giữa quân Pháp và triều đình Huế không để đưa ra nhiều kiến nghị canh tân? Một sứ mệnh như vậy, Trương Vĩnh Ký phải đợi đến sau 1884 mới làm theo ý của Paul Bert bên cạnh vua bù nhìn Đồng Khánh với nội dung khác. Nguyễn Trường Tộ mất sớm ở quê nhà 5 năm sau cái chết của Phan Thanh Giản và bi kịch thất thủ toàn bộ 6 tỉnh Nam Kỳ và quân Pháp khởi đầu âm mưu tiến ra Bắc. Cho đến cuối đời, quan hệ của ông với Gauthier như thế nào? Có phải suốt gần 20 năm họ chung lòng sát cánh giúp quân Pháp vận động triều đình hòa giải với Pháp để canh tân đất nước?

2. Về tác phẩm của ông, công trình của Linh mục Trương Bá Cần cung cấp cho chúng ta các bản dịch toàn văn hầu hết các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ mà Trương Bá Cần gọi là các di thảo. Nhờ có được trước mắt một cách tương đối có hệ thống và đầy đủ các văn bản đó chúng ta mới có thể xét đoán được toàn bộ nội dung của chúng, toàn bộ tư tưởng canh tân cũng như thực chất tinh thần yêu nước của ông. 

Đối với tôi, điều mới mẻ trước tiên mà toàn bộ tư liệu về tác phẩm của Nguyễn Trường Tộ đã làm sáng tỏ là bối cảnh lịch sử và khung cảnh thời gian trong đó Nguyễn Trường Tộ viết và gởi các bản điều trần của mình. Hóa ra là như thế này: Theo trình tự thời gian, bản điều trần thứ nhất: Thiên hạ đại thế luận được viết năm 1863 khi thầy trò ông trở về Gia Định (có thể sớm hơn) và bản cuối cùng Nên mở cửa không nên đóng kín được viết năm 1871, năm ông qua đời. Như vậy, thời gian gói gọn là từ khi nước ta mất 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ đến lúc mất nốt 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ. 

Trong thời gian này, Nguyễn Trường Tộ cùng với Giám mục Gauthier ở vị trí như ông nói là "người bầy tôi của nước Đại Nam trốn ra nước ngoài", từ phía người Pháp để liên lạc với vua quan nhà Nguyễn. Các bản điều trần được lần lượt gởi lên triều đình trong các năm ấy, trong quá trình nước ta mất dần 6 tỉnh Nam Kỳ. Nhận rõ tính thời gian của các điều trần đó, đối với tôi, một vấn đề được đặt ra là: Giá thử Nguyễn Trường Tộ viết các bản điều trần đó với tấm lòng yêu nước ưu dân thật sự và với mong muốn chân thành nước nhà canh tân nhanh chóng theo các kiến nghị của ông, thì liệu triều đình nhà Nguyễn có thể thực hiện được không, khi lúc này giặc đã từ ngoài ngõ vào đến trong nhà, nguy cơ diệt vong đang diễn ra trước mắt? 

Đó là chưa nói từ đầu đến cuối, Nguyễn Trường Tộ thuyết phục triều đình giảng hòa với Pháp để có điều kiện canh tân thì điều đó trên thực tế phái chủ hòa trong triều đình với những người có thế lực như Trần Tiễn Thành – Thượng thư Bộ Binh, Phan Thanh Giản – Đại sứ lưu động, Kinh lược Nam Kỳ, chuyên cầu hòa và giảng hòa với Pháp, đã hết lòng thực hiện chính sách để cuối cùng từ mất 3 tỉnh miền Đông đến mất toàn bộ Nam Kỳ và sau đó mất cả nước. Thế thì tóm lại một lời, toàn bộ các điều trần đó ngoài những lời lẽ khoa trương, hoa mỹ (có người gọi là hào nhoáng và lừa dối), liệu có giá trị thực tế gì và tấm lòng yêu nước trong đó liệu có phải là thành thực hay đây là một thứ "quân trung từ mệnh" của Nguyễn Trường Tộ từ Bộ Tham mưu quân xâm lược gởi để "địch vận" thuyết hàng đối với triều đình Đại Nam([1])? Sau cái chết của Phan Thanh Giản ở Vĩnh Long là sự hy sinh của Nguyễn Tri Phương rồi sự tử tiết của Hoàng Diệu ở Hà Nội: "Mười năm thương ước, lẽ nào tin được địch tâm?". 

Lời di biểu của Hoàng Diệu đã tổng kết chủ trương cầu hòa, chủ hòa của triều đình. Liên hệ với bối cảnh lịch sử lúc đó, "vạn ngôn thư" của Nguyễn Trường Tộ nếu không phải lời xảo trá của kẻ manh tâm dụ hàng thì cũng là lời trống rỗng của kẻ nho giả vu khoát? "Sự nghiệp" vận động của Nguyễn Trường Tộ với triều đình Tự Đức từ sau hiệp ước 1862, sau khi ông chết sẽ được Trương Vĩnh Ký tiếp tục ở "tầm cao mới" bên cạnh vua bù nhìn Đồng Khánh, từ sau hiệp ước 1884.

Công trình của Linh mục Trương Bá Cần: Nguyễn Trường Tộ, con người và di thảo đã cung cấp tư liệu để thấy rõ hơn nhân vật này qua màn sương của quá khứ và của những truyền thuyết về ông từ trước cho đến lúc này trong nhận thức của tôi. Cũng như đối với Trương Vĩnh Ký, tôi đã thay đổi nhận thức và đánh giá của mình đối với ông.

Vì không phải là nhà sử học, chỉ là người học sử để dạy văn, mà Nguyễn Trường Tộ không phải là nhà văn đáng lưu ý của thế kỷ XIX, cho nên tôi chỉ bằng lòng với nhận thức đã thay đổi của mình mà không tìm cách đi sâu thêm nữa.

Khi Trung tâm Hán – Nôm của Viện Khoa học Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh mở cuộc hội thảo về Nguyễn Trường Tộ, ở đó vợ tôi là nhà nghiên cứu Hán học Phạm Thị Hảo có bản tham luận về các kiến thức và quan điểm sai lầm trong các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ có liên quan đến văn học và văn hóa truyền thống Trung Hoa, tôi không tham dự và sau đó cũng không tán thành mọi nhận định quá đáng về nhân vật này. Tôi cũng hiểu rõ động lực nào đã thúc đẩy những mối nhiệt tình quá đáng đó. Tuy nhiên, cũng vì lý do đã nói trên, tôi không công khai phát biểu điều gì.

Sau đó không lâu, tôi đọc được trên mạng thông tin và nội dung cuốn sách Nguyễn Trường Tộ, thực chất con người và di thảo của hai tác giả người Việt ở Hoa Kỳ là Nguyễn Kha và Trần Chung Ngọc. Cuốn sách này bình luận và phản biện tập sách của Linh mục Trương Bá Cần. Tôi có nhiều điểm đồng tình với hai tác giả, nhất là phần nghiên cứu của Nguyễn Kha. Về cơ bản, công trình của Nguyễn Kha đáp ứng được hai băn khoăn còn tồn tại trên đây của tôi về Nguyễn Trường Tộ với những trích dẫn từ các điều trần của Nguyễn Trường Tộ liên hệ với các sự kiện lịch sử đương thời được minh chứng bằng nhiều sử liệu chuẩn xác, thuyết phục. Những chỗ còn nghi ngờ của tôi về con người và di thảo của Nguyễn Trường Tộ được giải đáp bằng nhiều sử liệu có liên quan, tuy chưa phải tất cả. Cũng vì nghĩ mình không phải là nhà sử học, cho nên dù tán thành hay đồng ý, tôi cũng chỉ mình biết lấy mình, tự mình giải tỏa băn khoăn cho mình, còn làm sáng tỏ vấn đề hơn nữa thì cần đợi các thức giả và học giả có uy tín và thẩm quyền học thuật hơn.

Gần đây, năm 2008, một trong hai tác giả cuốn sách xuất bản ở Hoa Kỳ, Tiến sĩ Nguyễn Kha (bút danh lúc này là Bùi Kha) nhân dịp về nước, có ghé Thành phố Hồ Chí Minh và tôi được gặp anh ở Trung tâm Nghiên cứu Quốc học. Tôi thật lòng khen ngợi cuốn sách của hai anh mà tôi có đọc trên mạng, nó giúp tôi cởi bỏ nhiều nghi ngờ, băn khoăn về Nguyễn Trường Tộ. Nhân dịp này, anh Bùi Kha tặng tôi một bản in công trình của anh tại hải ngoại, bản này mang tên làNguyễn Trường Tộ sau bức màn canh tân, nội dung cũng giống như tác phẩm tôi đã đọc qua. Biết tôi có viết bài Thay lời tựa cho cuốn Trương Vĩnh Ký, cuốn sổ bình sanh của Nhà Sử học Nguyễn Sinh Duy thực hiện trước năm 1975 do Trung tâm Nghiên cứu Quốc học tái bản năm 2003, anh cho biết nguyện vọng sẽ xin phép tái bản ở Việt Nam công trình của anh về Nguyễn Trường Tộ và ngỏ ý muốn tôi viết cho mấy lời đầu sách như bài của tôi viết về Trương Vĩnh Ký. Tôi từ chối nhã ý của anh và nói rằng anh không nhất thiết phải in lại sách này ở Việt Nam vì theo tôi biết, cũng đã có nhiều người biết đến nó, nhất là các nhà sử học ở Viện Sử học và Hội Khoa học Lịch sử, họ có đủ tư cách để phản biện và bình luận về cuốn sách của anh hơn tôi. 

Anh nên đề nghị với họ cho ý kiến, nhất các học giả anh có nhắc đến và tranh luận trong sách của anh như Giáo sư Chương Thâu, Hoàng Thanh Đạm, Nguyễn Đình Chú... Tốt nhất là trước mắt, các kết quả nghiên cứu của anh, anh nên viết thành các bài báo, nếu được tạp chí Hồn Việt của Trung tâm Nghiên cứu Quốc học thuộc Hội Nhà văn Việt Nam đăng thì rất tốt, để chất chính các độc giả và học giả trong nước. Anh đồng ý với tôi và đã thực hiện điều tôi góp ý. Sau đó, tạp chí Hồn Việt cũng có đăng một số bài của anh về Nguyễn Trường Tộ và nói chung cũng được độc giả tiếp nhận tốt.

Bẵng đi một thời gian, qua điện thoại từ Hoa Kỳ rồi trực tiếp khi về nước, năm nay, anh lại đặt vấn đề với tôi. Lần này, Giáo sư Mai Quốc Liên, Giám đốc Trung Tâm Nghiên cứu Quốc học, Tổng Biên tập tạp chí
 Hồn Việt cùng góp lời với anh, đề nghị với tôi một lần nữa và gởi cho tôi bản vi tính cuốn sách; dự định biên tập để xin phép xuất bản tại Việt Nam.

Cũng như các lần trước, đọc bản thảo lần này của Bùi Kha, tôi tán thành phần lớn các dẫn liệu và nhận xét của anh về "con người và di thảo" Nguyễn Trường Tộ. Đó là cái nhìn khác và mới, chúng có thể giúp người đọc như tôi thay đổi nhận thức đã có về ông trước nay do chưa đọc hết hay đọc kỹ các di thảo đó một cách có hệ thống và liên hệ chúng với hành trạng và hoàn cảnh của ông trong thời gian viết và gởi các điều trần. 

Về nội dung, tôi có phần dè dặt trước các khẳng định của tác giả nhất nhất quy kết các điều trần đều viết với sự chỉ đạo của các giới quân sự và tôn giáo về phía quân xâm lược và chiếm đóng Pháp, mặc dù cũng có cơ sở để xét đoán như vậy song không nên khẳng định hoàn toàn, nhiều chỗ nên đề xuất dưới dạng nghi vấn hay đối chiếu để người đọc phán đoán thì tốt hơn, tránh cho người đọc sự hiểu lầm tác giả có định kiến sẵn... 

Tất nhiên, công trình của Bùi Kha có thể xem là một luận đề (thèse) được nêu lên để chứng minh bằng các sự kiện và văn bản lịch sử. Hãy để cho sự việc nói thay mình vẫn tốt hơn những lời khẳng định đôi khi như những lời buộc tội. Và, nó cũng sẵn sàng đón nhận các lời phản biện.

Có lẽ đây là nhược điểm của Bùi Kha mà một người phê bình ở hải ngoại nhận xét rằng, có lẽ vì tác giả không phải là nhà văn chuyên nghiệp nên lời lẽ có phần "thiếu trau chuốt và suôn sẻ". Dù là sáng tác hay nghiên cứu, văn là người, nhiều chỗ Bùi Kha khá thẳng thừng, không khôn khéo tế nhị lắm. Dù sao theo tôi cái tâm của người viết ở đây có thể thấy rõ được.

Nguyễn Du có câu thơ: "Tính thành hạc hĩnh hà dung đoạn?"(Tính như chân con hạc, cắt ngắn làm sao được?). Có lẽ là vậy chăng?

Cuối cùng, có một điều trong cuộc đời của Nguyễn Trường Tộ mà tôi vẫn còn băn khoăn. Các bài viết về tiểu sử của ông trong đó có tài liệu của gia đình ông cho biết rằng, lúc cuối đời, ông có bày tỏ tâm sự chung thân của mình bằng hai câu thơ cổ: "Nhất thất túc thành thiên cổ hận/ Tái hồi đầu dĩ bách niên thân" (Một bước sa chân muôn thuở hận/ Quay đầu thân thế đã trăm năm). Dù hai thân phận khác nhau, song cuộc đời ông phải chăng so với Trương Vĩnh Ký cũng có những chỗ tương đồng. Dù ca ngợi hay lên án ông, song nơi con người có thể xem là tài hoa và mệnh bạc đó hẳn còn có nhiều tâm sự ông mang theo mình xuống đất? Phải chăng cái ánh sáng cuối đời đó của ông có thể soi chiếu cả cuộc đời ông? Công trình của Bùi Kha chưa đặt ra vấn đề đó, thành thử vấn đề Nguyễn Trường Tộ, con người và di thảo chưa thể xem là đã có thể có câu trả lời cuối cùng.

Tôi chia sẻ với những lời cuối cùng của tác giả trong phần kết: "Nghiên cứu và đánh giá các biến cố và sự kiện lịch sử sẽ giúp chúng ta và thế hệ mai sau học được bài học "ôn cổ tri tân".

Mong ước cuối cùng của tôi là, đề nghị các sử gia chuyên về lịch sử Việt Nam trong thời Pháp thuộc và Viện Sử học Việt Nam nên có một chương trình và kế hoạch sưu tầm các tài liệu mật tại các Thư khố Pháp và tại Bộ Truyền giáo Hải ngoại Paris để có một sự đánh giá xác đáng về các nhân vật lịch sử thời bấy giờ, trong đó có Nguyễn Trường Tộ. Còn bài viết của tôi cũng còn hạn hẹp cần bổ túc rất nhiều, mong được các bậc cao minh chỉ giáo".

Viết bài này giới thiệu tập sách của Bùi Kha, tôi cũng mong nhận được sự chỉ giáo tương tự để được tiếp tục sáng tỏ thêm nhận thức của mình.


Hành trình cải cách của FUKUZAWA - NGUYỄN TRƯỜNG TỘ và vận mệnh trái chiều của hai quốc gia

Hành trình cải cách của FUKUZAWA - NGUYỄN TRƯỜNG TỘ và vận mệnh trái chiều của hai quốc gia
[Social Development – #WEGREEN]

150 năm trước đây, Nhật Bản và Việt Nam có nhiều điểm tương đồng, về văn hóa ảnh hưởng sâu rộng bởi Khổng giáo, về sự mở cửa rất hạn chế của quốc gia với các làn sóng văn minh phương Tây và cùng bị phương Tây dòm ngó, về vị thế quốc gia xét về mặt kinh tế, và tất nhiên về chính thể đại diện là Nhà nước phong kiến quân vương. Đó cũng là thời khắc 2 nhà tư tưởng lớn đương thời của 2 quốc gia bắt đầu những hành trình học hỏi từ những giá trị tư tưởng phương Tây và trở về bắt đầu hành trình cải cách đất nước. Tại sao cùng sự tương đồng về trí tuệ mẫn tiệp, cùng tầm nhìn cải cách đất nước qua tham chiếu văn minh phương Tây, song số phận 2 quốc gia trong thời đại của 2 nhà cải cách này lại có những ngã rẽ trái chiều chỉ trong 30 năm sau đó? Đâu là sự khác biệt tạo nên sự vươn lên của Nhật Bản & sự trì trệ của Việt Nam từ góc nhìn về tư duy & hành động cải cách này của 2 ông? Chính thể phong kiến đại diện (Triều đình Huế và Minh Trị Thiên Hoàng) tác động thể nào tới sự trôi dạt xa nhau giữa 2 quốc gia này?

WEGREEN xin được mổ xẻ vấn đề cùng quý độc giả qua bài viết dưới đây.
*******
(Trích bài “Từ Fukuzawa Yukichi nhìn về Nguyễn Trường Tộ” – Nguyễn Cảnh Bình, tiasang.com.vn)

NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG

Tại Nhật, năm 1853, hạm đội Mỹ xuất hiện gây một cú sốc lớn trên khắp nước Nhật. Anh trai thúc giục Fukuzawa tới Nagasaki học tiếng Hà Lan để nắm vững về súng ống phương Tây. Khi đó, ông mới 23 tuổi. Đến tháng 8-10/1858, Fukuzawa được bổ nhiệm làm người dạy tiếng Hà Lan cho lãnh địa Nakatsu. Tháng 7/1859: Nhật mở cửa ba cảng biển theo các điều khoản của "Hiệp ước hoà bình và hữu nghị", được ký một năm trước đó với Mỹ và một số nước châu Âu.

Ở Việt Nam, năm 1858, Pháp đánh Đà Nẵng. Nguyễn Trường Tộ lúc đó 30 tuổi, Nhà thờ xã Đoài mời ông làm giáo viên dạy chữ Hán. Giám mục Gauthier dạy ông tiếng Pháp và khoa học thường thức phương Tây.

Hai người cùng đi nước ngoài hầu như cùng thời điểm, như vậy cả Nguyễn Trường Tộ và Fukuzawa có điều kiện tiếp xúc Tây học từ sớm, biết tiếng Hà Lan, tiếng Anh, tiếng Pháp. Lại có dịp được ra nước ngoài nên hai ông có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với văn minh, với thế giới vật chất và công nghệ của phương Tây, từ đó hình dung trong đầu những hoạt động, những tư tưởng mang tinh thần cải cách.

Đầu năm 1860, trong khuôn khổ các điều khoản của hiệp ước, chính quyền Shogun quyết định phái sứ giả sang Mỹ. Fukuzawa tình nguyện đi theo đoàn sang San Francisco, Mỹ. Từ Mỹ về trong năm đó, ông dịch và xuất bản cuốn sách đầu tay “Kaeitsugo”. Khoảng ba năm đầu sau đó, Fukuzawa chỉ chuyên tâm học hành và viết cuốn sách đầu tiên.

Trong những năm 1861-1863, ông sang châu Âu theo đoàn đàm phán mở thêm cảng biển và điều chỉnh tỷ giá hối đoái. Ông đến các nước như Pháp, Anh, Hà Lan, Đức, Nga và Bồ Đào Nha. Trong vai trò phiên dịch, Fukuzawa quan sát được rất nhiều điều mới mẻ và các thể chế tổ chức như bệnh viện, kho vũ khí, hầm mỏ, trường học. Dựa vào những điều chứng kiến trong chuyến đi, Fukuzawa xuất bản tập đầu tiên của tác phẩm “Thực trạng phương Tây” (Seiyo jijo). Tác phẩm này của ông được bán chạy nhất lúc bấy giờ. Đến năm 1866, ông hoãn việc viết tiếp tập hai cuốn “Thực trạng phương Tây” để giành thời gian dịch cuốn “Kinh tế chính trị” của J. H. Burton. Trong cuốn sách xuất bản năm 1867, ông thảo luận về “những cột trụ chính yếu” và mạng lưới xã hội vô hình thiết lập nên xã hội văn minh. Sau đó, ông tiến hành dịch các tác phẩm quan trọng của Anh cho người Nhật đọc, học tập và tiếp thu.

Còn ở Việt Nam, những năm 1859-1860, Nguyễn Trường Tộ được giám mục Gauthier đưa qua Hương Cảng, Singapore, Thụy Sĩ. Trên đường đi ông có ghé Roma yết kiến Giáo hoàng rồi cuối cùng sang Paris theo học trong gần 2 năm.

Vào năm 1861, khi Đại đồn Kỳ Hoà thất thủ, ông nhận làm phiên dịch cho Pháp với mong muốn góp phần mình cho sự hoà hoãn hai bên. Ông viết thư gửi triều đình trong đó nêu ý kiến là nên hoà với Pháp. Sau đó, ông viết bản điều trần đầu tiên. Đến quãng năm 1862-1863, ông thôi không làm phiên dịch nữa vì thất bại trong việc điều đình. Thời gian này, ông tham gia xây cất tu viện ở Sài Gòn và dồn tâm trí soạn kế hoạch giúp phát triển đất nước. Vào tháng 3/1863, ông gửi triều đình văn bản “Bàn về tình thế lớn trong thiên hạ”. Tiếp đó, ngày 29/3/1863, ông gửi bản Trần tình. Một năm sau đó, ông gửi triều đình văn bản “Kế hoạch duy trì hoà ước mới”, và “Kế hoạch làm cho dân giàu nước mạnh”. Tất cả là những bản điều trần!

VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
Nhưng đáng tiếc thay, nếu so sánh với Fukuzawa, Nguyễn Trường Tộ có nhiều nhược điểm, thiếu sót. Điểm mấu chốt làm nên sự khác biệt giữa công cuộc Duy Tân Minh Trị ở Nhật và thời kỳ trì trệ của Tự Đức ở Việt Nam có lẽ cũng bắt nguồn từ chính sự khác biệt về lối tư duy và hành động của hai nhà trí thức đại diện này.

Năm 1867, FUKUZAWA lại sang Mỹ, tới Washington và New York với nhiệm vụ thương lượng mua tàu chiến của chính phủ Mỹ. Nhưng mục đích chính của Fukuzawa là tìm mua sách cho các sinh viên và ông đã mua sách bằng tất cả số tiền mà ông có. Về nước, Fukuzawa mở trường KEIO. Chỉ trong năm đó (1867), số học sinh của trường đã lên đến 100. Thời gian này, ông chủ yếu đọc, viết sách và giảng dạy. Những cuốn sách miêu tả cuộc sống phương Tây của ông rất được người dân Nhật Bản yêu thích, điều đó cho thấy sự quan tâm của người dân đối với thế giới bên ngoài.

Với kinh nghiệm học được từ người phương Tây qua sách vở và những chuyến thị sát, ông đã nhiệt huyết truyền bá những tư tưởng tiến bộ bằng mọi cách có thể. Ông đã tách mình ra khỏi biến động chính trị cuối thời Mạc phủ Edo, thầm lặng dịch và viết sách.

Ngày 4/7/1868, cuộc nội chiến giữa hai phe cải cách và bảo thủ ở Nhật Bản bùng nổ. Fukuzawa đã nói với học sinh, lúc bấy giờ chỉ còn 18 người: “Cho dù có bất kỳ điều gì xảy ra, cho dù cuộc chiến tranh tàn phá đất nước ta như thế nào, chúng ta sẽ không bao giờ từ bỏ kiến thức của phương Tây. Chừng nào ngôi trường này còn đứng vững, Nhật Bản vẫn sẽ là quốc gia văn minh trên thế giới”.

Sau năm 1868, Fukuzawa dành hết thời gian, sức lực cho công việc giảng dạy ở Keio và giúp lập thêm nhiều trường học mới. Ông cũng dịch và viết thêm nhiều sách về phương Tây, viết những sách giáo khoa cơ bản về rất nhiều lĩnh vực như vật lý, địa lý, nghệ thuật quân sự, nghị viện Anh, các mối quan hệ quốc tế. Sau đó, vào năm 1876, Fukuzawa xuất bản cuốn Khuyến học, tác phẩm nổi tiếng nhất. Ông thúc giục người Nhật học đọc, học viết, học những phép toán và bàn tính, cách để sử dụng khối lượng và dụng cụ đo đạc, rồi tiếp đến là học những lĩnh vực khoa học khác như địa lý, vật lý, lịch sử, kinh tế và đạo đức. Lúc này, ông 41 tuổi.

Về NGUYỄN TRƯỜNG TỘ, những công việc thì vẫn như vậy. Năm 1865, ông gửi triều đình văn bản “Về việc mua thuyền và đóng thuyền máy”. Vào đầu năm 1866, khi được mời đến Huế, ông tiếp tục gửi văn bản “Kế hoạch khai thác tài nguyên đất nước”. Đến tháng 4/1866: ông thảo thư Tây Soái có châu phê của Vua. Đây vẫn là một bản điều trần và gửi thư cho Vua. Tháng 8/1866, Nguyễn Trường Tộ cùng giám mục Gauthier đến Huế, chuẩn bị đi Pháp, được vua Tự Đức tiếp kiến.

Từ tháng 9 đến hết năm 1866, ông tiếp tục gửi văn bản và thư tới triều đình, cụ thể như văn bản “về việc học thực dụng” và “Phải tạm thời dựa vào Pháp” và những bức thư về vấn đề khác nhau. Vào năm 1867,ông cùng một số quan chức đáp tàu đi Pháp. Tháng 3 năm đó, ông tới Paris. Rồi đến ngày 15/11/1867, ông soạn văn bản “Tế cấp bát điều”. Tháng 2/1868, về tới Huế, ông được vua Tự Đức tặng thưởng. Tháng 3 năm sau đó, Nguyễn Trường Tộ viết: “Tổ chức gấp việc khai mỏ”.Trong các tháng 3-5/1868, ông viết nhiều văn bản thúc giục triều đình cử người đi Pháp học

Tiếp tục như vậy, suốt năm 1871, Nguyễn Trường Tộ viết rất nhiều văn bản đề xuất việc thông thương với Pháp như “Chỉnh đốn quân đội và quốc phòng”, “Canh tân và mở rộng quan hệ ngoại giao”, “Về chính sách nông nghiệp”; “nên mở cửa chứ không nên khép kín”. Rất tiếc, ngày 24/11/1871, Nguyễn Trường Tộ mất ở quê, hưởng thọ 41 tuổi. Nguyễn Trường Tộ mất sớm nhưng tôi tin rằng, dù ông còn sống, ông sẽ vẫn không làm gì khác hơn ngoài việc viết tấu trình.

Nguyễn Trường Tộ đã liên tiếp gửi lên triều đình Huế 30 bản điều trần đề xuất canh tân, xây dựng đất nước giàu mạnh và gần sáu chục bản điều trần khác đề cập đủ mọi lĩnh vực.
Tôi không nghĩ rằng ở thời đại Nguyễn Trường Tộ, việc mở trường có quá nhiều khó khăn. Việc dịch sách, ngược lại thì rất khó vì lúc đó hầu như chúng ta chỉ sử dụng tiếng Hán và phụ thuộc nhiều vào sách dịch của người Trung Quốc. Tại Trung Quốc, mãi đến những năm 1903, Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi mới ồ ạt triển khai dịch sách của phương Tây cho người Trung Quốc, điều này cho thấy Nguyễn Trường Tộ khó lòng làm được việc này ở Việt Nam thời điểm đó.

Còn Fukuzawa thì vào năm 1875 xuất bản cuốn "Văn minh khái luận" ra đời, nhằm thuyết phục trí thức Nhật Bản chấp nhận quá trình hiện đại hoá. Ngày 1/3/1882, Fukuzawa tự mình xuất bản tờ Jiji-shimpo. Trước đó, Fukuzawa muốn mở một tờ báo nhằm thúc đẩy việc sớm thiết lập Nghị viện nhưng kế hoạch này đã bị gác lại vì sự chia rẽ nội bộ. Năm 1885, Fukuzawa viết bài báo gây rất nhiều tranh cãi Datsu - a - ron [Thoát Á Luận], kêu gọi Nhật Bản hãy học theo phương Tây và nhanh chóng hiện đại hóa…
ĐÁNH GIÁ CỦA HẬU THẾ

Lịch sử biết đến Fukuzawa Yukichi như một nhà cải cách chính trị xã hội, nhà giáo dục tiên phong, nhà tư tưởng tiêu biểu của Nhật Bản từ cuối thời Edo, đầu thời Minh Trị, thời kỳ diễn ra những chuyển biến lớn lao trong lịch sử Nhật Bản. Tư tưởng của ông có ảnh hưởng rất lớn tới phong trào Khai sáng ở Nhật Bản vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, tạo tiền đề cho Nhật Bản trở thành một cường quốc trên thế giới. Lòng biết ơn của người Nhật đối với Fukuzawa được thể hiện qua việc in hình ông trên tờ tiền 10.000 yen, dù ông không phải là một đấng quân vương hay võ tướng lỗi lạc của đất nước Mặt trời mọc.

Fukuzawa để lại ngôi trường Keio mà ngày nay là Đại học Keio (hiện trường Keio hệ chính thức có khoảng 28.000 sinh viên và 5.000 nghiên cứu sinh). Ông cũng để lại hàng chục cuốn sách dịch và nhiều sách do ông viết. Ông được coi là người khởi xướng cho việc dịch sách ở Nhật Bản, mang lại tác động to lớn cho xã hội Nhật Bản.

Còn đối với Nguyễn Trường Tộ, theo nhiều học giả và công chúng, các bản điều trần của ông nếu được áp dụng là một sách lược lớn biến Việt Nam thành một nước hùng cường, tạo nên chuyển biến quan trọng trong lịch sử giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Học giả Lê Thước phê bình công nghiệp bình sinh của ông: "Nguyễn Trường Tộ là nhà khoa học, nhà chính trị và cũng là nhà tân học nước ta xưa. Tư tưởng và kiến thức của tiên sinh hơn người đồng thời muôn nghìn".

Tên của ông được đặt cho nhiều trường học và đường phố tại Việt Nam, nhưng chưa có đồng tiền nào mang hình ông mặc dầu ông cũng được coi là nhà tư tưởng tiến bộ, có tinh thần cách tân. Nguyễn Trường Tộ thường được trí thức Việt Nam coi là hình mẫu thất bại trong mong ước hiện đại hóa Việt Nam vào thế kỷ 19. Nhiều người cũng coi ông như bài học để chỉ ra sai trái của triều đình mà quên đi những sai lầm của chính ông.
TƯ TƯỞNG TIỀN NHÂN ĐỂ LẠI
Fukuzawa tin rằng giáo dục là cách duy nhất để đạt tới văn minh, bởi bản chất của văn minh là sự phát triển kiến thức và đạo đức nội tại của dân tộc:

"Văn minh có nghĩa là đạt được cả những tiện nghi vật chất lẫn sự nâng cao tinh thần của con người. Nhưng cái tạo ra những tiện nghi vật chất và nâng cao tinh thần của con người là kiến thức và đạo đức, [do đó] bản chất của văn minh chính là quá trình phát triển kiến thức và đạo đức con người."

Fukuzawa là người đưa ra nguyên tắc nổi tiếng: "Độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân", tức là một xã hội muốn phát triển phải dựa trên những cá nhân có khả năng tư duy độc lập và sáng tạo, chứ không phải dựa vào chính phủ. Ông kêu gọi các sĩ phu Nhật Bản làm việc theo phương châm "coi trọng quốc gia và coi nhẹ chính phủ", tự tin vào sức mạnh cá nhân mà không phụ thuộc vào sức mạnh của người khác.

Tháng 5 năm 1863, Nguyễn Trường Tộ soạn xong ba văn bản để gửi lên Triều đình Huế: bản thứ nhất là Tế cấp luận, bản thứ hai là Giáo môn luận, bản thứ ba là Thiên hạ phân hợp đại thế luận. Trong ba bản đó, bản Tế cấp luận là văn bản quan trọng nhất. Nội dung của bản này đề cập đến việc canh tân và phát triển đất nước. Với Tế cấp luận ông đã khẳng định: "Tế cấp luận thâu tóm trí khôn của thiên hạ 500 năm nay... Bài Tế cấp luận của tôi nếu đem ra thực hành hàng trăm năm cũng chưa hết".

Trong giáo dục, ông phản đối lối học tầm chương trích cú, đóng cửa khư khư giữ lấy cái sự học lỗi thời chỉ cốt có học vị bằng cấp. Ông chủ trương học để thực hành. Ngay cả bản thân, ông không hề đề tên ứng thí một khoa nào, không hề có bằng cấp gì nhưng kiến thức của ông sâu rộng mang tầm bách khoa, uyên thâm trong nhiều lĩnh vực.

Theo ông cần phải đưa vào chương trình giáo dục những tri thức về nông nghiệp, địa lý, thiên văn, công nghệ, luật pháp, nghĩa là những gì xã hội, cuộc sống hiện đại thực sự cần tới trước mắt và lâu đài, chứ không phải dùi mài tứ thư ngũ kinh với những giáo huấn xa vời của Khổng Mạnh. Ông cũng sớm đề xuất soạn Tự điển cho người học, nghiên cứu Hán học, Tây học.

Dường như toàn bộ sự nghiệp, tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ chỉ gói gọn trong mấy từ viết điều trần. Không thể đếm được ông đã viết bao nhiêu bản điều trần trong cuộc đời ngắn ngủi của ông, và dù những bản điều trần này được rất nhiều trí thức Việt Nam hiện đại ca ngợi là tư tưởng lớn thì cũng chỉ dừng lại ở mức độ đề xuất, chứ không phải là bắt tay vào làm (thực hiện). Trong khi đó, Fukuzawa đã dịch và viết nhiều sách, mở trường dạy học, lập báo, hợp tác và hướng dẫn các trí thức quốc gia láng giềng. Fukuzawa có gửi điều trần lên Thiên Hoàng nhưng không nhiều và không phải là hành động chính yếu của ông. Có thể khi đó, Minh Trị đã là một nhà vua anh minh nhưng ở Fukuzawa, tư duy là hành động. Điều quan trọng hơn nữa, đó là Fukuzawa hướng những đề xuất, ý tưởng, giải pháp của mình vào đông đảo người dân và trí thức Nhật Bản. Ông truyền tinh thần canh tân của mình cho hàng nghìn sinh viên theo hoc ở Keio, cho hàng triệu người Nhật qua các cuốn sách ông dịch, và qua những bài báo gây nhiều tranh cãi…

Qua bài học thành công và thất bại của Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ có thể tìm ra được cách hành xử thích đáng hơn của trí thức Việt Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
*******

Nguồn tham khảo:
1. Cho bài viết: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=3232

                      http://huc.edu.vn/chi-tiet/1687/Tu-Fukuzawa-Yukichi-nhin-ve-Nguyen-Truong-To.html
                       https://thonsau.wordpress.com/tag/vua-tu-duc/
                               http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php?topic=13703.25%3Bwap2
--------------------------------------------------------Giáo dục, thay đổi nhận thức bao giờ cũng phải được làm từ dưới lên, thì mới "sâu rễ bền gốc", Nguyễn Trường Tộ làm việc với tác phong của một viên chức, chỉ báo cáo, nộp tấu, chứ không có động thái thực hiện những mong muốn ấy của mình. Có lẽ sai lầm là từ đó. 
Nói theo một cách nào đó, cuối thời Mạc phủ ở Nhật, tuy tư tưởng của người dân bị kìm kẹp bởi chế độ phong kiến và hệ tư tưởng Tống Nho, nhưng tầng lớp trên, mà cụ thể là các "trí thức" hay đúng hơn là các samurai lại không hoàn toàn bị Nho giáo bó buộc, có một cái giống như là tinh thần samurai của riêng người Nhật khắc ghi trong họ.
Những người có học ở Nhật thời bấy giờ, cơ bản, đều thuộc tầng lớp samurai, có thể tôi vơ đũa cả nắm, nhưng khi cầm lên thanh kiếm, thì cũng giống như một thiền sư tham thiền, cái họ nắm được không phải chỉ là kiến thức, kĩ năng, mà họ còn nắm được cả tinh thần của mình. Chả cứ gì mà đến thời đại ngày nay, rất nhiều những trí thức, chính khách, thương gia Nhật cũng là cao thủ kendo.
Cái tinh thần của họ, sự kiên cường, tự chủ từ chính mỗi con người, và chấp nhận dấn thân, là cái ta nên học tập người Nhật, mà điển hình ở đây là Fukuzawa.


-------------------------------------------------
Nguyễn Trường Tộ dâng lên vua Tự Đức có câu: bây giờ đem lễ nghĩa, tứ thư ngũ kinh ra treo hỏi thử xem người Pháp có sợ không?
Trước họa mất nước cụ Nguyễn Trường Tộ chủ trương kịp thời theo tình thế thiên hạ, giữ lấy biên bỉ cấp tốc canh tân. Cụ lần lượt dâng lên nhà vua các bảng Thiên hạ đại thế luận, Tế cấp bát điều, Lục lợi từ.... Nhà vua nói: tại sao phải thay đổi khi những phương thức trị nước của trẫm đã rất tốt rồi.
Đương thời Nhật Bản có chính phủ Minh Trị, nước Nhật có Fukuzawa Yukichi mà rồi phú cường.
Nay tình thế nước Nam không khác thời 1858 - 1862, trí thức thì như cụ Tộ, lòng dân bồng bột như Cần Vương, tư tưởng hủ bại; đến giờ vẫn cứ nghĩ treo lễ nghĩa truyền thống để kẻ thù khiếp sợ...
Duy chỉ có điều vua nay còn chẳng bằng vua xưa xét ở việc thương dân, công chính và nghiêm minh.



https://www.facebook.com/WegreenVietnam/photos/a.295681230530690.63324.246214618810685/349916158440530/?type=1