Tuesday, October 11, 2016

Gia đình Việt Nam: Một định chế không tiến hoá

Gia đình, với đa số người Viêt Nam, dù chung sống trong xã hội nào, gia đình vẫn tồn tại như đơn vị ở các xã hội súc vật hoặc còn bán khai, đó là chỉ tồn tại theo bản năng sinh tồn bái vật, và duy trì việc truyền giống mà thôi, ngoài ra KHÔNG CÓ NỖ LỰC TIẾN HÓA TRAU GIỒI, NUÔI DƯỠNG ĐẠO LÝ, NHÂN CÁCH, GIÁ TRỊ NHÂN BẢN cho CÁ NHÂN trong tương tác XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI.

Nhưng trong hầu hết tất cả các xã hội muôn loài, và ở mọi nền văn hóa, định chế gia đình luôn đóng một vai trò quan trong. Hơn thế nữa có rất nhiều nhà xã hội học cho rằng gia đình là khởi điểm đầu tiên của sự hình thành xã hội chúng ta ngày hôm nay. Qua sự chung sống, sinh hoạt của các thành viện trong gia đình đã biến loài người thành động vật cao cấp. Ở đời sống thú vật, gia đình chỉ mang ý nghĩa BẢN NĂNG sinh tồn và BẢN NĂNG bảo vệ sự truyền giống.

Gia đình của xã hội LOÀI NGƯỜI có những giá trị cao hơn nữa, đó là truyền lại, nâng cao cho thế hệ đi sau những khả năng đặc biệt như ngôn ngữ, tư tưởng, và trên hết là những giá trị sống do chính CON NGƯỜI TỰ ĐẶT RA, không phải để chỉ sinh tồn theo lý tính vật thể sinh động vật, mà chính là sự TỒN TẠI TINH THẦN của NỀN NHÂN BẢN.

Chính những điều này khẳng định sự độc nhất vô nhị của LOÀI NGƯỜI so với các sinh vật khác đang hiện hữu trên trái đất, và giá trị quan trong này được NUÔI DƯỠNG THĂNG TIẾN hay bị TRÌ TRỆ HỦY HOẠI phần lớn đều nằm ở trách nhiệm gia đình trong xã hội loài người. Vì ai trong chúng ta cũng biết “Gia đình là định chế căn bản của xã hội”, vì GIA ĐÌNH là nơi con người được SINH RA, NUÔI DƯỠNG về cả THỂ XÁC lẫn TÂM HỒN, trước khi hoàn toàn bước vào sinh hoạt độc lập để tác động chung trong XÃ HỘI rộng mở; và loài người đã trân trọng định chế này qua những lễ nghi cưới hỏi theo từng văn hóa.

Xã hội Việt Nam ngay hôm nay, dù đã hội nhập, đời sống vật chất đã thay đổi cập nhật, nhưng vẫn trì trệ lạc hậu, chậm tiến, hủ lậu và với không biết bao nhiêu tệ nạn.. Một phần rất lớn cũng do cách HÀNH XỬ TƯƠNG QUAN giữa cha mẹ con cái trong gia đình, và nhất là việc giáo dục con cái của hầu hết cha mẹ Việt Nam với biết bao nhiêu SAI TRÁI LẠC HẬU, do chính sự hiểu biết SAI TRÁI LẠC HẬU của bậc cha mẹ được truyền từ nhiều thế hệ qua, nhưng vẫn chưa hề được điều chỉnh rộng lớn. Nếu có những nỗ lực khai phá như Tự Lực Văn Đoàn đều bị thế lực chính trị quyền lực tìm đủ cách trấn áp triệt tiêu, vì chính những sai trái lạc hậu của định chế gia đình lại là lợi điểm, nền tảng vững chắc của quyền lực chính trị độc tài. Do đó nền chính trị độc tài phi nhân vẫn thường nuôi dưỡng sử dụng những sai trái lạc hậu này để tồn tại.. Và ở Việt Nam dĩ nhiên không là ngoại lệ.

NÃO TRẠNG NGHỊCH LÝ: Vọng Ngoại-Bài Tân-Bỉ Nội -Cổ Hủ

Hiện Tượng ngày hôm nay ở xã hội đất nước Viêt Nam, có không biết bao nhiêu trường mẫu giáo quốc tế, trường tiểu học Việt Úc, Trường Trung Học Việt Pháp, Đại Học Quốc tế, còn thiếu cái trường nào mà chưa có “Quốc tế” không vậy? Còn thiếu vật dụng nào trong gia đình và hàng ngày của chúng ta không là hàng NGOẠI không? Dẫu cũng có phần do mặc cảm tự ti thấp kém, nhưng cũng đúng thôi! Sính ngoại, vọng ngoại không nhất thiết là xấu là tai hại… vì sự thật mình tệ hại không bằng người, và phẩm chất của hàng ngoại cao và thật sự giá trị của những sản phẩm nội địa chưa thỏa đáng được nhu câu của người tiêu dùng. Vì chúng ta đã quen thói làm cho qua chuyện, làm cho có. Chỉ biết cái lợi trước mắt thôi, làm ăn theo kiểu thời vụ. Nhưng ở đây tôi không muốn đi sâu đề tài này vì sẽ vượt quá giới hạn mà người Việt Nam chúng ta muốn đọc.

Thế nhưng tại sao trong não trạng của những con người BIẾT và HIỂU để yêu chuộng cái hay, cái tốt cùa nước NGOÀI như trên lại có những suy nghĩ nhận định quái đản ngược ngạo thể hiện ra hàng ngày tại Việt Nam như thế này đây:

- “Bố ơi, bố làm vậy là không đưọc, vì nếu bỏ đi cái cột bê-tông này là sai hết kết-cấu của bản vẽ và có thể làm nhà sập!”

- “Nhà tao, tao xây gì bỏ gì là quyền tao, mày biết gì mà nói; Trứng mà đòi khôn hơn rận”! ”

Dù “quả trứng” là kiến trúc sư đã ra trường gần 10 năm kinh nghiệm, và đang làm việc cho một công ty xây dựng NƯỚC NGOÀI - và “Rận” thì ngoài tuổi già, còn học vấn chuyên môn chưa hết lớp 10!

- “Con biết không, thằng em con nó mê con bé A quá. Mẹ đọc được trong thư của con A viết cho em con là; “….sinh nhật em, món quà em mong không phải là nước hoa; túi sách, nữ trang như anh đã đoán. Em chỉ mong hôm đó có anh và được anh hôn em..” Mày nghĩ coi! Con gái con đứa mà như vậy, đúng là mất nết!”

- “Mẹ, tại sao mẹ lại đọc thư RIÊNG TƯ của bạn gái nó gửi cho nó?”

- “Tao là mẹ nó, tao có trách nhiệm theo dõi và bảo vệ nó!”

ĐỨA CON “nhỏ dại” kia năm nay mới “chưa đầy 22 tuổi”, đang được mẹ cho đi học tại trường đại học QUỐC TẾ. Và Mẹ có quan hệ yêu đương trai gái, lấy chồng và CÓ MANG, sinh con làm Mẹ ở cái tuổi đời “còn dại dột cần được bảo vệ,” mà theo quán lệ của NƯỚC NGOÀI đã thành người lớn đôc lập tự chủ “năm 21” tuổi đời, tuổi được ứng cử tham chính làm dân biều, bộ trưởng v.v

Ôi thôi! Một dân tộc biết cái HAY, cái TỐT, cái PHẨM CHẤT của NƯỚC NGOÀI, để yêu chuộng hàng ngoại đến thành căn bệnh SÍNH NGOẠI, thế mà về mặt tư tưởng suy nghĩ thì mục nát cổ hủ. không có chỗ cho một mặt hàng GIÁ TRỊ NHÂN PHẨM, TƯ TƯỞNG BÌNH ĐẴNG của NƯỚC NGOÀI nào chen lọt, chẳng hạn là tinh thần TÔN TRỌNG NHÂN PHẨM BÌNH ĐẲNG, tôn trọng TÍNH RIÊNG TƯ … ít nhất là chen lọt vào giữa quan hệ CHA MẸ và CON CÁI.

NHỮNG CÁI NGU TƯỞNG KHÔN TRONG TỤC NGỮ:

Với hai ví dụ nhỏ bên trên đã cho chung ta thấy rõ suy nghĩ ngược ngạo sai trái, phi lý của CÁC ĐẤNG CHA MẸ. Còn không biết bao nhiêu ví dụ trong cuộc sống hàng ngày, với những suy nghĩ cực kỳ nghịch lý được xuất phát từ những “CHÂN LÝ KHÔN NGOAN” của cả dân tộc được nuốt chửng hàng ngàn năm không hề kiểm nghiệm, vì nếu kiểm nghiệm đã bị chứng minh SAI BÉT..và chắc đã không còn tồn tại đến nay như những câu:

“Áo mặc không qua khỏi đầu”

Câu tục ngữ này, ngay ở nghĩa đen cũng chứng tỏ cha ông đời trước của chúng ta sai lầm kém cỏi. Việt Nam chúng ta xưa, nằm trong vùng ôn đới, có đủ bốn mùa nắng mưa lạnh giá v.v (Sau này DI CHUYỂN về phương NAM, rồi có thêm miền NAM, với sáu tháng mùa mưa và sáu tháng mùa nắng) thế nhưng dân tộc ta ngu độn tới độ không sáng tạo ra được cái áo lạnh phủ đầu phủ tai cho ấm, hay cái áo mưa phủ đầu. Để rồi KHÔNG THẤY CÁI ÁO NÀO mặc qua khỏi đầu, dù các dân tộc phía Bắc như Mông Cổ đã có. Điều này cũng minh chứng lớp cha ông Việt Nam kém giao lưu hoặc có giao lưu mà ngoan cố, thấy nhưng không học hỏi, không điều chỉnh. Phải đợi khi cho thằng Tây nó vào đè đầu rồi du nhập áo mưa, áo lạnh vào Việt Nam, mới biết thêm NHƯNG NHẤT ĐỊNH KHÔNG SỬA ĐỔI cái NGU NÀY. Do đó câu nói ngu ngược “Áo mặc không qua khỏi đầu” vẫn tồn tại như “chân lý”. Áo mưa, áo lạnh, áo gió, mà mặc không qua đầu thì lạnh mỏ ác lắm! (bù khú cho đời thêm vui).

Và nếu nghĩa bóng mà đúng là thế hệ con cái KHÔNG THỂ KHÔN HƠN thế hệ BỐ MẸ thì thế hệ đi sau mỗi ngày một ngu hơn thế hệ đi trước, vậy thì loài người bây giờ đang bốc cứt ăn vơi nhau! Hay thậm chí “lùi hóa” thành khỉ thành vượn, hoặc tệ hơn thành dòi hết cả rồi…

“Cá không ăn muối cá ươn, Con cãi cha mẹ trăm đường con hư”

Đấy cũng là do thiển cận, nghĩa đen là vì thời đó không có tủ lạnh hay có băng tuyết để giữ cho cá tươi, nên phải ướp muối. Rồi ngay cả nghĩa bóng, cứ xét sự kiện lịch sử dễ thấy dễ hiểu nhất mà xem; chúng ta hãy cứ dựa vào cái khôn ngoan chân lý này rồi “hồ đồ” lên án rằng: Tất cả những ai theo Thiên Chúa Giáo, Phật Giáo tại Việt Nam hiện nay đều là con cháu, dòng dõi của những đứa mất dạy hư hỏng cãi lời cha mẹ thuở trước. Không nghe lời cha mẹ họ vì họ chối bỏ tín ngưỡng tôn giáo trước đó của gia đình tổ tiên, để đi theo mấy lão sư Ấn Độ, Trung Hoa, rồi sau này lại đi theo một bọn cố đạo Tây phương, tôn giáo ngoại lai với cái tên là “Đại Thừa, Tiểu Thừa”, và “Công Giáo” Tin Lành Tin Dữ đủ trò. Vì nếu không MẤT DẠY TRĂM ĐƯỜNG HƯ ĐỐN như vậy, thì làm sao họ có thể theo một tín ngưỡng, tôn giáo mới được?

Ấy nhưng thực tế mấy ngàn năm, mấy trăm năm nay, có thấy họ trăm đường hư hỏng không? Hay là tốt đẹp hư hỏng là tùy người và do những nguyên nhân yếu tố khác, chứ KHÔNG PHẢI là do CÃI LẠI làm KHÁC ĐI, LÀM MỚI HƠN so với CHA MẸ?

ĐÀN ÁP KHỦNG BỐ CON CÁI:

Đấy cũng mới chỉ là hai ví dụ, trong rất nhiều câu nói chúng ta đươc nghe hàng ngày nơi cửa miệng của các cha mẹ Việt Nam. Họ nói như một cái máy bất chấp lý lẽ, không hề kiểm chứng thực tế, nhưng khi con cái chỉ cho họ cái sai của họ. Họ không thèm lắng nghe con cái mà ngược lại họ tìm đủ mọi cách, mọi giá đàn áp và khủng bố con cái khi con cái họ thể hiện được giá trị tinh thần TRÍ TUỆ, giá trị NHÂN PHẨM, NHÂN QUYỀN BÌNH ĐẲNG.

Trong mỗi lần cha mẹ “giáo dục” con cái mình, họ không từ bỏ bất cứ ngôn từ thô bạo tục tĩu nào: “Đồ óc heo, Địt mẹ mày thằng con mất dạy,”.v.v đây không còn là mạt sát mà là miệt thị và xúc phạm giá trị nhân phẩm của con cái.

Không còn hình thức đánh đập con cái nào tại Việt Nam không có, không còn món vũ khí hỏi cung nào mà cha mẹ Việt Nam không sử dụng: Roi tre, roi mây, roi đuôi cá đuối, roi giây điện,..ngày hôm nay nhân loại còn không cho phép con người dùng những biện pháp tra tấn như vậy với các tù binh chiến tranh. Đây là hành động đàn áp con người bằng bao lực và phi nhân tính.

Gian manh hơn nữa là họ dùng biện pháp phong tỏa kinh tế, bằng những hình thức: “Mày không làm ý tao thì từ mai trở đi không nhận đồng nào của tao” đây là việc làm gi đây? Đây chính là chính sách bóp bao tử, bao vây kinh tế. Dùng áp lực kinh tế để người khác tuân thủ làm theo ý mình, đó là một việc làm phi giáo dục.

Nếu không thành công nữa thì cha mẹ thường dùng biện pháp cuối khủng bố tinh thần, dùng tình cảm làm áp lực con tin: “Mày không nghe lời tao tao sẽ từ mày”. Về phương diện sinh vật học thì việc “từ con cái” là không thể, vì không cách nào cha mẹ có thể lấy đi hoặc thay đổi DNA của chính mình hoặc của con cái. Về mặt con người không thể nói một tiếng “từ con cái” hoặc “yêu con cái” thì là có tình cảm với con cái. Đây chính là hành động khung bố tinh thân với con cái. Mang tình cảm cha mẹ ra làm áp lực cho con cái.

Ở hầu hết các nước “NGOẠI” đều ngăn cấm và “trừng trị” nếu chỉ làm những điều đó với bất kỳ một ai, vì đó là vi phạm nhân phẩm, nhưng với người Việt Nam chúng ta cho đế hôm nay thì đó là chuyện hàng ngày tại hầu hết các gia đình.

CON CÁI LÀ ĐỒ TRANG SỨC:

Suy nghĩ và hành xử như thế, vậy thì Họ, các bậc cha mẹ nghĩ con cái họ sẽ học những cái gì nơi những thứ “quốc tế” ấy đây? Trong khi ƯỚC VỌNG, chủ đích, và lối “huấn luyện” của Họ chỉ có thể biến con cái Họ thành những nhân cách chỉ biết cúi đầu tuân phục “người trên” với tinh thần bái vật, trọng của cải, sính quyền lực. Như vậy chúng ta cũng “đoán” được là Họ gửi con cái đi học chỉ để có thêm phương tiện “gọi dạ bảo vâng” cao cấp hơn, và kiếm tiền nhiều hơn. Ôi quả thật vĩ đại thay một “hệ tư tưởng sống” của một dân tộc!

Mẹ kiếp! Thế là thế nào? Tiên sư bố nhà chúng nó! Họ muốn biến con cái của họ thành VẬT TRANG TRÍ, HÌNH NỘM hay MÁY MÓC? Con cái chỉ được phép làm theo cái mà HỌ muốn. Nhưng trong chính thế hệ của họ, có những người lúc thời non trẻ, từng là những người coi chuyện “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó “là cổ hủ,” sai trái áp chế! Chính họ có những kẻ từng “đả cựu nghinh tân”. Chính họ là những người mua cho con cái họ những bộ quần áo Tây. Chính họ là những người cho con cái họ học tại những trường QUỐC TẾ. Thế thì phải chăng trí não những người này đã bị biến dạng “teo lại” theo tuổi già? Hay là ngày xưa họ chỉ a dua mà không nhận thức, theo tính bày đàn của thời đại?

Họ chỉ muốn con cái thành ông bác sĩ, bà nha sĩ v.v theo ý nghĩ ước muốn đối trọng tăm tiếng, danh dự khen chê với hàng xóm, xã hội bên ngoài… Mà có bao giờ họ ngồi xuống lắng nghe nguyện vọng của những đứa con, những con người có ước vọng riêng tư, khả năng riêng biệt của chúng không? Hãy nhìn ánh mắt đầy kiêu hãnh của các ông bố bà mẹ khi đi bên cạnh và giới thiệu con mình: “Đây là B con tôi, cháu la Bác sĩ, dược sĩ…!” Không biết dùng từ nào diễn tả ánh mắt của họ lúc đó, nó giống như hai viên kim cương được chiếu đèn vào một đêm không trăng không sao LONG LANH RỰC SÁNG, tựa như hai bong đèn Pha của những chiếc Trực Thăng khi rọi bắt tội phạm.

Những nếu “buộc phải” đi cạnh một đứa con chỉ là công nhân, hay đang thất nghiệp thì thật bất hạnh cho họ khi có ai đó hỏi về con của họ, hai mắt của họ xụp xuống, như những đứa trẻ khi ăn vụng bị bắt quả tang. Ánh mắt họ đầy xấu hổ và tội lỗi khi phải thú thật là con mình chỉ là công nhân!

Các bạn thử nghĩ coi chuyện gì sẽ xảy ra nếu vì một lý do nào đó không còn những người làm việc hốt rác trên trái đất này, hay nói theo đúng qui cách kinh tế cung cầu là khi chúng ta có nhiều bác sĩ, nha sĩ, và thiếu công nhân hãng xưởng làm việc? Không chỉ là nỗi đe dọa sẽ sống chung với đống rác và vật giá leo thang khan hiếm, mà nghề hốt rác sẽ đắt giá, giá lao động công nhân sẽ cao và thu nhập bác sĩ, nha sĩ sẽ thấp xuống, cạnh tranh nhau chí chóe.. Và kết quả là chính một số trong những bác sĩ, nha sĩ này sẽ đổi nghề, thậm chí có thể thành những ông bà hốt rác, anh chị công nhân v.v Tất cả chỉ là nhu cầu và đáp ứng hỗ tương của xã hội kinh tế.

Vì vậy chúng ta thấy rõ trong xã hội không có nghề nào cao quý hơn nghề nào. Mỗi nghề nghiệp đều có giá trị riêng và giá trị cống hiến cho xã hội ngang nhau; và nhân phẩm con người, dù họ làm bất cứ công việc gì, cũng đều bình đằng. Nhưng chỉ có nhân cách hành xử, sự thể hiện đạo lý lương tâm chức nghiệp của mỗi cá nhân trong tương quan xã hội mới phân biệt xấu tốt, khinh trọng giữa con người. Hành xử bất lương phi nhân thì làm nghề gì, chức vụ gì cũng hạ cấp đáng khinh.

Vì vậy chúng ta không lạ gi khi nghe tin một thanh niên Việt Nam sống tại Mỹ giết chết mẹ mình vì lý do bị mẹ bắt đi học y khoa! Và chẳng hiếm hoi gì các thanh niên Việt Nam tự tử khi thi vào đại học..vì không thể học được khi không đúng năng khiếu ý nguyện! Và cũng có không biết bao nhiêu người thành nghiệp, thành danh cống hiến cho xã hội nhân loại trong biết bao lãnh vực khác, mà không phải là bác sĩ nha sĩ, kỹ sư, như chúng ta vẫn đang chứng kiến khắp nơi trên quả đất này.

QUAN NIỆM QUYỀN LỰC CỦA CHA MẸ TỪ ĐÂU MÀ CÓ?

Con cái, nói cho cùng, là kết quả “trò chơi tiêu khiển tình dục” của cha mẹ. Đứa con không hề được hỏi ý kiến có muốn ra đời hay không? Thế mà ngày hôm nay trong tiềm thức của cha mẹ Việt Nam vẫn còn ý niệm:

“Công ơn sinh thành” và như vậy “Tao sinh ra may được thì giết mày được”..

Xét xem, hầu hết các tín ngưỡng tôn giáo đều cấm hành động phá thai, giết người dưới mọi hình thức, hành động phá thai đã bị cấm huống chi giết đứa con đã ra đời!? Hay về luật pháp thì hầu hết các nước “tiên tiến” đều cấm phá thai sau tháng thứ 3 (vì sau tháng thứ 3 bào thai đã cảm nhận được thế giới bên ngoài và đã đuợc coi là con người) ngoại trừ những trường hợp ngoại lệ sức khoẻ của người mẹ không cho phép, đứa bé có thể bị những khuyết tật khi ra đời v.v..Tại sao? Chính vì GIÁ TRỊ TUYỆT ĐỐI của CON NGƯỜI và GIÁ TRỊ này KHÔNG THUỘC QUYỀN SỞ HŨU của BỐ MẸ.

Chính vì vậy mà “Quyền Lực sở hữu đứa con” của cha mẹ trên thực tế rất giới hạn. Nhưng trách nhiệm của cha mẹ thì rất lớn, đó là nuôi dưỡng và tôn trọng con cái như là một con người, bởi vì sao vậy? Vì ngay từ khi cất tiếng khóc đầu đời thì đứa con đã là một thành viên chính thức của gia đình và xã hội với đầy đủ mọi giá trị nhân phẩm như mọi thành viên khác đã có mặt trước nó. Giá trị nhân phẩm này KHÔNG LÀ SẢN PHẨM hay SỞ HŨU của BỐ MẸ. Và GIÁ TRỊ NHÂN PHẨM này được tiềm thức thừa nhận qua thể hiện tình thương, sự vun vén, chăm sóc, giáo dục con cái, chứ không phải vì con cái là một món đồ vật hay một cục bột để cha mẹ nhào nặn theo ý mình muốn. Vì thế, niềm tự hào, sự hãnh diện của cha mẹ chính là tạo được điều kiện cho con cái phát triển tòan bộ kỹ năng riêng tư của chúng, và quan trong hơn, cha mẹ cưu mang thiên chức chỉ cho con cái biết rõ giá trị làm người của chúng.Cho nên cha mẹ phải tôn trọng con cái như một chủ thể độc lập, phải bỏ đi cái quan niệm con cái thuộc quyền sở hữu của cha mẹ như một vật dụng.

Nhưng chính vì hiện nay trong tiềm thức của rất nhiều cha mẹ Việt Nam vẫn còn tư tưởng sai lầm là họ có quyền “sinh - sát” con cái nên mới có những hiện tượng coi con cái như những vật sở hữu của họ để đánh bóng, hay làm đồ trang sức cho chính họ và họ có quyền tra tấn khủng bố con cái về thể xác lẫn tinh thần như họ muốn.

CHA MẸ LÀ NHỮNG TÊN CÔNG AN ĐẦU TIÊN:

Cho tới hôm nay vẫn còn tồn tại những cách giáo dục con cái hủ lậu như tôi đã trình bày trên, thì chúng ta thấy rõ sự tác động cha mẹ không chỉ có ảnh hưởng tới con cái tới năm chúng 18 tuổi hay 21 tuổi, khi chúng đã trưởng thành mà sẽ đi liền suốt cuộc đời của con cái và sự bất cập trong giáo dục con cái có thể có liên hệ tới nhiều thế hệ đi sau nữa. Vì con cái quý vị sẽ lại giáo dục con cái chúng như chúng đã được cha me chúng giáo dục ngày nào trước đây.

Qua các cách “giáo dục” sai lầm được trình bày ở các phần trên đã biến con cái thành một người thụ động, chỉ còn biết “tuân lệnh” người trên như một cái máy, tuân thủ quyền lực của kẻ mạnh một cách tuyệt đối, tính chất vấn, khả năng tư duy độc lập hoàn toàn bị tiêu diệt ngay từ trong gia đình bởi cha mẹ.

Chính cha mẹ là những người đầu tiên thay cho bọn cầm quyền “tẩy não” con cái, biến con cái thành những kẻ “tự nguyện làm nô lệ” chỉ còn tuân phục kẻ trên một cách tuyệt đối và đàn áp những người yếu hơn mình.

Vì vậy mà bọn cầm quyền luôn nỗ lực đẩy mạnh cách “giáo dục” này. Trước kia thì lấy những cái “tam tòng tứ đức” “Tam cương ngũ thường”, và ngay nay thì chúng không ngừng đưa ra, đề cao những giá trị ảo, nào là bằng cấp, địa vị xã hội, coi trọng giá trị vật chất và quyền thế… chúng vun đắp cho cách “giáo dục” con cái hủ lậu, độc tài của cha mẹ, để biến cha mẹ thành những người “công an” đầu tiên răn đe ngăn cản và trừng phạt con cái mình thoát ra được cảnh “tự nguyện làm nô lệ” mà cha mẹ chúng đã và đang vô tâm vui vẻ chấp nhận.

Khi con cái mới chớm dự định làm những việc có lợi ích chung cho cộng đồng thì chính cha mẹ là những người đầu tiên ngăn cản, với những “triết lý” thật uyên bác cao minh là “ăn cơm nhà làm chuyện vác tù và hàng tổng”.

Nhưng chỉ cần một chút suy nghĩ nhìn lại trên bàn thờ nơi trang trọng nhất của mỗi gia đình Việt Nam thì chúng ta thấy ngay nghịch lý, họ đang thờ phượng những người “ăn cơm nhà làm chuyện vác tù và hàng tổng” như: Giê Su; Thích Ca, thậm chí cũng có thể kể luôn Karl Marx, Engel, và hầu hết các vĩ nhân thực sự trong lịch sử nhân loại, những người đã khai hóa và thúc đẩy cho nhân loại tiến bộ; tất cả đều là những người “ăn cơm nhà làm chuyện vác tù và hàng tổng”!

Gia đình của Việt Nam vẫn là nơi hun đúc những toan tính so đo vật chất, trong đó cá nhân được huấn luyện sống ích kỷ bảo thủ lợi nhuận, và ngược lại khước từ chối bỏ và triệt tiêu giá trị sống, giá trị tự thân như nhận thức nhân quyền, dân quyền, tự do, dân chủ. Gia đình của Việt Nam, trong đó Cha mẹ vẫn hành xử như những tên bạo chúa, duy trì tính nô lệ thuần phục, và hủy diệt mầm nhân bản, sức sáng tạo khai phá nơi con cái. Những ý thức về nhân phẩm, tự do, dân chủ dân quyền, nhân quyền đều bị triệt hạ từ trứng nước, bằng mọi thủ đoạn cần thiết.

Cách Giải Quyết Vấn Nạn Trong Việc Giao Dục Con Cái Của Người Việt Nam:

Qua những phân tích trên chúng ta thấy rõ sự bất cập trong việc giáo dục con cái của người Việt Nam đóng một vai trò rất lớn trong vấn nạn trì trệ phát triển của xã hội Việt Nam ngày hôm nay, vì vậy việc thay đổi cách giáo dục con cái của người Việt Nam là một trong những điều cấp thiết cần phải thay đổi. Việc làm này không chỉ với các quý vị đang là cha mẹ, mà hơn thế nữa là thế hệ các bạn trẻ, những người sẽ là cha mẹ trong tương lai rất gần.

Với những người đang là cha, là mẹ:

Dưới đây là một số ĐỀ NGHỊ các bạn trong cách giáo dục con cái, hy vọng sẽ giúp được cho các bạn một ít hành trang trong thiên chức tự nguyện nhưng quan trọng đang chờ đón các bạn:

· Tạo cho con cái một cái nhìn tổng quát của sự việc, trình bày cho chúng bằng dẫn chứng cụ thể để chúng có thể nhận ra được kết quả của sự việc. Không áp đặt, cho dù bất cứ điều gì, có nghiã là mọi quyết định trong gia đình đều được thảo luận và lấy ý kiến chung của mọi người, con cái cảm nhận được sự bình đẳng, giá trị nhân phẩm và nhân quyền của mình được tôn trong, làm như vây cha mẹ sẽ giúp cho trẻ định hình tính tự chủ, lòng tự tin ngay tại trong gia đình, đó là những yếu tố quyết định cho sự thành công của con cai sau này.

· Tạo cơ hội gần gũi con cái qua những hình thức như: Những cuộc nói chuyện với con cái, sinh hoạt gia đình đi chơi, bữa ăn gia đình.v.v. qua đó cha mẹ nghe được những tâm tư nguyện vọng của con cái. Để gần gũi con cái mình hơn.

· Tìm kiếm, động viên khuyếnh khích con cái phát huy những khả năng, tư duy của riêng mình, vì mỗi cá nhân có những mặt mạnh riêng biệt. Sự đam mê chỉ có khi con người ta làm việc mà họ yêu thích, và khi làm việc với sự đam mê thì chắc chắn sẽ gặt hái những kết quả tốt đẹp.

· Khen thưởng con cái khi nó đạt được một thành quả nào đó cho dù kết quả đó có nhỏ bé như thế nào! Vì đây là động lực để con cái làm tốt hơn nữa trong tưong lai. Và phải công bằng không thiên vị với con cái, thưởng phạt phải công minh.
· Cho con cái những lời khuyên, hướng giải quyết khi nó gặp khó khăn, những phải để con cái chọn lựa cách giải quyết khó khăn của chúng. Vì như vậy chúng mới có thể rèn luyện được tính tư duy độc lâp, và khả năng quyết đoán trước mọi vấn để trong cuộc sống sau này.

· Điều tối kỵ là không nên dùng bạo lực trong bất kỳ trường hợp nào, vì bạo lực không những chẳng giải quyết vấn đề mà còn làm gương xấu cho con cái về bạo lực sau này, và chỉ khiến con cái thành thụ động, ù lì, làm thui chột tính tự tin, năng lực sáng tạo.

Trọng trách của cha mẹ trong việc giáo dục con cái thật nặng nề vì nó không chỉ có ảnh hưởng tới sự thành công - thất bại của một con người mà hơn thế nữa sự tác động vào xã hội. Vì cha mẹ không chỉ đào luyện một “người con” trong ý nghĩa yêu thương, mà là nuôi dưỡng một chủ thể tương lai của xã hội nhân loại.

Tuy nhiên, theo tôi nghĩ nó cũng rất dễ dàng nếu cha mẹ giáo dục con cái luôn dựa trên: Tình yêu – sự tôn trọng và lắng nghe con cái. Khi các bạn luôn tâm niệm rằng đứa bé không chỉ là con của các bạn mà là một con người. Thì tôi tin chắc các bạn sẽ thành công trong việc giáo dục con cái. Mến chúc các bạn trẻ thành công trong xứ mạng thiêng liêng làm cha, làm mẹ của các bạn.

Với các người con:

“Không ai có thể cứu mình khi mình không biết tự cứu mình”, nếu như chính các bạn là nạn nhân của cách giáo dục sai lầm trên mà các bạn không biết cất tiếng nói tự bảo vệ lấy chính mình thì tôi nghĩ khó có thể có ai giúp các bạn nói đúng hơn là không có ai có thể giúp các bạn.

Khi các bạn bị đối xử bất công do cách giáo dục hủ lậu mà tôi nêu trên, hay do một hủ lậu trong cách giáo dục con cái mà tôi khiếm khuyết không nêu ra được, mà các bạn chỉ biết im lặng cam chịu, không dám nói cho cha mẹ biết những sai trái, bất cập của cha mẹ, đó là chính các bạn tự đồng ý và hơn thế nữa tiếp sức cho việc tự biến bản thân thành cái máy chỉ biết làm theo lập trình, bạn có thể biến thành tất cả mọi thứ những không phải thành cái mà chính bạn muốn chở thành. Nếu những lúc như vậy các bạn tự an ủi mình; mình sẽ dậy con cái của mình khác với cha mẹ mình, thì đây không phải tự an ủi mình nữa mà là tự lừa dối mình.

Vì nếu thực sực vậy thì không còn những bất cập trong cách giáo dục con cái của người Viêt Nam mà tôi nêu trên, vì những điều bất cập ấy không phải mới có từ thế hệ của cha mẹ các bạn. Mà nó đã tồn tại từ rất lâu rồi trong cách giáo dục của người Việt Nam từ rất nhiều thế hệ trước, và tôi tin chắc là chính cha mẹ của các bạn cũng đã từng hy vọng như các bạn; “ mình sẽ dậy con cái của mình khác với cha mẹ mình”. Nhưng rồi các bạn thấy họ đã làm gì khi họ là cha, là mẹ; họ có làm khác đi không hay lại làm y như cha mẹ họ đã làm với họ?

Vì vậy khi đứng trước những cái bất cập, sai trái trong cách giáo dục con cái của chính cha mẹ mình, chính các bạn phải cất tiếng nói, phải chỉ ra cho cha mẹ thấy những sai trái của cha mẹ. Trình bảy thẳng thắng nhưng không hỗn, nói bắng lý lẽ, dẫn chứng không như cha mẹ luôn chỉ áp đặt không cần biết đến lý lẽ. Muốn làm được điều này thì các bạn luôn phải biết chất vấn mọi vấn đề.

Không bao giờ “dạ cho có” – “vâng lấy lệ”, mặc dù biết điều đó là hoàn toàn sai và phi lý, nhưng chỉ vì nghĩ trong đầu; nói cũng vậy cha mẹ trước sau gì cũng không tôn trọng y kiến của mình. Vì cứ như vậy lâu ngày sẽ thành thói quen không những chỉ là thói quen của cha mẹ là át đặt các bạn mà hơn thế nữa các bạn cũng quen dân và tính đối kháng, tư duy độc lâp của các bạn sẽ chết đi và rồi vô tình tới một ngày nào đó các bạn sẽ làm với con cái các bạn rập khuôn không khác gì cha mẹ các bạn đã làm với các bạn.

Quên ngay ý nghĩ; “người lớn bao giờ cũng đúng” nếu có nơi các bạn, vì hầu hết tất cả mọi cái sai, bất cập, tiêu cực trong mọi xã hội hiện nay như chiến tranh, ô nhiễm môi sinh, bất cập của giáo dục con cai trong gia đính.v.v. đều do người lớn gây ra không phải do các người trẻ như các bạn. Vì vậy không thể nghĩ “người lớn luôn đúng” mà đúng ra là người lớn thường luôn sai và sai trầm trọng trong mọi khía cạnh của cuộc sông không chỉ trong giáo dục con cái.

Sau cùng tôi cầu mong các bạn thành công trong công cuộc cách mạng về cách giáo dục trong gia đình, và tin tưởng vào sự thành công của các bạn. Vì biết các bạn là thế hệ trẻ rất thông minh chỉ cần một chút can đảm, một chút tự tin là tôi tin chắc các bạn sẽ thành công không những trong công cuộc cách mạng về giáo dục trong gia đình, mà sẽ còn là những người con tuyệt vời. Các bạn hãy luôn nhớ:

“Việc làm hôm nay của các bạn không chỉ quyết định cho riêng tương lai của các bạn, mà còn cho cả tương lại của xã hội nơi các bạn đang sống và không chỉ thế còn là quyết định cho tương lai của nhưng thế hệ đi sau các bạn”.

Nguồn: Blog Nhân-Chủ

Nhàm chán thế gian

Người tu sĩ là người bỏ đời đi tìm sự giải thoát trong đạo Phật. Nhưng mấy ai bỏ được đời, dù đang mặc chiếc áo tu sĩ, nhưng tâm đời còn đầy dẫy dục vọng, cho nên chắc chắc không thể nào tìm thấy sự giải thoát chân chính của đạo Phật. Có vào đạo thì cũng tìm danh lợi trong đạo mà thôi.

Chỉ những ai nhàm chán thế gian, thấy rõ những tác hại, nguy hiểm, hiểu rõ và thấm nhuần sự vô thường thay đổi của vạn vật trên thế gian thì mới nhàm chán và buông bỏ tất cả, quyết tâm tìm đường giải thoát.

Như thế nào là người nhàm chán thế gian?

1. Họ không còn ham thích những dục vọng thế gian như: ăn, ngủ, sắc dục, danh, lợi nữa.

2. Họ không còn tham có của cải tài sản, vật chất, nhà lầu, xe hơi hay những thứ xa sỉ khác nữa. Bởi vì càng có nhiều tài sản, của cải, tiền bạc,... thì tâm càng bất an, lo lắng, sợ hãi, ...sợ mất sợ trộm, sợ cướp, sợ bị giết, sợ bị lường gạt,...dẫn đến đủ loại bệnh tật.

3. Họ không còn ham thích nói chuyện, không thích tiếp xúc với người khác, không thích bàn chuyện với người, không thích gặp người nữa,...

4. Họ không còn thích đi chơi, thích đi du lịch, ngắm cảnh, xem hoa, xem trời, xem biển, xem núi, xem hồ, suối, sông,...gì nữa cả.

5. Họ từ bỏ mọi danh vọng, nghề nghiệp, bằng cấp, học vị,...

Sunday, September 25, 2016

Sự phi lý và những cùng cực của cuộc đời

Socrates đã nói: "Một cuộc đời không suy xét thì không đáng sống"

Cuộc đời của mỗi người chúng ta có ý nghĩa gì đó hay không? Hay đó chỉ là sự tồn tại do bắt buộc?

Shakespeare viết: "Cuộc đời chẳng qua là một bóng mát bên đường, một diễn viên tồi bước khập khễnh đầy sầu thảm suốt vai diễn trên sân khấu, rồi sau đó không còn được nghe nói đến gì nữa, vở diễn là một câu chuyện được kể lại bởi thằng ngốc đầy ồn ào và phẫn nộ nhưng chẳng mang lại một ý nghĩa nào cả"

Chúng ta là những con cá đang bị nhốt trong thác nước, là con chim bị nhốt trong chiếc lồng, là đống xương tàn đang chờ ngày mục nát, là sinh vật đang bị giết dần bởi thời gian.

Một sự tồn tại không hề có ý nghĩa có đáng để tồn tại? Chính vì thế giới chẳng ban cho ta một ý nghĩa nên ta phải tự tìm lấy nó, phải tìm ra một ý nghĩa nào đó, phải tìm ra một lí do nào đó cho cuộc đời.

Jean Paul Sartre nói rằng khi một nhà hiện sinh viết về một kẻ hèn nhát, thì anh ta nói rằng kẻ hèn nhát đó phải chịu trách nhiệm cho sự hèn nhát của mình. Anh ta như thế không phải vì anh ta có trái tim hay cái phổi hay bộ não hèn nhát, không phải vì cấu tạo sinh lí của anh ta, mà anh ta hèn nhát bởi vì anh ta tự biến mình thành kẻ hèn nhát thông qua những hành vi của mình.

Triết học hiện sinh vô thần nói rằng, kẻ hèn nhát làm cho mình trở thành hèn nhát, vị anh hùng làm cho mình trở thành anh hùng, và luôn luôn tồn tại khả năng kẻ hèn nhát không còn hèn nhát nữa, vị anh hùng không còn là anh hùng nữa. Thuyết hiện sinh luôn định nghĩa con người qua hành động, cho nên không có học thuyết Triết học nào lạc quan hơn nó, vì số phận của mỗi con người luôn nằm trong chính bản thân họ, nó bảo với anh ta rằng hi vọng duy nhất của anh ta chính là hành động, và hành động là cái duy nhất biến anh ta thành những gì mà anh ta mong muốn

Vậy ý nghĩa cuộc đời này là gì? Tại sao tôi phải sống trên đời?... Ta luôn tự hỏi lấy mình và câu hỏi này đã bóp chết nhiều nhà triết học khi họ cố gắng tìm ra lời giải đáp. Thế ta có nên bỏ cuộc, có nên tự an ủi với lòng mình rằng: Anh không hiểu được cuộc đời này đâu, đừng nghĩ đến nó, hãy lo mà sống đi... Thế nhưng ta lại muốn gào thét lên trong tuyệt vọng, sống đi... nhưng sống để làm gì? Sống vì cái gì? Sống cho cái gì?... Đâu đó trong bóng tối ẩn hiện một con người cô đơn lẻ lơi bị che lấp bởi những câu hỏi về cuộc đời...

Não trạng nạn nhân

Lời nói đầu

Những người mang chứng “Não trạng nạn nhân” luôn than phiền về những điều bất hạnh trong cuộc sống của chính mình. Họ tin rằng họ không kiểm soát được cách thức các sự kiện ập đến nên hiển nhiên cảm thức trách nhiệm đối với bản thân ở những người như vậy khá mơ hồ, hầu như không hiện hữu. Khoảnh khắc trước họ đang vào vai một nạn nhân với bao nỗi niềm cùng cực, khoảnh khắc sau họ quay ngoắt lại và làm tổn thương kẻ cố gắng giúp đỡ mình, để mặc kẻ-ngỡ-là-người-giúp-đỡ ấy đắm chìm trong hoang mang, thất vọng cùng cực.

Người có tâm thức nạn nhân bộc lộ sự giận dữ tiềm tàng- gây hấn thụ động- ẩn sâu bên trong họ khi tương tác với xã hội. Hành vi của những người này gây tổn thương chính mình và gần với sự bạo dâm vốn có động thái, màu sắc tự hoại bản thân, lấy đau đớn làm niềm vui, khoái lạc. Dạng thức nạn nhân này trở thành một mô hình tương tác xã hội- một lối sống định hướng hành vi: Tôi chịu bao khốn khổ thế nên tôi là kẻ đáng thương.

Vì sao An-nam mê tín dị đoan?

1. An-nam là một dân tộc tin vào thần thánh.

Trong 2 cuộc Nam tiến và Tây tiến vĩ đại để hình thành nên An-nam-quốc-gia cong cong hình chữ S của ngày nay, tín ngưỡng thờ cúng được duy trì ở cả tầm quốc gia, dân gian và gia đình.

Ở tầm quốc gia, người ta thờ cúng các thần linh là những người có công hay các anh hùng dân tộc, chẳng hạn như đức Thánh Trần hay bà chúa Liễu Hạnh. Ở mức độ dân gian, người ta thờ cúng Thành hoàng của làng/xã. Thành hoàng có thể là người sáng lập ra làng, có thể là người làng có công với quốc gia, có thể là người khởi tạo nên nghề nghiệp cho làng,… và được triều đình phong kiến sắc phong. Ở mức độ gia đình, người ta thờ cúng tổ tiên và các vị thần theo truyền thuyết như tôn thần, thổ địa, thần tài, táo quân,…

Đây là một nét văn hóa đặc sắc, duy trì được đức tin và tín ngưỡng của cần-lao trước khi những tôn giáo chính thống như Phật giáo được giới thống trị truyền bá đan xen thờ cúng cùng tín ngưỡng truyền thống nói trên.

2. Có những hiện tượng huyền bí, tâm linh vẫn hiển hiện trong đời sống con người từ xa xưa đến tận ngày nay. Mặc dù khoa học đã và đang dần dần giải mã những hiện tượng đó nhưng đã xác định được những trường sinh học kết nối giữa người đã chết với người sống, hay việc một số người có khả năng ngoại cảm, khả năng nhìn thấy trước tương lai,…

Chính vì vậy, các nhà khoa học trên thế giới không bài xích những vấn đề duy tâm, đặc biệt là những bí ẩn trong các nền văn hóa lớn như Trung hoa, Ấn Độ, Ai cập,…
Có nghĩa, vẫn tồn tại những sự huyền bí của tự nhiên, được con người tìm đến như một đức tin trong cuộc sống, tạo ra sự tâm linh trong tâm trí của họ.

3. Hơn nghìn năm Bắc thuộc, An-nam là một bản sao cả về văn hóa, tư tưởng, tín ngưỡng, tâm linh,… của nước láng giềng Trung hoa. Đến tận ngày nay, sự lệ thuộc đó vẫn không suy giảm.

Trung hoa cổ đại có một nền văn hóa rực rỡ, từ vài nghìn năm trước đã phát kiến ra những công trình nghiên cứu đồ sộ về con người và vận mệnh con người. An-nam-cần-lao vẫn quen thuộc với những Hà đồ - Lạc thư, Kinh dịch, tướng pháp,… Dĩ nhiên, để có kiến thức sơ đẳng về những điều nói trên, cần phải biết chút chữ nghĩa và có một chút trí tuệ. Và điều đó không dành cho cần-lao thối tai khai bẹn thủa thời chưa có chữ quốc ngữ.
Và thế là, những điều huyền bí về số mệnh con người được đám học chữ “thánh hiền” độc quyền. Đám này kết hợp với đặc tính tín ngưỡng của cần-lao để tạo ra niềm tin vào các thế lực siêu nhiên và cho rằng số phận cuộc đời đã được định sẵn. Điều này được các chế độ phong kiến áp dụng triệt để trong việc quản trị tư tưởng của cần-lao trong quá trình cai trị từ trung ương đến địa phương.

4. Khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Những người cộng sản với kim chỉ nam là chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành những kẻ vô thần. Và họ cho rằng những tín ngưỡng, tâm linh của cần-lao là sự mê tín dị đoan cần phải loại trừ trong con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa.

Và thế là một cuộc “cách mạng” loại trừ mê tín dị đoan được hình thành. Những người cộng sản phá đền, phá chùa, bài trừ sự cúng bái, bói toán, tế lễ thần thánh,… Thay việc thờ cúng tổ tiên, thờ cúng thần phật bằng việc treo ảnh lãnh tụ. Chúng ta có thể tìm thấy những hình ảnh các lãnh tụ cộng sản được treo trang trọng giữa nhà thay cho các bát hương và bài vị tổ tiên vào các thập niên 60-70 của thế kỷ trước ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, một cuộc “cách mạng” nhỏ không thể tẩy não được tín ngưỡng của cần-lao. Và họ bắt đầu dấm dúi thờ cúng lại tổ tiên, thần phật. Đặc biệt đối với những người gặp những điều bất trắc trong cuộc sống mà không được chính quyền giải quyết. Họ quay lại tin vào số phận, tin vào sự trừng phạt do tâm linh bởi lẽ chính họ là những thành phần nhiệt tình nhất trong việc phá đền, phá chùa và bỏ bát hương tổ tiên.

Một vài nơi, một số kẻ tham gia phá đền, phá chùa gặp những rủi ro trong cuộc sống đã được cần-lao thêu dệt lên những câu chuyện rùng rợn về việc “quả báo” do đã quay lưng lại với thần thánh, tổ tiên. Và công cuộc bài trừ mê tín dị đoan, hướng tới chủ nghĩa vô thần của cộng sản đã thất bại hoàn toàn ở An-nam, bắt đầu mạnh mẽ từ khi mở cửa về kinh tế.

5. “Phú quý sinh lễ nghĩa” là một đặc tính của cần-lao An-nam. Những kẻ thành đạt trong cuộc sống thường cho rằng đó là do phúc đức của tổ tiên, sự phù hộ của thánh thần và số mệnh của họ. Điều này có một phần đúng đắn vì theo tử vi, số phận của mỗi người là khác nhau. Một số trường hợp đặc biệt như một vài kẻ nghèo hèn bỗng trở thành đại phú hay vài quan lại bị thất sủng về quê cày ruộng khiến tâm lý tin vào số mệnh được áp đặt trong não trạng của cần-lao An-nam.

Từ thời Lý, phật giáo đã được truyền bá sâu rộng vào trong đời sống tín ngưỡng tôn giáo của cần-lao An-nam. Và cần-lao dễ dàng kết hợp sự tín ngưỡng dân gian với tín ngưỡng tôn giáo làm một. Câu nói “thờ thần phật” trở nên quen thuộc với cần-lao khi chủ thuyết luân hồi và hướng con người đến điều thiện của giáo lý nhà phật được cần-lao đón nhận nhiệt tình bởi đã có sẵn trong não trạng quan niệm về lễ giáo của Khổng Khâu xứ Tàu.

Thế nên, khi An-nam vượt qua thời đói khổ của bao cấp, và chính sách mở cửa đã vực dậy nền kinh tế từ quốc gia đến gia đình thì sự tín ngưỡng về tâm linh trỗi dậy. Những kẻ có tiền bắt đầu xây mộ, xây từ đường để tri ân tổ tiên đến tu bổ, sửa sang đền miếu của làng xã. Lớn hơn, họ bắt đầu kêu gọi sửa sang chùa chiền, và nghiễm nhiên tự coi phật giáo như một quốc đạo của An-nam.

Dĩ nhiên, những đối tượng này phần lớn là quan chức của chính quyền, từ thượng tầng trung ương ủy viên đến hạ tầng quan chức lìu tìu địa phương. Và dĩ nhiên, phần lớn họ không có tôn giáo. Một yếu tố quan trọng trong sơ yếu lý lịch của một xã hội bổ nhiệm quan chức theo chủ nghĩa lý lịch.

6. Có cung ắt có cầu. Những dịch vụ đáp ứng nhu cầu tâm linh và tín ngưỡng nở rộ như nấm mọc sau mưa, thượng vàng hạ cám đủ cả.

Chưa bao giờ xứ An-nam thịnh vượng về các dịch vụ tín ngưỡng như hiện nay. Ở đâu cũng có thể có thầy bói toán, từ lấy lá số tử vi, bói bài, bói chỉ tay, bói lá trầu,… Ở đâu cũng có thầy cúng, thầy phong thủy. Sách về bói toán, tử vi, cúng bái, phong thủy có thể tìm bất cứ nơi đâu, từ nhà sách cao cấp đến bán dạo vỉa hè, bến xe.

“Tiền nào của ấy” là câu nói quen thuộc của An-nam, và tất nhiên bao gồm cả dịch vụ tín ngưỡng. Bởi tại nhà nhà đi mời thầy cúng, người người đi xem bói,… nên hình thành một đội ngũ buôn thần bán thánh rất đông đảo. Từ đám thầy chùa đầu trọc thích tu hú hơn tu thân đến đám bần nông bần lâm thất học được “ăn lộc thánh”. Vài chục nghìn đồng cũng bói, vài trăm nghìn đồng cũng cúng. Đám này không những truyền bá mê tín dị đoan để trục lợi cần-lao, mà còn nhẫn tâm trục lợi trên cả xương cốt của những người đã ngã xuống trong hai cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc.

Nói đi cũng phải nói lại. Có những người trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, họ thấu hiểu sâu sắc chiêm tinh, kinh dịch, có thể suy đoán được số phận con người trên góc độ khoa học của tử vi. Có những người có những khả năng đặc biệt có thể nhìn thấy người âm mà chúng ta thường gọi là ngoại cảm (khoa học đã xác nhận điều này). Có những người tu hành chân chính, lấy giáo lý phật môn để cầu an giúp người.

Tuy nhiên, những người này rất ít, và năng lực của họ cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và khách quan. Đặc biệt là những người có khả năng ngoại cảm. Trong vài triệu người có một người có khả năng ngoại cảm đã là hiếm. Và trong trăm lần ngoại cảm mới có một vài trường hợp chính xác đã là quý.

Ấy thế nhưng cần-lao ai cũng tham lam. Ai cũng muốn thỏa mãn cái họ mong muốn. Họ sẵn sàng bỏ tiền bỏ bạc để đổi lại sự tò mò lẫn “bí ẩn” về số phận của họ. Nghe nói có thầy bói nào hay là đổ xô đến. Nghe nói có đền, có điện nào thiêng là đỗ xô đến. Thật giả lẫn lộn, bát nháo tứ tung.

7. Đáng ra, sự mê tín dị đoan, những tà đạo, tà giáo cần phải loại trừ triệt để. Nhưng có thể thấy trong thời gian qua, chính quyền đã buông lỏng quản lý điều này. Không những thế, lãnh đạo từ to đến nhỏ thể hiện rõ sự cuồng tín về thần phật của họ. Có thể thấy lãnh đạo cao cấp của chính quyền ở các lễ chùa, lễ phật hì hụp cúng bái. Có thể thấy bát hương được hiện diện ở từng phòng trong công sở. Những ngày cuối năm, đầu năm thì xe công lẫn quan chức đi đền đi chùa nườm nượp.

Đình chùa miếu mạo được ồ ạt xây dựng. Thầy bói, thầy cúng, bà đồng, ông cốt được hoạt động tự do, thỏa sức truyền bá mê tín dị đoan, miễn không truyền bá cần-lao chống chính quyền là được.

Không những để tự phát trong xã hội, mà có hẳn 3 tổ chức nghiên cứu về tâm linh với tên gọi mỹ miều là: “Liên hiệp Khoa học Công nghệ Tin học ứng dụng”; “Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người”; “Viện Nghiên cứu tiềm năng con người” được chính quyền công nhận và bảo hộ. Không biết họ nghiên cứu được cái gì? Nhưng cấp phép tràn lan cho đám bà đồng ông cốt, thậm chí cả đám tâm thần phân liệt tự xưng là dị nhân quái nhân có khả năng hô mưa gọi gió.

Những vụ việc liên quan đến đám giả thần giả quỷ trục lợi trên sự cuồng tín của cần-lao đến mức nghiêm trọng như tên Thủy giả danh ngoại cảm trục lợi trên xương cốt của các liệt sỹ đã được phản ánh, truy tố. Nhưng vẫn còn đó nhan nhãn những kẻ nhân danh khoa học như “nhà ma học” Giác Hải, hay nhân danh“ngoại cảm” như đám Thị Hòa, và những đám bà đồng ông cốt, cô cậu ngoại cảm khác.

8. Khi nói về những điềm mất nước (Vong trưng), Hàn Phi đã cho rằng: “Dùng bọn coi ngày, thờ quỷ thần, tin bói toán, thích cúng tế thì (nước) có thể mất” (thiên XV, quyển V).

Phan Chu Trinh đã từng viết trong “Việt quốc bệnh phu” một trong mười điều bi ai của An-nam là “chỉ mê tín nơi mồ mả, tướng số, việc gì cũng cầu trời khấn Phật”.

Có thể thấy, mê tín dị đoan đã bị lên án và bài trừ từ thời xa xưa, khi mà những vấn đề duy tâm lẫn các sự vật, hiện tượng thần bí của tự nhiên chưa được khoa học giải thích một cách thấu đáo.

Vậy mà, ở tận thế kỷ 21, khi mà khoa học đã đạt tới sự vi diệu trong tiếp cận nghiên cứu theo hình thức lượng tử đối với các vật chất siêu vi trong một chuyển biến siêu hình học. Cũng như các kết quả ngoại cảm có thể xác định một cách cực kỳ đơn giản qua xét nghiệm AND. Thế nhưng, không hề có một động thái quyết liệt nào của chính quyền đối với đám buôn thần bán thánh này, trừ những trường hợp đã bị cần-lao phát giác là lừa đảo.

Không lẽ chính quyền không hiểu những điều đơn giản mà Hàn Phi đã cảnh báo từ hơn 2.000 năm trước, hay “bệnh” của An-nam mà Phan Chu Trinh đã chỉ ra gần 100 năm trước? Không lẽ chính quyền không biết bọn “ma học” đang hoành hành, đang đẩy cần-lao An-nam trở nên mê tín dị đoan đến mức cuồng tín (điều mà hơn nửa thế kỷ trước họ đã cố gắng bài trừ), đang khiến cần-lao An-nam lệch lạc về nhận thức tín ngưỡng và triết lý tôn giáo chính thống? Không lẽ chính quyền không biết mê tín dị đoan đã làm cho cần-lao An-nam trở nên mông muội, u mê từ não trạng đến thể chất, và điều này là kẻ thù của sự phát triển lên một xã hội văn minh?

Họ không biết? Hay họ cố tình không biết?

Nho giáo và triết lý giáo dục

Cách đây mấy ngày tôi đọc bài “SOS Thứ Bậc VN Trên Xếp Hạng Trí Tuệ Toàn Cầu”, chiều ngày 9 – 8 lại được nghe GS. Nguyễn Văn Tuấn (Úc) thuyết trình về tình trạng nghiên cứu khoa học xã hội Việt Nam với những bảng biểu và con số cụ thể chứng minh rằng Việt Nam đang thua rất xa các nước trong khu vực về thành tựu nghiên cứu khoa học.

Rồi nữa, chuyện thầy đánh trò đình đám xảy ra cách đây mấy tuần mà báo chí đã đưa tin… Tất cả như quyện lại với nhau, như cùng có một nguyên nhân sâu xa nào đó liên quan đến triết lý giáo dục, mà cũng hình như liên quan đến chuyện “Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn” trong nhà trường mà chúng ta đang tranh luận.

Nho giáo và các vấn đề giáo dục hiện nay

Rõ ràng không thể cho việc “ngụp lặn” của trí tuệ người Việt ở nửa dưới thế giới là do tư chất người Việt kém. Ngược lại, tôi thấy con em người Việt ở nước ngoài đã tỏ ra sắc bén không thua chị kém em nước sở tại trong chuyện học hành, nghiên cứu. Vậy chắc chắn có cái gì đó không ổn trong triết lý giáo dục mà hậu quả là chúng ta đã không đào tạo được những con người có văn hoá phản biện, có khả năng tư duy độc lập và sáng tạo để tự thay đổi mình và thay đổi môi trường sống, cũng như góp sức mình làm phong phú kho tàng tri thức của nhân loại. Phải chăng, hiện trạng này có liên quan một phần đến Nho giáo, đến bóng của Khổng Tử trên ngành giáo dục, thể hiện trong quan niệm và cách làm của người quản lý, trong não trạng và cách dạy của thầy, cũng như trong suy nghĩ và cách học của trò hiện tại?

Quan niệm giáo dục lấy thầy làm trung tâm, lấy tư tưởng người xưa làm mẫu mực, là rào cản của sự tò mò, trí tưởng tượng vốn rất cần cho sự sáng tạo, làm hạn chế khả năng tư duy độc lập mà chức năng của giáo dục đáng lẽ là phải khơi gợi, kích thích và làm cho nó phát triển. Tình trạng này cùng với một môi trường xã hội không tạo thuận lợi cho sự lưu chuyển các tri thức và thông tin, luật pháp chưa bảo vệ được những sản phẩm trí tuệ … là những nguyên nhân quan trọng của hiện trạng không lấy gì làm sáng sủa như đã nói đầu bài viết.

Quan niệm dạy – học mang màu sắc giáo dục Khổng giáo vốn xem trọng quá khứ, “tầm chương trích cú”, “thuộc làu kinh sử” biến học sinh thành những con vẹt, biến những bộ óc non nớt của các em thành những thùng chứa đồ cũ, là nguyên nhân của bệnh đọc – chép. Đọc chép lâu dần không những làm cho học sinh mất hết khả năng sáng tạo, mà còn tạo ra nơi người học thói quen xài chùa của người khác, trong lĩnh vực học thuật, thì đó là đạo văn.

Việc gắn sự học với việc làm quan trong giáo dục Nho giáo vốn đang ảnh hưởng rất mạnh trên não trạng của người Việt mình là thủ phạm gây ra hiện tượng “thừa thầy thiếu thợ”, sính bằng cấp, học giả bằng thật, vv. Có lẽ phải mất nhiều thời gian, tốn nhiều giấy mực để nghiên cứu ngọn ngành sự liên quan xa gần giữa những ảnh hưởng Nho giáo và từng hiện tượng cụ thể đang tồn tại trong ngành giáo dục mà trong khuôn khổ một bài viết ngắn, tôi không thể trình bày thấu đáo.

Giáo dục hiện đại không bắt con trẻ học thuộc lòng nội dung và áp dụng một điều gì đó kể cả các “chân lý” đã được khoa học kiểm chứng một cách như học “lời của thánh hiền”, nhưng dạy cho các em làm thế nào (học phương pháp) các nhà khoa học đã tìm ra chân lý đó, không phải bắt các em “tuân phục” mà cắt nghĩa cho các em hiểu tại sao lại phải vậy, và trang bị cho các em có đủ khả năng vận dụng lý trí của mình để soi sáng những điều đó và khi cần thì biết cải tiến, biết vượt qua nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội.

Lại nói chuyện “lễ”

Có nhiều người lo là nếu bỏ “tiên học lễ…” sẽ làm giới trẻ mất phương châm sống? Không đến nỗi như vậy, ăn thua là người lớn chúng ta có làm cho trẻ biết ước mơ, có những hoài bão đẹp hay không? Khi trẻ có lý tưởng sống đẹp thì tự các em sẽ có cách sống đẹp. Chữ lễ quy định cách thức ứng xử giữa người với người theo kiểu Nho giáo, chứ không phải là lý tưởng sống, càng không phải là chân lý bất biến, bởi cách kiểu ứng xử thì tuỳ từng xã hội, xấu hay tốt nhiều khi cũng tuỳ từng xã hội.

Người Phương Tây chẳng có Nho giáo, chẳng có “lễ” làm cơ sở để đối nhân xử thế, thì họ vẫn có lý tưởng sống, vẫn sống tử tế với nhau, vẫn đối xử lịch thiệp, vẫn bác ái, vẫn biết thương lượng với nhau để tránh xung đột, vẫn biết chung sống với nhau trong sự khác biệt đó thôi. Tôi không chủ trường bài xích hoàn toàn giá trị của Nho giáo, nhưng không mấy thiện cảm với chữ lễ ở trong học thuyết này. Xin hiểu cho là tôi đang nói chữ lễ trong ý nghĩa gốc của khái niệm như tác giả của: Dựa vào gì để cân nhắc bỏ hay giữ “học lễ”? đã đề cập, chứ không chê các giá trị văn hoá đạo đức tích cực, tốt lành trong xã hội hiện tại mà trách vụ của giáo dục là phải chuyển tải cho học sinh.

Tôi đã chứng kiến số phận bao nhiêu con người phải khổ sở thế nào vì những lề thói mang màu sắc chữ lễ Nho giáo: Một ông bác gây sự om sòm trong đám hỏi của cháu làm các cháu sợ xanh tím mặt mày, chỉ vì các cháu không biết những lễ nghĩa với bác; những bậc cha mẹ sẵn sàng cấm, cắt đứt chuyện yêu đương của con cái chỉ vì những người lớn chấp trách lễ nghĩa với nhau; những cảnh đời phụ nữ có cuộc sống như là nô lệ tại nhà chồng cũng chỉ vì não trạng kiểu “tam tòng tứ đức” vv. Suy cho cùng thì những người lớn cứ nằng nặc bắt trẻ con phải dữ lễ nghĩa kiểu như vậy cũng chỉ vì muốn thoả mãn cái tôi của mình, mà không đếm xỉa gì tới tình cảm, cảm giác của con cháu mình thế nào. Lễ nghĩa hình thức nếu chúng ta câu nệ quá, sẽ làm khổ con người, làm tan biến con người trong một mớ quy định, thay vì đặt con người làm trung tâm và làm chủ của tất cả.

Nhà trường không nên trưng khẩu hiệu

Tôi nghĩ trường học không nên trưng bất kỳ khẩu hiệu nào, hay áp đặt bất kỳ chủ nghĩa, học thuyết nào duy nhất cả. Giáo dục là thiết chế công, là nơi giao thoa của nhiều luồng tri thức, nhiều chủ thuyết, nhiều mô hình văn hoá, là nơi gặp gỡ của nhiều người với bản chất là “chín người mười ý”, nên phải là của chung, của công cộng. Vì là của chung nên không nên biến nhà trường thành công cụ riêng của bất cứ nhóm nào, khuynh hướng nào trong xã hội.

Chúng ta không nên đóng khung trẻ vào bất kỳ một thứ gì, bởi khi làm như vậy, chúng ta đã cản ngăn tầm nhìn của trẻ ra thế giới, đã dựng một vách tường hạn chế tư duy của trẻ. Hãy để cái đầu của giới trẻ tự do, không bị điều kiện hoá và không phải lệ thuộc vào bất kỳ thứ gì, để khi trưởng thành, trẻ sẽ tự sử dụng lý trí với những kiến thức và phương pháp được trang bị, tự chọn cho mình một lối đi, thiết kế cho mình một kế hoạch cuộc đời.

Sự tự do cũng là điều kiện cần để có thể phản biện, để có thể phát minh, sáng tạo ra những thứ mới. Bên cạnh tự do, chúng ta hãy dạy cho trẻ trách nhiệm về những gì mình làm, mình chọn lựa. Để có thể sống chung và góp phần phát triển xã hội, chúng ta hãy dạy cho trẻ các kỹ năng thương lượng, có chính kiến, nhưng cũng biết biết nhân ái và tôn trọng sự khác biệt. Tôi nghĩ đó mới là “phần mềm” cần cho những công dân tương lại trong thời đại dân chủ, hội nhập và toàn cầu hoá ngày nay, chứ không phải chữ lễ của Nho giáo.

Nhân quả

Hỏi: Kính thưa Thầy! Con có một số điều trăn trở, mong Thầy tháo gỡ giải tỏa cho con.

Đạo Phật dựa trên cơ sở nhân quả và luân hồi. Mặc dù con đã đọc các cuốn sách của Thầy viết, như cái niềm tin trong con nó chưa được lớn, vì vậy sự buông xả còn kém cỏi, sự tu tập còn lười biếng. Con từ nhỏ tới nay, vẫn cứ cho rằng: “Con người chỉ sống có một lần, sau khi chết tất cả đều tan hoại”, đó là vì con đã tiếp thu những tư tưởng duy vật biện chứng. Con đã đọc: “Kinh Nhân Quả Ba Đời” nhưng con vẫn thấy nó mơ hồ trừu tượng nên con không tin.

Đáp: Kinh sách Nhân Quả Ba Đời là kinh sách hệ phái phát triển, kinh sách này luận về nhân quả thiếu tính khoa học nên lý luận mơ hồ, không thực tế, có vẻ hoang đường, làm mất tính chất đạo đức nhân bản - nhân quả của luật nhân quả. Người có sự hiểu biết về khoa học và chuộng sự thật thì không thể nào tin nhân quả theo kiểu lý luận mơ hồ, trừu tượng, đầy sự hoang đường mê tín lạc hậu này được. Đọc kinh sách phát triển phần nhiều là những lý luận mơ hồ trừu tượng mê tín đẫy đầy không có cuốn kinh nào mà không có. Cho nên, kinh sách phát triển làm mất lòng tin của mọi người với Phật giáo. Con cũng bị ảnh hưởng đó, chính vì con đã học về triết học duy vật biện chứng, nên con không thể tin những điều mơ hồ trừu tượng được, Phải không con?

Muốn biết rõ nhân quả như thật thì chúng ta phải tự hỏi: “Khi người chết cái gì còn lại?”.

Đức Phật đã xác định điều này rất rõ ràng: “Khi người chết toàn bộ thân ngũ uẩn đều tan rã không còn một vật gì tồn tại”. Vậy, không còn một vật gì tồn tại, sao đạo Phật còn chủ trương thuyết tái sanh luân hồi và như vậy có mâu thuẫn nhau không?

Thưa các bạn! Đạo Phật không mâu thuẫn. Khi con người còn sống hằng ngày luôn luôn hoạt động theo tâm tham, sân, si của mình, do mỗi hành động thân, miệng, ý phóng xuất ra những từ trường thiện hay ác (từ trường là một danh từ vật lý tạm dùng để mọi người dễ hiểu, chứ nghĩa của danh từ “từ trường” chưa đúng hẳn) khắp nơi trong bầu khí quyển. Theo luật nhân quả thì từ trường ấy được gọi là nghiệp. Cho nên, con người chết là mất hết chỉ còn nghiệp (từ trường) thiện ác, nghiệp thiện ác không phải là linh hồn, thần thức hay Phật tánh.

Hầu hết mọi người, có tôn giáo hay không tôn giáo, luôn cả các nhà Đại Thừa hiện đang có mặt trên hành tinh này, đều không hiểu lý duyên hợp duyên sinh, do đó tưởng khi người chết còn có linh hồn, thần thức, Phật tánh, tiểu ngã, bản thể v.v.. là một vật thường hằng mang theo nghiệp đi tái sanh luân hồi, điều hiểu biết này là ảo tưởng, mê tín, không đúng sự thật, không có tính khoa học, là sai. Sự hiểu biết này, đức Phật gọi “Chấp thường”. Còn có một số người dựa vào duy vật biện chứng, cho con người mất là mất cả, chỉ có một đời này mà thôi. Sự hiểu biết như vậy, đức Phật gọi là “chấp đoạn”.

Những triết thuyết chấp thường, chấp đoạn là những triết thuyết còn mơ hồ chưa hiểu biết rõ về môi trường sống trên hành tinh này. Môi trường sống trên hành tinh này có nhiều chất liệu, có chất liệu có hình sắc, có chất liệu không hình sắc mà đức Phật gọi chung là “các duyên”. Cho nên, giáo lý nhà Phật gọi môi trường sống trên hành tinh này là “thế giới duyên hợp”. Có duyên hợp mới sinh ra muôn loài, muôn vật, có duyên hợp mới tạo thành thế giới, không duyên hợp thì không có thế giới. Do thuyết nhân duyên mà đạo Phật đã xác định được con người từ đâu sinh ra và chết đi về đâu rất khoa học mà không có một khoa học hay một triết học nào bắt bẻ được, vì đó là một sự thật, một sự thật do sự tu chứng đã thấy rõ như thấy những chỉ trong lòng bàn tay.

Đạo Phật chấp nhận thuyết tái sanh luân hồi, vì khi con người chết thì mất hết nhưng những nghiệp (từ trường) này không mất, do nghiệp này không mất nên tương ưng với tâm tham, sân, si của người khác hợp đủ duyên tạo thành thai nhi. Cho nên, đạo Phật gọi là “nghiệp tái sanh luân hồi”, chứ không gọi “nghiệp đi tái sanh luân hồi”. Kinh sách Đại Thừa gọi nghiệp đi tái sanh luân hồi là sai, vì nghiệp là từ trường nên bất cứ nơi đâu trong bầu khí quyển đều có nó, do đó từ trường không đến không đi, chỉ có hợp đúng thời, đúng duyên là tái sinh luân hồi tức khắc.

QUI LUẬT NHÂN QUẢ

Kính gửi: Cháu Trang

Vạn vật được sinh ra đều phải theo qui luật của nhân quả, không có một vật nào ra khỏi qui luật này. Cho nên có những người hung ác thì cũng phải có những người hiền lành; có những người giàu sang thì cũng phải có những người nghèo hèn; có những người sung sướng thì cũng phải có những người khổ đau; có những người tốt thì cũng phải có những người xấu; có những người quyền cao chức trọng thì cũng phải có những người cùng đinh mạt hạng; có những người chung thủy không lỗi đạo, thì cũng phải có những người không chung thủy lỗi đạo v.v…

Trên đời này mọi sự xảy ra đều do nhân quả sắp xếp. Nhân quả sắp xếp là do tiền kiếp không khéo gieo duyên thiện nên đời này phải trả quả khổ. Nếu trả vay không khéo thì lại vay trả mãi mà không hết. Hoàn cảnh của con xảy ra cũng vậy. Con có biết không?

Cuộc đời quá éo le, tưởng đâu có chồng con để hôm sớm cùng nhau, khi tối lửa lúc tắt đèn, để chia vui sẻ buồn, để an ủi cho nhau khi khổ đau, khi tai nạn và chăm sóc nhau khi đau ốm, bệnh tật v.v..

Nhưng nào ngờ nhân quả quá khắc nghiệt con gặp phải nhân quả không tốt, nên đành phải chịu những nỗi khổ đau riêng mình, phải nuôi và dạy con, phải lo gia đình trước sau một thân mình, phải gánh chịu sự cô đơn, chỉ có một mình quạnh hiu, biết tâm sự cùng ai, biết ai hiểu mình mà tâm sự. Phải không con?

Người xưa bảo: “Làm thân con gái có 12 bến nước, gặp bến trong thì nhờ, gặp bến đục thì chịu”, biết than thở cùng ai!

Đời con là một bến đục, có chồng mà cũng như không. Chồng lo cho chồng, chẳng nghĩ gì đến vợ, chẳng đái hoài gì đến các con, chỉ lo cho bản thân mình, lo cho người khác, để lại một gánh nặng nuôi dạy hai trẻ thơ, khi bệnh tật, khi tai nạn, lúc tối lửa khi tắt đèn, chỉ có một mình thật là khổ đau vô cùng, vô tận. Trước sau chỉ một mình lo toan biết nói gì đây, nói với ai bây giờ? Nghẹn ngào nước mắt cứ tuôn tràn như dòng suối đời khổ đau chạy mãi về phương trời vô tận. Nếu không có hai trẻ thơ này là nguồn an ủi thì phỏng chừng con có sống được hay không? Đêm nằm nghĩ tới nghĩ lui; đời người sống thật vô vị chẳng có gì là nghĩa, là tình, là hạnh phúc cả?

Sống mà như chết. Sao con người ở đời bạc bẽo và độc ác đến thế! Bạc bẽo và độc ác hơn lòai thú vật. Loài chim quốc khi chim đực mất chim cái kêu suốt thâu đêm tiếng kêu thương não nùng ai oán, chim cái không còn thiết tha ăn uống nữa, lần hồi chim cái chết theo chồng; chim đực cũng vậy khi chim cái bị lưới rập, bị bắn chết, chim đực cũng kêu suốt ngày đêm tiếng kêu thương từ trái tim chung thủy vang lên không gian một tình thương bất diệt, cho đến khi sức tàn, lực kiệt chim đực cũng chết theo chim cái. Ôi! Thật là lòai chim sống mà chung tình đến thế! Xét lại con người thì sao? Con người sao mà manh tâm giả dối lường gạt vợ con, lan chạ kẻ khác mà không biết xấu, mặt chai mày đá, nay người này, mai người khác như như loài gia súc v.v…

Biết bao cảnh đời ngang trái, biết bao nhiêu thương đau, làm sao kể cho xiết. Ai làm ra? Lòng tham dục đấy con ạ!

Ở đời ai là người hiểu đạo đức? Ai là người thấy trách nhiệm và bổn phận làm người sống không không làm khổ mình, khổ người? Ai là người biết hy sinh cá nhân mình để làm tròn bổn phận làm cha, làm mẹ. Tội nghiệp thay cho những đức trẻ mồ côi cha hoặc mồ côi mẹ hoặc mồ côi cả hai. Nhất là chúng ta cũng không thể cầm được những giọt nước mắt thương đau cho những đức trẻ vẫn còn cha lẫn mẹ, nhưng vì ích kỷ cá nhân, cha và mẹ chúng đắm đuối đam mê danh, lợi và sắc dục, đành ly dị bỏ vợ, bỏ chồng, bỏ con chạy theo nhân tình thế thái. Mặc cho những đứa trẻ thơ vô tội sống ra sao cũng mặc, họ vẫn thản nhiên như những người xa lạ, họ xa lìa nhau, đành đoạn bỏ mặc những đứa bé bơ vơ, thiếu tình cha chăm sóc, thiếu lòng mẹ thương âu yếm. Vậy tình thương chăm sóc của cha bây giờ ở đâu? Lòng thương âu yếm của mẹ ở chỗ nào? Những đức trẻ thơ đang chờ đợi, đang mong ngóng từng ngày!!! Nhưng vô cùng tuyệt vọng. Cha như cánh chim trời lộng gió, mẹ thì thui thủi một mình bên các con. Ai là người sinh ra chúng? Ai là người mang nặng đẻ đau? Ai là người nuôi nấng chúng lớn khôn nên người v.v… Tương lai của chúng ra sao? Mờ mịt đen tối. Tội nghiệp thay biết nói gì đây!

Nhìn những cháu bé, con của những người khác đang cấp sách đến trường đang tốt nghiệp Đại học, còn con mình hiện giờ thì ra sao? Mình có gánh vác nổi hay không, hay để chúng thất học như những đứa trẻ khác. Ôi! Càng nghĩ, ruột đau như ai cắt từng đọan. Thương thân phận bạc phần vô phước. Sống mà tương lai một mầu đen tối, không có chút hy vọng nào mà hòan cảnh xảy ra còn khổ đau nhiều hơn, nhiều hơn nữa.

“Trách ai bẻ gánh cang thường,
Để cho phận thiếp giữa đường bơ vơ”

Đừng buồn nữa con ạ! Hãy vui lên để mà sống, sống xem cuộc đời tràn đầy ác pháp, sống để chuyển biến nhân quả, đừng để nhân quả chuyển biến tâm con, Phải không con?

Hãy can đảm, đầy đủ nghị lực, đứng lên bằng hai chân của mình, chiến đấu tận cùng với bao nhiêu nghịch cảnh, đừng sợ hãi con ạ! Bên con còn có những người cảm thông những nỗi khổ u hoài trong con, sẵn sàng an ủi, khích lệ giúp con dũng cảm tiến lên, vượt thoát đường đời đầy chông gai cay đắng.

Muốn chuyển đổi sự đau khổ không gì bằng là tâm phải an vui, tâm phải nhìn thẳng vào cuộc đời. Đời toàn là ác pháp, là đau khổ như vậy. Đời mấy ai thương ai chân thật, thương sao làm khổ nhau quá vậy? Thương sao tạo cảnh khổ cho nhau…

Hãy tha thứ cho những người làm con khổ đau, hãy buông xuống những gì đang đau khổ trong lòng con.

“Buông xuống đi! Hãy buông xuống đi!
Chớ giữ làm chi có ích gì.
Thở ra chẳng lại còn chi nữa
Vạn sự vô thường buông xuống đi!”

Buông xuống tất cả mọi đau khổ trong lòng con thì ngay đó tâm con sẽ thấy an vui, thanh thản. Phải không con?

Còn nếu con không sáng suốt cứ ôm ắp mãi trong lòng những nỗi đau thương thì con phải chịu lấy sự khổ đau ấy, đấy là con bị qui luật của nhân quả chuyển biến và đang trả quả khổ đau. Còn nếu con xem đó là một điều hiển nhiên trong giai đoạn xã hội loài người đang bế tắc đạo đức nhân bản làm người. Vì thế con người ngày nay cứ mãi làm khổ cho nhau. Phải không con?

Chuyện đời có gì buồn đâu con ạ! Tất cả đều vô thường, nhà cửa, của cải, tài sản đều vô thường ngay cả bản thân của con cũng vô thường. Có ai giữ của cải, châu báu, ngọc ngà mãi đâu con! Khi xuôi tay trở về lòng đất thì có ai còn mang theo được những gì, ngay thân này còn phải bỏ, có gì giữ gìn được đâu mà không buông xuống phải không con?

Buông xuống để tâm hồn thanh thản, an vui; buông xuống để xem những người làm ác gây đau thương, rồi họ sẽ đi về đâu?

Buông xuống, buông xuống để giòng nước mắt con thôi chảy, để con còn đủ sức khỏe nuôi và dạy dỗ hai đứa con thơ dại đang nương vào đôi cánh tay yếu đuối của người mẹ thân thương, chúng còn biết trông cậy vào ai hỡi con?

Hãy nghe lời Thầy con ạ! Con hãy tự thắp đuốc lên, soi mà đường đi, con đường buông xả, con đường thanh thản, an lạc và vô sự, con đường hạnh phúc vô cùng con ạ! Ngoài con ra không còn ai giúp con được. Hãy mạnh dạn đứng lên con ạ! Đừng yếu đuối, hãy nhìn thẳng về phía trước. Dù đường đời có cay đắng khắc nghiệt bao nhiêu, con hãy xem nó như một tuồng cải lương trên sân khấu. Có gì thật đâu mà buồn khổ. Phải không con! Một trò diễn xuất của nhân quả có đáng gì cho con phải bận tâm đau lòng.

Cảnh đời đen bạc, đó là những việc thường xảy ra trong cuộc đời này, có gì mà phải bận tâm con ạ! Nó đến rồi nó sẽ đi, chỉ cần giữ gìn tâm bất động trước nó là nó chuyển đổi được sự khổ đau thành sự an vui ngay liền. Hãy nghe lời Thầy đi con!

Thăm và chúc con đầy đủ nghị lực vượt qua những điều cay đắng của cuộc đời.

Kính thư

Thầy của con.

Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sưu tập (tạm thời) sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã download từ các trang web trên, bạn có thể tải về: Click tại đây