Friday, October 17, 2014

Tưởng lực

Hỏi: Kính thưa Thầy, con có một cô em gái cũng bị Ngài phạt, Ngài trói ghì cánh khuỷu tay nhưng không có dây. Và trói đầu chặt lắm không gỡ ra được. Chính miệng cô em con nói ra như vậy. Chúng con là người vô minh không hiểu. Vậy chúng con tha thiết kính xin Thầy giảng giải cho chúng con hiểu rõ?

Đáp: Cô em gái của con là người chịu ảnh hưởng mê tín nặng, nghe đâu thì dễ tin theo đó, có nghĩa là cô em của con rất tin có linh hồn người chết, do lòng tin ấy mà tưởng uẩn của cô rất bén nhạy, thường hoạt động thay cho ý thức.

Vì thế ý thức thường nhường lại cho tưởng thức làm việc cho nên tâm tính cô em thường sống trong niềm tin hơn là sống với lý trí phân biệt phán xét. Do đó cô bị tưởng lực của chính cô tạo ra trạng thái như bị trói chặt hai khuỷu tay của cô.

Sự bị trói hai khuỷu tay của cô em là một trạng thái tưởng của cô em và chính cô không những cảm giác và còn thấy mình đang bị trói rất chặt. Mọi người bên ngoài không hiểu tưởng là có (Thần Tàu) bắt phạt cô em của con vì đã có sự lầm lỗi với Ngài.

Với trường hợp này xảy ra khiến cho mọi người ai nấy đều tin có thần, Thánh, ma, quỷ và linh hồn người chết thật sự. Nói chung là nhờ có những trạng thái của tưởng uẩn hoạt động một cách mầu nhiệm mà trí hữu hạn của con người không thấu rõ được. Do đó thế giới siêu hình mới thành hình.

Thế giới siêu hình không thể lấy ý thức mà hiểu nó được, không thể phân tích bằng phương pháp khoa học như khám phá phân tích vạn vật bằng phương pháp vật lý hoá học của thế giới hữu hình được. Cho nên khoa học và trí hữu hạn của con người phải đành bó tay trước những hiện tượng kì lạ của tưởng uẩn (tưởng thức).

Cái kì lạ của thế giới siêu hình chứ sự thật thì không có kì lạ gì hết. Vì ý thức của con người bị hạn cuộc bởi thời gian và không gian. Còn tưởng thức thì không bị hạn cuộc bởi không gian và thời gian nên nó mầu nhiệm với ý thức mà không mầu nhiệm với tưởng thức, với tâm thức. Sự linh thiêng của thế giới siêu hình đối với hạng người tin nó, còn những người không tin thì không có thiêng.

Người sống trong trí tuệ ý thức thì không bao giờ tin có thế giới siêu hình, là những người không mê tín.

Người thường sống trong trí tuệ tưởng thức là người tin có thế giới siêu hình, là những người mê tín.

Một người đang sống thì luôn luôn có hai thế giới hữu hình và vô hình, khi chết thì hai thế giới này cũng không còn. Người chết là tất cả đều hết. Hành động nhân quả hằng ngày đều trả về nhân quả. Và tất cả những hành động nhân quả ấy tiếp tục lại luân hồi tái sanh làm chúng sanh khác, thứ hai, thứ ba và thứ vô lượng kiếp.

Người nào tin có thế giới siêu hình là người sống trong tưởng thức, phán xét bằng tưởng tuệ, là người không trí tuệ, thường sống trong ảo ảnh, mơ hồ, trừu tượng, thiếu thực tế, thiếu khoa học. Còn người không tin có thế giới siêu hình là người sống trong ý thức. Người có trí tuệ, người có óc khoa học, thích sống thực tế.

Người sống trong tưởng tuệ thường bị người khác lừa đảo, thường sống trong cảnh khổ đau hơn người sống trong trí tuệ. Bệnh tật, tai nạn xảy ra thì những người sống trong tưởng thức khổ đau nhiều hơn người sống trong ý thức.

Người sống trong tưởng thức thường tốn hao tiền của một cách ngu si, “tiền mất tật mang.” Còn người sống trong ý thức khó ai lừa đảo họ được. Chính những nhà ngoại cảm, đồng cốt, các tôn giáo và các hệ phái tư tưởng mang màu sắc siêu hình khác nhau đều bị sự lừa đảo của tưởng thức mà họ không hề hay biết.

Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây 

Thursday, October 16, 2014

Không dự tính

Chúng ta hãy đọc kỹ những đoạn kinh Tương Ưng dưới đây để biết hành động sống của chúng ta có giải thoát hay không giải thoát làm việc thiện có lợi ích phước báo hay không mà đức Phật đã dạy: “Này các thầy tỳ kheo, nếu người nào còn bị vô minh chi phối, dự tính làm phước lành, thức của người ấy đi đến phuớc lành, nếu người ấy dự tính làm phi phước lành, thức của người ấy đi đến phi phước lành. Nếu người ấy dự tính làm bất động lành, thức của người ấy đi đến bất động lành”.

Qua lời dạy này chúng ta thấy rất rõ, nếu một người tu sĩ làm việc thiện thì tâm người ấy hướng về việc thiện chớ không thể hướng về giải thoát được cũng như làm một việc bất thiện thì tâm người ấy hướng việc bất thiện chớ không thể hướng về sự giải thoát được.

Cho nên ở đây chúng ta dựa theo nhân quả mà xét một người tu sĩ thì biết họ tu tập giải thoát hay không giải thoát.

Làm việc thiện thì hưởng phước báo của việc thiện, làm việc ác thì phải thọ chịu quả khổ đau của việc làm ác đó. Không thể làm một việc này mà hưởng kết quả một việc khác được.

Nếu chúng ta đoạn tận VÔ MINH thì chúng ta có giải thoát như lời đức Phật dạy: “Này các thầy tỳ kheo, khi nào vị tỳ kheo đoạn tận vô minh, minh được  sanh khởi. Vị ấy do vô minh đoạn tận, minh sanh khởi, không dự tính làm phước lành không dự tính làm phi phước lành, không dự tính làm bất động lành. Do không có dự tính, không có dụng ý vị ấy không chấp thủ một sự gì ở đời.  Không chấp thủ, vị ấy không sợ hãi. Không sợ hãi vị ấy hoàn toàn tịch tịnh. Vị ấy biết rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa”.(150 Tương Ưng tập 2)

Đọc qua lời của Phật trên đây chúng ta hiểu rất rõ. Đức Phật không có dạy chúng  ta lạy lễ Phật nhiều để lập công bồi đức mà cũng không dạy chúng ta làm việc thiện để được hưởng phước báo rồi mới diệt VÔ MINH để được giải thoát mà đức Phật dạy: muốn giải thoát thì ngay đó phải vào diệt VÔ MINH. Diệt VÔ MINH thì không còn chấp thủ bất cứ một pháp nào dù thiện hay các. Không chấp thủ thì không còn sợ hãi mà không còn sợ hãi thì tâm hoàn toàn tịch tịnh. Tâm hoàn toàn tịch tịnh thì “sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm, đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa”.

Lời đức Phật dạy trên đây rất rõ, nếu một người còn VÔ MINH mà đem hết sức mình ra làm những việc thiện để cầu được phước báo nhân thiên; để cầu hưởng được những công đức lợi lạc cho mình cho người; để được sự an vui giải thoát. Điều này không bao giờ có. Vì còn VÔ MINH nên dù làm thiện pháp hay phi pháp đều  không giải thoát chỉ uổng phí cho một đời tu tập mà thôi.

 Vì còn VÔ MINH nên dù làm điều thiện vẫn bị còn chấp thủ, do chấp thủ làm thiện nên người ấy thường sợ hãi, do sợ hãi nên không giải thoát. Có đúng như vậy không quý vị?

Cho nên một người đoạn tận VÔ MINH làm những việc gì họ đều không chấp thủ, do không chấp thủ nên họ không sợ hãi. Không sợ hãi nên được giải thoát. Những lời dạy trên đây của đức Phật rất  là chí lý và quan trọng, nếu chúng ta chỉ cần phá vỡ VÔ MINH đạt được MINH thì giải thoát hoàn toàn, vì tâm chúng ta không còn chấp thủ nên MINH mới có, còn chấp thủ thì MINH không bao giờ có.

Cho nên, tâm còn sợ hãi là tâm còn chấp thủ. Tâm còn chấp thủ là tâm VÔ MINH. Một người chưa biết, chưa tu học theo Phật pháp thì còn VÔ MINH, cho nên mọi người trên thế gian còn khổ đau là do chấp thủ nên hoàn toàn họ còn VÔ MINH.

Trong 12 nhân duyên quan trọng nhất VÔ MINH và MINH nhờ đó chúng ta mới dễ xác nhận một người chứng đạo và một người chưa chứng đạo. Chứng đạo là một người phải sạch VÔ MINH, khi VÔ MINH sạch thì minh hiện tiền.

Một người chứng đạo ai chửi mắng hay làm bất cứ một việc gì họ vẫn thản nhiên TÂM BẤT ĐỘNG, còn một người chưa chứng đạo thì đụng việc cũng dễ sân hận, dễ phiền não v.v.. Khi tâm còn phiền não sân hận là còn VÔ MINH, khi nào tâm hết sân hận, hết phiền não là MINH.

Bởi còn DỰ TÍNH làm việc này việc khác là còn CHẤP THỦ nên còn VÔ MINH, ngược lại làm một việc gì chúng ta cần làm là cứ làm chớ đừng dự tính. Làm trong sáng suốt việc gì làm ra việc việc nấy và thành công tốt đẹp, đó là làm trong MINH. Cho nên làm trong MINH là làm không có DỰ TÍNH trước. Trong hiện tại thấy điều gì cần làm là cứ làm đó là làm việc trong MINH. Do làm không DỰ TÍNH nên không chấp thủ, không chấp thủ thì không sợ hãi, không sợ hãi thì giải thoát hoàn toàn.

Trưởng lão Thích Thông Lạc
Trích 12 Cửa Vào Đạo. Nxb Tôn Giáo, 2010

Tại sao tâm luôn luôn động?

A. Trong kinh "Tứ Diệu Đế" Đức Phật đã nói rõ "Bản chất của cuộc đời này là khổ đau", “Nguyên nhân khổ chính là dục”. Dục nghĩa là tham muốn. Khi sống còn có tham muốn thì tâm luôn luôn động, không bao giờ bất động. Do có quá nhiều tham muốn, tâm con người không bao giờ ngừng suy nghĩ, tính toán, lo lắng, bất an, sân giận, nghi ngờ, sợ hãi và buồn phiền.

Khi sống không còn tham muốn thì tâm sẽ bất động. Ví dụ:

1. Tâm tham muốn ăn uống món này món nọ, lúc nào cũng nghĩ đến ăn uống, thích ăn nhiều lần, thích ăn vặt, ăn phi thời, đi đâu làm gì cũng nghĩ đến ăn uống, thích đi chợ, thích nấu chế biến món ăn, thích ăn những món ăn bổ dưỡng,...

2. Tâm tham ngủ, ngủ hết giờ này đến giờ khác, ăn xong rồi ngủ, nướng qua nướng lại,... ngủ phi thời, giờ nào ngủ cũng được.

3. Tâm tham muốn có vật này vật nọ, thấy vật nào đẹp cũng thích, thấy người khác có vật gì thì cũng muốn có, thích mua sắm, để dành, tích trữ, trưng bày đầy nhà,…

4. Tâm tham muốn danh vọng, quyền lực, chức vị, bằng cấp, bằng khen, thích thi đua, thích đứng nhất, đứng đầu bảng, thích khoe khoang, muốn cả thế giới biết được những gì mình làm được, muốn có địa vị cao hơn người khác. Ham thích lãnh đạo, chỉ đạo người khác, thích người khác nghe theo ý của mình, muốn người khác nghe lời mình, làm theo ý mình, muốn người khác tôn sùng mình, tự cho mình là đúng, luôn bảo vệ ý của mình, tự cho là giỏi, là tài, là thông minh, trở nên độc tài, độc đoán, độc quyền, thích phán xét, bình luận, châm biếm, thích so sánh mình với người khác, chỉ trích người khác, kiêu căng, tự mãn, cao ngạo, xem thường người khác,....

5. Tâm tham muốn có nhiều tiền, trúng số, may mắn, buôn bán giàu có, có nhiều của cải tài sản, nhà cửa, đất đai, thích đầu tư, tích trữ, muốn giàu có hơn người khác, muốn làm giàu bằng con đường cờ bạc, đánh đề, cá độ, buôn lậu, khai gian trốn thuế, lừa gạt người khác,...

6. Tâm ham thích kiếm tiền, làm đủ mọi nghề, suốt ngày tính toán lãi lỗ, được mất, đặt mục tiêu, lên kế hoạch, lo lắng tổ chức, quản lý, kiểm tra, doanh thu, chi tiêu, đạt chỉ số đề ra,....

7. Tâm ham thích quản lý tiền bạc, kiểm tra tiền bạc.

8. Tâm tham muốn học nhiều môn, muốn hơn người khác, muốn giỏi hơn người khác, muốn thông minh, muốn hiểu biết nhiều hơn người khác.

9. Tâm muốn có người yêu, có vợ, có chồng, có con, có cháu, có gia đình, có người thân, có nhiều bạn bè, có nhiều quan hệ rộng; cha mẹ muốn quản lý con cái và phải nghe lời cha mẹ; con cái muốn tự do; vợ muốn quản lý chồng và phải nghe lời, làm theo ý vợ, bênh vực vợ, đứng về phía vợ; ngược lại chồng cũng vậy,...

10. Tâm tham muốn sắc dục, luôn mơ tưởng đến nữ sắc, bị nhục dục chi phối,...

11. Tâm muốn nuôi các loài vật, muốn trồng nhiều loại bông hoa đẹp, thích đẹp ghét xấu,...

12. Tâm muốn làm cái này, cái nọ, không thích ở yên một chổ, thích hoạt động tay chân, thích lái xe đi đây đó,…

13. Tâm ham thích sáng tạo, chế tạo, phát minh, cải tiến, nghiên cứu, viết sách, viết thơ, viết truyện, viết lách, thích chia sẻ những hiểu biết của mình,…

14. Tâm ham thích đi chơi đây đó, đi du lịch, đi dã ngoại, đi ra biển, leo núi, thích chụp hình, thích vẽ tranh, đánh đàn…

15. Tâm thích xem phim ảnh, nghe ca nhạc, thích ca hát, thích tài tử, thích ca sĩ, vào mạng internet, thích nghe tin tức, đọc báo,…

16. Tâm thích uống rượu bia nhậu nhẹt, ăn chơi, thích đời sống hưởng thụ của vua chúa,…

17. Tâm thích người khác phái, thích ghét ai đó, giận ai đó, oán hận ai đó, trách móc ai đó, lo lắng cho ai đó, nhớ thương ai đó hoặc các loài vật nào đó,…

18. Tâm nhiều chuyện, thích để ý chuyện người khác, tò mò chuyện người khác, không biết giữ kín chuyện, thích bàn chuyện thiên hạ, hay phóng đại nghe một nói hai, thích tụ họp đông người bàn chuyện thiên hạ, thích bàn chuyện kinh tế, chính trị, quốc tế, chuyện đông, chuyện tây,...

19. Tâm thích đem chuyện của người này nói cho người khác nghe.

20. Tâm thích nghe chuyện của người khác, thích hỏi về chuyện của người khác, thích nói chuyện về người khác. 

21. Tâm thích xen vào chuyện của người khác, thích dạy đời người khác. Chuyện của mình là tu hành, không chịu lo, chỉ lo chuyện chùa, tu viện, chuyện quản lý, chuyện tài chánh, chuyện cơm nước, chuyện của người quản lý,...

22. Tâm thích phán xét, nhận xét người khác đúng sai, phải trái,...

23. Tâm thích tìm hiểu, moi móc chuyện quá khứ, thích tìm đáp án cho những câu hỏi "có" hay "không", "thật" hay "giả", "đúng" hay "sai", "phải" hay "trái". Dù là chuyện tốt hay xấu, hãy để quá khứ trôi đi. Chỉ cần sống trong hiện tại và chú trọng mục tiêu của mình. Dù ai nói gì, làm gì, chuyện của người khác để người khác lo, họ có lý do chính đáng để làm việc hay nói điều đó, ta không nên đứng trên lập trường của mình mà phán xét ai đúng sai, phải trái, thật giả,... Việc ta nên làm là luôn tư duy thiện, tư duy tốt và tích cực về những điều người khác nói và làm. Biết buông xuống hết thì tìm thấy sự thanh thản trong tâm hồn.

24. Tâm thích nghi ngờ người khác, không tin tưởng ai,...

25. Tâm thích khoe khoang những hiểu biết của mình,....

26. Tâm thích so sánh mình với người khác, luôn thấy mình hơn mọi người.

27. Tâm tham muốn có sức khỏe tốt, có thân hình đẹp, cao, nở nang, gương mặt đẹp, tướng tốt, thích trẻ mãi không già, muốn bất tử,...

28. Tâm ham thích sưu tầm những vật đẹp nhất, sang nhất, hiếm có nhất, cổ nhất, lạ nhất có giá trị nhất của những danh nhân thời cổ xưa,...

29. Tâm ham thích những chuyện tâm linh huyền bí, siêu hình, ham thích những trạng thái vắng lặng, tưởng là thiền định rồi bám vào, ham thích những khả năng siêu nhiên, những công năng đặc biệt, thần thông,...

30. Tâm ham thích những thú vui chơi, giải trí, chơi trò chơi,...

31. Tâm ham thích thờ lạy tôn thờ thần thánh,... 

32. Tâm ham thích làm việc từ thiện giúp đỡ người, phóng sanh, bố thí, chăm sóc người tàn tật, trẻ em mồ côi và người lớn tuổi,... 

33. Tâm ham thích những đồ vật có công nghệ cao như kỹ thuật số, công nghệ nano, công nghệ không dây wireless, TV HD 3D, laptop, ipad, iphone, smartphone, tablet, máy đọc sách, những vật điều khiển từ xa, robot,...

34. Tâm ham thích vào những trang xã hội facebook, twitter chơi, thích nhận gửi thơ điện tử email, viết blog,...

35. Tâm ham thích vào những diễn đàn để tranh luận, bàn luận, giải đáp, dạy đời người khác,...

36. Vân vân… và vân.vân…

Có tham muốn, có thích thì có ghét, không thỏa mãn những tham muốn của mình thì tâm sẽ sân giận, ganh tỵ; yêu không được thì hận hoặc trả thù; không muốn chia sẻ bố thí thì bủn xỉn, keo kiệt, gian tham, ích kỷ,... Tất cả những đức tính xấu đều bắt nguồn từ lòng tham muốn mà ra.

Từ những tham muốn trên mà con người luôn phải đấu tranh, tranh giành, chà đạp lên nhau, tự vệ, sợ hãi, lo lắng và phiền muộn. Nói đến cái sợ thì con người sợ đủ thứ trên đời: sợ nghèo, sợ đói, sợ già, sợ lúc về già không ai chăm sóc, sợ không có người thân bên cạnh, sợ bệnh, sợ đau đớn, sợ uống thuốc, sợ bác sĩ, sợ chết, sợ thất nghiệp, sợ xa nhau, sợ bị bỏ rơi, sợ chia tay, sợ bị mất người thương yêu, sợ gặp người mình không thích, sợ gặp kẻ thù, sợ bị hại, sợ bị mất của cải tài sản, sợ trộm cắp, sợ bị sát hại, sợ bị hãm hiếp, sợ thua người khác, sợ thất bại, sợ gian nan cực khổ, sợ bị mất công danh lợi lộc, sợ ma, sợ quỷ, sợ thần thánh, sợ cô đơn lẻ loi, sợ bóng tối, sợ sống một mình, sợ sự yên tĩnh, sợ người khác không làm theo ý mình, sợ đi xe, sợ độ cao, sợ tốc độ, sợ ánh sáng, sợ khổ cực, sợ mất ngủ, sợ không ăn được, sợ người khác khinh chê, sợ những lời đàm tiếu, sợ người khác nói xấu, nói cái sai, cái lỗi của mình, sợ các loài vật, ...

Khi sống trong tham muốn, sợ hãi, tâm sẽ mất lòng tin vào chính mình và người khác, luôn nghi ngờ, nghi kỵ nhau, nghĩ xấu về nhau, luôn tìm đủ mọi cách đạt được những gì mình muốn và có lợi cho mình. Sống trong những tâm tư như vậy, con người luôn phải tư duy suy nghĩ tìm đủ mọi cách để đạt được những gì mình muốn, bất chấp mọi thủ đoạn dù là giết người, trộm cắp, lường gạt, nói dối, ly gián, hãm hại nhau,...

B. Ngoài vấn đề chính như trên đã trình bày, còn thêm một nguyên nhân dẫn đến tâm luôn luôn động đó là "dính mắc". Có tham muốn là có dính mắc. Ngoài ra con người dính mắc rất nhiều thứ. Có dính mắc thì tâm sẽ động.

1. Dính mắc vào hoàn cảnh môi trường xung quanh, không vừa ý cái này, không vừa ý cái kia, sống không biết nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng. Ví dụ như chổ ở có muỗi, kiến, các loài côn trùng, rắn, cuốn chiếu,... nhiều quá. Chổ ở ẩm tối, ít nắng, hoặc nắng nhiều quá,...

2. Dính mắc vào những người sống xung quanh. Ví dụ: họ làm biếng làm việc, kéo dài thời gian, chỉ ngồi chơi cho hết ngày rồi về. Hoặc người này tu như thế này là không đúng, người kia cũng vậy. Hoặc người quản lý này không có đạo đức, đức hạnh mà được làm quản lý,...

3. Dính mắc vào lời nói, việc làm của người khác. Ví dụ: cách quản lý tiền bạc của tu viện, chùa không minh bạch, việc làm của người quản lý không đúng với những gì thầy dạy,...

4. Dính mắc vào những gì nghe hoặc đọc được. Khi nghe ông A nói về ông B như thế này, thế kia là tự nhiên bị dính mắc vào những lời nói đó rồi tìm cách đi tìm hiểu có phải đúng như vậy không? đánh giá, nhận xét, phán đoán mọi việc theo ý của mình đúng sai phải trái,...

5. Dính mắc vào những thành kiến, kiến chấp của mình về người khác. Tính cách của mỗi người luôn thay đổi, không có gì là không thay đổi. Hôm qua họ keo kiệt bủn xỉn, nhưng hôm nay có thể họ đã biết mở rộng tấm lòng ra bố thí, chia sẻ,...

6. Dính mắc vào những lỗi lầm trong quá khứ của ai đó. Có thể lúc xưa người đó hay sân, nhưng hiện tại có thể họ đã thay đổi rồi, chúng ta không nên cố chấp mà phải biết mọi việc là vô thường, không có gì bất biến trên đời này cả. v.v và v.v...

Chỉ có ai biết sống đời sống như đức Phật Thích Ca, buông xuống sạch tất cả, cắt ái ly gia, ba y một bát, sống khất thực từng ngày, ít muốn biết đủ, thích sống một mình,  luôn ly dục, ly ác pháp, không dính mắc vào bất cứ hoàn cảnh môi tường nào, điều gì, vật gì, người nào, lời nói hay việc làm của bất kỳ ai thì tâm sẽ tự nhiên thanh tịnh và trở nên bất động, thanh thản an lạc và vô sự. Không chịu buông xuống hết thì tự mình làm khổ mình và khổ người, tự mình đánh mất sự giải thoát, tự mình xô mình xuống địa ngục.

Sự bất động, thanh thản an lạc và vô sự của tâm là do từ bỏ những tham muốn, thích và ghét của mình chứ không phải do ngồi thiền, tụng kinh, hay niêm Phật. Đúng như lời Phật dạy trong chân lý thứ 3 của Tứ Diệu Đế - diệt dục thì tâm sẽ ở trạng thái bất động, thanh thản an lạc và vô sự. Trạng thái này gọi là Niết Bàn.

Để giúp cho tâm trở nên bất động thì phương pháp "Như Lý Tác Ý" rất quan trọng. Phương pháp này giúp cho tâm từ từ thuần phục trở về với chánh đạo, xa lìa tà đạo. Thiếu phương pháp Như lý tác ý thì tâm thường bị những ham muốn lôi kéo, không còn làm chủ mình nữa, lúc đó con người luôn sống trong nô lệ của những dục lạc tham muốn thế gian.

Ví dụ: khi tâm tham muốn ăn thêm ngoài giờ ăn chính, thì ta nhắc thầm trong đầu: "tâm phải bất động thanh thản an lạc và vô sự, không được tham ăn"

Tóm lại, muốn tâm không còn động nữa thì chỉ cần sống ly dục, ly ác pháp. Thế giới này là thế giới của tham sân si. Ai sống với tham, sân, si thì chắc chắn sẽ tương ưng với thế giới này, ai sống không tham, không sân, không si thì tương ưng với thế giới không tham sân si, không còn tái sanh luân hồi về thế giới này nữa.

Do vậy, khi chúng ta còn có tham, sân, si thì đừng mơ tưởng đến việc giải thoát khỏi thế giới tham sân si này. Do còn có tham sân si cho nên chúng ta rất dễ bị lừa gạt bởi những lý thuyết có thế giới siêu hình sau khi chết hoặc một thế giới Tây Phương Cực Lạc, thiên đàng, địa ngục. Thiên đàng, địa ngục là tại đây, chính ở thế gian này. Chỉ có chính mình cứu mình mà thôi.

Phi Mạnh

Khí phách hủ nho đắc đạo gì?

Các chuyên gia phương Tây đã đề ra một nguyên tắc mà cho đến nay nó hiển nhiên đúng và không thấy ai cãi lại được, đó là: Chỉ là hiểu biết khi nói ra được bằng mồm (tất nhiên điều này hàm chứa cả ngôn ngữ viết). Một người đi đăng ký cấp bằng sáng chế phát minh, người đó dứt khoát phải trình ra văn bản đã được viết để trình bày nội dung của nó, cũng là cách nó được nói chính thức bằng văn bản. Không ai cấp bằng phát minh cho những thành tựu còn nằm trong bụng. Tương tự không ai công nhận ý kiến của một người là hiểu biết hay độc đáo nếu người đó chưa nói ra.

Ngay việc hiểu biết theo lối chứng ngộ của Thiền, các chuyên gia bảo, đó là cách hiểu bằng trực giác thăng hoa, mà chưa phải hiểu bằng nhận thức. Khi thầy tác động một lực vào người tu sinh, tu sinh giật mình cảm được cái gì bí ẩn cao siêu, thì đó chỉ là trạng thái thăng hoa chứ không phải là hiểu biết. Bởi vì đã là hiểu biết, thì anh phải hiểu biết cái gì. Và cái hiểu đó phải được trình ra bằng lời. Trái lại, không thể có kiến thức còn nằm trong bụng, hoặc nói vớ vẩn rằng “tôi không thèm đọ nhau với anh”. Nhiều người Việt Nam học thói xấu của nhiều người Tàu, khi vừa tranh luận, trí tuệ rất nhỏ bé nhưng liền nói “con cá làm sao hiểu được đường bay của con chim”. Ở đây, ai là chim và ai là cá? Người Việt có câu “Khôn ngoan đối đáp người ngoài”, hoặc “khôn ngoan đến cửa quan mới biết”. Chứng tỏ: người ta chỉ có thể khôn ngoan thực sự khi ứng đối với bên ngoài nơi công đường, cũng là công lý, mới có thể tin. Trái lại khôn ngoan bẻm mép trong xó bếp thì để làm gì? Càng không phải khôn ngoan cái thứ vừa mở miệng đã dè bỉu công bằng và công lý. Bởi vì nếu không có công lý thì ai là trọng tài để cho anh là khôn ngoan tài giỏi? Khi đó không chỉ chứng tỏ trí tuệ thấp mà còn phơi ra tính trí trá lưu manh. Vậy thì chúng ta thử xem trí tuệ hủ nho đã thành đạt được những gì trong lịch sừ?

Vua chúa Trung Hoa suốt ngày nấp trong cung, muốn tránh nắng tránh mưa còn thích trò chơi chọi dế. Vua chúi đầu cùng vài cận thần xem hai con dế đấu nhau trên cái sân rộng bằng khăn mùi xoa, hai bên reo hò tung hô, còn cả trăm quần thần đứng xa tung hô con dế của vua tài ba dũng cảm quá! Điều đó không chỉ nói lên sự yếu hèn mà còn vô liêm sỉ tuyệt đối. Tại sao? Vì đám quần thần từ xa đâu có nhìn thấy gì mà reo hò tung hô? Đó chỉ là cách nịnh bợ tuyệt đối! Còn người chọi dế, nếu thấy con dế của mình sắp thắng con dế của nhà vua, thì phải tìm cách đánh nó làm sao để nói, “con dế của bệ hạ tài quá, con của thần thua rồi!” nếu không vậy, thì con dế chết, ông chủ của nó cũng chết theo. Đây có thể nói, là sự yếu hèn hết cỡ của vua chúa Trung Hoa, trong khi người phương Tây chơi những trò đua ngựa, thì vua chúa phương Đông lại chơi trò chọi dế như trẻ con. Điều này không chỉ võ đoán, mà chính lãnh tụ Tôn Trung Sơn đã mô tả cảnh tự hào mình lười biếng của người Tàu. Người ta để móng tay dài để khoe mình là người nhàn hạ. Trong cung làm gì có mưa nắng mà vua chúa vẫn rước ô che. Nước Tàu nhiều núi non nhất thế giới mà vua chúa vẫn phải chơi giả sơn mang ngọn núi bé như đồ chơi vào cung chỉ vì sợ ra ngoài có mưa nắng. Vì yếu ớt thế nên người ta rất lạc hậu. chỉ có vài chục cây súng trường xông vào cũng chiếm được Thiên An Môn, khi lâm nguy vua Phổ Nghi vẫn bốc cỏ trên bàn thờ để xem bói dịch. Sau sự kiện cuộc cách mạng đấm bốc dùng tay chân võ Tàu bị súng máy của phương Tây hạ như ngả rạ, Tôn Trung Sơn nói: kể từ đó người Hoa thần phục Tây Âu như thần thánh, từ cái bật lửa của Tây cũng là phép lạ, đến khẩu súng máy thì Tây Du ký cũng chưa nghĩ ra, lại còn ô tô, tầu thủy, máy bay đúng là những thứ của thần thánh… Đấy là kể sơ sơ. Giờ chúng ta thử điểm vài luận cứ chính xác:

1- Không có người phương Đông quyền quí nào lại để cho con cái chịu ân sủng của giáo dục phương Đông. Khi có điều kiện họ đều gửi con sang Âu Mỹ học. Các lãnh tụ Phương Đông thành công thường học ở Âu Mỹ. Pi-e đại đế của Nga từ xưa đã xác định nước Nga muốn tiến bộ thì dứt khoát phải theo phương Tây. Mới đây nhà tỉ phú Nga bị giam cầm cũng khẳng định “nước Nga dứt khoát phải theo phương Tây”.

2- Chỉ có 1/1000 người Trung Quốc đi du học phương Tây nhưng lại trở thành lãnh đạo tất cả các học viện ở trong nước.

3- Không người phương Tây nào thèm khát giải thưởng Á, Phi. Nhưng hầu hết người Á Phi đều ham muốn các giải thưởng của phương Tây.

Lãnh tụ Tôn Trung Sơn nói về cái lạc hậu của người Hoa như sau: không biết quốc tộc, chỉ biết đến gia tộc, già rồi vẫn nọc con ra lấy “gia pháp” là roi vụt như đánh trẻ con. Không biết đến các khái niệm “tự do, dân chủ, cá nhân”. Đời sống lấy cơm áo làm đầu. Đàn ông chịu bị thiến để ăn cơm vua. Đàn bà chịu bó chân để đùi nở mong làm thê thiếp nhà giầu.

Vì không biết đến phẩm chất cá nhân, người Tàu có khí độ rất hèn kém nô tài. Chơi cờ với vua làm sao tính toán để hòa, bởi thắng cũng chết, thua cũng chết nếu lộ rõ là nhường vua. Chỉ có giả đánh hòa toát mồ hôi thì may mới sống. Giang Thanh khi chơi bài với thư ký còn bảo “bài của đồng chí đẹp sao không đổi cho tôi?” Còn Mao Trạch Đông vì mặc cảm thất thế với Nga, nên khi mời Stalin sang, còn cố tình từ bể bơi lên muộn để tiếp Stalin bằng pi-ja-ma. Thật hết sức thiếu văn hóa. Trong bộ phim “Vòng cung Cuốc-xơ” người Nga nhắc đi nhắc lại câu “khôn vặt như người Trung Quốc”. Cái cách học chỉ tầm chương trích cú của Tàu, người phương Tây rất ít dùng, vì họ cho đấy là lối bám sát tiểu tiết mà bỏ qua ý lớn.

Chê bai cái xấu của người Tàu, không có nghĩa Việt Nam đã đẹp. Thậm chí cái xấu của họ là đại biểu cho cái xấu của Việt Nam, bởi lẽ Việt Nam chịu ảnh hưởng của Tàu rất nặng. Đặc biệt lớp hủ nho của Việt Nam còn cố cựu hơn cả Tàu, và Việt Nam thiếu những nhân vật giường cột mạnh mẽ làm hạt nhân cho đổi mới Tây học như Tôn Trung Sơn, Lỗ Tấn hay Gandhi, Tagore… Nhiều người Tây sang ta, nói rằng: Chùa Một Cột ở Hà Nội là chùa mô hình à, nghĩa là từ chùa đó để nhân ra cái to hơn? Còn vài người Nhật thì bảo: Ở Nhật Bản gia đình nào cũng có thể làm một cái như chùa Một Cột. Tại sao? Vì nó chỉ rộng hơn manh chiếu một tí, có gì phải cố gắng đặc biệt để làm ra nó?!

Người phương Tây dứt khoát rằng: không có cái gì vừa đi lại vừa đứng. Tư duy nước đôi là tư duy à uôm của nô tài theo kiểu đánh cờ với vua chỉ lo hòa. Tư duy này khiến trong tât cả các hội nghị quốc tế, ý kiến của châu Á không có gì đột phá hay sắc xảo, mà chỉ là ý kiến “toàn diện”. Nhà triết học Pháp Francois Jullien, một chuyên gia số một về châu Á, trong tác phẩm “Triết lý phương Đông và triết học phương Tây” đã phân tích: người Trung Quốc còn áp dụng lối sống nhạt nhẽo trong cuộc đời, đó là khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống. Và với phương châm đó, họ sống lúc nào cũng giấu mình nhạt nhẽo không để lộ ra cái gì xuất sắc cả để được cầu toàn. Ngay trong cả nghệ thuật người ta cũng áp dụng thứ nghệ thuật nhạt nhẽo để làm người khác không chú ý.

Và với tâm lý đó, người ta hầu như không thể sáng tác những tác phẩm lớn, mà chỉ làm mấy câu thơ tức cảnh sinh tình như đùa nghịch khoe chữ, cũng là khoe mình có học. Cả vạn bài thơ Đường là thời kỳ xuất sắc nhất của thơ Trung Hoa, cũng chỉ được các học giả của họ gọi là “những mảnh vụn lấp lánh”.

Mới đây chúng tôi dăm người ngồi tranh luận. Một bạn nói: Người Việt mình chủ yếu là âm khí, sống âm u, đi đâu cũng chỉ thấy hát xướng mua vui, rồi làm mấy vần thơ lèo tèo… Nước ta sao chưa trở thành cường quốc văn hóa? Bởi vì chúng ta có quá ít người làm những việc lớn. Tại sao không viết tác phẩm lớn, công trình lớn, vở kịch lớn, cuốn sách lớn đi, lại chỉ có vài mẩu thơ nhăm nhăm đem ra đọc. Thơ thì từ chối những giá trị công lý của loài người, chỉ đem cái cảm xúc nhỏ bé của cá nhân ra xướng họa, liệu có lớn được không? Sau đó thì lại ước mơ giải Nobel, bằng cách đi tìm những giải thưởng giành cho thơ và truyện ngắn… Chúng ta nên biết “Cái ngoại lệ lại khẳng định cái luật lệ”. Thế giới mỗi năm có một giải Nobel văn học, không có nghĩa mỗi năm có một Homer. Sau cả ngàn năm giải Nobel bé vẫn cứ là Nobel bé, mấy bài thơ không thể cựa mình thành tác phẩm lớn được. Về đề tài này, tôi sẽ viết hẳn một bài về giải thưởng Nobel, với chủ ý: giải Nobel không thoát nổi ý nghĩa mặt trận nhân sinh của con người. Và người Việt thì còn lâu mới được nằm trong bảng ưu tiên nhân sinh đó. Người Trung Quốc muốn gặt hai giải Nobel thì người ta cũng phải ào ạt chuyển từ thơ sang viết văn xuôi để đem những mảnh vụn lấp lánh đổi lấy những lâu đài đồ sộ. Còn lại mấy anh ti toe làm thơ cảm xúc Việt chớ nên ảo tưởng những mảnh vụn làm trong buổi tối của mình là những lâu đài. Cảm xúc luôn thay đổi chóng qua, nó chỉ là phù du, vì thế nó không bao giờ đóng vai ông chủ chinh phục của sáng tạo. Nó luôn luôn chỉ là đầy tớ mà thôi. Muốn có tác phẩm lớn người ta phải biết kiến trúc và lập trình bằng lý trí.

Nguyễn Hoàng Đức
Xem thêm: Hủ nho lại đòi nho nhe ngóc đầu

Cô đơn và những cái vòng luẩn quẩn...

Càng lớn con người phải chăng sẽ càng cảm thấy cô đơn? Khi bé, tôi chưa từng cảm thấy nỗi cô đơn lại đáng sợ đến vậy, hay chính xác là cũng chưa từng thực sự có cái cảm giác cô đơn ấy tồn tại trong cuộc sống. Khi bé, mọi chuyện thật là đơn giản biết bao. Ai đó cho bạn thứ đồ bạn thích, bạn vui vẻ. Ai đó không làm theo ý bạn, bạn bực dọc. Mọi cảm xúc có lẽ chỉ đơn giản như thế. Cuộc sống cứ mãi đơn giản như thế thì thật tốt biết bao?

Nhưng mà biết làm sao khi khi con người thay đổi? Lớn rồi, trưởng thành rồi, không biết nên nói là cảm xúc trở nên phong phú hơn hay con người trở nên yếu đuối hơn? Lớn rồi, sẽ biết đến cái gọi là tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn. Lớn rồi, cũng sẽ biết thế nào là cái cảm giác đứng giữa biển người mà lòng ta vẫn lạnh. Nhiều khi tôi không muốn trưởng thành, không muốn lớn, không muốn đón nhận cái sự phong phú trong cảm xúc như vậy. Tôi chỉ muốn lại trở lại là tôi của ngày còn bé, khi ấy, thật đơn giản.

Có người từng nói "Hồi bé, cứ nghĩ hạnh phúc thật đơn giản, lớn lên rồi mới thấy đơn giản mới chính là hạnh phúc". Lúc đầu còn chưa hiểu lắm, giờ thì đã hiểu thật rồi. Thế nào gọi là đơn giản? Mà làm thế nào để đơn giản được đây? Cuộc sống phức tạp, con người phức tạp, diễn biến tâm lí của con người lại càng phức tạp, biết tìm đâu ra một thứ đơn giản trong cuộc đời.

Lại nói "Cô đơn không phải là tự dưng đã có, cô đơn xuất hiện khi ta biết yêu một người". Thực ra, kể cả không yêu ai, con người vẫn sẽ có cảm giác cô đơn. Cô đơn không phải vì người mình yêu không quan tâm đến mình, mà cô đơn vì trái tim bỗng thấy lạnh, bỗng cảm thấy cần một chút hơi ấm nhưng lại không biết nên tìm hơi ấm đó ở đâu. Lúc đó mới hiểu à thì ra yêu đơn phương cũng chưa phải là cảm giác đáng sợ nhất, ít nhất bạn còn biết ai là người có thể mang lại cho bạn hơi ấm, dù nó không thuộc về bạn, nhưng bạn còn có cái để hướng về. Còn có một loại cảm giác đáng sợ hơn, chính là cảm giác "lạc". Không biết tìm kiếm cái hơi ấm trong truyền thuyết đó ở đâu. Hay chính là cái cảm giác. xung quanh rất ấm áp, hơi ấm ở mọi nơi nhưng bản thân bạn lại lạnh, lạnh vì bạn biết hơi ấm đó không thuộc về mình, không hướng về mình, không giành cho mình, và mình cũng không muốn đón nhận nó. Lúc đó, cảm giác của bạn sẽ là gì? Bạn có thể làm gì đây? Không bạn chẳng thể làm gì cả. Điều duy nhất bạn có thể làm là mở cửa trái tim để đón nhận sự cô đơn.

Có người hỏi bạn, bạn còn chờ đợi cái gì? Bạn cần một bàn tay, khi người ta đưa cho bạn một bàn tay rồi, vì sao bạn còn không nắm lấy? Đáp lại chính là khuôn mặt mờ mịt của bạn, không phải bạn không muốn mà là không thể. Vì sao không thể? Đến bản thân bạn cũng không biết là vì sao lại như thế. Chỉ đơn giản là bạn đã quay đi, chỉ đơn giản là bạn đã từ chối.

Bạn muốn kể với ai đó, bạn muốn nói với họ rằng bạn phải làm sao đây? Nhưng rồi bạn lại sợ. Bạn sợ bạn làm phiền đến họ, bạn sợ rằng nếu như bạn nói với họ, đối mặt với bạn sẽ là khuôn mặt chán ghét không muốn nghe của họ. Bạn cũng hiểu, ai cũng có vấn đề của mình, chẳng ai rảnh rỗi để suốt ngày nghe bạn nói về cái cảm giác cô đơn vớ vẩn gì đó. Thế là bạn lại khép cánh cửa trái tim mình vào. Thế là bạn lại lùi sâu hơn vào thế giới riêng của bạn, và thế là trái tim bạn lại lạnh đi mấy phần, và thế là bạn lại cô đơn hơn...

Nhưng rồi bạn lại nhận ra, ngày mai trời lại sáng phải không? Cô đơn rồi cũng sẽ có ngày bỏ bạn mà đi chứ? Quan trọng là bạn phải chờ đợi phải không? Phải kiên nhẫn chờ đợi, chờ đợi đến một ngày bạn sẽ vì một ai đó, vì một việc gì đó, vì một cái gì đó mà không cảm thấy cô đơn nữa. Bạn hi vọng, bạn chờ đợi, lúc đó bạn cảm thấy không cô đơn nữa. Hay chính xác hơn là con tim bạn được nghỉ ngơi. Nhưng đúng như trong một quyển truyện bạn từng đọc có câu: "Chờ đợi thực ra không đáng sợ, đáng sợ là không biết phải chờ đến khi nào."

Nguồn: gacsach.com

Dứt bỏ danh lợi trong Đạo

Khi đã khoác chiếc áo Tỳ kheo, chúng ta đã nhận được đời sống xuất gia, không thể như đời sống tại gia được, hoàn toàn phải đoạn trừ tâm luyến ái, viễn ly, xa lìa, từ khước tâm danh, tâm lợi của đời sống thế gian. Không những chỉ đoạn trừ tâm danh lợi ở thế gian mà còn phải đoạn trừ tâm danh lợi trong Đạo. Danh lợi mang hình thức là Đạo nhưng thật sự nó là tâm danh lợi của con người.

Quý Thầy hãy đề phòng cảnh giác, đừng quên rằng cái tâm gian xảo của quý Thầy sẽ lường gạt chính quý Thầy, khiến cho quý Thầy tưởng mình không danh lợi, tưởng mình tu chân chánh.

Quý Thầy đã lầm, nó sai khiến quý Thầy như một tên nô lệ, làm tất cả mọi cái gì nó muốn, chỉ cần nó che đậy mắt quý Thầy bằng những danh từ cao thượng, “độ chúng sanh, làm lợi ích Phật Pháp”. Thế là, quý Thầy đã an tâm, “vì Phật Pháp, vì chúng sanh”.

Quý Thầy nên nhớ kỹ từ khi mới vào chùa xuất gia tu hành, quý Thầy chỉ là một chú “Điệu” chẳng có danh có lợi gì cả. Ăn rồi học giáo lý, hàng ngày cúng bái tụng niệm.

Sau thời gian năm năm, mười năm đi làm giảng sư, làm trụ trì chùa này hoặc chùa kia. Bây giờ, danh và lợi làm mờ mắt quý vị. Quý vị suốt ngày hết làm Phật sự này đến làm Phật sự khác. Nói danh từ Phật sự nghe cho thanh cao chứ thật sự quý Thầy đang hành một cái nghề làm “tôn giáo” để cầu danh, mưu lợi cho bản thân quý Thầy.

Quý Thầy quên rồi, quý Thầy là những người từ bỏ danh lợi, bỏ tất cả tình thương của thế tục, để tu hành tìm đường giải thoát.

Thế mà, bây giờ quý Thầy lại chạy theo danh lợi, bằng những danh từ khác, danh từ cao thượng “Phật sự, Như Lai sứ giả, tu Bồ Tát hạnh, hành Bồ Tát đạo”. Ai nghe đến những danh từ này cũng phải kính nể, quỳ lạy sát đất.

Quý Thầy có tự xét lại mình không? Có buồn cười cho chính bản thân mình không? Hàng ngày quý Thầy đi thuyết giảng dạy người tu cái này, cái kia mà quý Thầy lại tu không được những điều quý Thầy đã giảng dạy, quý Thầy nói láo đó. Quý Thầy có biết không?

Lời giảng dạy của quý Thầy rất tuyệt vời, ý nghĩa thâm sâu tưởng chừng quý Thầy là vị Phật sống. Nhưng xét kỹ cách thức sống của quý Thầy, người ta không khỏi ngạc nhiên, quý Thầy dạy một điều mà cuộc sống của quý Thầy lại sống một ngả.

Hồi mới vào tu, thì nghèo xơ nghèo xác, đến chừng làm trụ trì, giảng sư, Thiền sư thì quý Thầy bắt đầu giàu có, chùa dần dần xây dựng vĩ đại, đồ sộ, vật dụng thế gian không có một vật gì thiếu cả.

Mới vào tu quý Thầy cưỡi chiếc xe đạp cũ mèm, sau thời gian thì có xe Honda rồi xe Dream, càng tu quý Thầy lại càng giàu ra nhiều, có cả ô tô thứ thượng hạng, ngoài đời người ta có cái gì thì quý Thầy có cái nấy.

Ở đời, người ta tìm danh, tìm lợi rất khó, quý Thầy ở trong Đạo tìm danh tìm lợi rất dễ dàng. Ngoài đời, người ta làm lụng tìm ra miếng cơm manh áo rất là vất vả, khổ nhọc. Trong Đạo, quý Thầy ăn không ngồi rồi, học tập chơi đùa chẳng làm động móng tay, quần áo sang đẹp, bánh trái đồ ăn thực phẩm ăn không hết. Vì thế, người đi tu theo đạo Phật hiện giờ không tìm sự giải thoát mà chỉ nhắm vào danh và lợi.

Pháp môn của Phật giáo phát triển hiện giờ quý Thầy đang tu là pháp môn dạy tu danh lợi. Tại sao chúng ta biết như vậy?

Thấy cách thức sống của quý Thầy là thấu rõ, còn những pháp môn dạy tu giải thoát thì quý Thầy đã ném qua một bên, không còn lưu ý đến nó nữa. Không phải quý Thầy không biết, nhưng vì pháp môn đó sống không dục lạc.

Những pháp môn này dạy xả ly, bỏ danh, bỏ lợi, đời sống tu sĩ chẳng có gì, thiểu dục tri túc, khắc kỷ với mình, sống ba y một bát. Đời sống giải thoát là như vậy, mới chính là người tu sĩ của đạo Phật.

Muốn giải thoát theo nghĩa của đạo Phật, mà không chịu vứt bỏ đời sống thế gian thì đâu còn nghĩa lý gì giải thoát của đạo Phật nữa.

Người tu sĩ đạo Phật muốn thể hiện độ người tu giải thoát thì phải thể hiện sự sống giải thoát tức là ly dục ly ác pháp, ly vật chất của cải tài sản tiền bạc châu báu thế gian, lìa chùa to tháp lớn, lìa danh lìa lợi, lìa nữ sắc, lìa ăn ngon, mặc đẹp v.v.. Nếu sự sống mà ly được như vậy thì đó là gương hạnh độ người tu tập. Lời nói thuyết giảng giáo lý kinh điển của đạo Phật đều phải phù hợp với cách sống của mình không sai một mảy. Nếu sống ngược lại, thì lời nói thuyết giảng kinh sách không đi đôi với cuộc sống của mình, như vậy là lừa bịp, lường gạt người khác, sống trong mát ăn bát vàng, bằng mồ hôi nước mắt của người khác. Thật đáng phỉ nhổ và khinh bỉ. Đã không độ được người giải thoát mà còn làm hoen ố đạo Phật, khiến cho Phật Pháp suy đồi, chánh pháp chìm mất. Người trí hiểu biết nhìn vào đạo Phật khinh dễ và nghi ngờ.

Này, quý Thầy! Bổn phận và trọng trách đối với đạo Phật, quý Thầy không thể làm ngơ làm điếc làm đui được. Quý Thầy đã từng học và đã nghiên cứu kinh sách của đạo Phật. Đã thông suốt lý của Đạo, đời sống của Đạo. Cớ sao quý Thầy lại sống, lại tu tập không đúng lời dạy của đức Phật. Đó là, một lỗi lầm rất lớn mà quý Thầy phải chịu trách nhiệm đối với đạo Phật và tín đồ.

Nếu không có Tạng Kinh A Hàm và Tạng Kinh Nikaya, thì làm sao còn biết đâu là đạo Phật nữa; còn biết đâu là đường lối tu hành chân chánh của đạo Phật.

Muốn làm sáng tỏ đạo Phật; muốn cứu mình ra khỏi cuộc đời trầm luân đau khổ và sanh tử luân hồi, không gì hơn là quý Thầy phải quay về đường tu tập chân chánh của đạo Phật mà hai Tạng Kinh này đã dạy rất rõ. Quý Thầy phải bỏ danh lợi trong Đạo mà đức Phật đã dạy: “Có danh có lợi thì nên ẩn bóng”, vượt ra khỏi những dây xích sắt danh và lợi của tôn giáo, chọn đời sống Phạm hạnh của người tu sĩ Phật giáo chân chánh, thì đạo Phật chẳng làm gì nó sẽ sáng chói và huy hoàng.

Gương hạnh sống đó, ly dục ly ác pháp, giúp cho quý Thầy nhập được các định làm chủ được sự sống chết, chấm dứt được sự tái sanh luân hồi và còn giúp mọi người biết buông xả, dứt các điều ác, tăng trưởng các điều lành mang lại hạnh phúc, an vui cho mình, cho người và xã hội.

Trích Đường về xứ Phật I
Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây


Người cư sĩ có nhập được sơ thiền không?

Hỏi: Kính thưa Thầy, Người cư sĩ có nhập được Sơ Thiền không?

Chúng con là những cư sĩ tại gia, cũng ăn trường chay, có người cũng ăn ngày một bữa, không ăn uống phi thời và đang tu tập ly dục ly ác pháp, nhưng bổn phận và trách nhiệm làm người nội trợ gia đình nên chúng con phải đi mua các loại thịt cá mà người bán đã làm sẵn, chúng con chỉ có cắt thái xào nấu cho gia đình ăn, đó là chúng con tùy thuận gia đình, nhưng với tâm chúng con thì không dính mắc có nghĩa là chúng con không còn ưa thích ăn thịt cá nữa. Với việc làm này chúng con tu tập có nhập được Sơ Thiền hay không? Và có tội lỗi gì không? Xin Thầy vui lòng chỉ dạy cho chúng con được rõ để chúng con tu tập cho có kết quả, chúng con xin biết ơn Thầy.

Đáp: Người cư sĩ vẫn nhập được Sơ Thiền, nhưng phải siêng năng tu tập Thọ Bát Quan Trai giữ gìn rất đúng phạm hạnh không hề vi phạm tám giới mà đã thọ thì chuyển hóa được nghiệp gián tiếp sát sanh.

Thầy sẽ cố gắng làm nội trong năm này bộ sách Đạo Đức Làm Người ra đời giúp cho tất cả gia đình của các con không còn ưa thích thực phẩm động vật, các con sẽ không còn thấy sự sống chết khổ đau của chúng sanh dưới bàn tay của các con nữa. Hiện giờ tuy rằng các con không tự tay giết hại chúng nhưng còn có người ăn thì còn có người giết hại. Càng suy ngẫm chúng ta lại càng thương tâm trước giờ chết chúng sanh phải chịu nhiều sự khổ đau phải không hỡi các con?

Người tu theo đạo Phật không nỡ nhẫn tâm nhìn sự đau khổ và chết chóc trước cảnh thảm thương đó.

Người tu theo đạo Phật không nỡ nhẫn tâm bỏ thịt cá vào miệng nhai nuốt. Nhai nuốt làm sao được mỗi miếng thịt cá là mỗi sự khổ đau giẫy giụa kêu la trên dao dưới thớt. Thật là đau xót vô cùng.

Trích Đường về xứ Phật X
Trưởng lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây