Wednesday, July 29, 2015

Trí tuệ của trí thức (talawas)

Trí tuệ của trí thức
Trong thần thoại phương Tây có loài ngựa mang cánh như con Pégase và con Hippogriffe, cả hai thường bay bổng trong không gian; riêng con Pégase còn đi về trên ngọn núi Hélicon, nơi quần tụ của các nữ thần nghệ thuật, các Muses. Giới làm thơ thường mượn hình ảnh loài ngựa này khi nói đến sức phi hành của thi hứng, có lẽ vì đôi cánh tiêu biểu cho sự cất mình lên khỏi các ràng buộc của thiết chế hiện hữu, sự tung mình ra thoát những vòng vây của định kiến có sẵn để sáng tạo, để cách tân, để đi tìm những phương trời mới, những chân lý mới.

Chủ nghĩa cộng sản tác yêu tác quái mấy chục năm trời, đã và đang gây ra không biết bao nhiêu tội ác. Nhưng với quyền lực trong tay, với bạo lực nắm được, với tuyên truyền xảo trá, với thông tin xuyên tạc, cộng sản từng một thời tạo cho mình một thứ hào quang giả mạo, khiến nhiều người lầm lẫn tin theo. Tuy nhiên bên cạnh những người lạc đường lạc lối này, vẫn có nhiều nhân vật trí thức mang đôi cánh của Pégase và Hippogriffe.

Trong thực tế, để tiếp tục sống còn, cộng sản đã phải tự phủ nhận, thậm chí tự phản bội. Ðảng Cộng sản Ðức ngày nay mang tên PDS (Partei des Demokratischen Sozialismus, Ðảng Xã hội Chủ nghĩa Dân chủ) thay tên SED (Sozialistische Einheitspartei Deutschlands, Ðảng Xã hội Chủ nghĩa Thống nhất Ðức) thời Ulbricht - Honecker. Năm 2005, Đảng Cộng sản Nhật sửa đổi sâu sắc điều lệ đảng, từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lê.

Bài viết hôm nay giới thiệu một số trí thức không phải chỉ có cái tiểu thông minh tầm thường để thu nhập kiến thức, kiếm chác văn bằng mà đã đạt đến cái đại trí tuệ xuất chúng để nhận chân được chân lý, giác ngộ được lẽ phải.

Trong hoàn cảnh nước ta bị đặt dưới sự toàn trị của Đảng Cộng sản, một số thanh niên du học nước ngoài đạt được nhiều thành tựu học vấn đã trót nghe theo lời đường mật của lãnh tụ, của bộ máy để về nước phục vụ. Rồi dần dà họ nhận thức rằng mình đã chọn sai chỗ đứng. Tội nghiệp hơn nữa, có người bị hành hạ, đàn áp, bao vây, cô lập đến nỗi không còn nghị lực chống đối, chỉ còn sức tàn chống đói. Chống đói cho bản thân, cho vợ con. Thực là ngậm ngùi xót xa khi nghĩ đến số phần của họ: Rằng tài nên trọng mà tình nên thương.


André Gide (1869-1951) là nhà văn lớn có nhiều ảnh hưởng đến thanh niên trí thức và văn học Pháp trước Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Có nhiều tác phẩm nổi tiếng: Les nourritures terrestres (Món ăn trần thế), L'immoraliste (Kẻ vô luân), La porte étroite (Cửa hẹp), Les caves du Vatican (Những căn hầm ở Va-ti-căng), La symphonie pastorale(Bản giao hưởng đồng quê), Les faux-monnayeurs (Bọn làm bạc giả), Si le grain ne meurt (Nẩy mầm). Một thời gian Gide có cảm tình với chủ nghĩa xã hội, năm 1932 tham dự Hội nghị Hoà bình Thế giới, năm 1936 đi Liên Xô. Chuyến đi Liên Xô có hoài bão phát hiện một thế giới mới, một thế giới ở đấy sự không ngờ có thể ra hoa (où l'inespéré pouvait éclore). Chuyến đi lịch sử được nhiều tín đồ chính trị theo dõi và chờ đợi. Nhưng Gide trở về trong thất vọng não nề. Nghĩa vụ chân lý (loi de vérité) bắt buộc Gide phải nói lên nỗi kinh sợ và sự ghê tởm chủ nghĩa Stalin mà nhà văn đích thân nhìn thấy tận mắt, nghe được tận tai. Gide dũng cảm nói lên sự giác ngộ của mình qua hai tác phẩm cũng rất nổi tiếng: Retour de l'URSS (Từ Liên Xô về) và Retouches à mon Retour de l'URSS (Sửa lại cuốn Từ Liên Xô về) nói rõ thêm chủ đề tư tưởng của cuốn trước. Rồi Gide đoạn tuyệt với lý tưởng cộng sản, với chủ nghĩa xã hội.


George Orwell (1903-1950) là nhà văn Anh sinh tại Ấn Độ, mất tại Luân Đôn. Sang Miến Điện thuộc Anh, gia nhập ngành cảnh sát (1922-1927) nhưng rồi ra khỏi ngành cảnh sát vì đối diện với chính sách đàn áp thực dân; trở về Anh rồi sang Pháp. Viết tiểu thuyết Burmese Days (Những ngày ở Miến Điện) phê phán xã hội, nói lên lập trường chống thực dân. Những ngày thất nghiệp lang thang ở Pháp và Anh được ghi lại trong Down and Out in Paris and London (Cùng đường ở Ba Lê và Luân Đôn). Qua các sách nầy, Orwell không giấu giếm cảm tình với cộng sản. The Road to Wigan Pier (Ðường tới bến tầu Uy-gơn) phản ảnh hoàn cảnh các thành phần xã hội không có công ăn việc làm ở miền Bắc nước Anh; Homage to Catalonia (Suy tôn miền Ca-ta-lô-nhơ) sáng tác khi tham gia chiến tranh Tây Ban Nha; cả hai đều nói lên niềm tin của tác giả vào chủ nghĩa xã hội. Nhưng hai danh tác của George Orwell được biết đến nhiều nhất lại là hai tác phẩm dự tưởng châm biếm chủ nghĩa xã hội và thiên đường Liên Xô: Animal farms(Trại súc vật) và Nineteen Eighty Four (Một nghìn chín trăm tám tư) lấy chất liệu nghề nghiệp qua tư cách thông tín viên đài phát thanh BBC và tạp chí The Observer trong Thế chiến Hai, nhờ đó Orwell có cơ hội và phương tiện tự xét lại lập trường đối với lý thuyết cộng sản để rồi trở thành kẻ thù không đội trời chung của chủ nghĩa xã hội và Liên Xô.


Vladimir Vladimirovitsh Maiakovski (1894-1930) đã được chế độ Liên Xô lấy tên đặt cho một thành phố. Hoan nghênh Cách mạng tháng 10, Maiakovski làm thơ, ví dụLevy Marsh (Hành khúc Trái); viết kịch, chẳng hạn Misterija Buff (Diệu pháp - Hề) với những lời lẽ thôi thúc hành động chiến đấu hay vạch đường cách mạng vô sản. Maiakovski đả kích mọi ý tưởng thời đại, tấn công đạo lý, luân thường tư sản; đánh phá tôn giáo và chính trị trong những trường ca Oblako v schtanach (Áng mây mặc quần),Voina i mir (Chiến tranh và thế giới) v.v... Cao điểm sáng tác của Maiakovski là trường ca Vladimir Ilitsch Lenin, một bản khải ca về sự phát triển của phong trào công nhân cho đến khi Lê-nin từ trần, nói lên thái độ ngưỡng mộ vô biên của tác giả đối với vị thượng đế mới. Mojo otkrytije Ameriki (Tôi khám phá ra nước Mỹ) là tác phẩm văn xuôi lên án thế giới tư bản Hoa Kỳ lạc hậu về văn hoá và chính trị. Trường ca Khorosho (Tốt, tốt) viết mười năm sau cách mạng, thể hiện những tình cảm mới về cuộc đời mới. Tác phẩm của Maiakovski được dịch ra năm mươi tám thứ tiếng của các dân tộc ở Liên Xô cũ và ba mươi chín tiếng nước ngoài, nhất là trong phe xã hội chủ nghĩa. Maiakovski được giảng dạy ở các trường phổ thông và trường đại học Việt Nam. "Bác" cũng trích thơ của "đồng chí" Maiakovski nhân dịp nói chuyện tại Ðại hội lần thứ ba của Ðoàn Thanh niên Lao động Việt nam năm 1961. Sáng tác văn học của Maiakovski như vừa trình bầy được các tài liệu trong nước phổ biến. Nhưng tôi chưa được đọc tài liệu tiếng Việt nào nói chi tiết về cái chết của Maiakovski [1] . Thật ra, Maiakovski tự tử bằng cách bắn một phát súng lục vào tim vì các lý do: không thấy những điều kỳ vọng được thực hiện mà chỉ thấy cách mạng tiến bước ì ạch, thở dốc; tính cách bấp bênh của tương lai; rắc rối hành chánh nhất là từ Bộ Văn hoá; thất vọng tình cảm. Như thế, Maiakovski tìm cái chết để tự xử trước toà án lương tri của người trí thức sau khi hoàn tất tác phẩm cuối đời - tất nhiên không được người cộng sản nhắc đến - là (bản dịch tiếng Pháp)Les bains (Tắm gội), bản văn phúng thích chỉa thẳng mũi dùi vào chế độ quan liêu stalinit. Ngày Maiakovski lìa bỏ thiên đường cộng sản là ngày 14 tháng tư năm 1930, lúc đó Maiakovski mới ba mươi sáu tuổi.


Jean Paul Sartre (1905-1980) là nhà văn và nhà triết học hiện sinh Pháp, giải thưởng Nobel 1964 (nhưng Sartre không nhận); thạc sĩ triết học, dạy học, tham gia kháng chiến chống Ðức, sáng lập tạp chí Les temps modernes (Thời thế mới) năm 1945. Bạn đời là nhà văn Simone de Beauvoir. Triết học hiện sinh của Sartre ghép hiện tượng học Ðức của Heidegger và Husserl với chủ nghĩa Marx. Sartre trình bầy nhân sinh quan của mình trong những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng La nausée (Buồn nôn), Les chemins de la liberté (Những con đường của tự do) và tập truyện Le mur (Bức tường). Trong L'être et le néant (Thực thể và hư vô), Sartre giải thích tính vô lý của cuộc đời về mặt lý luận triết học. Các vở kịch Les mouches (Ruồi), Huis clos (Cửa đóng) trình bày số phận cô đơn của con người và suy tư của tác giả về tự do. Les mains sales (Tay bẩn) đề cập đến sự xung đột giữa thực tế và lý tưởng trong chính trị qua hành động của một thanh niên trí thức tham gia Đảng Cộng sản chống phát xít. Từ năm 1952, Sartre xích lại gần Đảng Cộng sản Pháp, ủng hộ Việt Nam trong chiến tranh Ðông Dương, năm 1953 viết L'affaire Henri Martin (Vụ Hăng-ri Mác-tanh); sau đó tham gia phong trào phản đối sự can thiệp của Hoa Kỳ ở Việt Nam; năm 1966, cộng tác với Toà án Russell. Nhưng cũng năm 1966, Sartre lên tiếng ở Ðại học Sorbonne, đả kích quân đội Nga Xô can thiệp ở Praha. Rồi trí tuệ và lương tri của người trí thức đã khiến Sartre đổi hẳn thái độ đối với bạo quyền Việt cộng khi chứng kiến thảm cảnh của đồng bào ta vượt biển vượt biên. Sartre là một trong những cổ động viên tích cực của chương trình cứu người trên Biển Đông, với con tàu Ile de Lumière hoạt động ở Poulo-Bidong kể từ ngày 18.04.1979.


Roger Vailland (1907-1965), nhà viết tiểu thuyết Pháp, xuất thân từ École Normale Supérieure (Ðại học Sư phạm), làm báo, phóng viên Chiến tranh Thế giới thứ Hai, kháng chiến chống Ðức, gia nhập Đảng Cộng sản Pháp năm 1952. Cuốn tiểu thuyết "ngộ nghĩnh" đầu tay của Vailland là Drôle de jeu (Trò chơi ngộ) viết năm 1944, mang dáng dấp tự truyện; nhân vật trung tâm, nhà báo Francois Lamballe, biệt danh Marat, được xây dựng với nhiều chi tiết cá tính giống tác giả. Anh ta chỉ huy một tổ chức giao liên theo phe De Gaulle, trong tổ chức có nhiều người cộng sản. Marat vừa đánh giặc vừa chơi đĩ và cướp gái, trong khi người phụ tá Rodrigue lại là một chiến sĩ cộng sản đạo đức. Sau tác phẩm này, Vailland viết tiểu thuyết theo lập trường phân tích mác-xít: Bon pied bon oeil (Vững chân tinh mắt), Un jeune homme seul (Một thanh niên cô độc), Beau masque (Mặt nạ đẹp), 325.000 francs (325.000 quan); ngoài ra còn viết vở kịch Le colonel Foster plaidera coupable (Ðại tá Phốt-tơ có tội) lên án chiến tranh Triều Tiên do nước Mỹ lãnh đạo. Nhưng rồi cuộc nổi dậy rầm rộ của dân chúng Hung Gia Lợi bùng nổ năm 1956 và bị đàn áp cực kỳ dã man. Người trí thức trong Vailland, quen với cung cách tư duy phóng túng và lối sống ngang tàng, đã đặt nhà văn vào thế đứng quyết liệt: Vailland ra khỏi Đảng Cộng sản Pháp năm 1956. Và cũng chỉ sau thời điểm này, văn tài Vailland mới được chắp cánh bay cao và bay xa: La loi (Luật) mang lại cho tác giả Giải thưởng Goncourt 1957, La fête (Ngày lễ) và La truite (Cá hương) sáng tác theo đường lối nặng phần hiện thực "kinh điển" hơn là hiện thực "cách mạng".


Roger Garaudy sinh năm 1913, vào Đảng Cộng sản Pháp năm 1933, thạc sĩ triết học năm 1936, năm 1940 bị bắt và an trí ở Algérie cùng với hàng trăm đảng viên cộng sản khác, được phóng thích năm 1943. Năm 1944 trở về Pháp, đắc cử đại biểu quốc hội vùng Tarn, Ủy viên dự khuyết rồi Ủy viên chính thức Trung ương Ðảng từ 1950 đến 1970. Năm 1949 soạn bản luận văn L'Église, les communistes et les chrétiens (Nhà thờ, người cộng sản và người công giáo), đả kích kịch liệt nhà thờ Thiên chúa giáo, được phổ biến rộng rãi trong phong trào cộng sản. Phóng viên báo Humanité (Nhân đạo) ở Mạc Tư Khoa. Năm 1954 trình luận án Tiến sĩ Triết học ở Sorbonne, kế được phong học vị Tiến sĩ khoa Triết của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô. Trong giai đoạn chiến tranh lạnh, Garaudy là lý thuyết gia hàng đầu của Đảng Cộng sản Pháp, nhiệt tình ủng hộ học thuyết Lyssenko [2] . 1956 đắc cử đại biểu quốc hội thủ đô Paris, Phó Chủ tịch quốc hội Pháp, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị rồi Uỷ viên chính thức Bộ Chính trị năm 1961. Vào thời điểm nầy Garaudy đạt tột đỉnh danh vọng trong Đảng, chỉ đạo biên tập cơ quan lý thuyết của Đảng Cahiers du communisme (Tạp chí cộng sản), làm Viện trưởng Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác, tổ chức dịch thuật Lê -nin toàn tập sang Pháp văn. Nhưng Garaudy bắt đầu tự vấn lương tâm khi bàn về phương pháp luận văn học nên năm 1964 viết D'un réalisme sans rivage (Về một chủ nghĩa hiện thực không bến bờ) phê phán quan điểm văn nghệ của Đảng, chỉ trích phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa trong sáng tác và phê bình nghệ thuật. Garaudy cắt đứt liên hệ với cộng sản một cách rất đột ngột: tháng năm 1968, giữa phiên họp Bộ Chính trị, Garaudy đả kích tàn tệ Georges Marchais [3] vì bất đồng chính kiến về phong trào tranh đấu của sinh viên. Quân đội Khối Hợp tác Quân sự Warszawa xâm lăng Tiệp Khắc tháng năm 1968 thì ngày 21 tháng mười 1968, Đảng Cộng sản Pháp phổ biến nội bộ nội dung vụ Garaudy chống Đảng. Ngày 6 tháng hai 1970, trước một cử tọa gồm hàng ngàn đại biểu các đảng bộ và đảng đoàn toàn quốc về tham dự Ðại hội Đảng kỳ XIX, Roger Garaudy lên máy vi âm lần chót trong một bầu không khí lạnh như băng và lặng như tờ. Ngày 30 tháng Tư 1970, Garaudy bị khai trừ khỏi Đảng. Từ 1970 trở đi, Garaudy sáng tác với niềm xác tín là đảng cộng sản thay vì khích lệ đã kềm hãm sáng tạo của người nghệ sĩ, văn sĩ. Tác phẩm đổi đời và để đời có Toute la vérité (Tất cả sự thật) 1970, Reconquête de l'espoir (Khôi phục hy vọng) 1971, Parole d'homme (Ngôn ngữ thiện nhân) 1975. Và Garaudy cải đạo theo Thiên chúa giáo (gia đình Garaudy vốn nguyên là tín đồ Tin lành).

Quá trình sáng tạo văn học bao giờ cũng chịu sự qui định và nhận dấu ảnh hưởng của một thế giới quan nhất định. Những cây bút vừa được đan cử từng tin theo chủ thuyết cộng sản, từng gia nhập Đảng Cộng sản mà có người như Aragon [4] , bảo rằng đã mang đến cho mình cặp mắt và trí tuệ. Nhưng cũng chính "Ðảng" đã khiến họ "sáng mắt sáng lòng" khi chứng kiến vai trò đồ tể của "Ðảng", khi ghi nhận tính cách tội phạm lịch sử của chế độ. Và họ, những người trí thức xứng đáng với danh xưng trí thức, đã có đủ dũng khí, đởm lược, bản lĩnh, nhân phẩm để nhận chân chân lý và trở về với công lý. Họ cùng đứng trong một đội ngũ không phải là không đông đảo:


André Breton (1896-1966), nhà thơ và nhà văn Pháp, học y, trong Đệ nhất Thế chiến làm việc ở một trạm xá tâm thần. Vào Đảng Cộng sản Pháp năm 1927 nhưng năm 1929 thì cắt đứt liên lạc với Aragon và năm 1933 thì bị khai trừ khỏi Đảng, đồng thời bị tống xuất ra khỏi Hiệp hội Văn sĩ và Nghệ sĩ Cách mạng (Association des écrivains et artistes révolutionnaires, AEAR), một tổ chức ngoại vi của Đảng Cộng sản. Nguyên do chỉ vì từ khi gia nhập Đảng, Breton luôn luôn chủ trương tôn trọng quyền phê phán chỉ trích và khước từ chấp nhận bất cứ hình thức quản lý tư tưởng nào. Tháng Sáu năm 1935, chính thức đoạn tuyệt với Ðệ tam Quốc tế; kịch liệt tố cáo phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa vì nó chỉ xiềng xích tự do sáng tạo. Năm 1938, Breton đi Mễ Tây Cơ gặp Trotsky và viết bản tuyên ngôn Pour un art révolutionnaire indépendant(Vì một nền nghệ thuật cách mạng tự chủ).


Marguerite Duras sinh ở Gia Định năm 1914, mất ở Paris năm 1996, sống mười tám năm ở Ðông Dương trước khi về Pháp. Tham gia kháng chiến chống Quốc xã. Năm 1944 vào Đảng Cộng sản Pháp, năm 1950 bị tước đảng tịch do tư cách trí thức độc lập, ưa phản kháng. Từ 1981, tích cực ủng hộ Francois Mitterand, người đồng chí kháng chiến cũ, viết bình luận cho nhiều nhật báo.


Arthur Koestler, nhà văn và nhà báo Hung Gia Lợi, sinh năm 1905 ở Budapest, mất năm 1983 ở Londres. Viết tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Hung, vào Đảng Cộng sản Ðức năm 1932 nhưng bỏ Đảng năm 1938; sống lưu vong ở Mỹ, Anh, Pháp, viết tiểu thuyết và luận văn kết án nặng nề chế độ cộng sản và Liên Xô; được ngưỡng mộ qua các sáng tác Darkness at noon (Tối tăm giữa trưa, tiếng Pháp: Le zéro et l'infini ), tiểu thuyết; The yogi and the commissar (Tu sĩ du-già và viên chính uỷ, tiếng Pháp: Le commissaire et le yogi), luận văn chính trị.


György Lukács (1885-1970), nhà văn, nhà triết học, mỹ học, nghiên cứu và phê bình văn học Hung Gia Lợi. Viết tiếng Ðức và tiếng Hung. Bị lý tưởng mác-xít mê hoặc, gia nhập Đảng Cộng sản Hung năm 1918, giai đoạn Béla Kún thiết lập chế độ cộng sản độc tài (1919), được bổ nhiệm làm Uỷ viên Tuyên huấn Trung ương Ðảng, cộng tác viên Viện Marx-Engels Mạc tư khoa. Nhưng rồi chán nản sống lưu vong ở Ðức cho đến 1945. Ở Ðức viết Geschichte und Klassenbewusstsein (Lịch sử và ý thức giai cấp), tuyển tập nghiên cứu được xem như "Thánh kinh của người trí thức mác-xít phương Tây", tuy nhiên lại bị cộng sản giáo điều lập tức công kích dồn dập. Trở về Budapest năm 1945, chủ yếu nghiên cứu và dạy mỹ học và triết học về văn hoá. Một số tác phẩm ra sau 1945: Existentialismus oder Marxismus (Chủ nghĩa hiện sinh hay chủ nghĩa Mác), Die Zerstörung der Vernunft (Sự hủy hoại lý trí). Sau vụ rối loạn tháng Mười 1956, Lukács càng đi "lệch hướng" xã hội chủ nghĩa nên phải thường xuyên viết tự kiểm; gây tranh luận và đánh giá lại tác phẩm của chính mình trong các ban tuyên huấn Đảng.


André Malraux (1901-1976), nhà văn, nhà nghệ thuật, chính khách Pháp, thoạt tiên có cảm tình với cộng sản. Le temps du mépris (Thời khinh miệt) lấy chất liệu từ những cố gắng can thiệp của Malraux cho người đảng viên cộng sản Dimitroff, trở thành nhân vật tiểu thuyết Kassner. Mùa hè 1934, Malraux tham dự Ðại hội Văn học ở Mạc Tư Khoa bên cạnh Ehrenburg, Nikoulin [5] . Khi Malraux phát biểu, Nikoulin bảo: "Tôi phải nói thêm với đồng chí Malraux vì đồng chí có một câu khiến có nhiều cách hiểu: "Ai đặt nhiệt tình chính trị lên trên lòng yêu chuộng sự thật thì chớ có đọc sách của tôi. Sách đó không phải viết cho họ đâu!" [6] . Kết quả là năm 1939, Malraux đổi thái độ, vào phe De Gaulle, làm Bộ trưởng Thông tin (1945-1946) rồi Bộ trưởng Văn hoá (1958-1969).


Henri Miller sinh năm 1891 tại New York, lớn lên trong khu người nghèo ở Brooklyn. Tác phẩm nổi tiếng có Tropic of Cancer (Hạ chí tuyến), Tropic of Capricorn (Ðông chí tuyến), The World of Sex (Thế giới tình dục) v.v… Miller chống lại mọi công thức của xã hội tư sản, như các nhà văn thuộc Beat Generation (Thế hệ Beat). Nhưng trước làn sóng tỵ nạn cộng sản của đồng bào ta sau 1975, Miller đả kích kịch liệt Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Mất năm 1980 ở Pacific Palisades.


Cesare Pavese (1908-1950) nhà thơ, nhà viết ký và dịch thuật người Ý. Tham gia kháng chiến chống phát xít, bị đày đi Calabria. Năm 1943 vào Đảng Cộng sản Ý và cộng tác với báo đảng Unita (U-ni-ta). Tác phẩm có Prima che il gallo canti (Trước khi gà gáy), tiểu thuyết; Il compagno (Người bạn), tiểu thuyết; Il mestiere di vivere (Nghề sống), nhật ký thời gian 1935-1950. Lý tưởng cộng sản không giúp Pavese chiến thắng được nỗi cô đơn khắc khoải nên cuối cùng Pavese tự sát vì cảm thấy bất lực trước những vấn nạn của thành phố Turin và thời đại hậu chiến.


Charles Péguy (1873-1914) nhà thơ và nhà văn Pháp, xuất thân từ một gia đình gốc nông dân, làm công nhân và thợ thủ công, học trường Ðại học Sư phạm. Mới đầu theo chủ nghĩa xã hội, hết lòng cùng phong trào hoà bình quốc tế; viết những bản tuyên ngôn chủ nghĩa xã hội [De la cité socialiste (Về thị thành xã hội chủ nghĩa), 1er Dialogue de la cité harmonieuse (Ðối thoại thứ nhất về thành phố thân hữu)]; tham gia thành lập một nhà sách xã hội chủ nghĩa; nhưng rồi giác ngộ quay trở lại với truyền thống yêu nước, với lý tưởng Công giáo; bút chiến với bạn cũ Daniel Halévy; hy sinh ở chiến trường Marne chống Ðức.


Theodor Plievier (1892-1955) nhà văn Ðức, sinh tại Berlin, mất tại Avegno, Thụy Sĩ. Năm 1914 gia nhập hải quân và tham gia một vụ nổi loạn của thủy thủ đoàn. Năm 1918, lấy chất liệu sống để viết Des Kaisers Kuli (Những tên khổ sai của hoàng đế, tiếng Pháp Les galériens du Kaiser) năm 1930, tường thuật lại hành trạng một người trẻ tuổi theo chủ nghĩa xã hội. Nhưng chính bộ trường thiên ba tập Stalingrad (Xta-lin-grát, 1946) nêu lên sự khủng khiếp và vô lý của cuộc chiến về phía binh sĩ Ðức, Moskau(Mạc Tư Khoa, 1952) và Berlin (Bá Linh, 1954) tấn công trực diện Liên Xô và cộng sản, mới làm Plievier nổi tiếng.


Francis Ponge (1899-1988) nhà thơ Pháp. Năm 1961 xuất bản toàn bộ sáng tác của mình dưới tên chung Le grand recueil (Sưu tập lớn), gồm ba phần: 1. Lyres (Thi pháp), biên khảo về các thi sĩ và họa sĩ; 2. Méthodes (Phương pháp), suy tư về thi ca; 3. Pièces (Thi phẩm), tập hợp những bài thơ phần lớn bằng văn xuôi. Ponge vào Đảng Cộng sản Pháp nhưng rồi lại ra khỏi Đảng để tự do theo đuổi đường hướng sáng tác phóng khoáng của mình, dùng ngôn ngữ làm phương tiện mô tả tỉ mỉ nhằm khám phá bản thể của những vật vô tri như con bướm, con tôm, con ốc, quả cam, hòn đá, bánh xà phòng; báo hiệu phong trào Tiểu thuyết Mới với Nathalie Sarraute và rất gần chủ nghĩa hiện sinh với Jean Paul Sartre.


John Steinbeck (1902-1968) nhà văn Mỹ, Giải thưởng Nobel 1962; thuở thiếu thời và tuổi thanh niên sống rất vất vả, làm đủ nghề để mưu sinh: công nhân nông nghiệp, phu nuôi cá, chăn bò, thợ nhà máy đường, gác-dan, phụ thợ nề. Hai vợ chồng nhiều khi chỉ có cá câu trong vịnh Monterey là nguồn thực phẩm duy nhất. Cuộc sống lao động thiếu thốn này được thể hiện bằng bút pháp hiện thực phê phán trong những truyện đầu tay, ví dụ In Dubious Battle (Cuộc chiến đấu chưa biết ra sao) viết năm 1936, kể lại chuyện đình công của công nhân hái quả theo vụ ở California, do những người cộng sản lãnh đạo; tác phẩm bị người cộng sản chính hiệu phủ nhận vì nhân vật trung tâm từ chối sử dụng bạo lực; Of Mice and Men, 1937 (Về chuột và người) mô tả đời sống bi thảm của lực lượng lao động nông nghiệp, đã quay thành phim với B. Meredith; The Grapes of Wrath, 1939 (Bất bình chín muồi) viết về nông dân bị mất đất do nợ nần phải di cư đến Cali trong những năm khủng hoảng kinh tế, được Giải Pulitzer và cũng được quay thành phim với H. Fonda. Nhờ tác phẩm này Steinbeck nổi danh đột ngột trong tư thế một cây bút sáng tác theo khuynh hướng trào lưu văn học vô sản, đi sâu phân tích hoàn cảnh xã hội trong sáng tạo. Năm 1947 đi Liên Xô, viết Russian Journal (Nhật ký Nga) năm 1948, ghi chép các cảm tưởng về Mạc Tư Khoa và Nga Xô viết. Năm 1952,East of Eden (Bên kia thiên đường) ra đời, cũng quay thành phim với James Dean. Sau Đệ nhị Thế chiến, Steinbeck càng ngày càng xa rời thái độ thiên tả và những năm cuối đời, khi Hoa Kỳ lâm chiến ở Việt Nam, Steinbeck bênh vực chính nghĩa tự do chống cộng, ca tụng quân lực đồng minh, sang vùng quốc gia cùng không quân Hoa Kỳ sử dụng trực thăng lùng bắt "Vixi".


Vercors, tên thực Jean Bruller (1902-1991), nhà văn Pháp, rất có uy tín trong kháng chiến chống Ðức, thành lập Éditions de minuit (Nhà xuất bản nửa đêm), nổi tiếng do truyện Le silence de la mer (Yên lặng của biển cả), đã quay thành phim, xuất bản bí mật trong khi Ðức chiếm đóng Pháp, chủ đề do chiến tranh cung cấp: giữa những người Ðức và người Pháp có mối mâu thuẫn thù địch không vượt nổi mặc dù cùng thuộc một tầng lớp xã hội, cùng thị hiếu và văn hoá, tôn trọng nhau. Vercors đi rất nhiều: Anh, Ðức, Ý, Mỹ, Trung Hoa, Liên Xô, Bắc Phi, Viễn đông, sang cả Việt Nam. Có cảm tình với cộng sản, Vercors nhận chức Chủ tịch Hội Quốc gia các nhà văn (Comité national des écrivains, CNE) nhưng năm 1956 cương quyết từ chức và viết P.P.C. (Pour prendre congé, Ðể từ biệt), nội dung chia tay với Đảng Cộng sản do bất đồng chính kiến trầm trọng.

Những người được liệt kê danh tính trong bài viết hôm nay có người chỉ lầm một đôi năm, có người lầm cả chục năm, có người như Mayakovsky coi như lầm cả ba mươi sáu năm của cuộc đời! Nhưng họ đã có cái đởm lược của hào kiệt, cái dũng khí của thánh nhân, cái đại trí của thiên sứ để mà công khai, dứt khoát thú nhận sự lầm lẫn của mình, đã trót trao thân cho phường tà giáo, đã lỡ dấn thân vào trường ma quỉ khi một sáng một chiều bỗng chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Trí tuệ của họ còn khiến họ nhận thức được công lý, phát hiện ra sự thật vào thời điểm mà chủ nghĩa xã hội, lý thuyết cộng sản đang ở vào thế thượng phong trên vũ đài chính trị; khi mà châu Âu, châu Á, châu Mỹ, châu Phi đều không thiếu quốc gia hoặc đã hay đang sắp tấp tểnh xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Họ không phải chờ đến lúc Liên Xô tan rã, khối Ðông Âu giải thể, bức tường Berlin sụp đổ rồi mới khúm núm dâng kiến nghị hay gập người nhận cởi trói.

Sai lầm thuộc bản thể loài người. Nhưng lắm kẻ trong chúng ta, được xem hay tự xem là trí thức, khi phạm sai lầm hoặc sơ hở, chẳng những không thấy nổi sai lầm hay sơ hở mà khi được người khác thân ái chỉ cho sơ hở sai lầm còn tỏ ra thiếu lương thiện, bất phục thiện; đổ quấy đổ quá cho những nguyên nhân này nọ, thậm chí đi đến rêu rao là chúng ta còn thiếu hay chưa có tự do! Ðược tha nhân chỉ cho mà chẳng chịu thấy thì tự mình thấy được còn khó đến đâu! Huống chi sự sai lầm trong trường hợp bài viết hôm nay đang bàn là sự sai lầm trọng đại về ý thức hệ, về thế giới quan, về tư tưởng, về lập trường. Dẫu vậy, khi thấy mình sai thì những Gide, những Vailland sẵn sàng tự mình đứng sang phía sự thật, sẵn sàng bảo vệ công lý. Gide, Vailland v.v… đã từng hăng hái thu thập những kiến thức về chủ nghĩa xã hội, đã từng đam mê nghiên cứu học thuyết Mác-Lê, đã từng đề cao, tán dương, tin tưởng thiên đường cộng sản. Nhưng rồi như lời Édouard Herriot, họ đã bảo tồn văn hóa theo cung cách xem văn hóa là cái gì còn lại sau khi đã quên hết (la culture, c’est “ce qui reste quand on a tout oublié“). Ðộc lập trong đường hướng và phương pháp tư duy, không mảy may lệ thuộc vào hành trang tri thức đã gom góp; họ, ở một khúc ngoặt của cuộc đời trí thức, đã can đảm đoạn tuyệt với cái gọi là Đảng viết hoa, đã hạ bệ không tiếc thương thần tượng cũ. Và tích cực hơn nữa, họ nhiệt tình bênh vực các nạn nhân của độc tài đảng trị, đả kích kịch liệt chủ nghĩa Satan-Mephisto. Trong tư cách là những người có văn hóa, có dũng khí, có trí tuệ, họ đã cưu mang những tác phẩm sau khi đốn ngộ đáng được xem là những tác phẩm lớn của văn học. Nhưng bên cạnh cũng có những câu nói – chỉ cần một câu nói chứ chẳng cần cả ngàn câu viết trong một tác phẩm – đáng được xem là danh ngôn. Bertolt Brecht chẳng hạn vẫn còn nhất điểm linh đài để trong một sát-na đại giác, bảo thẳng được vào mặt Đảng Cộng sản Ðông Ðức: “Schaff dein Volk ab und wähl’ dir ein anderes.“ (Hãy tiêu diệt dân tộc của ngươi đi và chọn lựa một dân tộc khác).

_ Trần Văn Tích

Westpreußenstr., 05.09.2008 

© 2008 talawas



[1]Ông Hoàng Ngọc Hiến trong bài "Mai-a-kốp-xki ở Việt Nam" đăng trên tạp chí Văn học (Hà Nội) số 3.1974, trang 98-104, chỉ có bốn chữ “cái chết bất hạnh" để mô tả trường hợp nhà thơ từ trần. Ngoài ra, tiểu luận chấm dứt như sau: “Có lẽ Bác là người đầu tiên gọi Mai-a-kốp-xki là đồng chí." Toàn bài duy có câu chót này là đáng chú ý. Maiyakovsky là công dân Xô-viết toàn tâm toàn ý ca tụng lãnh tụ, ca tụng chế độ. Thế nhưng cả toàn khối xã hội chủ nghĩa gần một tỷ rưỡi con người và qua hơn ba thập niên, không ai dám gọi Maya là đồng chí! Phải chờ đến lượt Bác! Gọi một kẻ tự sát, tự phủ nhận, qua đó phủ nhận chế độ sau khi sáng tác bản văn mạt sát Stalin, có lẽ Bác bốc đồng hay nói sảng? Dầu sao Hoàng Ngọc Hiến cũng cẩn thận chu đáo ghi rõ ở phần chú thích rằng chuyện Bác gọi Maya là đồng chí được dẫn từ Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, tập VI, Nhà xuất bản Sự Thật, 1962, trang 169! Về cái chết của Maya, có dư luận cho là nhà thơ bị mật vụ của Stalin hạ sát. Tuy nhiên sau khi Liên Xô sụp đổ và hồ sơ KGB được giải mật, không thấy có chứng cớ nào về chuyện này.
[2]Trofim Denissovitch Lyssenko (1898-1976), nhà sinh học và nhà nông học Xô-viết, phủ nhận thô bạo học thuyết Mendel với vai trò các gen trong di truyền vì cho là học thuyết tư sản. Học thuyết Lyssenko được quảng bá rầm rộ trong phe xã hội chủ nghĩa từ 1940 đến 1955, khiến khoa sinh học cộng sản tụt hậu một cách thê thảm. Lyssenko nghiên cứu ảnh hưởng sinh lý của môi trường ở nhiệt độ thấp trên hạt giống và cây cối. Tuy nhiên giới nông học Ðông Ðức đã không theo Lyssenko nên chế độ Ulricht-Honecker vẫn duy trì được thứ hạng số một về sản xuất hạt giống ở châu Âu.
[3]Georges Marchais (1920-1997), kết nạp Đảng Cộng sản Pháp năm 1927, Tổng Bí thư Ðảng từ 1972 đến 1994.
[4]Louis Aragon (1897-1982) học Trường Quân y Val de Grâce năm 1917, gia nhập Đảng Cộng sản Pháp năm 1927, năm 1928 gặp người yêu là Elsa Triolet, em vợ Mayakovsky. Ðôi lứa uyên ương nổi tiếng này ba lần sang thăm Liên Xô. Aragon viết nhiều tập thơ ca ngợi công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, cộng tác với báo Humanité(Nhân đạo), lập báo cộng sản Ce soir (Chiều nay), sáng tác trường thiên tiểu thuyết sáu tập Les Communistes (Những người cộng sản). Aragon được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, suốt đời có vẻ trung thành với Đảng. Các tác phẩm nói lên tình cảm tha thiết đối với Elsa Triolet: Cantique à Elsa (Ca ngợi Elsa), Les yeux d’Elsa (Ðôi mắt Elsa) cũng như tiểu thuyết Elsa (Elsa) là những danh tác đẫm chất trữ tình. Câu thơ Tố Hữu "Ðảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng" là dịch thoát ý từ lời thơ Aragon mở đầu bài "Du poète à son parti" (Người thơ dâng Đảng) in trong La Diane francaise (Cảnh tỉnh nước Pháp), Nhà xuất bản Seghers, Paris, 1945, trang 87: Mon parti m’a rendu mes yeux et ma mémoire.
[5]I. G. Ehrenburg (1891-1967), nhà văn và nhà báo Xô-viết, giải thưởng Hòa bình Quốc tế Lenin 1952, giải thưởng Quốc gia Liên Xô 1942 do tác phẩm chống phát xítPadenije Parizha (Paris thất thủ), giải thưởng Quốc gia Liên Xô 1948 do tác phẩm Burja (Bão táp) v.v... N. I. Nikoulin là nhà biên khảo Xô-viết, thành thạo Việt ngữ, thường có bài đăng trên tạp chí Văn học của Viện Văn học Hà Nội, từng công tác tại tiểu ban Văn học, hệ Sử học, Viện Ðông phương học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô cũ.
[6]Nguyên văn trong Jean Lacouture. André Malraux. Une vie dans le siècle (André Malraux. Một cảnh đời trong thế kỷ), Nhà xuất bản Seuil, Paris, 1973, trang 172: “Que tous ceux qui mettent des passions politiques au-dessus de l’amour de la vérité s’abstiennent de lire mon livre. Il n’est pas écrit pour eux!“. Malraux muốn đề cập đến tác phẩmLa condition humaine (Phận người), giải thưởng Goncourt 1933.

Trí Tuệ Của Tri Thức

Ba Mươi Triết Gia Phương Tây

Tarot Cards - Ý nghĩa và Những Bài Học về Cuộc Sống (Illuminati Việt Nam)

Tarot Cards - Ý nghĩa và Những Bài Học về Cuộc Sống


- Hierophant - 

Lịch Sử :
https://www.facebook.com/notes/illuminati-vi%E1%BB%87t-nam/tarot-cards-l%E1%BB%8Bch-s%E1%BB%AD/640932509309282

Nguồn: Salem, Soi

Trước khi vào phần Major Arcana Thiên Ứng  ( tạm gọi ) thì để dễ nhớ. Mọi người xem nó như 1 cuộc hành trình và những quân bài là điểm đến
Và đặc biệt là phải nhắc mọi người về Cung Hoàng Đạo 1 chút

Bạch Dương  Aries    ( 21/3 - 20/4 ) Biểu tượng là con Cừu có bộ lông vàng

Kim Ngưu    Taurus   ( 21/4 - 21/5 ) Biểu tượng là con bò trắng do Zues biến thành ( trốn Hera trong 1 lần mây mưa )

Song Tử      Gemini  ( 22/5 - 21/6 ) Biểu tượng là 2 đứa song sinh ( đôi khi là 2 nam/ 2 nữ )

Cự Giải        Cancer  ( 22/6 - 22/7 ) Biểu tượng là con cua  ( bi Hercules giết và là bạn của Hydra )

Sư Tử         Leo       ( 23/7 - 22/8 ) Biểu tượng là con sư tử ( Nemean Lion con sư tử vàng bị Hercules giết )

Xử Nữ         Virgo     ( 23/8 - 23/9 ) Biểu tượng là Trinh Nữ ( liên quan tới việc Demeter bị Hades bắt xuống Âm phủ )

Thiên Bình   Libra            ( 24/9 - 23/10 ) Biểu tượng là Cái Cân ( Liên quan tới thần công lý Themis )

Bọ Cạp        Scopio        ( 24/10 - 22/11 ) Biểu tượng là con Bọ Cạp ( Uron/Orion bị Con bọ cạp giết )

Nhân Mã     Sagittarius   ( 23/11 - 21/12 ) Biểu tượng là Nhân mã ( Chiron bị Hercules lỡ tay giết )

Ma Kết       Capricornus  ( 22/12 - 20/1 ) Biểu tượng là dê biển nửa dê nửa cá ( Pan ngâm nửa mình xuống sông Nin trốn Typhoon )

Bảo Bình    Aquarius       ( 21/1 - 19/2 )  Biểu tượng là Cái bình chứa nước ( Ganymede bị Zues bắt cóc lên Olympus )

Song Ngư   Pisces         ( 20/2 - 20/3 ) Biểu tượng là 2 con Cá bơi ngược nhau ( Aprodite và Eros biến thành cá trốn Typhoon )


Trong bài này, tôi xin nói đến bộ Đại Bí Mật (Major Arcana), là 22 lá bài trong 78 lá bài Tarot. 22 lá này tương đương với 22 ký tự của bộ chữ Hebrew, chỉ 22 trạng thái khác nhau của vũ trụ và tâm lý con người, trong đó có 19 lá đại diện cho 12 cung hoàng đạo và 7 hành tinh, 3 lá không chỉ thời gian. 22 lá này được đánh số từ 0 đến 21, và đều có tên cho từng lá.

The Fool 


Trước tiên là nhìn vào ảnh là thấy 1 thằng đứng trên bờ vực, ngẩng mặt lên trời 1 tay cầm bông hoa 1 tay cầm tay nải, dưới chân thì có con chó đang sủa

Thằng The Fool 0 chập chững bước ra ngoài đời, mặt hướng lên trời chỉ sự vô lo và hướng tới thánh thần. Con chó đi theo như muốn kêu thg` 0 là tới vực "rồi quay lại mau", con chó là bạn đồng hành và luôn chạy sau chân của 0 ý chỉ sự theo sau 1 cách mù quáng hay thiếu sự gan dạ cũng như xử lý khi thấy thằng 0 sắp té mà ko dám chạy lại cản mà chỉ lên tiếng đứng sau sủa,  à hắn có 1 tay nải và nó rất nhỏ, có quá ít thứ hữu dụng cho 1 quãng đường dài cả cuộc đời của hắn

The Fool cũng tương đương với ký tự đầu tiên của bộ chữ Hebrew, là “Aleph” – lại là một chữ không có âm thanh, dùng để hiển thị các nguyên âm, do vậy cũng tượng trưng cho sự “trống rỗng”. Chính vì vậy, lá Thằng Khờ không hiển thị thời gian..

Liên tưởng tới Chúng ta khi bước ra ngoài, tay nải là những gì ta có. Mặt ta hướng lên trời vừa vô lo vừa cầu cho ông trời giúp mình đại loại thế

Tấm bài the Fool tượng trưng cho việc Lạc quan. Tin vào niềm tin của bản thân/thánh thần, tin bản thân mà bước đi đồng thời mang theo những thứ phù hợp với ta và lên đường, mọi chuyện sẽ ổn thôi. The Fool động viên ta nên vượt lên bản thân, gạc bỏ rào cản mà tiến lên, hãy làm mọi thứ mà không sợ hãi và tin rằng tất cả mọi thứ đều có thể xảy ra anything is possible
4 từ khóa sau về lá bài này: Sự bắt đầu. Sự ngẫu hứng. Niềm tin. Sự điên khùng.


Tấm này ad lụm và up lên cho thấy sự sai của nó. Nhìn vào sách mà đi tới chưa tính con chó thì vẽ là con chó sói bự chà bá, bạn đồng hành mà thấy ghê quá. Trong tay nải thì đầy sách, 1 tay cầm sách 1 tay cầm la bàn!!! bức ảnh gạc bỏ sự ngây thơ chập chững thay vào là mọt sách

- The Magician I


Thằng 0 đi 1 hồi thì gặp The Magician và chuẩn bị học bài học đầu đời về Tinh thần và Ý chí

Nhìn vào hình ta thấy thầy pháp trong vườn hoa nở rộ, 1 tay cầm gậy đưa thẳng lên trời 1 tay chỉ xuống đất, trên bàn thì có 1 cây gậy, 1 cái ly, 1 cây kiếm và 1 cái hình tượng phép thuật ( vòng gỗ có hình sao 5 cánh )

Số 1 là số của bản thân, sức mạnh của bản thân
Nếu Aleph là ký tự Hebrew chỉ thằng khờ thì Beth là ký tự chỉ Thầy pháp, cũng là chữ cái khởi đầu quyển sách Sáng Thế (Genesis) trong bộ Kinh Thánh Cựu Ước (Do Thái và Thiên Chúa Giáo đều dùng chung bộ Cựu Ước này), do vậy chủ đề “sáng thế”, “sự giáng thế của năng lượng” được thể hiện mạnh mẽ trong lá bài này.

Thầy Pháp là hiểu việc này liên quan đến ý chí, ý thức, hành động, và quyền lực. Trong chiêm tinh học, Nhà Ảo Thuật tượng trưng cho thần Mercury, sao Thủy, vị thần của sự truyền đạt, thông tin, và chỉ khoảng thời gian là ngày thứ Tư trong tuần.

4 món đồ vật trên bàn tượng trưng cho Khí, Nước, Lửa, Đất . 1 tay cầm Skyward ( gậy chỉ thiên ) 1 tay chỉ xuống đất. thầy pháp là sự biểu lộ, sự mang đến tinh thần và lý trí tới 1 cơ thể. Sức mạnh mà Thầy pháp có là sức mạnh của tạo hóa được đặc trưng bằng đám hoa nở rộ quanh thầy pháp

Thầy pháp là lá bài của sự nhận thức, nhìn nhận những thứ xunh quanh bạn và bản thân của chính bạn. Những thứ bạn cho đi, những tứ bạn lấy. hành động của bạn, lời nói của bạn. Biến lời nói thành hành động để ước mơ thành hiện thực. Tuy bạn chỉ có 1 mình nhưng sức mạnh luôn nằm bên trong bạn - tập trung vào sức mạnh đó và tiến tới
4 từ khóa về lá bài này: Hành động. Ý Thức. Sự tập trung. Quyền lực.


Tấm này thầy pháp 1 tay cầm gậy với tư thế đưa lên cứ như đang sắp giết người ấy, 1 tay chỉ xuống như có nạn nhân nằm ở dưới, mặt thì lạnh như tiền :))

- The High Priestess II

Thằng 0 sau khi gặp 1 rồi nay bước tiếp và gặp Nữ Tu

Nữ Tu bắt đầu với số 2 : số 2 đại diện cho sự phân cực cố hữu của mọi thứ

Trước tiên là nhìn hình sẽ thấy có vương miện mặt trăng, 2 cây cột với 2 chữ B và J tức Blow và Job :)) giỡn thôi, 1 cuộn giấy tên TORA, với nền quả lựu 

2 cây cột với 2 màu sắc khác nhau  đen và trắng tượng trưng cho âm - dương, Sáng - Tối, Ngày - Đêm,.. tức những thứ trái nhau, 2 cực
Chữ B và J là 2 chữ cái của Hebrew tức là Boaz = phủ định, Jachin = Khẳng Định. VƯơng miện mặt trăng tương trưng cho nữ thần Isis của Ai Cập
cuộn giấy TORA là kinh thánh cổ của người Do Thái HEbrew cũng có thểđọc là Torat chắc Tarot cũng từ đây ra. Ngai vàng với nền quả lựu tượng trưng cho sự bí ẩn

Nữ Tu tượng trưng cho những điều bí ẩn sâu xa mà ta khó mà có thể hiểu được và nó vẫn tồn tại quanh ta, những điều mà nếu bạn muốn hiểu thì bạn phải nhìn sâu vào trong bạn, tiếng nói bên trong sẽ dẫn bạn

Trong Chiêm tinh lá bài này chỉ Mặt Trăng, và ngày thứ Hai trong tuần.
Từ khóa của lá Nữ Tu là: Không hành động. Vô Thức. Tiềm năng. Sự bí ẩn.

- The Empress III


Sau khi gặp 2  thì thằng Khờ gặp  Nữ Hoàng

Nữ Hoàng bắt đầu bằng số 3 biểu thị cho sự màu mỡ bao gồm cả mối quan hệ bạn bè/cha mẹ của con người

Khi nhìn hình ta thấy Người phụ nữ đội vương miện ngồi giữa cánh đồng sum suê, với cái khiên hình trái tim ở dưới có hình tượng ng` phụ nữ/Venus, áo mặc thì có hình quả lựu tượng trưng cho sự sinh nở, phồn thịnh.  

Nữ Hoàng giống với hành tinh Venus, trị vì bởi tình yêu và tình dục. Sự nhẹ nhàng và trìu mến của người mẹ được biểu thị bằng những đồng cỏ đang sinh trưởng lớn mạnh  dưới chân của Nữ Hoàng. Nữ Hoàng là đại diện của mẹ Thiên Nhiên. Ở 1 vài trường hợp còn đại diện cho hôn nhân hay tình mẫu tử

Thông thường các lá bài vẽ Nữ Hoàng luôn thể hiện một người phụ nữ gợi cảm, hiền lành, đứng giữa không gian sum suê hoa trái của Đất Mẹ, và có dấu chỉ của Venus, thần vệ nữ, sao Kim. Lá Nữ Hoàng có các từ khóa: tình mẫu tử, sự đầy đủ, viên mãn, hoạt động của cảm giác, ngũ quan, và chỉ thiên nhiên. Lá này còn chỉ thời gian là ngày Thứ Sáu trong tuần.



Nữ Hoàng dạy ta cách yêu thương và dùng nó để đến đích của bạn mà không mất đi sức mạnh, bạn phải đặt trái tim và tâm hồn vào từng việc bạn làm và kiểm soát những tình huống. Đừng để bản thân dễ sa ngã phải nhanh nhẹn và dễ thích ứng với hoàn cảnh. Bạn là thước đo chính xác của những gì bạn muốn và tốt với bạn, hãy dùng sự phán đoán của bạn 1 cách khôn ngoan

- The Emperor IV

Và giờ là gặp Nhà Vua với con số 4
Số 4 biểu thị Mệnh lệnh và khuôn khổ cũng như sự trật tự nó giống như hình vuông được hình thành bằng 4 dòng kẻ

Nhìn hình bạn thấy : 2 cái cọc trên ngai vàng vua, vua nghiêm nghị mặc bộ đồ đỏ, cầm quyền trượng và đằng sau là núi

2 cái ở 2 bên ngai vàng vua đó là biểu tượng của Chòm sao Bạch Dương = The Ram. Cung Bạch Dương được trị vì bởi Sao Hỏa /Mars tức thần chiến tranh Ares

Người Cung Bạch Dương hệ hỏa, bốc đồng, chập giựt, cứng đầu, ngoan cố, tràn đầy sức sống, nhiệt huyết, sôi nổi, trẻ con,...
hay dính vào những vấn đề ẩu đả cũng như hay quá khích. Cứng đầu và trẻ con khó nhìn nhận vấn đề từ sớm cũng như thừa nhận sai lầm của bản thân
Cũng vì là cung bắt đầu của Hoàng đạo, những người cung Bạch Dương sinh ra trong mùa xuân đẹp đẽ, ấm áp và nhiệt huyết nhưng nhiều khi sự nhiệt huyết đó khá lố dẫn đến người khác đôi khi cảm thấy ngột ngạt. Thích được chiều chuộng và khá thích nịnh nhưng tính đi chiếm cao. Trong tình cảm thích thì nhích, nếu thích ai thì sẽ đi đánh chiếm, cướp, hãm  vì ta thích, còn hết thích thì quăng đi chỗ khác.


Màu đỏ vua mặc tượng trưng cho sức sống, đam mê và những hành động bốc đồng/ công kích. Quyền trượng biểu thị cho quyền lực, sự thống lĩnh và mệnh lệnh được vua cầm và đưa lên cao tượng trưng cho sự sẵn lòng và khát vọng. Hình nền núi non trượng trưng cho sự vững chắc và sự bất động

Nhà Vua dạy cho ta sự kỷ luật, tuân thủ phép tắc. Để có được quyền kiểm soát bạn phải kiểm soát được bản thân trước, chịu trách nhiệm cho những việc mình làm cũng như tài lãnh đạo của bạn.
Bốc được lá Hoàng Đế là phải nhớ đến: Tình phụ tử. Hệ thống. Thẩm quyền. Luật lệ.


Đây là lá Hoàng Đế của bộ bài Thoth của Alester Crowley, người này vẽ tarot phức tạp hơn, nhiều biểu tượng hơn, nhiều thứ hơn
và bạn nhìn ở dưới chân vua có 1 con cừu đó là biểu tượng của Cung Bạch Dương

- The Heirophant/Hierophant V

Số 0 sau khi gặp vua gặp hậu = gặp cha gặp mẹ nay hắn sẽ gặp Thầy Tư Tế với con số 5
Con số của sự biến hóa và không ổn định

Nhìn hình ta thấy Thầy Tư tế ngồi trên Ngai  đội mũ và cầm trượng, dưới có 2 đồ đệ và 1 cái rương có 2 chìa khóa

Thầy Tư Tế mang trong mình những kiến thức sâu rộng luôn dành cho bất cứ ai muốn lắng nghe muốn thấu hiểu mọi thứ không những thiên về Đạo giáo mà còn là những lý lẽ luân thường
Thầy Tư Tế mang tính cộng đồng, sự tuân thủ, bảo thủ và kiện định và 3 tính chất đó đưa ta tới Cung Hoàng Đạo thứ 2 đó là Kim Ngưu

Cung Kim Ngưu mang hệ đất cùng với sự bảo thủ, sự tuân thủ, hệ thống niềm tin, hệ thống giáo dục, và danh tính, truyền thống của cả một cộng đồng. Người Cung Kim Ngưu chậm rãi rất từ tốn kiên định với mọi thứ mình muốn và rất cứng đầu trong cuộc sống sự trải nghiệm và triết lý của người Cung Kim Ngưu luôn đến từ sự nhìn nhận chính xác từ mọi thứ vì họ luôn chậm.
Nhịp sống nhanh và thay đổi đột ngột là những thứ người cung này luôn cay cú. 1 con bò bước qua 1 cái sân mới không còn quen thuộc nữa, không còn được bản năng dẫn dắt nữa thì đa số chỉ có chết, 1 số sống được và vượt qua là những con bò Da Vinci hay đại loại thế
So với bảo bình họ không thành công nhiều nhưng nếu thành công thì còn dữ dội và vang vọng hơn cả Bảo bình gấp 10 lần


Theo cách của thần thoại Hy Lạp cổ The Hierophant có liên quan tới người nhân mã luôn dạy cho con người lẽ sống và trải nghiệm của đời. Và liên quan tới Chiron thầy của những anh hùng.

Thầy Tư tế đội vương miện cầm trượng đại diện cho quyền lực và  tri thức cao mà ông có, chiếc rương và 2 chìa khóa là những kiến thức mà chỉ có mỗi ông có, chỉ có ông mới có chìa khóa mở được đưa những kẻ muốn nghe tới 1 tầm cao hơn

Là nguyên tố đất, bốc được Thầy Tư Tế là phải nghĩ tới cái gì đó tĩnh tại, cứng nhắc, và bảo thủ, để duy trì cả một xã hội đang rùng rùng tiến tới nhưng không để chúng tiến đến khủng hoảng vì mất gốc rễ, mất niềm tin.

Ngoài ra trong sự nghiệp số 5 còn tượng trưng cho sự bức phá, khi bốc được lá bài bạn nghĩ ngay tới những thứ phía trước bạn, những thứ mà bạn không thể trả lời bằng cách thông thường được. Bạn nghĩ ngay tới sự lựa chọn cụ thể, sự thông thường, kiến thức về luật lệ/luật pháp để giải quyết vấn đề mà không làm giới hạn đi những câu trả lời truyền thống


Heirophant trong bộ Thoth với 1 nùi biểu tượng và nhìn rất thanh thoát

- The Lovers VI


Ta tới lá thứ 7 ( Đa ) Tình Nhân với chữ (s) nằm sau Lover được đánh con số 6 tức là con số của cân bằng

Nhìn hình ta thấy thiên thần cánh đỏ dang 2 tay cho 2 người 1 nam 1 nữ trần truồng. Bên người nữ có 1 cái cây và trên đó có con rắn

Lá bài gắn với 3 phần của tâm trí : ý thức, tiềm thức và tâm thức ( superconscious ). Với 2 người nam nữ trần truồng là hình ảnh của sự chân thật giữa 2 người cũng như sự nhìn nhận về ảnh hưởng sự hấp dẫn lẫn nhau và 1 thiên thần lưỡng tính đứng giữa chỉ dẫn cho 2 người. 

Tuy nhiên vị Thiên Thần mặc áo đen tức là những điều còn bí hiểm

Tình nhân ở đây chính là sự kết hợp lành thánh (có sự chúc lành của một thiên thần hiện diện trên lá bài) của cặp phạm trù đối ngẫu nam-nữ, trắng-đen, cứng-mềm, lý trí-tình cảm… thường thấy trong xã hội. Quan niệm cổ đại phương Tây cho rằng sự kết hợp lành thánh giữa nam và nữ sẽ hội tụ và thăng hoa được hai giá trị tiềm ẩn trong mỗi phái tính khác nhau, và tạo được “divine spark” (tia lửa thần thánh) để sáng thế.



Thằng Khờ đã đi vào giai đoạn dậy thì. Những thôi thúc tính dục trong người nó chính là tiền đề hình thành cái tôi để phân biệt với cái tự nhiên, cái môi trường, cái xã hội mà trước giai đoạn dậy thì nó đã tiếp nhận một cách thiếu chọn lọc, thiếu phản biện. Lá “Tình Nhân” còn có một tên gọi khác là lá “Lựa Chọn” (nhiều tình nhân mà), khi Thằng Khờ phải đối mặt với những giá trị của cộng đồng, và giá trị riêng nhất của bản thân để theo đuổi. Tình Nhân lúc này không còn đại diện cho chuyện nam nữ, mà chính là khao khát được hợp nhất, được nhuyễn hoá những phạm trù đối lập nhau, giằng xé nhau, để hình thành nên nhân cách đặc biệt của mỗi con người.

Rider-Waite cho một cảm hứng khác hẳn. Ở đây, con rắn không phải là quỷ dữ, mà tượng trưng cho sự thông tuệ của tiềm thức, và cuộc quyến rũ của Eve dành cho Adam chỉ để đạt đến sự sáng của loài người, và thiên thần ở đó để chúc lành cho đôi trẻ trong cuộc hợp nhất thánh thiện giữa hai phần khác nhau của một bản thể con người.

Lá Tình Nhân tượng trưng cho cung Song Tử. Những người Cung Song Tử thuộc hệ khí và luôn được ví như 2 nhân cách trong 1 cơ thể. Họ năng động, nói nhiều, hoạt náo/bát, có tài giao tiếp, hiểu biết rộng, cả thèm chóng chán, sáng nắng chiều mưa, tối cười sáng khóc, thay đổi liên tục và hay mâu thuẫn với bản thân, thích tự do ghét kiểm soát. Trong tình cảm họ được ví như những con quỷ vì hay thay đổi hay miệng nói nhiều mà không chia sẻ trong thâm tâm muốn gì mặc dù nó rối như rong biển cũng như nếu ng` có tình cảm không có khả năng chạy theo kịp hay ko biết cách giữ lửa tình yêu thì sẽ mất họ



Ý nghĩa chính: Mối quan hệ. Tính dục. Niềm tin cá nhân. Giá trị sống cá nhân.
Khi bốc lá bài này, bạn biết mình đang đứng trước một lựa chọn khó khăn, không nhất thiết phải có liên quan đến tình ái, nhưng đều đòi hỏi mình phải chọn thứ gần gũi nhất với trái tim mình, “tình nhân” của chính mình, và biết bỏ đi những định kiến, quan điểm của xã hội, gia đình… đang áp đặt lên chính mình. Nếu liên quan tới tình cảm, tức bạn đang vướng vào sự lựa chọn lớn khiến bạn nhức nhối đầu. Thiên Thần trong đây được tin là Rapheal mang tới những chữa trị cho vết thương. Bạn đứng giữa việc lập lá chắn hay bước tới chữa cho mối quan hệ hay cứ để nó chết. Bạn phải lựa chọn dựa vào những gì bạn mong muốn nhất và nhìn vào tim bạn muốn gi

- The Chariot VII

Ta tới Chiến Xa với con số 7, con số của chiến thắng sự may mắn và thánh thần

Nhìn hình ta thấy 1 người đàn ông mặc giáp cầm trượng đội miện với 1 ngôi sao lớn, 2 nhân sư 1 trắng 1 đen, rềm nền sao, trên xe thì có cánh đại bàng, trên vai với 2 trăng khuyết  1 cười 1 nhăng  

Plato viết trong cuốn Phaedrus, rằng trí não con người giống như là một cỗ chiến xa, được kéo bởi hai con ngựa, một trắng một đen, y chang như cái cách bộ bài Rider-Waite đã miêu tả lá Chiến Xa. Để ý chí quán xuyến trí não cũng giống như điều khiển hai con ngựa, phải đủ áp đảo để chúng không chạy mỗi hướng một con.

2 con nhân sư tượng trưng cho sinh khí thực với 1 trắng 1 đen biểu thị cho âm dương, đúng sai,.....Cánh đại bàng tượng trưng cho quyền lực. Người cưỡi chiến xa học được cách cân bằng đen trắng, đúng sai lái xe chạy giữa cõi trần với miện có ngôi sao lớn tức sự chu du mọi nơi, mọi hướng. 2 mặt trăng khuyết 1 nhăng 1 cười tức chỉ cảm xúc mà anh ta có. Mặc áo giáp biẻu thị sự mạnh mẽ, quyền trượng cho địa vị và sự kiểm soát

Ở đây chúng ta thấy có hai loại chiến thắng: chiến thắng do sự áp đảo của ý thức, và chiến thắng do sự hòa hợp của các năng lượng trong vũ trụ (cũng là trong con người). Cả hai loại chiến thắng này đều là một phần không thể tách bạch của lá số 7 – Chiến Xa, đại diện cho sự chín muồi trong thế giới vật chất của Thằng Khờ, sau giai đoạn dậy thì và lựa chọn giá trị, con đường đi cho mình ở lá số 6 (Tình Nhân).

Lá Chiến Xa kết thúc 7 lá đầu tiên trong bộ Đại Bí Mật, tượng trưng cho chuyến hành trình trong thế giới vật chất của Thằng Khờ.
Lá này đại diện cho cung Cự Giải. Người Cung cự giải thuộc hệ nước, tình cảm sâu, sự âm ỉ, khôn ngoan, tính mẫu mực, ít nói, ngại ngùng, hay chui vào cái vỏ của bản thân, cứng đầu, khó thoát khỏi cái vỏ của chính mình, tâm tư đều giấu rất cao. Trong tình cảm đòi hỏi nhiều sự đam mê và lâu dài, là cung luôn mong có cái kết hạnh phúc mãi về sau nhiều nhất và luôn mộng 1 gia đình yêu thương ấm áp, tình cảm gia đình đổ vỡ thì họ như con cua lúc chúng ta ăn vậy, tách làm đôi. Khó lành sau tình cảm chia ly


Chiến xa  biểu thị chiến thắng bằng sự cân bằng, kiểm soát bản thân, sự thúc ép bản thân tới  những thứ bạn mong mỏi. Lá bài biểu thị sự đấu tranh của bạn giữa cái cũ và mới, sự đối mặt của bản thân với những khó khăn xung quanh. Với niềm tin nơi bản thân và nhìn sâu vào bản thân bạn thấy được sức mạnh của mình, nó sẽ giúp bạn chiến thắng. Luôn cân bằng bản thân và thúc đẩy bản thân tiến xa hơn bạn sẽ có được những thứ bạn muốn
 
Khi bạn bốc lá bài này, có một sự đắc thắng lớn: bạn chính là người đang áp đảo, đang ở chiếu trên. Nhưng hãy nhớ một điều, mà phương Đông hay phương Tây họ cũng quan niệm như nhau: cái gì đi lên thì sẽ có lúc đi xuống, cùng tất biến, biến tất thông. Nên sự hiện diện của lá bài này còn có một nhắc nhở nhỏ về cách “ăn ở” cho mình: đừng sát phạt quá, hãy mềm mại lại.
Với ý nghĩa chung như sau: Chiến thắng. Ý chí. Sự tự khẳng định. Sự áp đảo.


- The Strength VIII

Ta tới tấm bài Sức Mạnh với con số 8
Con số của may mắn, thông linh theo tín ngưỡng phương đông ( 8 = Bát ) 1 con số hên cực

Trong hình ta thấy người phụ nữ mặc áo trắng mặt dịu hiền trên đầu có vòng Vô Cực/hạn đang vuốt ve 1 con sư tử, và con sư tử trông dễ chịu và hiền hòa

Phụ nữ với áo trắng tượng trưng cho sự thanh khiết, hành động vuốt đầu của con sư tử bằng bàn tay êm dịu biểu hiện cho Nhu, cho sự thuần hóa
khiến con sư tử trở nên dịu hiền và ngoan ngoãn tức là Cương, sự giận dữ, hoang dại, bạo lực hay còn gọi là phần Con.

Vòng sáng Vô Cực trên đầu người phụ nữ tượng trưng cho tri thức, cho tinh thần, sự khai sáng vô hạn. Ta có thể hiểu là Phụ Nữ là phần Người, Nhu, Tri Thức,... còn Sư Tử là phần Con, Cương, rồ dại,....

Hình ảnh người đàn bà nhẹ nhàng vuốt ve con mãnh thú cho thấy khi đối mặt với những vấn đề thuộc về ý thức hệ, cách quản thúc cao tay nhất chính là sự ve vuốt nhẹ nhàng nhất. Vượt trội hơn hẳn gọng kiềm thôi thúc hai con nhân sư trong lá số 7 – Chiến Xa, và hiệu quả hơn gấp nhiều lần so với việc “ghè đá tạo lửa” của lá số 1 – Nhà Ảo Thuật, lá Sức Mạnh cho Thằng Khờ một lời khuyên vô giá về cách thức để cải tạo tư tưởng, thói quen, và cũng chính là để cải tạo thế giới.

Và Lá bài này ai cũng biết tượng trưng cho Cung Sư Tử. Người cung Sư tử thuộc hệ hỏa, đứng giữa bản ngã của Chính Cung Bạch dương và Biến Cung Nhân Mã ( Có 4 chính cung của 4 hệ đó là - Lửa = Bạch Dương, Nước = Cự Giải, Thiên Bình = Khí, Ma Kết = Đất - tức họ có khả năng lãnh đạo cao ) nhưng khi tìm hiểu sâu vào phần chiêm tinh học bạn luôn thấy họ luôn ưu ái Sư tử sự lãnh đạo rất cao

Người Cung Sư tử sôi nổi, như ngọn lửa cháy rực, với chòm sao chiếu mệnh là Mặt trời, sinh ra là trung tâm của mọi thứ khiến họ yêu thích sự Chú ý và từ lâu coi mình là giống hoàng tộc. Cực thích nịnh nọt, là tính xấu muôn đời của người cung này. Vốn không mạnh về mảng Nghệ Thuật vì đa số người cung này chủ muốn sự chú ý và chỉ chú tâm với vẻ bề ngoài, tuy nhiên, nếu vượt qua cái tôi của bản thân và nhìn nhận sâu sắc mọi thứ thì họ thành công rất vượt bậc - Madonna là điển hình cho sư tử cái vượt qua cái tôi của bản thân và những bài học về cuộc sống -. Cái tôi và sự đơn giản quá mức là trở ngại lớn của họ


Sức Mạnh khuyến khích bạn vượt lên bản thân, kiểm soát bản thân với những cơn giận dữ, sự bốc đồng và thiếu suy nghĩ, sự trẻ con để hiểu mọi thứ xung quanh. Khi vướng vào tình huống khó khăn hãy khoang giận dữ đổ lỗi,.... mà hãy bình tĩnh nhìn nhận giải quyết vấn đề để đạt được thứ mình muốn,..........
Ý nghĩa chung của lá Sức Mạnh là: Sức mạnh. Sự kiên nhẫn. Sự đồng cảm. Sự thuyết phục.


Tấm Strengh trong bộ Thoth bị thay đổi  thành Lust khác so với bộ của R.W


- The Hermit IX


Ẩn sĩ với con số 9.
Con số của đỉnh cao của sự Khai Sáng và là 1 con số may mắn theo phương Đông 9 = Cửu

Trong hình ta thấy 1 ông lão đứng trên đỉnh núi tuyết với cảnh tuyết cầm đèn lồng có sao 6 cánh tỏa sáng, tay kia cầm gậy và mặt nhìn xuống

Trên hành trình của bản thân ông đã thành công trong độc lập , ông đứng trên đỉnh núi tuyết cầm đèn lồng rọi sáng và nhìn lại những gì mà mình đã trải qua. Đèn lồng sáng tượng trưng cho sự khai sáng, rọi đường dẫn lối, sự ra tay sẵn lòng giúp người khác, trong đèn có ngôi sao 6 cánh, 1 đỉnh hướng lên, 1 thì hướng xuống ( vì vẽ sao 6 cánh được vẽ bằng 2 tam giác đều mà ). Hình dáng ý chỉ hành trình bắt đầu từ trong ra ngoài

Ông tựa người vào cây gậy ý chỉ sự chắc chắn, tin vào bản thân, sức mạnh cũng như kiến thức, sự vững chãi mà ông có. Áo choàng màu xám = trắng + đen ý chỉ bản thân ông sự hòa trộn.

Lá bài Ẩn Sĩ tượng trưng cho Cung Xử nữ. Người Cung Xử Nữ thuộc hệ Đất tính tình trầm lặng, già trước tuổi như 1ẩn sĩ. Khá lạnh nhạt, nếu thân thì sẽ thấy họ vui vẻ còn không sẽ rất khó gần họ. là người khá tỉ mỉ ( như con gái ) và cầu toàn, đa số người thuộc cung Xử Nữ đều mắc bệnh hoàn hảo hóa - perfectionism - và cầu toàn quá mức, điều này là con dao 2 lưỡi giúp họ tiến xa trong công việc nhưng vì đã ăn vào máu nên việc chọn người yêu của họ cũng cầu toàn không kém dẫn đến đa số Xử Nữ luôn nằm trong danh sách ế dài hạn hay tình tan vỡ nhiều. Người Cung Xử Nữ khá nhạy bén và tỉ mỉ nhưng không may họ luôn tỉ mỉ quá mức cần thiết dẫn họ dễ bị bạn bè xa lánh nếu không hiểu con người họ, càng soi càng tỉ mỉ tức họ càng quan tâm bạn.


Khi bạn bốc lá Kẻ Ẩn Dật, hãy nhìn các lá khác được bốc ra xung quanh Kẻ Ẩn Dật để tìm xem ai có thể làm “thầy dạy” của bạn trong lĩnh vực nào của cuộc sống. Vì nguyên tố của lá này khá tĩnh tại, nếu nó đứng vị trí trung tâm, có vẻ như mọi việc sẽ không thể tiến triển nhanh như ý bạn đâu, nhưng chắc chắn kết quả cuối cùng sẽ không bao giờ làm bạn phật ý. Hãy tận dụng sự chậm rãi của Kẻ Ẩn Dật để chiêm nghiệm mọi trường hợp của vấn đề bạn đang quan tâm, thậm chí đừng ngần ngại tìm đến một ai đó để xin lời khuyên, bạn sẽ biết phải hành động thế nào.
Ẩn sĩ là sự chỉ dẫn, bạn cần 1 người thầy, 1 sự giúp đỡ  có kiến thức cao sâu hơn bạn, sự giúp đỡ ấy sẽ giúp bạn tiến lên 1 bước rất lớn. Con người khi làm chuyện lớn luôn cần sự giúp đỡ từ người cao tay. Đó có thể là 1 người bạn, người thân,....Bạn cần 1 ân nhân cao tay giúp đỡ sẵn lòng đưa bạn sang sông bằng kiến thức và sự lương thiện
Từ khóa cho Kẻ Ẩn Dật là: Tịnh quán nội tại. Sự tìm kiếm. Sự hướng dẫn. Sự cô độc.


- The Wheel of Fortune X

Ta tới được nữa chặn đường của bộ Major Arcana tức Thiên ứng
Lá bài Bánh xe Vận Mệnh - Vận Xa  với con số 10 - con số liên quan tới Sephiroth của Cây Của Sự Sống/The Tree of Life của người Do Thái
Có 10 Sephiroth :

Kether - The Crown;
Hokmah - Wisdom;
Binah - Understanding;
Chesed- - Mercy;
Geburah - Power;
Tiphereth - Beauty;
Netzach - Victory;
Hod - Splendour;
Jesod - Foundation
Malkuth - The Kingdom.



Đầu tiên là trong vòng tròn ta thấy :

1. Cái trục quay ở giữa vòng tròn tượng trưng cho Karma = Nhân Quả, Fate = Vận Mệnh, Destiny = Định Mệnh
2. Bốn con vật ở 4 góc của tấm hình tượng trưng cho Đất = Con bò - Kim Ngưu, Cung Đất, mùa xuân - , Khí = Thiên thần - Bảo Bình, Mùa Đông, hệ khí - , Nước = Chim Ưng - Bò Cạp, Nước, Mùa thu - , Lửa = Sư Tử Chim - Cung Sư tử, hệ lửa, mùa hạ -  với 4 phần của bộ Minor Arcana tức sự kiện nhỏ Pentacle, Sword, Wand và Cups
3. Bốn chữ ở trong bánh xe là  T = Taro/Tora là tên cuốn sách thánh của ng` do thái ( số 2 cầm ) O = Orat - có nghĩa là nói/speak R = Rota A = Ator
4. Con Rắn cũng có thể hiểu là thần Set với 2 nghĩa đó là sự chuyển hóa/biến đổi ( hình tượng rắn lột da ) và xấu xa/ quỷ dữ
5. Người màu đỏ là thần Anubis, 1 thần của Ai Cập cổ là thầnbảo hộ cho thế giới âm ti/địa ngục
6. Nhân sư tượng trưng cho thần Horus là thần của sự tái sinh/resurrection
7. Ba hình tượng Rắn, Anubis, Horus + lại = Sự Sống, Cái Chết, Tái Sinh

Bánh xe Vận Mệnh chính là những gì bạn muốn sau bao công sức bạn bỏ ra, sau bao năm tu hành và Bánh Xe mang vận mệnh, 1 câu trả lời thỏa đáng cho tất cả những mồ hôi và thời gian bạn bỏ ra cho Sự nghiệp, tình cảm,......Mọi thứ thành công, đã ra hoa ra quả,....Bạn đổi vận rồi, thần may mắn cười thả ga với bạn rồi chứ không phải là mỉm cười nữa. p/s : nhớ là kế bên lá Vận Xa không được có bất cứ lá nào thuộc Hệ Khí ( bảo bình, Thiên Bình, Song Tử ) 

Vận Xa không chỉ cung hoàng đạo, mà chỉ hành tinh Sao Mộc, hoặc thời gian là ngày Thứ Năm trong tuần. Từ khóa của Vận Xa là: Vận mệnh. Điểm chuyển vận. Sự vận động. Viễn tượng cá nhân.


- Justice XI

Tấm bài công lý được dấu con số 11 - con số đứng đầu của mọi số ( theo tín ngưỡng ) - đứng giữa bộ bài
Công Lý liên quan tới nữ thần công lý Themis tên Latin là Justicia và cho tới bây giờ ta vẫn thấy hình tượng Themis trên công đường ( phương Tây )
Nữ thần cầm  kiếm và cái cân và bịt mắt để thể hiện sự công tâm.

Nhìn hình ta thấy người phụ nữ cầm kiếm đưa cao và tay kia cầm cái cân, mắt nhìn thẳng vào bạn 1 cách nghiêm nghị với nền đỏ và chỉ lộ 1 chân

Bạn đã đi được nữa chặn đường và bây giờ quá khứ, tương lai dàn ra trước mắt. Đây là lúc gieo nhân nào bạn sẽ gặt quả nấy
Thanh kiếm sẵn sàng cắt sâu tất cả lừa dối và ảo ảnh để đào ra sự thật, vương miện tượng trưng cho địa vị, nền đỏ tượng trưng cho sức sống, đam mê và sức mạnh. Hình ảnh để lộ 1 chân là ể chỉ bà sẵn sàng tiến tới để bảo vệ sự thật
 Tính khắc nghiệt của lá bài này cho thấy một cách tiếp cận vấn đề khá khổ hạnh: nếu đã phụ tình người ta hay ăn trên ngồi trước thiên hạ, thì đây là lúc lùi về nếm chút thiệt thòi, bị tình phụ, bị từ chối, bị đẩy xuống kèo dưới, lui ra cho cán cân công lý thực thi nhiệm vụ của mình.
 

Tấm bài tượng trưng cho cung Thiên Bình. Người Cung Thiên Bình hệ khí, rất có tài ăn nói, ngoại hình lại rất đẹp, luôn đòi sự công bằng tuy nhiên đa số lại bị tính trì hoãn, khó khăn trong việc ra quyết định nhất là vào những sự kiện hay những thứ quan trọng. Họ hoạt bát, nhanh nhẹn. Trong tình cảm họ khá thu hút với vẻ bề ngoài và tính ngoại giao là vì thuộc hệ khí nên đòi hỏi sự tương tác và sự tự do cao, thuộc dạng lận đận trong tình cảm mặc dù nhiều người yêu.
Sự Thiếu quyết đoán là bệnh của đa số người cung THiên Bình bị dính cũng như tính hay ba phải, chính vì ko quyết đoán nên hay ba phải khiến cho cung này cũng bị ghét không kém, Người cung THiên bình thuộc top cung đẹp vì thế hay giữ hình tượng không kém gì sư tử trong tình cảm nếu mọi ng` ủng hộ hay ko dèm pha gì thì không sao nhưng nếu có thì cung này bắt đầu suy sụp giữa hình tượng "con của người ta" với ng` mình yêu

Tất cả những việc làm trong quá khứ, làm ác sẽ nhận quả báo, làm thiện sẽ nhận được quả báo tốt, tất cả đâu ra đó không chừa 1 ngõ ngách nào cả cho nên khi bạn bốc được Vận Xa mà thêm tấm này kế bên thì đời bạn nhận quả báo dài dài. Gieo nhân nào gặp quả nấy, kẻ ác bị trừng trị, ng` thiện được đền đáp.

Y nghĩa chính như sau: Sự công bằng. Trách nhiệm. Quyết định. Nhân quả. Chỉ khi tiếp cận vấn đề bằng cái công tâm và sự đạo đức của mình (khi bốc phải các lá có nguyên tố lửa xung quanh lá này), thì mới mong cán cân công lý ngả về phía mình được. Còn nếu cứ tham lợi (bốc nhằm các lá nguyên tố đất), hay quá cảm tính (lá nước) thì chúc mừng bạn: bể khổ còn dài, “hồi đầu” thì may ra lát hồi mới… “thị ngạn” được!*

Lá này khá là khắc nghiệt, dĩ nhiên khi đứng trước công đường phán xét từng hành động trong quá khứ ai mà chả căng chứ. Sống tốt đi các bạn :v


- The Hanged man XII

À sau sự khắc nghiệt của lá Công Lý, ta tới lá người treo với con số 12
là con số được kết hợp giữa Magician ( 1 ) và High Priestess ( 2 )

Theo hình ta có người đàn ông treo ngược mình, 1 chân 1 treo vào cái cột chữ T , 1 chân vắt lại tạo thành hình số 4, 2 tay chắp ở sau lưng, đầu tỏa sáng 

Tư thế của Người Treo trên cành cây tạo thành chữ thập “Tau” (trong ký tự Hebrew cổ), có nghĩa là “Thế giới”, lá số 12 cũng là ½ chặng đường để đến được lá số 21 là lá “Thế Giới”. Nhìn theo quan niệm người Ai Cập, hình Người Treo cũng chính là phần đầu của cái khóa “ankh”, chìa khóa cuộc đời. Chân người này tạo thành số 4, là số của 4 phương trời, của chính thế giới này.

Trong thần thoại Bắc Âu, lá Người Treo tượng trưng cho việc thần Odin tự treo mình trên cây sống đời để lĩnh hội sự thông tuệ.
Khác với các truyện cổ tích khi nhân vật chính phải ra đi và chu du thế giới để học hỏi, sự học hỏi của “Người Treo” lại là việc tự buộc mình vào một tư thế khó khăn để trải nghiệm một tầm cao mới về sự việc. Như vậy, Người Treo chính là một cách thức chiêm nghiệm thế giới trong bộ bài Tarot.


Lý luận hình tượng là như vậy, nhưng khi rút bài Tarot để hỏi chuyện, thấy lá này thì không hay tí nào! Rõ ràng vấn đề phải nghiêm trọng thế nào thì chúng ta mới buộc phải dừng lại để “treo ngược cành cây” chiêm nghiệm chứ không thể làm gì khác.
Lá Người Treo tượng trưng cho sự ách tắc, sự mắc kẹt, sự tịnh quán nội tại trước khi có thể hành động bước tiếp theo. Đôi khi, nó còn là sự bỏ cuộc. Đã bao nhiêu lần các bạn trằn trọc đêm khuya để suy tính hết đường, và khi thấu đáo rồi, thì quyết định không thể theo đuổi được nữa? Đó là khi bạn đã biến mình thành “Người Treo”.

Lá Người Treo là một trong 3 lá đặc biệt của bộ Đại Bí Mật/ Major Arcana (Gã Khờ, Người Treo và Sự Phán Xét) hoàn toàn không ứng với một cung hoàng đạo hay hành tinh nào, nên sẽ không chỉ được thời gian. Nguyên tố của lá Người Treo là nước



- The Death XIII

Tử Thần với con số đáng sợ 13

Vừa Tử Thần Vừa con số 13, tấm này khiếp đảm vô cùng, KHÔNG. Tấm này không có gì phải lo cả, nhiều người luôn luôn hiểu lầm tấm này

Ta thấy hình ảnh tử thần mặc giáp cưỡi ngựa trắng cầm cờ tới gặp con người ( Vua, đứa trẻ, phụ nữ và thầy tư tế/cúng ) 

Tử thần mặc giáp đen cưỡi con ngựa trắng tượng trưng sự thuần khiết từ cơ thể tới linh hồn, Tử thần đi qua nhiều ngã chết và gặp 3 người
1. Vua  đại diện cho tiền tài, quyền lực, địa vị, danh vọng,..... thì nằm xuống
2. Thầy tu lòng đầy niềm tin, chấp nhận sự ban phước cho 1 cuộc sống mới, lòng kiêu hãnh nhìn thẳng vào mặt Tử thần
3. Người phụ nữ đầy sợ hãi, quay mặt chỗ khác nhưng quỳ và mặc thì khóc trong hối hận và tội lỗi
4. Đứa trẻ thì ngây thơ 1 cách ngớ ngẩn mong mún được đẹp như bông hoa, và khi bông hoa ấy chết nó được hiện lên cờ của Thần Chết

Ta nên coi Death là sự thay đổi, sự đổi mới, lá này hoàn toàn không gì tai hại như nhiều người lầm tưởng
Thực ra với sự ý nhị của vị minh sư Tarot, tất cả những vấn đề liên quan đến “lìa bỏ cõi đời” thường đều là những lá khác chứ không hề là lá Tử Thần. Ví dụ:
-    Mất vì bệnh già qua đời: lá Kẻ Ẩn Dật;
-    Mất sau một ca mổ xẻ, hay sau thời gian ủ bệnh: 3, Kiếm, 6 Kiếm (Bộ Tiểu Bí Mật);
-    Mất vì tai nạn giao thông: 10 Kiếm, 6 Kiếm (Bộ Tiểu Bí Mật).
Nên khi bốc được lá bài Tử Thần, có khi nó chỉ là một sự thay đổi mang tính rốt ráo trong cuộc đời bạn, hoặc ám chỉ ai đó… sinh vào cung Bò Cạp, nên đừng quá lo lắng nhé!


Sức mạnh của cái chết nằm ở chỗ nó chấm dứt tất cả, tàn nhẫn và dứt khoát và nên nhớ là lá này đại diện cho Cung Bò cạp
Tất cả những người cung bọ cạp sống trong sự hiểu lầm, diếm chuyện của bản thân nên gây khó hiểu cho người khác, họ kỳ bí và bí ẩn, là cung nước nên về vấn đề tình cảm họ yêu cầu sự lâu dài và sự chiếm hữu, là cung nguy hiểm với tính trả thù cao, tính chiếm hữu thuộc nhất nhì trong 12 cung
Họ thông minh cực, dí dõm, vui vẻ, tuy nhiên hay suy nghĩ tiêu cực, luôn có 1 nguồn năng lượng tiêu cực nào đó trong họ, thích sống trong cái vỏ của mình. Là cung rất nhạy bén và tinh tường, họ đẹp lạnh lùng và bí ẩn. Trong tình cảm họ thích trai xinh gái đẹp, cỡ nào cũng làm tuốt, mê tình dục, nếu họ thuộc dạng lưỡng tính thì chén nào ngon họ làm tuốt không chừa cho ai. Cách chiếm tình cảm của họ đó là thông minh, biết cách làm họ cười, khiến họ siêu nghĩ tích cực trong bộn bề những tiêu cực họ có, khiến họ thoải mái và yêu họ dài lâu.

cung Bò Cạp, nhà số 8, trong 12 nhà của chiêm tinh học, vốn là nhà của sự chấm dứt nhưng cũng là sự tái sinh, sự biến hình vượt thoát để trở thành một cái hoàn toàn mới mẻ.

Khi rút được lá Tử Thần, điều bạn cần làm là phải bình tĩnh và chấp nhận một sự “vượt cạn”. Có khi nó là một kết thúc (một mối quan hệ, một dự án…). Nhưng nếu chúng ta có thể bình tĩnh đối mặt với điều tồi tệ này và với tất cả sự thành tâm, muốn đưa chúng lên một tầm cao mới, thì bạn đã chiến thắng được Tử Thần.

Lá Thần Chết bạn hiểu rằng, Tre già măng mọc, lá úa rụng nhường chổ cho lá xanh, cái cũ qua đi cái mới tới. 1 sự đổi mới rất mạnh, rất lớn, đổi 180 độ bạn cũng có thể hiểu như thế


- Temperance XIV


Ta tới lá Tiết Chế/Chừng Mực/Điều Độ với con số 14 là kết hợp của lá số 1 Magician và 4 nguyên tố trên thế giới này để có được sự cân bằng

Nhìn hình có 1 thiên thần đang chế nước từ cốc này sang cốc khác ở 1 tư thế khá khó, đôi cánh đỏ, mặt trời nơi phía xa

Nhìn kỹ Tư thế và cách đổ nước cho thấy, nếu không cẩn thận thì nước sẽ đổ ra ngay, nhưng thiên thần vẫn từ tốn, bình tĩnh chế nước qua, nó giống như bạn phải kiểm soát từ cảm xúc tới trạng thái, hoàn toàn tập trung, từ tốn, chậm mà chắc nếu không muốn nước bị đổ ra ngoài
Mặt trời phía xa chính là sự khích lệ, 1 tương lai tươi sáng mà bạn sẽ có, tính tích cực của lá bài

Lá Tiết Chế có quan hệ mật thiết với thuật giả kim. Ví dụ trong bộ Thoth của Crowdley, lá bài này thể hiện ba nguyên tố quan trọng nhất của thuật giả kim là: muối (màu trắng), sulfure (màu vàng) và lửa (màu đỏ).


A.E. Waite thì thể hiện hình ảnh một thiên thần đang đổ hai cái bình vào nhau, một bình là nước và một bình là lửa, thể hiện sự kiên nhẫn làm một điều tưởng chừng như không thể thực hiện được.

Lá Bài tượng trưng cho Cung Nhân Mã. Vâng, khá châm biếm khi Nhân Mã là cung thích ngao du mạo hiểm năng động mà lại rơi vào lá Tiết Chế. Thật ra còn cung nào khác phải học cách chừng mực trong cuộc sống ngoài Cung Nhân Mã. Người Cung Nhân Mã hệ lửa, hừng hực sức sống, năng động, đa số thích thể thao và bị thu hút bởi những người năng động thể thao luôn. Họ ưa tự do, 1 con ngựa không thích bị xích chứ nói chi là nửa người nửa ngựa. Về nhan sắc họ đẹp cho tới đẹp nhất trong 12 cung, nét đẹp họ rất đa dạng, có sự cân đối 1 cách hoàn mỹ ( nếu là cung nhân mã mà không đẹp thì rất tiếc với bạn ). Họ thích làm gì thì làm và không màn hậu quả hơn cả Cung Khí, sống khá vô độ và vô lo. Trong tình cảm, nên dùng trách nhiệm và hệ quả ràng buộc họ như 1 cái chuồng vô hình, chứ không phải dùng trách nhiệm để ràng buộc họ chặt vào bạn như thế sẽ phản tác dụng. Nên cho họ tự nhận thức trong tình cảm để họ luôn bên bạn.

Là bài yêu cầu sự chậm lại, tiết chế, bình tĩnh hoặc là dừng. Nếu không bạn sẽ lãnh hậu quả không hề nhẹ. Bạn nên nhớ 1 câu " Chậm mà Chắc" đừng lúc nào chỉ biết hùng hục tiến tới.
Phải bình tĩnh, tịnh tâm, thư giản rồi đi tiếp.


- The Devil XV

Ta tới lá bài mà ai ai cũng bị đó là Ác Quỷ với con số 15 được kết hợp bởi số 1 Magician và 5 nguyên tố (Đất, Nước, Khí, Lửa, Tinh thần ) Cho mục đích Duy Vật/materialistic

Trong hình có 1 con quỷ tay phải 5 ngón đưa cao, tay trái cầm đuốc đưa xuống, 2 người 1 nam 1 nữ trần truồng bị xích nhưng mặt vẫn bình thường và xích thì không hề khóa, Sao 5 cảnh đảo ngược.

Tư thế giơ tay của con Quỷ đảo ngược so với tư thế giơ tay của Magician, hình sao 5 cánh ngược vừa là sự bôi bác Chúa, vừa là hiện thân của Quỷ và vừa là biểu trưng cho thế giới vật chất. Cặp nam nữ bị xích vào tản đá nhưng không hề khóa và mặt của họ rất bình thường biểu trưng cho sự chấp nhận. Sự trần truồng biểu thị sự dễ vỡ, dễ tổn thương.
Cặp đôi trao đổi sự khao khác vật chất và chấp nhận xiềng xích của vật chất. Nhìn những người mê tiền xem là bạn sẽ hiểu

Chúng ta có thể cảm thấy bị bất lực, bị xiềng xích bởi những cám dỗ, bởi hỉ nộ ái ố của cuộc đời, nhưng nên nhớ bản thân chúng ta đều có sự lựa chọn. Ở lại làm mồi cho quỷ dữ nhảy múa đắc thắng, hay mạnh mẽ giật tung xiềng xích để thoát ly. Ở đây chủ đề Thiên Chúa Giáo khá đậm nét, với motif Adam và Eve đứng trước sự cám dỗ của Satan, nên khó có thể áp những hệ thức luận khác vào lá Quỷ Dữ.

Khi bốc lá này, bản thân người bốc đang lâm vào một tình cảnh khá là “dở khóc dở mếu”, bị ràng buộc, bị kiềm hãm, mà có khi nguyên nhân lại chính là do sự tham-sân-si của chính bản thân mình. Lá Quỷ Dữ đối thoại trực tiếp với quan điểm của thánh Thomas Aquinas thế kỷ 12 về cái gọi là “sự tự do lựa chọn” (free will) của các con chiên đứng trước sự tiền định của vận mệnh. Liệu chúng ta sẽ là nô lệ cho Quỷ, hay là tác nhân mạnh mẽ tự do làm chủ vận mệnh.

Và 1 sự ngặt nghèo nữa đó là Lá bài này tượng trưng cho cung Ma kết. Còn cung nào tham công việc và tham vọng đen tối (ngang với bò cạp ) khác ngoài cung Ma kết. Người Cung Ma Kết, ít nói, hiền không hiền, dữ không hẳn nhưng có chuyện thì bạn nên chạy. Trong công việc họ rất tham vọng, rất tham công việc, trâu trong công việc. Điều này khiến họ có danh vọng tiền tài khá cao nhưng bù lại trong tình cảm rất lận đận vì yếu tố công việc luôn chi phối họ. Nếu muốn yêu họ hay dài lâu thì hãy hiểu và thông cảm cho họ mà hãy đợi họ làm việc xong r quay lại tình cảm, đó là mẫu ng` yêu và bạn đời họ mong mỏi, họ khá lạnh lùng và khó bắt chuyện. Một mẹo để chiếm tình cảm của họ đó là nói về công việc và tương lai với họ, họ thích người có tham vọng và xu hướng mạnh mẽ.
Về Dung nhan thì họ đẹp, họ đẹp vững chắc và đôi khi ta cảm thấy họ che giấu sự xấu xa nào đó bên trong họ khác 1 chút so với Bò cạp


- The Tower XVI

Ta tới Tòa Tháp với con số 16 cực đẹp  được kết hợp từ số 1 Magician và số 6 The Lovers nhưng lá này không đẹp tí nào

Hình ta có 1 Tòa tháp bị sét đánh đỉnh đầu rớt ra và cả tháp đang dần vỡ vụng, có 2 người bay ra ngoài, có lửa và sấm sét

Hai người 1 nam 1 nữ là cặp đôi trong tấm Lovers nhưng bây giờ họ đã mặc đồ tượng trưng cho sự che đậy và họ rơi xuống mà không biết họ sẽ rơi xuống chốn nào đất hay con sông hay đá cằn cỗi,... 1 vận mệnh không ai biết được, sự tàn phá tuy ghê rợn nhưng lại có ý nghĩa nằm đằng sau, bức tường được xây dựng để bảo vệ cái Tôi và sấm sét đánh vào tàn phá với danh nghĩa sự khai sáng và loại bỏ, những tia lửa nhỏ tóe ra xung quanh là YOD là từ đầu tiên người Hebrew dùng để gọi GOD. Chúng cho ta thấy tàn phá là 1 món quà của nhận thức và sự sửa chữa, khai sáng


Lại một chủ đề mang tính Thiên Chúa Giáo nữa mà chúng ta khó lòng dùng các hệ thống khác để lý luận. Chuyện trong Cựu Ước kể rằng, loài người quá tham vọng nên cùng nhau xây một tòa tháp cao Babel vươn lên tới trời để “được bằng Thượng Đế”, Thượng Đế giận dữ giáng sấm sét xuống phá tan tòa tháp, đồng thời khiến loài người tán loạn chạy đi, mỗi người lại nói một tiếng khác nhau khiến chả ai hiểu ai nữa, để không thể có công cuộc tụ tập nhau xây tháp lần hai nữa. Những chất chồng của tham vọng đôi khi sẽ chỉ nhận lãnh lửa từ trời giáng xuống mà thôi!

Trong bói toán thường thức, lá Tòa Tháp chỉ nên hiểu đơn giản là “cancel”, là “hủy”. Hủy họp, hủy hôn, hủy hợp đồng, li dị… Lá Tòa Tháp đáng sợ ở chỗ nó xảy ra bất thình lình, không báo trước, khiến mọi người luôn lâm vào tình huống bị động; và cũng giống như lửa trừng phạt từ trời giáng xuống, nó còn mang tính thanh tẩy.

Thần chiến tranh, Mars, làm chủ lá bài có nguyên tố lửa này. Lá Tòa Tháp chỉ ngày Thứ Ba trong tuần.
Mọi chuyện xảy ra đều có nguyên do của nó. Sự Tàn phá chính là sự dạy dỗ, 1 bài học cho mỗi chúng ta và dĩ nhiên chuyện bất thình lình ta không thể đỡ được và chỉ biết học cách chấp nhận, rút kinh nghiệm mà tiến tới


- The Stars XVII

Ta tới Ngàn sao :))~ Lá Ánh Sao với con số 17 được hợp lại từ Magician số 1 và số 7 Chiến xa Chariot

Trong hình có 1 người phụ nữ trần truồng cầm 2 bình 1 bình đổ vào hồ 1 bình đổ xuống đất, 8 ngôi sao với 1 ngôi sao lớn nhất và sáng nhất xunh quanh là  7 sao nhỏ, 1 con chim nhỏ

Người phụ nữ tận dụng những gì cô có, sự linh hoạt, sáng tạo, năng động từ nước, và đổ vào cuộc sống thường ngày của bà ( đổ xuống đất )
từ đó bà tạo ra 1 vòng tròn hoàn hảo cho hệ sinh thái và bản thân bà ( nhiều người thấy nước đổ xuống đất thì la lên là phí nhưng không hề với lá bài này và thực tế ta cần nước ở mọi thứ trong cuộc sống này và bên trong bà đã có sẵn nước r ), sự trần trụi tượng trưng cho trong trắng và trung thực  gương mặt bà điềm đạm, bình tĩnh, có sự thiền trong người của bà

Ánh sao tượng trưng cho hi vọng và mơ ước, bạn từng mơ ước điều gì cho cuộc sống và công việc thì đây là lá bài bạn cần, nó mang cơ hội tới cho bạn thứ mà ai cũng ao ước và không đâu khác đó là đến từ bên trong bạn ý thức và trái tim bạn, tin tưởng vào bản thân. Đừng hoài nghi mà hãy tiến tới, tận dụng nguồn nước bên trong của bạn

Hình ảnh một người phụ nữ không khoác bất kỳ trang phục nào lên người đang quỳ xuống đổ hai bình nước chảy tràn trề giữa những vì sao tám cánh trong bộ gốc Rider-Waite thể hiện sự tự do bay bổng của tiềm thức. Con chim đứng bên phải của hình chính là chim Ibis, hiện thân của vị thần Thoth (Ai Cập) được cho là cha đẻ của tất cả các loại hình nghệ thuật, từ thi ca đến điêu khắc. Ibis dạy những người nghệ sĩ đầu tiên cách sáng tạo nghệ thuật, nhưng cũng có thể hiểu là sự sáng tạo được rút tỉa từ chính “vũng nước” lan tràn của tiềm thức.

Trong bộ Đại Bí Mật, có hai lá chỉ sự sụp đổ, xóa sổ, là lá Tử Thần và lá Tòa Tháp, một lá chấm dứt sắc lẻm và lạnh lùng như lưỡi hái của thần chết, một lá bùng nổ và tận diệt của lửa từ trời giáng xuống (Tòa Tháp). Như vậy ta cũng có thể so sánh hai khung cảnh “hậu tận thế” giữa hai lá Tiết Chế và lá Tinh Tú.

Tiết Chết đứng ngay sau Tử thần thể hiện hình một thiên thần đang cầm hai cái bình và đổ nước qua lại giữa hai cái bình đó
Sau Tiết Chế rồi Tòa tháp và cuối cùng là Ánh Sao Tinh Tú, 1 ánh sáng cuối đường hầm mà bạn cần. Trong bốc bài bói toán, lá Tinh Tú thường chỉ xuất hiện sau khi có một tai họa kinh khủng xảy ra. Đó chính là “ánh sáng cuối đường hầm”, là sự nhân từ của số phận dành để an ủi một linh hồn loạn lạc sau cơn bể dâu.

Và Nhìn hình với hình tượng đó bạn nghĩ ngay tới cung gì ? Đó là Bảo Bình, người cung bảo bình lơ đãng, lúc nào cũng như trên mây, mơ mộng nhiều và sống bằng lý trí, cứng đầu và yêu tự do, ham thích cái mới và tinh thần học hỏi cao. Là cung có nhiều thiên tài và nhà nhân đạo bậc nhất. Tuy nhiên họ lạnh lùng và đa số lãnh cảm, khá kênh kiệu và hay tự cho mình đúng. Tiếp thu nhưng vẫn làm theo ý mình. Khí tiết của họ tỏa ra khiến mọi người cảm thấy tươi mới và dễ chịu cũng như lời nói, họ nắm thông tin nhanh và khá nhạy cảm nên lúc buồn bạn nên tìm 1 bảo bình mà chia sẻ. Nét đẹp cung bảo bình thuộc dạng lưỡng tính tức Nam có nét đẹp của Nữ và Nữ có nét đẹp của Nam. Khiến cho họ sở hữu nét đẹp thanh tú và mạnh mẽ, sự trộn lẫn tinh tế ( theo Hy Lạp bảo bình đc lập ra cho Ganymede thiếu niên đẹp nhất trần gian bấy giờ ). Có điều người cung bảo bình rất xa cách và ranh ma phàm việc gì cũng nghĩ cho bản thân trước mặc dù họ luôn nghĩ cho người khác, họ rất ngược đời. Có 2 loại bảo bình đó là Khác Người và Lập Dị.

Các từ khoá thường đi kèm là: Hi vọng. Niềm cảm hứng. Sự bác ái. Sự thanh bình.


- The Moon XVIII

Ta tới lá Mặt Trăng với con số 18 kết hợp từ Magician và Strength ngoài ratrong pháp thuật 9 là con số của mặt trăng 1 + 8 = 9

Trong hình có Mặt trăng, 2 con chó sói đang sủa, tôm hùm ló dạng.

Con tôm trồi lên mặt nước và đi lại mặt trăng thấy 1 con chó và 1 con Sói - 1 thuần 1 hoang dã - như 2 mặt của đồng tiền
Mặt Trăng luôn là đề tài lớn lãng mạn của thi ca phương Đông, nhưng trong tâm thức của người phương Tây, mặt trăng chứa đựng nhiều thứ phản trắc và hung hiểm hơn. Trong Romeo và Juliet của Shakespeare, chả phải nàng Juliet đã từng nói: “Xin đừng thề thốt bởi vầng trăng, bởi trăng kia khi khuyết khi đầy, em sợ tình chàng cũng thay đổi theo.” Những đêm trăng rằm đều thường có những hiện tượng sói tru, người hoá điên, các vụ giết người tăng vọt, xe cộ kẹt cứng… Ma sói cũng là từ trăng rằm mà ra. Chữ “lunatic” (bị khùng, điên) trong tiếng Anh cũng là lấy gốc từ “luna” (mặt trăng) trong tiếng Latin mà ra để chỉ hiện tượng trăng rằm, triều cường, nước trong cơ thể cũng dâng trào mà khiến bà con tán loạn cả lên.


Rời khỏi sự lãng đãng và tự do của lá Tinh Tú, chúng ta đến một mức tự do mới: loạn! Hình ảnh chó sói, con bò cạp, tòa tháp bỏ hoang và ánh trăng lừa mị trong lá Thái Âm thể hiện một thế giới thực thực ảo ảo, hình ảnh bị bẻ cong đầy liêu trai, không hề có một trật tự lề lối nào trong bức tranh. Tất cả đều là sự bứt rứt của bản năng đang cuồng động dưới ảnh hưởng ma quái của trăng rằm.

Với lá Thái Âm, khi rút được, chúng ta nên cẩn thận. Đây là lá duy nhất của bộ bài Tarot có thể biến ngược hoàn toàn ý nghĩa của các lá đứng gần nó. Lời khuyên duy nhất khi bốc được lá Thái Âm chính là “thả bè trôi sông”, nhắm mắt lại, và hãy để mặc mọi thứ trôi đi mà không khán cự lại, tin vào chính con tim của mình.

Lá Thái Âm/Mặt Trăng tượng trưng cho cung cuối cùng Song Ngư. Người cung này mơ mộng cực kỳ, đầu luôn trên mây và thuộc hệ nước nên tình cảm yêu cầu gắn kết cao + cần người chung mơ mộng thì tuyệt vời. Nhưng quá mơ mộng dẫn đến thiếu thực tế, 2 con cá bơi ngược dòng, 1 con xuôi 1 con ngược, nếu con cá vượt lên bản thân đấu tranh thì sẽ thành cá mập nhưng nếu con cá đó mà quá yếu ớt, không lý tưởng và đầy sợ hãi thì sẽ thành cá mồi. NGười cung này cần đấu tranh nhiều cho bản thân cũng như sự thực tế mà họ phải nhìn nhận chứ không nên cố chấp. Họ nhạy cảm và cực thích sự lãng mạn, bồng bềnh. Nét đẹp của họ thuộc dạng nhẹ nhàng với nam thì nhìn họ hơi ái ái và yếu yếu mặc dù đa số họ chả yếu, rất dễ cho 1 nam/ nữ song ngư có đc người yêu vì tính mơ mộng và lãng mạn tuy nhiên nếu thực tế tát vào mặt họ thì họ sẽ vỡ ra mà khóc. Bên trong họ khá yếu đuối thế.

Các từ khoá đi kèm lá Thái Âm là: Sợ hãi. Ảo ảnh. Sự tưởng tượng. Hoang tưởng.


Phần cuối : https://www.facebook.com/notes/illuminati-vi%E1%BB%87t-nam/tarot-cards-%C3%BD-ngh%C4%A9a-ph%E1%BA%A7n-cu%E1%BB%91i-/649103035158896