Saturday, February 27, 2016

Tâm hồn Nô lệ

Những tâm hồn nô lệ đích thực
mang cái nhà tù trong lòng mình
và an vui trong cảnh chim lồng cá chậu ấy...

Tâm hồn tự do coi trọng tự do hơn sinh mạng của mình.
Ngược lại, tâm hồn nô lệ coi trọng sinh mạng của mình hơn tự do.

Tâm hồn nô lệ Việt Nam có những triệu chứng như sau:

1. Tâm hồn luôn luôn tìm ra mọi cớ để lỡ những chuyến tàu lịch sử qua câu nói thường nghe: "Cái nước Việt Nam mình nó như thế..." Vì nó "như thế" trong hiện tại nó sẽ "như thế" trong tương lai. Não trạng nô lệ ấy sẽ truyền lại qua nhiều thế hệ.

2. Tâm hồn "con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo" mà nhà văn Dương Thu Huơng từng phê phán nhiều lần. Từ đấy họ mới sinh ra ảo vọng Đảng sẽ thay đổi, và đưa đến hiện tượng đối lập trung thành. Tâm hồn tôi tớ cúc cung ấy không bao giờ nhìn đến tận cùng nguyên nhân của tất cả nguyên nhân chính là thể chế.

3. Tâm hồn sinh ra từ trong gông kiềm và trấn áp nên sự sợ hãi là phương cách sống. Người nào biết sợ người ấy sống lâu. Vì sợ hãi nên đa số chưa bao giờ sống trọn vẹn một ngày trong đời. Sợ hãi làm họ mờ lương tri, thờ ơ trước mọi sự và trước số phận của người khác. Cái bóng sợ hãi theo suốt sự tồn tại của những nô lệ.

4. Tâm hồn không biết mơ mộng nên chiều cao nhân phẩm của mình ngày càng thu nhỏ lại. Vì không dám mơ ngày tự do nên tâm hồn ấy tìm niềm vui trong những ảo tưởng, trong những thú vui rượu chè, xác thịt, trong sự khoe khoang của cải lố bịch, trong sự cam phận buông xuôi trước nghịch cảnh. Tâm hồn không dám thay đổi, chỉ biết cúi mặt đi tiếp trên lối mòn của số phận.

5. Tâm hồn nô lệ không có lương tâm cá nhân, chỉ có sự phục tùng trước cường quyền. Cho nên những kẻ làm sai ăn ngon, ngủ yên, không băn khoăn, dằn vặt, không cảm thấy trách nhiệm và tội lỗi. Theo thời gian họ là những nô lệ mất hết tính người.

6. Tâm hồn nô lệ cũng là tâm hồn của những kẻ sau khi được tự do ở xứ người rồi nhắm mắt làm ngơ trước tình cảnh của những nô lệ khác trong nước và quay về vui chơi trên nước mắt và niềm đau của những người bạn nô lệ ngày xưa của mình.

Đặc điểm chung cho tất cả những tâm hồn nô lệ đích thực là họ mang cái nhà tù trong lòng mình và an vui trong cảnh chim lồng cá chậu ấy.

Trần Quốc Việt

Friday, February 26, 2016

Vì đâu đạo đức xã hội xuống cấp như hiện nay?

Ở VN trong thời gian qua, sự xuống cấp về đạo đức xã hội đã trở thành vấn đề được dư luận xã hội hết sức quan tâm.

Nguyên nhân gốc rễ của việc đạo đức xuống cấp trong xã hội là do người ta đã xa rời dần với Văn hóa truyền thống của dân tộc, để du nhập từ nước ngoài về Học thuyết ‘đấu tranh’ với tên gọi là ‘học thuyết Mác – Lê Nin’.

Văn hóa truyền thống của dân tộc mang tính bản Thiện rất lớn, có hàm nghĩa sâu xa với ý nghĩa giáo dục rất cao. Còn học thuyết ‘đấu tranh’ của Mác – Lê Nin lại trái ngược với văn hóa truyền thống dân tộc, thực tế cho thấy đối với “vật chất” thì nó không giúp đất nước giàu mạnh lên được; đối với “tinh thần” thì không những không giúp nâng cao đạo đức mà còn khiến đạo đức xã hội suy đồi trầm trọng. Bởi vì học thuyết ‘đấu tranh’ rồi ‘vô thần luận’ khiến người ta không còn tin rằng con người do trời đất sinh ra, từ nhỏ đến lớn bị ô nhiễm bởi học thuyết đấu tranh giai cấp khiến người đấu với người, người đấu với trời, người đấu với đất, khiến đạo đức con người hoàn toàn băng hoại.

Thực trạng vấn đề đạo đức xã hội hiện nay

Chưa bao giờ các hành vi vô nhân tính, vô đạo đức trong các mối quan hệ xã hội, kể cả giữa những người thân trong gia đình lại xuất hiện với một tần xuất dày đặc trên báo chí như hiện nay.

Đứng trước thực trạng này, Chính phủ vừa ban hành nghị quyết về chương trình hành động thực hiện nghị quyết số 33 của Trung ương Đảng. Theo đó, Chính phủ đã đặt mục tiêu đến năm 2020 sẽ ngăn chặn xong và đến năm 2030 sẽ đẩy lùi được sự xuống cấp của đạo đức xã hội.

Đánh giá về thực trang vấn đề đạo đức xã hội ở VN hiện nay, PGS. TS. Sử học Hà Minh Hồng, Trường Đại học KH-XH & Nhân văn thấy rằng, việc xuống cấp đạo đức xã hội là điều có thật. Ông cho biết:

“Cái gọi là xuống cấp của đạo đức xã hội là điều có thật và cái dấu hiệu này thậm chí còn được một số người quan trọng hóa cho rằng tình trạng xuống cấp nghiêm trọng. Và người ta đánh động đến các ngành, đặc biệt là ngành giáo dục, đặc biệt là hệ thống nhà trường, đặc biệt là những người được đào tạo, được giáo dục, tôi cho rằng họ có cơ sở của người ta. Nhưng về phía tôi thì thấy rằng trong thực tế chúng ta có nhiều cái tốt đẹp, nhiều cái thiện, nhiều người tốt, nhiều sự việc thì trên thực tế nó bị chìm nghỉm đi. Còn những cái xấu kia thì nó nổi trội lên như thế.”

Nhà báo Nguyễn Thế Thanh, nguyên Phó giám đốc Sở VHTT cho biết suy nghĩ của mình, bà nói:

“Tôi nghĩ một khi đạo đức xã hội xuống cấp thì mình phải thừa nhận nó thôi chứ chối cãi thế nào được. Thế nào là xuống cấp? Tức là: vợ giết chồng, chồng giết vợ, cha mẹ giết con cái, con cái giết cha mẹ chỉ vì không được chia một mảnh đất cho nó công bằng, theo như nhận thức của họ. Theo tôi nghĩ, đạo đức xã hội thế là xuống cấp rồi.”

Khi được hỏi, phải chăng vấn đề giáo dục là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này?

Không đồng ý với quan niệm đó, bà Nguyễn Thế Thanh chia sẻ:

“Tôi không tin điều đó đâu, thế cái ông BS. ở phòng mạch Cát tường là cái gì đấy? Ông ấy có là trí thức không? Ông ấy là thạc sĩ y khoa đấy chứ! Cái anh chàng sinh viên chặt tay người ta để cướp có là trí thức không? Trí thức đấy chứ! Cho nên cái việc gây ra tội ác, người có lòng ích kỷ nó không chọn người có bằng cấp hay người không có bằng cấp để nó chen vào. Tôi tin rằng sự tử tế nó có cả ở những người chữ ít, nó có cả ở những người chữ nhiều. Vấn đề ở đây là gì? Là chúng ta dạy họ làm người, đã làm người thì dù giàu hay nghèo, dù là nhiều chữ hay ít chữ, thì là người chỉ được phép làm những điều như thế này thôi!”

Nguyên nhân xa gần

Trả lời câu hỏi, nguyên nhân do đâu khiến cho đạo đức xã hội ở VN đã xuống cấp tới mức báo động như hiện nay?

Khả năng quản lý và thực thi pháp luật của nhà nước hiện nay không đáp ứng nổi là nguyên nhân chính. TS. Kinh tế Nguyễn Hữu Nguyên, cho biết:

“Tôi cho rằng chính cái quản lý và thực thi pháp luật xuống cấp, chứ không phải pháp luật của chúng ta xuống cấp. Nếu chúng ta giở các bộ luật Hình sự hay Hiến pháp của các nước sẽ thấy, bao giờ Hiến pháp cũng hướng tới Chân, Thiện, Mỹ. Không có Hiến pháp nước nào cho phép những cái đó cả. Nhưng mà ở ta nó vẫn diễn ra, thì chứng tỏ bộ máy của cơ quan quản lý để thực thi pháp luật nó đã xuống cấp. Xuống cấp ở cái đó, tôi cứ nói thẳng thắn là xuống cấp ở khả năng quản lý và thực thi pháp luật. ”

Đây là hệ quả của nhiều vấn đề, cả ở giáo dục, quản lý nhà nước kể cả về mặt lý luận. TS. Giáo dục Nguyễn Việt Hùng cho hay:

“Trong trường học môn Đạo đức thì biến thành môn Giáo dục công dân, khô khan, công thức và sơ cứng. Tôi còn không hiểu nổi, thì làm sao các cháu thiếu niên nhi đồng họ hiểu được? Trong tổ chức đoàn thể chúng ta thử nhìn lại xem cơ quan nhắc nhở nhau về đạo đức được mấy lần? Đi trễ về sớm triền miên, vi phạm quy định của tổ chức hay có cách sống ích kỷ, vô cảm rất nhiều nhưng ai nhắc nhở? Và cuối cùng là chuẩn thang giá trị về đạo đức thay đổi mà không ai đánh giá, không ai kiểm soát và không ai nhắc nhở. Cho nên, những cái đó nó làm cho sự ích kỷ, vị kỷ của con người trong KT thị trường trở thành bộc phát. Chính do như thế nó trở thành thách thức xã hội.”

Việc cạnh tranh không lành mạnh giữa các cá nhân, trong điều kiện chưa có nền tảng về đạo đức, pháp luật là nguyên nhân cơ bản nhất, bà Nguyễn Thế Thanh cho biết:

“Vì sao nó xuống cấp thì là vì, khi chúng ta đi vào kinh tế thị trường thì chúng ta phải chấp nhận có sự cạnh tranh, nhưng là sự cạnh tranh lành mạnh, có đạo đức, có pháp luật. Nhưng ta chưa xây dựng đầy đủ cái nền tảng ấy cho nên người ta cứ chăm chăm vào cái cạnh tranh mà thôi. Để có một đồng lương cao hơn, một chỗ làm tốt hơn… thì người ta phải cạnh tranh rất nhiều. Nhưng thay vì cạnh tranh bằng năng lực, bằng chuyên môn thì người ta có thể làm theo cách khác. Đó là có những người đạo đức kém, năng lực thì vừa phải thậm chí kém nhưng vẫn được đưa vào những vị trí quan trọng. Và khi họ vào những vị trí quan trọng ấy thì tự nhiên người ta sẽ hành xử như cái đã đưa người ta lên”

Nói về vai trò của truyền thông trong vấn đề góp phần chặn đứng sự xuống cấp của đạo đức xã hội, TS. Nguyễn Việt Hùng cho hay:

“Chúng ta phải tôn vinh người làm nghĩa cử hào hiệp, tốt phải khen, xấu phải chê. Chứ nếu còn không, người ta làm tốt không khen, người vi phạm đạo đức không chê, không lên án thì tất cả mọi người ngang nhau, đồng thau lẫn lộn, Thiện Ác lẫn lộn. Và như thế nó sẽ không tạo thành sức mạnh động lực để người ta tôn vinh cái hay, cái đẹp.”

Đạo đức là tập hợp những quan điểm về thế giới, về cách sống của một xã hội, nhờ đó con người có thể điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng xã hội. Trong một xã hội có đạo đức chuẩn mực, thì lòng nhân đạo sẽ lan tỏa, ngấm dần dần vào trong tâm hồn, vào hành động của mỗi con người. Như thế, xã hội sẽ dần dần trở nên an bình, ổn định hơn và cái ác sẽ bớt dần đi, lúc ấy cái ác sẽ không còn là điều phổ biến và tràn lan như hiện nay.

Bi kịch từ kỳ vọng của phụ huynh

Pan, 28 tuổi (hiện sống ở Toronto - Canada) đã từng là niềm tự hào của cha mẹ cô, những người Việt định cư ở Canada từ nhiều năm trước và nuôi dạy các con với một niềm tin về tầm quan trọng tuyệt đối của việc thành công trong học tập. Họ gọi cô là “đứa trẻ vàng” vì cô luôn đạt điểm tốt, giành được học bổng vào ĐH, tốt nghiệp ngành dược danh giá của Trường ĐH Toronto và có việc làm tốt trong một phòng thí nghiệm huyết học.

Ác mộng của áp lực thành công

Nhưng tất cả chỉ là một sự dối trá. Sự thực là cô thi rớt trung học, nói gì tới ĐH Toronto mà cô đã đóng kịch. Jenifer Pan đã nói dối cha mẹ về những thành tích học tập của mình. Tháng giêng vừa qua, cô vừa bị tuyên án chung thân vì đã cùng với bạn trai thuê người giết chết cha mẹ (theo Toronto Life, Washington Post).

Cấp 1, Pan từng là học sinh đứng đầu lớp, nhưng khi lên lớp 9, cô chỉ đạt điểm khá. Cô đã tự chế ra những bảng điểm xuất sắc cho mình bằng cách cắt dán, photocopy. Thật ra điểm khá là bình thường nhưng trong gia đình Pan, nó bị coi là không thể chấp nhận được, so với tiêu chuẩn khắt khe của họ về thành tích học tập.

Cô thi rớt ĐH và giả vờ được trúng tuyển, ngày ngày khi cha mẹ cô thấy cô đón xe bus “đến trường” thì thực ra cô tới thư viện và hẹn hò. Vào lễ “tốt nghiệp”, cô nói sẽ rất đông người và không còn vé mời để cha mẹ cô có thể tham dự. Họ bắt đầu nghi ngờ, cuối cùng đã tìm ra sự thật.

Với sự giúp sức của người yêu, cô lên kế hoạch giết bố mẹ. Pan đóng vai bất lực chứng kiến kẻ cướp bắn cha mẹ. Ba kẻ được thuê đã bắn chết mẹ cô, còn cha cô trúng đạn và bị thương rất nặng.

Mặc dù trường hợp của Pan có tính chất cực đoan và cá biệt nhưng những trường hợp tự tử hoặc tâm thần do áp lực thi cử, học hành thì đã xảy ra không ít ở Việt Nam. Viện Sức khỏe tâm thần quốc gia một năm khám và điều trị cho khoảng 3.000 bệnh nhân nội trú và 36.000 bệnh nhân ngoại trú. Trong đó, nhóm đối tượng học sinh - sinh viên đến khám và điều trị chiếm tỉ lệ khoảng 10%. Thời điểm học sinh đến khám và điều trị thường vào dịp tập trung ôn thi tốt nghiệp, thi ĐH.

Từ khóa “tự tử vì áp lực thi cử” cho chúng ta 13.400 kết quả tìm kiếm trên Google trong vòng 0,5 giây! Còn bao nhiêu trường hợp khác, không đi tới kết cục tự tử hay tâm thần nhưng đã phải sống một tuổi thơ bất hạnh và vào đời lạc hướng chỉ vì những mong muốn cũng như kỳ vọng quá cao của cha mẹ?

Thùy An vào ngành y trong lúc em không hề thích trở thành bác sĩ, mà chỉ vì cha mẹ em coi đó là một nghề nghiệp danh giá và một kế mưu sinh vững chắc cả đời. Ở tuổi 18, em không biết làm gì khác hơn là tuân theo mong muốn của cha mẹ, học trối chết để vào được trường y và 6 năm tiếp theo quên ăn quên ngủ để lấy được tấm bằng bác sĩ. Tới lúc ra trường hành nghề, em không tài nào chịu đựng nổi cảnh máu me rên xiết của bệnh nhân, cuối cùng phải bỏ đi làm nghề nhiếp ảnh - một công việc thu nhập bấp bênh nhưng làm cô rất thích thú. Tấm bằng bác sĩ cuối cùng xếp vào đáy tủ. Cùng với nó, cô mất đi 6 năm tuổi trẻ và cha mẹ cô thì mất một núi tiền.

Thực tế tại Việt Nam, không biết bao nhiêu người đã cố sống cố chết học để đáp ứng mong muốn của cha mẹ và không bao giờ có cơ hội để biết mình thực sự là ai, có khả năng gì đặc biệt, có những ước mơ như thế nào, có thể làm được điều gì.

Thay vì mơ ước, kỳ vọng…

Bi kịch của Pan đã gây chấn động truyền thông vì tính chất bi thảm của nó, mà vì khi được chia sẻ rộng rãi trên Facebook, nó đã tạo ra một làn sóng chia sẻ những trải nghiệm tương tự của giới trẻ . Bi kịch của Pan rất tiêu biểu cho hiện tượng giấc mơ tương lai của người châu Á đã biến thành ác mộng cho con cái họ như thế nào. Nó là mặt trái của huyền thoại thành công. Có lẽ là không đúng khi ta khái quát hóa câu chuyện của Pan để chê trách các bậc cha mẹ châu Á nhưng rõ ràng chúng ta cần suy nghĩ lại một cách nghiêm túc về những áp lực thành công mà chúng ta đặt ra cho con cái.

Hiển nhiên, ai trong chúng ta cũng muốn con cái học hành đỗ đạt, giàu có và nổi tiếng, có địa vị xã hội, được thiên hạ trọng vọng. Và chúng ta mặc định rằng học hành và bằng cấp là con đường độc đạo để giành lấy những thành công ấy, để rồi ép buộc con em chúng ta bước vào con đường này bất chấp cái giá phải trả.

Nhưng có hai điều cần nghĩ lại: thực ra, thế nào là thành công? Và học hành, bằng cấp liệu có phải là cách duy nhất để đạt được nó?

Lỗi của cha mẹ và cả nhà trường là đã biến việc học tập, vốn là quá trình khám phá đầy hứng thú, trở thành một việc khổ sai mà con em chúng ta phải cắn răng vượt qua để giành lấy phần thưởng là tấm bằng. Hơn thế nữa, nhà trường và rất nhiều gia đình chưa bao giờ dạy cho con em chúng ta bài học vượt qua thất bại như thế nào, trong lúc đó mới chính là bài học quan trọng nhất: những người thành công không phải là những người không bao giờ thất bại, mà chính là những người đã vượt qua thất bại và học được một cái gì đó từ những thất bại ấy.

Lẽ ra, thay vì đặt ra một kỳ vọng quá cao và áp dụng một kỷ luật nghiêm khắc để buộc con em giành lấy thành tích học tập, chúng ta cần nuôi dưỡng lòng khát khao hiểu biết, vốn là một nhu cầu rất tự nhiên của con người. Thay vì mơ ước con em chúng ta phải trở thành bác sĩ, kỹ sư, doanh nhân, chủ tịch, chúng ta hãy giúp các em tự khám phá những khả năng và thiên hướng của mình, giúp các em phát triển bản thân và nuôi dưỡng trong các em những giá trị tinh thần vững chắc về đạo đức, công lý. Thành công sẽ đến như là một kết quả tự nhiên, thay vì là một mục đích phải đạt được bằng mọi giá.

Để từ thiện không chỉ... câu Like

Nếu từ thiện chỉ là phong trào, để lấy Like, để xoa dịu lương tâm, để cầu may, để đánh bóng tên tuổi, để thể hiện vị thế xã hội, thì người cho đã tự khước từ khả năng nhận. Lúc đó, từ thiện đánh mất chức năng là chất gắn kết của một cộng đồng. Ngược lại, nó chỉ củng cố các bất công trong xã hội. 

Trước hết, chúng ta nên bắt đầu bằng cách đặt tâm điểm của sự chú ý vào người nhận, chứ không phải vào người làm từ thiện, những ngôi sao hay người mẫu. Chúng ta nên bắt đầu bằng sự tôn trọng những người nhận sự giúp đỡ của chúng ta, nhìn họ là những con người độc lập, có lịch sử, có số phận, có câu chuyện riêng. Sự giúp đỡ ở mức cao nhất, Maimonides, triết gia Do Thái ở thế kỷ 12 đã viết, là sự giúp đỡ mà qua đó người nhận vẫn giữ được lòng tự trọng và nhân phẩm của mình. 

Chúng ta cũng cần suy nghĩ xem hành động của mình, dụng ý thì tốt, nhưng có thể gây tác hại gì không. Cái làng ở Mộc Châu kia, nếu như tuần nào, thậm chí ngày nào, cũng có một vài nhóm du khách vào đưa cho họ chăn và mì ăn liền, thì chẳng mấy chốc toàn bộ cấu trúc xã hội của làng sẽ sụp đổ, và tôi sẽ không lạ khi dân làng bắt đầu bán đồ được cho để mua rượu uống.

Trong một bài báo năm 2012, Al Jazeera dẫn ra những tác hại của du lịch thăm trẻ mồ côi, một lĩnh vực đang được người phương Tây rất ưa chuộng, qua trường hợp ở Campuchia. Trẻ mồ côi bị ảnh hưởng tâm lý vì mỗi tuần chúng lại phải cắt đứt quan hệ tình cảm với một nhóm tình nguyện viên mà chúng vừa quen, và xây dựng quan hệ với một nhóm mới.

Trong nhiều trường hợp, những người quản lý trại lợi dụng lũ trẻ để trục lợi mà khách viếng thăm, do cưỡi ngựa xem hoa, không thể biết được. Câu chuyện này hẳn không xa lạ với người Việt. Ở Bali, làn sóng khách du lịch tới cho tiền các trại mồ côi đã khuyến khích các gia đình đẩy con mình vào trại, biến một gia đình lành lặn thành một gia đình què quặt.  

Chúng ta cũng nên bắt đầu bằng những câu hỏi đúng. Thay vì hỏi "Cháu đã có kẹo chưa?" du khách Sapa ở bên trên nên hỏi: "Tại sao cháu lại đứng ở đây mà không tới trường?". Nên quan tâm một cách tổng thể tới hoàn cảnh của người cần giúp đỡ, bối cảnh địa phương của họ và các yếu tố tác động đằng sau. Vì sao họ nghèo? Vì họ không có đường ra chợ, vì họ bị trung gian thu mua nông sản bắt chẹt, vì lũ cuốn đất màu do rừng bị tàn phá, vì họ thiếu vốn lẫn thiếu kỹ năng quản lý vốn? 

Tiếp theo, chúng ta có thể nghĩ xem nên hướng nguồn lực của mình vào đâu để đem lại lợi ích lớn nhất cho những người hoặc cộng đồng cần trợ giúp. Đôi khi, cái mà một bản nghèo cần cho cuộc sống và nhân phẩm của mình không phải là lại thêm hàng chục thùng mỳ ăn liền hay những cái chăn nữa, mà là một cái cầu treo, hay cơ hội để bán hàng của mình ở thị trấn. Tất nhiên, để tìm ra được những điều này cần tâm trí và sự quan tâm thực sự và lâu bền, không chỉ một cảm xúc mùi mẫn kéo dài 20 phút khi người ta chụp selfie trước những ngôi nhà dột nát.  

Hoạt động từ thiện có thể chữa phần ngọn: quyên tiền cho một ca mổ tim, đem lại ánh sáng cho người khiếm thị, bảo trợ cho một sinh viên nghèo học đại học. Những hoạt động này thực sự thay đổi cuộc đời, thậm chí cứu mạng sống.  

Quan trọng hơn, các hoạt động nhân đạo và từ thiện rất cần tập trung thay đổi phần gốc, đó là các tương quan xã hội tạo ra đói nghèo, bóc lột và bất công. Hội chứng “Người cứu tinh da trắng” có vấn đề bởi nó không liên quan gì tới công lý, nó chỉ là một trải nghiệm tình cảm để người ta tái khẳng định sự may mắn và đặc lợi của mình.

Trong trường hợp này, từ thiện trở thành một cử chỉ phô ra sự thương hại và sức mạnh của người giàu, bởi họ không quan tâm tới hoàn cảnh xã hội, và qua đó từ chối thay đổi nó để giải quyết bất công. “Sự hào phóng của người làm từ thiện sẽ đóng băng nếu như quyền lực của anh ta bị thách thức,” nhà thần học người Mỹ Reinhold Niebuhr viết, “hoặc nếu sự hào phóng này không được tiếp nhận với sự nhẫn nhục mà anh ta đòi hỏi.” 

Trong một xã hội hiện đại với các tương quan phức tạp như hiện nay, trách nhiệm của một công dân có ý thức không chỉ là “lá lành đùm lá rách", mà còn phải là cố gắng hiểu những tương quan đó, tự vấn về trách nhiệm cá nhân mình trong các lựa chọn làm ăn, kinh doanh, mua sắm, tiêu thụ, và đặt câu hỏi mình có thể đóng góp được gì để thay đổi vấn đề, hoặc ít nhất không làm nó trầm trọng hơn. 

Trong hoạt động nhân đạo và từ thiện, tiền chỉ là một trong các nguồn tài nguyên, thậm chí không phải là nguồn quan trọng nhất. Quan trọng hơn là kiến thức, tài năng, và sức ảnh hưởng của các cá nhân muốn giúp đỡ đồng bào của mình.

Báo chí, thay vì tập trung vào chuyện người nổi tiếng mặc gì khi phát quà, hãy để họ lên tiếng và lôi kéo sự chú ý của công chúng tới những vấn đề thuộc về phần gốc: nông dân bị mất kế sinh nhai, công nhân ở những khu công nghiệp vật lộn với cuộc sống, môi trường bị huỷ hoại, phân hoá giầu nghèo, bạo lực trong gia đình. 

Thay vì chỉ đóng tiền cứu trợ khi có bão lũ, hay nhân tiện mang quần áo cũ lên vùng cao nhân dịp đi chụp ảnh hoa ban, hãy tìm hiểu công việc của những tổ chức phi chính phủ và hỗ trợ họ. Những tổ chức này đang bền bỉ hoạt động để bảo vệ quyền của trẻ em, để phụ nữ không bị buôn bán, người thiểu số giữ được văn hoá bản địa, người khuyết tật không bị kỳ thị, chính quyền địa phương trở nên minh bạch hơn, và người dân có tiếng nói hơn. 

Làm việc với họ tuy không cho ra những bức ảnh bắt mắt như khi ta chụp với trẻ em miền núi, nhưng nó sẽ đi xa hơn rất nhiều những phản xạ rút ví vào những lúc chúng ta "rủ lòng thương.”    

Cuối cùng, chúng ta nên từ bỏ tâm thế của người ban phát. Từ thiện là một quá trình hai chiều, cho và nhận. Mỗi người, dù nghèo tới đâu, cũng có cái để cho người khác, và mỗi người, dù đầy đủ tới đâu, cũng cần mở rộng mình để nhận.

Nếu từ thiện chỉ là phong trào, để lấy like, để xoa dịu lương tâm, để cầu may, để đánh bóng tên tuổi, để thể hiện vị thế xã hội, thì người cho đã tự khước từ khả năng nhận. Lúc đó, từ thiện đánh mất chức năng là chất gắn kết của một cộng đồng. Ngược lại, nó chỉ củng cố các bất công trong xã hội. 

Bi kịch của tư duy Việt Nam

“Cả nước ngủ mê, tiếng thở như sấm, mà bác đứng ngoài muôn dặm, kêu gào hò hét, có được công hiệu là bao nhiêu, tất phải có người ở trong gõ trán xách tai người ta mà đánh thức dậy, thì họa chăng lòng người mới không đến nổi chết hết. Nay tôi về trong nước đóng vai Mã Chí Nê (Giuseppe Mazzini). Còn Bác ở ngoài làm Gia Lý Ba Đích (Giuseppe Garibaldi), chia ra làm hai đường mà đều đi tới, chúng ta lấy cái chết thề cùng nhau cho có thủy có chung”.(Giuseppe Mazzini-Giuseppe Garibaldi, hai nhân vật lãnh đạo trong cuộc thống nhất nước Ý Risorgimento 1871)

“Xét lịch sử xưa, dân nào khôn ngoan biết lo tự cường tự lập, mua lấy sự ích lợi chung của mình thì càng ngày càng bước tới con đường vui vẻ. Còn dân thì ngu dại, cứ ngồi yên mà nhờ trời, mà mong đợi trông cậy ở vua ở quan, giao phó tất cả quyền lợi của mình vào trong tay một người, hay một chính phủ muốn làm sao thì làm, mà mình không hành động, không bàn luận, không kiểm xét, thì dân ấy phải khốn khổ mọi đường. Anh chị em đồng bào ta đã hiểu thấu các lẽ, thì phải mau mau góp sức lo toan việc nước mới mong có ngày cất đầu lên nổi.” (Phan Chu Trinh-1920)

“Nếu một khi quần chúng nhân dân không còn lưu tâm đến công việc chính trị xã hội, thì các Ông và Tôi, và Quốc Hội, Lập Pháp, Chánh Án, Thống Đốc, tất cả sẽ trở thành những con Chó Sói. Điều này dường như là luật tự nhiên thuộc bản chất tổng quát của chúng ta, cho dù có vài ngoại lệ cá nhân.” Tổng thống Mỹ Thomas Jefferson nói với dân biểu Edward Carrington.(If once [the people] become inattentive to the public affairs, you and I, and Congress and Assemblies, Judges and Governors, shall all become wolves. It seems to be the law of our general nature, in spite of individual exceptions.”: Thomas Jefferson to Edward Carrington, 1787)

Bi kịch của tư duy Việt Nam

-Bán khai là do tầm nhận thức thấp, kém cỏi chưa vượt đến mức độ căn bản của nhân bản;

-Băng hoại là do quan niệm bất chính gian manh lừa đảo..

-Nỗi băn khoăn và buồn phiền của chúng ta là dù đã đi vào thế kỷ tứ 21, chúng ta vẫn phải lặp đi lặp lại nhiều lần những ý niệm giá trị căn bản về con người, về xã hội và chính trị với đồng bào của mình, những ý niệm đã trở thành bình thường đơn giản trong những xã hội dân chủ tiến bộ hơn trăm năm nay.

-Chúng ta cũng vẫn phải lặp lại những ý niệm căn bản về con người, về con đường truy tìm tự do hạnh phúc cho Con Người của Khổng Tử, Mạnh Tử, Thomas Paine, Jefferson, Phan Chu Trinh v.v.. tất cả cách đây đã lâu lắm rồi. Nhưng hôm nay, người Việt cẫn cứ chưa hiểu, chưa tiếp nhận vào làm giá trị nền tảng để hành xử, dù hàng ngày, trên đài báo, từ văn phòng công sở cho đến cá nhân, tất cả vẫn nói bằng sáo ngữ, rỗng tuếch như những con vẹt.

– Xã hội, cộng đồng và con người Việt Nam (trong và ngoài) giống như những kẻ mê ngủ, ngủ vùi, rồi khi bị náo nhiệt của chung quanh đánh thức, họ loạng choạng bước ra đường ngỡ ngàng với những sự kiện đổi thay, hoảng hốt với những giá trị “mới”, nhìn sự vật, sự việc “mới”, tần ngần bán tín bán nghi những ý niệm “mới” quá khác lạ với lúc mình đi ngủ- mà thật ra đã trở thành việc hôm qua của mọi người chung quanh.

Nhưng thay vì can đảm thành tín với lương năng, ước muốn cầu tiến tiếp nhận để có nhận thức cao hơn, hăng hái hòa nhập dòng đời hiện tại, thì người Việt Nam vẫn ngái ngủ sợ sệt chối bỏ thực tại trước mắt như kẻ bán khai trên núi, trong rừng bước xuống xã hội tiến bộ, điệu bộ hung hăng nhưng co rút mặc cảm; chính từ nỗ lực hung hăng chối bỏ thực tại biến đổi chỉ để bảo vệ cái “ giá trị hôm qua” vẫn còn mơ màng trong giấc mộng, chưa dứt bỏ được, đã khiến nó trở thành tính dị ứng với hiện tại và mất khả năng tiếp nhận và dự phóng khai phá tương lai, một đặc tính, phẩm tính cần thiết của văn minh tiến bộ- Khi dị ứng trở thành tuyệt vọng chống trả, vô vọng lưu giữ, tinh thần và nếp tư duy trở thành tính ngoan cố của gian manh trí trá và biến dạng thành nếp tư duy băng hoại.

Sự kiện hôm nay, sau hơn 30 năm, đám Ngụy kiều chống cộng vẫn chưa đủ nghị lực để lương thiện nhìn lại chính mình, để nhìn ra tính ngụy trá của cả chế độ lẫn nhân cách hành xử của nhóm họ; vẫn tiếp tục gian manh vô liêm sỉ tuyên truyền hư cấu lá cờ giẻ rách ba que là chính thống linh thiêng v.v Họ bất chấp bằng chứng lý lẽ, vẫn cứ tuyên truyền len lỏi và càn bậy gieo vào đầu người Việt, thế hệ nối tiếp, dân trí vốn còn thấp, những hư cấu cờ quạt, hư cấu lãnh tụ, hư cấu về quá khứ. Họ lợi dụng dân trí thấp của người Việt trong ngoài, theo đúng chủ trương đường lối tuyên truyền mà Đức Quốc Xã, Cộng Sản đã và đang tiến hành, đó là mưa dầm thấm đất, dù hư cấu sai lầm nhưng cứ nói, cứ len lỏi tuyên truyền thì người ta sẽ coi như sự thật... Họ vẫn nỗ lực bênh vực vá víu chế độ chính trị mà họ từng sống từng phục vụ, tâng bốc đánh bóng, gỡ tội cho các nhân vật độc tài chính trị của phe họ.

Sự man trá vô liêm sỉ này đều đang được cả hai phe, phe phỉ CSVN đang cầm quyền, cùng những kẻ “ly khai Cộng Sản” tự phong “nhà dân chủ”, và phe Ngụy chống cộng thi hành và hành xử như nhau.(VÀ ĐANG được che đậy trong cái gọi là “chủ trương hòa hợp hòa giải”, một thủ đoạn xí xóa tội ác cho Hồ cho Diệm, cho các chế độ chính trị bất nhân, và nhất là dã tâm tuân phục hóa, đồng hóa người dân, đồng hóa đất nước vào với đảng phái, chế độ chính trị.)

Muốn nói gì thì nói, đám ngụy tín vô liêm sỉ này vẫn cứ tìm đủ mọi cách để bênh vực nhân vật chính trị, chế độ chính trị của phe mình.. Vô liêm sỉ trơ trẽn đến cực độ như Lữ Phương, nói qua nói lại để rồi kết luận Hồ Chí Minh là “Anh Hùng Dân Tộc”.. Cũng như vậy, những kẻ có gốc tích ăn ở miền Nam, tự nhận đấu tranh cho lẽ phải, sự thật, cho dân chủ tự do v.v cũng lập luận qua lại, nới đến nói lui, nói xa nói gần rồi cũng chỉ để kết luận là Diệm có công, có đức tài ba v.v và thậm chí cũng là “Anh Hùng Dân Tộc”… và cái chế độ độc tài cộng hoà là tốt đẹp là dân chủ là tự do..bất chấp sử liệu bằng chứng quốc nội, quốc tế, bất chấp nhân chứng lịch sử trong ngoài.

Tất cả chỉ chứng tỏ tính bất lương bịp bợm và vô liêm sỉ của những con người này.

Tồi bại hơn những kẻ chủ động những trò bịp bợm này, chính lại là những kẻ “hiểu biết” đang câm miệng làm lơ trước những đồi bại này. Dĩ nhiên do nhiều lý do, nhưng lý do chúng ta thường được nghe một cách trịnh trọng là “Có những sự thật chưa nên nói”.. Đồi bại ở chỗ Sự thật thì chưa nên nói, nhưng hư cấu bịp bợm dối trá, lừa đảo … thì cứ vỗ tay để cho tiến hành!!!

Tôi lên án những kẻ gian manh lừa bịp do kém cỏi trí tuệ nhận thức, thì Tôi lại càng khinh bỉ những kẻ trịnh trọng đồng lõa bằng im lặng. Cứ lấy điển hình việc lá cờ giẻ rách ba que là rõ. Chê Diệm khen Diệm, hay chê khen chế độ ngụy VNCH đều có, nhưng việc hư cấu tô vẽ thêm bớt về lá cờ vàng ba que, thì cả lũ chống cộng đều im hơi lặng tiếng đồng lõa với nhau. Dù tất cả, những đứa biết chữ, biết mở trang sách sử ra đọc, biết cầm bút, biết gõ phím điện toán, đều hiểu rằng cái bài viết về lá cờ của tên Sài, một kẻ thừa hành của Mặt Trận, của Việt Tân, là bịp bợm bịa đặt trắng trợn. Trong phòng kín trao đổi riêng tư họ đều thở dài chép miệng khi phải đọc những “sử liệu khoa học hùng hồn” của tên đoàn viên Việt Tân Sài. (Tôi đã phân tích sự kiện này trong bài Những Điều Cần Phải Nói”). Nhưng bước ra công chúng, họ im lặng đồng lõa, mặc nhiên để những thế hệ đi sau coi những bịp bợm gian trá hư cấu này là “chứng sử” với luận cứ rất đểu cáng tồi bại là “có những sự thật chưa nên nói”… “Nói dối nhưng có lợi cho đại cuộc dân tộc” (sic).

Hồ Chí Minh, Mao, Stalin, những tên gian hùng, bạo chúa đều cũng từng lập luận như vậy. Cái đồi bại bất nhân này của đám khệnh khạng “dân chủ” ngụy, so ra còn ghê tởm hơn những gì CSVN đang làm. (Viết đến đây, tôi chợt nhớ đến anh Nguyễn Chí Thiện, một người tôi vẫn cứ quí mến cho đến nay, dù giữa Tôi và Anh còn nhiều dị biệt trong quan điểm chính trị, nhận định lịch sử và cả về phương thế đấu tranh) tôi vẫn bồi hồi và tiếc cho vị thế của anh, thay vì giữ vị thế xiển dương Nhân Phẩm, Nhân Quyền của thế giới nhân loại, chống mọi hình thức, mọi hành vi của bất kỳ chế độ nào vi phạm nhân phẩm, nhân quyển, dân quyền, mà chính anh là nạn nhân, anh quay ra..sát cánh với những nhóm phi dân chủ, phi nhân quyền chống cộng và… xiển dương Mỹ, đế quốc hiện đang khủng bố gian ác, vi phạm nhân quyền gây tang tóc nhiều nơi trên thế giới.)

Cho nên chúng ta vẫn thường nghe những kẻ này nhân danh tự do, nhân danh dân chủ, kêu gọi lương thiện công chính … để ca tụng một cách vớt vát cái chế độ chính và nhân vật chính trị một thời của phe nhóm họ… Nhưng tất cả đám này, vẫn không đủ lương thiện, công chính và sáng suốt nhận định bảo vệ bênh vực cứu cánh của cả dân tộc, đó là Độc Lập Tự Do dân Chủ, những giá trị mục tiêu mà tất cả những chế độ chính trị, nhân sự chính trị đều đã và đang rêu rao và nhân danh. Mà thật ra, việc chính là phải làm sao bênh vực bảo vệ vị thế DÂN CHỦ của NGƯỜI DÂN VIỆT NAM, vị thế làm chủ và nhân phẩm của họ.

Vì vậy, câu hỏi then chốt của những kẻ nếu thật sự có tính thần dân chủ tự do độc lập tư duy, phải hỏi là -những chế độ chính trị, cá nhân chính trị, đảng phái chính trị mà họ đang “nỗ lực” bênh vực, đã thực hiện những tiêu chí tự do dân chủ, xây dựng chính nghĩa “độc lập tự do dân chủ” đến đâu và như thế nào; thực tâm của họ, động lực của họ có thật sự là vì tiêu chí Tự Do Dân Chủ hay không? Cái tiêu chí đó đã có được thực hiện chưa? Người dân Việt đã có được tôn trọng đúng với vị thế dân chủ và nhân phẩm dân quyền của họ trong suốt nửa thế kỷ qua hay không? Đó mới chính là câu hỏi của những người Việt Nam phải hỏi, chứ không phải là đến bây giờ vẫn xoay vần những câu hỏi, cùng với những lý cớ viện dẫn… để bênh vực chống đỡ cho một hai cá nhân chính trí, hay thể chế chính trị của phe mình.

Tất cả chúng ta nếu thật sự có liêm sỉ và thật sự lương thiện, thì phải bênh vực và chống đỡ cho giá trị Tự do dân chủ của chúng ta, của cả xã hội và dân tộc Việt Nam chúng ta, của nhân loại đang xây dựng. Bởi đây mới đích thực là khát vọng của tất cả chúng ta, là mục tiêu giá trị đường dài của nhân loại và của chúng ta, giá trị đích thực đã khiến chúng ta, bao thế hệ trước, đã tin vào lý tưởng này, đã bị lừa bịp qua cửa miệng của Hồ, của Diệm, của phỉ CSVN, của ngụy VNCH, của đồng minh Mỹ, của cách mạng Sô Viết v.v để rồi hy sinh thân xác, hạnh phúc cá nhân, khiến hàng triệu người Việt Nam đã nằm xuống, hơn nửa thế kỷ biết bao hy sinh mất mát, nhưng mục tiêu dân chủ tự do, dân quyền nhân quyền vẫn xa vời mù mờ- vận nước vẫn cheo leo vô định.

Và chính vì bị lừa bịp như vậy mà hôm nay chúng ta vẫn phải đang miệt mài vì mục tiêu tự do dân chủ, dân quyền nhân quyền này, chứ không phải tất cả những hy sinh mất mát hơn nửa thế kỷ qua là vì một hai cá nhân lãnh tụ, hay vì một đảng phái hay chế độ chính trị nào của hiện tại hay quá khứ. Tất cả những nhân vật, đảng phái, chế độ v.v chỉ là phương tiện của chúng ta, của xã hội con người, không phải mục tiêu cứu cánh của chúng ta, của xã hội dân tộc chúng ta.

Hơn nửa thế kỷ qua, trên dưới 5 triệu người đã chết. Những ai trách nhiệm về những cái chết này? Khát vọng tự do dân chủ hạnh phúc của cả dân tộc, của 5 triệu người này, đứa nào trách nhiệm? Chế độ chính trị, những thằng lãnh tụ đảng phái đã tôn trọng Dân Chủ và thực thi tự do dân chủ hay không?

Vậy cần phải lương thiện và công chính với giá trị độc lập tự do dân chủ, với mục tiêu của dân tộc theo đuổi, của nhân loại đã mở ra. Đừng dùng những ý niệm và giá trị này, mục tiêu này của cả dân tộc làm phương tiện tranh đoạt quyền lực bè phái, bênh vực đánh bóng bè phái.. Đó chỉ là những hành xử bán khai, đi từ não trạng băng hoại, bất lương vô liêm sỉ và bất nhân mà thôi…Không còn gì nghịch lý và man rợ cho bằng những kẻ đang nhân danh mục tiêu (cứu cánh) DÂN CHỦ TỰ DO DÂN QUYỀN NHÂN QUYỀN, nhưng KHÔNG HỀ THỂ HIỆN, CHỨNG TỎ HÀNH XỬ TỰ DO DÂN CHỦ – TÔN TRỌNG DÂN CHỦ DÂN QUYỀN, NHÂN QUYỀN, mà ngược lại khăng khăng bảo vệ phương tiện là chế độ, đảng phái, nhân sự chính trị đã hoặc đang vi phạm TỰ DO DÂN CHỦ, vi phạm DÂN QUYỀN và NHÂN QUYỀN. Cứu cánh (mục tiêu tư do, dân chủ) biến thành phương tiện, phương tiện(đảng phái chính trị, chế độ chính trị) trở thành cứu cánh.

Cách đây mấy ngàn năm, Mạnh Tử còn nhận định DÂN VI QUÍ, Xã tắc (nhà nước quốc gia) thứ chi, Quân (Lãnh tụ, lãnh đạo) vi khinh.. Thế mà ở thế kỷ 20 và 21, một bọn khoa bảng, nhưng tối dạ lạc hậu, chỉ tập trung xu phụ trung thành với hệ thống chế độ chính trị, lãnh tụ chính trị, coi trọng chế độ, lãnh tụ, và khinh thường an nguy hạnh phúc, sinh mạng người dân.

-Bi kịch của chúng ta là khi nhân loại đã chuyển hướng hơn trăm năm qua, nhận thức về giá trị Con Người cao hơn, người ta đã kiến tạo một mô thức xã hội hàng ngang để sinh hoạt từ căn bản cá nhân đến cộng đồng tập thể, hàng ngang (bình đẳng) trong tư duy, trong hành xử giữa cá nhân, trong nguyên lý nguyên tắc điều hành các định chế xã hội; căn bản mô thức hàng ngang trong định vị giá trị, và thể hiện quyền cai trị của con người, của vị thế công dân trên hệ thống tổ chức định chế chính trị, đó là dân chủ, dân trí.

Ngược lại người Việt Nam chúng ta, từ trong ra ngoài, trong não trạng của họ vẫn đặt nền tảng tư duy hàng dọc, hình chóp nón hay tự tháp. Giá trị hàng dọc này vẫn bao phủ kềm chặt não trạng trí tuệ của họ. Trong tương quan cá nhân thì hành xử thượng đội hạ đạp, xu nịnh kẻ quyền thế chức vị, khinh khi người bất hạnh hay kém vị thế. Đối trọng xã hội thì đầy tính gia trưởng phong kiến, trọng quyển lực áp chế, thượng tôn định chế quyền lực chính trị, nhân vật chính trị. Lúc nào cũng nghĩ đến giải pháp cường lực, áp chế.

Kẻ chưa có thực quyền, thực lực, thì đánh lén, bôi nhọ, chụp mũ, thủ đoạn vặt vãnh hù dọa để áp chế lấn át trong đối trọng tương quan, chứ không phát huy tranh luận thuyết phục bằng sức mạnh trí tuệ bằng chứng. Kẻ có quyền lực rồi thì đương nhiên không bao giờ ngưng nghỉ ra oai, lúc nào cũng dùng bạo quyền trấn áp khủng bố. Bất cứ ai, từ kẻ trong giói quyền lực chính trị, giới tài lực, giới khoa bảng, cho đến giới công nhân, bình dân dại chúng v.v ai ai cũng chực chờ cơ hội, nhỏ hay to, để khệnh khạng có dịp bước lên trên “đè” người khác mới thỏa mãn, thoả chí. Cái hình chóp nón hàng dọc của kỷ nguyên khi nhân loại còn bán khai nó vẫn là nền tảng giá trị hành xử trong nội tâm của người Việt Nam hôm nay, dù ở trong hay ngoài nước, dù đang sống trong mội trường hàng ngang ở phương Tây, hay hàng dọc ở Việt Nam… cũng chưa thay đổi!!!

Cho nên khi cùng khổ, gặp vấn nạn, thay vì đi tìm giải pháp từ mình, đi từ xác định giá trị nhân phẩm, dân quyền của mình, của đồng loại bình đẳng chung quanh, để hợp lại giải quyết, thì người Việt Nam hôm nay vẫn cứ thì thụp, ẩn náu với cái ước mơ ngàn năm trước, là vẫn khát khao một “minh quân thánh chúa” ở đâu đó, giáng trần và có vị thế “chính thống” đến cứu vớt, ban phát giải thoát cho họ.

Họ thụt lùi trí tuệ đến nỗi mở ra những câu than thở cửa miệng nghe thật thảm hại như “giá bác Hồ còn sống”.. “giá như cụ Diệm đừng bị lật đổ”… hoặc kinh hoàng hơn nữa là “chúng ta cần có một Quang Trung của thế kỷ 21”.. “một Hưng Đạo của thời đại”… và khốn nạn thay, chính bọn có ăn học khoa bảng lại hướng dẫn người dân ước mơ “chúng ta cần một Gọc Ba Chép, một Ha Ven, một Den Xin” v.v.. Những giấc mơ “vong thân” nô lệ này, dù bao phủ ước vọng về hạnh phúc, nhưng hạnh phúc được ban phát trao tặng, đợi chờ nhờ gửi, chứ không phải một hạnh phúc của chính mình, đi từ tự chủ kiến tạo của bản lãnh chủ động tự tin vào chính mình, từ giá trị quyền lực trách nhiệm cá nhân của mình và của mọi người chung quanh.

Tất cả phản ảnh một não trạng không chỉ không phát triển mà tụt hậu đến thảm hại. Tư duy Việt Nam hôm nay thật sự là một bi kịch. Một bi kịch của cả một dân tộc chỉ hướng ngoại trông chờ; và từ thành phần khoa bảng đến bình dân đại chúng chỉ dạy nhau một “triết lý an phận” như “khôn cũng chết dại cũng chết, biết mới sống”.. Họ dạy nhau an phận nhẫn nhịn, dạy nhau thủ đoạn vặt vãnh ích kỷ đoạt lợi vô tâm.. và gọi đó là “biết”, gọi đó là sống!!! Giấc mơ của cả dân tộc chỉ được gói vào “cơm no áo ấm” và “cơm áo gạo tiền”..cả một xã hội sống trong nền “văn hóa xin cho, chờ đợi ban phát” và dưới một thể chế tham nhũng, tham nhũng từ thượng tầng cai trị đảng CSVN đến các ban ngành bộ sở và giữa quần chúng với nhau.. “Phi Tham Nhũng Bất Thành Sự” … và thủ đoạn mánh lới trở thành phẩm chất của con người xã hội Việt nam.

Trong khi những xã hội từng lạc hậu, từng bị nô lệ thực dân khác, như Hàn, Nhật, Mã Lai, Đài Loan v.v sau thời điểm 1945 của cao trào thế giới giải-thực (giải phóng khỏi thực dân)..tất cả đã thức tỉnh giấc ngủ ngu muội say sưa trong tự ái chủ nghĩa dân tộc quốc gia, cơm no áo ấm.. và đã vượt qua và đi lên.. Chỉ còn những xã hội lạc hậu ngủ vùi trong đó có Việt Nam, tiếp tục dạy nhau ngu ngục “cơm no áo ấm”, “quốc gia dân tộc” dù cả dân tộc hai miền Nam Bắc đã liên tục là nạn nhân của chiêu bài “tạm gác bỏ nhân quyền dân quyền, tự do dân chủ” vì “quốc gia dân tộc, cơm no áo ấm”..

Để hóa giải bi kịch này, chỉ có một giải pháp duy nhất là nâng cao tầm nhận thức của người dân. Đó chính là Dân Trí.

Dân Trí là tất cà sự hiểu biết nhận thức của người dân về mọi mặt trong sự tương quan đối trọng giữa bản thân cá nhân và xã hội. Nhưng nền tảng chính vẫn là đi từ lương năng con người, lương năng nhận thức và định vị giá trị cá nhân của mình trong bình đẳng tương quan, đối trọng với xã hội – và biết sử dụng giá trị của mình để điều hành và đối kháng định chế nhà nước. Trong đó bao gồm tầm nhận định chính xác các định chế chính trị. Nhà nước chính trị chỉ là phương tiện của xã hội, được con người (công dân) chọn lựa để phục vụ cho mục tiêu (cứu cánh) nâng cao phẩm giá, hạnh phúc Con Người. Khi có dân trí, Con Người trong vị thế Công Dân, tự nhiên xác định được vị trí bình đẳng của mình với mọi cá nhân, tập thể trong một mô thức xã hội hàng ngang, để tương quan hành xử cộng hưởng, cạnh tranh, đối trọng và cùng nhau sinh tồn (cộng tồn) thăng tiến.

Một cao trào VẬN ĐỘNG DÂN TRÍ phải được tiến hành từ mỗi một người dân, tận dụng tất cả mọi phương tiện còn lại không bị khống chế bởi nhà nước, để thúc đẩy nhau suy nghĩ và trưởng thành trong nhận thức giá trị tự thân. Thí dụ như thực hiện thông tin quần chúng qua mạng liên-tín (internet). Tất cả đều nằm trong khả năng bén nhậy sáng tạo của con người Việt Nam, và khả năng sáng tạo giải pháp dân chủ chỉ có khi cá nhân có nhận thức giá trị tự thân.. Khi trân quí nhân quyền dân quyền, người ta sẽ có đủ năng lực sáng tạo để phát huy và gìn giữ nó.

Wednesday, February 24, 2016

Suy đồi văn hóa và người trẻ nhận thức kém

Câu chuyện kém ý thức của dân Việt dường như nối dài mãi, nhưng hy vọng, đến một lúc nào đó nó sẽ kết thúc.

Tôi từng nghĩ rằng mình rất may mắn được sinh ra và lớn lên trong một thời kì đang phát triển của đất nước. Được nhìn thấy những đổi thay và phát triển của một quốc gia, chẳng phải là điều rất đỗi hạnh phúc hay sao? Thế nhưng, sự thật là đất nước này là một quốc gia bất hạnh. Và sự bất hạnh đó xuất phát từ những con người không biết (hoặc là không muốn) cư xử cho đúng quy luật phát triển của thế giới. Mới rồi rộ lên chuyện các bạn trẻ viết những câu bậy bạ lên tấm bùa gỗ trong một lễ hội văn hóa Nhật Bản tổ chức ở Việt Nam. Càng thấm thía hơn cái gọi là cách cư xử đúng mực của người trẻ Việt.

Viết nhăng viết cuội, thậm chí là viết bậy, dường như là một nét truyền thống của người trẻ Việt Nam hiện nay. Từ nhà vệ sinh công cộng đến các hàng quán cà phê, rồi ra đến ghế đá công viên, thậm chí là trên các di tích văn hóa lịch sử, đâu đâu cũng thấy những câu chữ phản cảm và bậy bạ của những người sinh ra không muốn làm người có văn hóa. Thật sự, những người trẻ khi viết ra những câu chữ ấy có cảm thấy mình làm việc đó sẽ giúp mình hạnh phúc hơn, hay chỉ làm cho văn hóa mỹ quan xuống cấp trầm trọng. Nên nhớ, chúng ta là một dân tộc có hơn 4000 năm văn hiến, chúng ta không phải hạng hạ cấp của toàn nhân loại, cho nên đừng tự mình hành động như thể dân tộc ta sinh ra không có truyền thống văn hóa tốt đẹp.

Thật đáng xấu hổ khi đến thời buổi văn minh như thế này mà còn có những người trẻ dốt và vô văn hóa đến mức đến Văn Miếu ở ngay trung tâm Thủ đô văn hiến để viết xằng viết bậy. Đến cả văn hóa của dân tộc cũng bị bôi nhọ thì chẳng hiểu nỗi người trẻ bao năm qua đã học gì từ nền giáo dục quốc gia? Không tôn trọng văn hóa dân tộc của nước nhà và không tôn trọng văn hóa của quốc gia khác là hai điều vô cùng cấm kỵ, thế mà người trẻ Việt Nam đã vi phạm cả hai.

Người Nhật Bản là một dân tộc tự tôn rất cao, và họ cực kỳ yêu quý truyền thống văn hóa dân tộc của họ. Thế mà những người trẻ Việt Nam vô văn hóa và vô ý thức đó đã biến một lễ hội văn hóa thành vấn đề chỉ trích, và biến chính họ thành những kẻ thấp kém trong mắt nhiều người khác. Những tấm bùa gỗ, tượng trưng cho những điều ước mà người Nhật mong ước sẽ thành hiện thực trong năm mới, và những người trẻ kia viết những câu viết nhảm nhí lên đấy. Có thể họ cho rằng những điều này vô hại, hoặc có thể ước mơ của họ cũng bậy bạ như chính bản thân họ. Cần phải nhìn rộng ra một chút về vấn đề viết, vẽ bậy này. Đó là thói quen tùy tiện của đại bộ phận người trẻ trên mạng xã hội.

Gần đây xuất hiện hiện tượng một số người quay clip và tung lên youtube với nội dung chửi đời chửi người rất phản cảm. Quan trọng hơn là trong những clip đó có sự góp mặt của những em học sinh nhỏ, thậm chí là học sinh cấp một. Nhưng clip chửi bới trên mạng xã hội như vậy mặc dù chẳng ảnh hưởng về mặt thể chất đến ai, nhưng rõ ràng đang phản ảnh một phần tối của văn hóa trẻ, và hơn nữa là ảnh hưởng về mặt tinh thần của người xem, nhất là những bạn nhỏ. Tính lan tỏa của những clip này rất cao. Youtube thậm chí sẵn sàng trả nhiều tiền cho những clip có lượng người xem lớn, vì vậy mà chẳng màn nội dung có mang tính thẩm mỹ hay không, nhiều người vẫn cố tình đăng các clip mang nội dung phản cảm, nhảm nhí để thu hút nhiều người comment chửi bới và từ đó tăng lượt xem.

Mới đây nhất, trên Facebook một cô gái trẻ đã đăng hình ảnh hỏa hoạn dữ dội tại một khu đông dân cư ở Sài Gòn kèm lời bình luận rất thiếu ý thức, cô ta ví von đám cháy đó là pháo hoa mừng năm mới. Cũng theo đó, có những status Facebook chửi cha mắng mẹ của những người trẻ chỉ vì không hài lòng một số chuyện cá nhân. Chính sự suy đồi văn hóa đến mức tưởng khó chấp nhận như vậy làm cho những ai chứng kiến phải lên tiếng. Để kết thúc bài viết này xin mượn lời của một cư dân mạng để nói lên thực trạng đáng xấu hổ này:

"Sự thiếu nghiêm túc, thiếu chuẩn mực trong lời ăn, tiếng nói đã khiến cho nhiều bạn trẻ có thói quen đùa cợt, nhạo báng, bàn luận vô tổ chức, thậm chí chửi rủa tục tĩu bất luận điều gì, bất chấp ở đâu. Mạng xã hội đã tiếp tay cho điều đó."

Nếu như trước đây, những kẻ “hiếu tục” chỉ có thể chọn vỉa hè, quán nước hay bờ tường khu phố để “văng” ra những thứ bậy bạ, thì nay, họ đã có thể văng mọi thứ lên mạng xã hội.

Nếu bạn tình cờ kết bạn với một nhóm “teen” trên Facebook, bạn phải choáng vì mức độ tục tĩu trong các status, comment của họ. Họ viết tục, chửi tục, bình luận tục tĩu trên đó như một cách thức để xả stress. “Lên mạng chửi nhau đê” là thú vui của không ít bạn trẻ. Lâu dần thành quen. Và trong một cộng đồng toàn những người tục tĩu nói chuyện với nhau, chẳng cần biết trời cao đất rộng là gì (chỉ biết trên là status, dưới là comment) thì sự bậy bạ có tính lây nhiễm và được nhân lên gấp bội.

Môi trường mạng xã hội đang bị nhiễm bẩn bởi sự tự do thái quá của nó. Người xưa nói rất đúng: “Ở cạnh chợ lâu không biết cá tanh”. Thói quen bừa bãi (thích gì nói đấy), nói văng mạng mà vẫn được Facebook cho lên, khiến dần dà người ta không còn biết chuẩn mực ở đâu. Còn nhớ, sau khi danh thủ Beckham sang Việt Nam, trên Fanpage của anh có đăng tải bức hình chụp một phụ nữ Việt Nam, một tay vừa lái xe máy, một tay giơ giơ điện thoại chụp Beck trong xe với vẻ mặt hớn hở… Bức ảnh đó đã gây sốt và cộng đồng mạng Việt Nam đã nhảy vào like, comment tán loạn, tranh luận, cãi chửi nhau rất vô văn hóa ngay trên “tường nhà của Beckham” (dĩ nhiên là bằng tiếng Việt), khiến cho nhiều người phải cầu mong Beckham đừng “google translate” những gì cư dân mạng “văng”. Nếu không thì nhục quốc thể.

Những lá bùa gỗ là vật linh thiêng theo quan niệm của người Nhật Bản, là nơi để mọi người suy nghĩ và thể hiện ước mơ của mình. Nó cũng là nơi ghi lại lời cầu chúc cho năm mới. Sự khác biệt văn hóa có thể khiến bạn chưa cảm nhận hết điều đó, nhưng chí ít, đó cũng là sản phẩm văn hóa được treo lên nơi công cộng, chứ không phải là bức tường Facebook đầy rác rến. Và ngay cả trên bức tường Facebook, nơi trưng ra với cả thế giới, bạn cũng cần “viết có ý thức” để khỏi làm vấy bẩn nó, và vấy bẩn cả tiếng Việt. Khi căn bệnh vô ý thức trong lời ăn, tiếng nói, trong suy nghĩ, bình luận… đã nhiễm vào quá sâu trong một bộ phận giới trẻ thì những gì thể hiện ra trên lá bùa gỗ chỉ là hậu quả tất yếu.

Người Việt ngày càng dữ!

Cái gốc vấn đề nằm ở chỗ: Nền giáo dục của chúng ta quá nặng về ganh đua thành tích; thiếu đề cao tinh thần hòa bình, tình nhân loại.

Người Việt hiền hòa? Xưa rồi! Bây giờ người ta có thể đâm nhau chỉ vì một cái nhìn bị cho là “đểu”, một lời nói “khó ưa”; truy sát nhau chỉ vì va quệt xe máy. Thậm chí, thói quen sử dụng bạo lực đang lan cả vào giới công chức. Vì sao?

Trào lưu… tự xử!

Trưa 12-10, ông Trần Đình Hiển - cán bộ CSGT huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên - đang đi xe máy cùng một nhóm bạn khoảng chục người thì gặp Phạm Văn Điệp (cán bộ quản lý một trại tạm giam ở địa phương) đi cùng chiều. Cho rằng bị Điệp nhìn đểu, khi Điệp dừng xe tại một cửa hàng, nhóm của Hiển đã nhào tới khiêu khích, còn Hiển thì mở cốp xe lấy dao tấn công, chém trọng thương anh Điệp.

Tối 11-10, tại sảnh khách sạn 4 sao Pearl River ở Hải Phòng, chỉ vì xích mích lúc đăng ký phòng mà 2 nhóm khách gồm nhóm 3 người của ông Trần Hoài Nam (Tổng Giám đốc Công ty Văn phòng phẩm Hải Phòng) và nhóm gần chục người là bạn của bà Trần Thị Hoàng Mai (Phó Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Hải Phòng), cũng có mặt lúc ấy, đã lao vào hỗn chiến. Ông Nam bị thương nặng (sau đó phải nhập viện điều trị). Khi các nạn nhân đã không còn khả năng kháng cự, nhóm người đông hơn tiếp tục đe dọa, to tiếng khá lâu, rồi mới kéo nhau rời khỏi khách sạn. Một người nước ngoài trong nhóm của ông Nam quá sợ hãi nên đã sớm bay về nước.

Trước đó nữa, vào ngày 12-8, 2 phó giám đốc Sở Ngoại vụ và Sở Nội vụ tỉnh Bình Phước đã choảng nhau trong quán karaoke, làm một người phải nhập viện khâu vết thương.

Đó chỉ là một số vụ gần đây nhất mà công chức, quan chức - kể cả ở cấp phó giám đốc sở - hành xử với nhau như côn đồ; chỉ biết dựa vào nắm đấm, vào dao búa, bạo lực để giải quyết xích mích, bất đồng, trong khi hơn ai hết, họ phải là những người hiểu biết và gương mẫu hành xử theo luật pháp.

Với dân thường, xã hội từ khá lâu vốn đã quá bất an với nạn bạo lực leo thang: ở nông thôn thường xuyên xảy ra chuyện dân làng tự xử dã man với những kẻ trộm chó trong khi những tên trộm cũng hung hãn dùng hung khí tấn công trở lại; ở đô thị, không tính đến những vụ thanh toán lẫn nhau của các băng nhóm xã hội đen và những vụ cướp tàn bạo bởi những tên cướp chuyên nghiệp, còn là những vụ dân thường sát hại lẫn nhau có khi chỉ vì cái nhìn bị cho là “đểu”, một lời nói bị cho là “khó ưa” hoặc một vụ va quệt xe máy ngoài đường phố đông đúc. Đó là chưa nói đến những vụ thảm sát kinh hoàng ngay cả giữa người thân trong gia đình, giữa cha con, vợ chồng, anh em ruột thịt, giữa những người đang “yêu” nhau… Những vụ quan chức, công chức hành xử với nhau như côn đồ chỉ làm tăng thêm cái cảm giác bất an vốn đã đè nặng lên xã hội, làm cho người dân bình thường cảm thấy nơm nớp lo âu.

Đâu là cái gốc?

Người Việt phải chăng ưa bạo lực và chỉ biết, chỉ ham dùng bạo lực để giải quyết xích mích, bất đồng, tranh chấp? Dù không muốn tin như vậy nhưng những vụ việc xử nhau bằng bạo lực liên tiếp xảy ra ngày càng dày về tần suất và ngày càng hung bạo về tính chất như càng củng cố thêm cho mối nghi ngờ đó. Đặc biệt là những vụ quan chức, công chức xử nhau gần đây cho thấy xu hướng chuộng bạo lực, bất chấp luật pháp đã lan cả đến giới vốn được coi là đại diện cho nhà nước, có hiểu biết về luật pháp và đương nhiên phải biết hành xử theo pháp luật.

Dù giải thích cách nào, điều đó cũng cho thấy một khoảng cách còn quá xa giữa khẩu hiệu “Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật” được đề ra từ bao nhiêu năm nay với thực tế cuộc sống đang diễn ra theo chiều hướng ngược lại. Người dân sút giảm lòng tin vào thần công lý, vào sự can thiệp đúng đắn, vô tư, kịp thời, có hiệu quả của pháp luật nên manh động tự xử thì đã đành nhưng khi cán bộ nhà nước cũng làm như vậy thì rõ là nỗ lực xây dựng nhà nước pháp quyền đã chưa thành công và về mặt nào đó có thể nói rằng đã bị hủy hoại từ bên trong. Nhưng muốn trả lời được câu hỏi vì sao như thế, vì sao người ta thiếu tin tưởng vào thần công lý thì lại phải xem lại hiệu quả hoạt động của cả bộ máy thực thi pháp luật và hệ thống tư pháp.

Nhưng còn một mặt khác của vấn đề vì sao người Việt tỏ ra ngày càng hung dữ, đó là từ giáo dục. Phải chăng nền giáo dục của chúng ta cho tới nay quá chú trọng đến việc dạy con người phải bằng mọi cách đạt cho được mục đích; thúc đẩy con người từ thi đua đến ganh đua, tranh đua đạt cho được mục tiêu dù có phải hy sinh ít nhiều “tính bổn thiện” nơi con người?

Đã có chuyên gia nhận xét nền giáo dục của chúng ta thiếu giáo dục tính hướng thiện. Nguyên chánh tòa hình sự TAND Tối cao, ông Đinh Văn Quế, mới đây nói: “Cần xây dựng một nền giáo dục hướng thiện thật sự, phải rèn nhân trước khi rèn nghề. Tuy nhiên, nên hiểu giáo dục ở đây không chỉ là một mối ở nhà trường mà còn tổng hòa từ cả gia đình, xã hội. Cha mẹ mà hư hỏng thì làm sao con cái thành người được. Lãnh đạo cơ quan mà tham quyền cố vị, tham nhũng, ưa kẻ xu nịnh, chèn ép người tài thì nhân viên tất loạn. Tôi nghĩ việc xây dựng một nền giáo dục hướng thiện phải được nhận thức là một chiến lược cấp bách của quốc gia”.

Chúng tôi chỉ có thể đồng tình với điều đó và muốn thêm: Nền giáo dục của chúng ta cũng thiếu cả việc đề cao tinh thần hòa bình, tình nhân loại. Một con người thấm đẫm tinh thần hòa bình, tình nhân loại bao giờ cũng mong muốn hòa hoãn, giải quyết mọi bất đồng một cách êm đẹp, dựa trên luật pháp và lòng nhân, không làm tổn hại tới người khác, huống chi là tước đi mạng sống của đồng loại.