Wednesday, December 28, 2016

Một góc nhìn về thực trạng của Văn hóa Việt

Học nơi người không phải là tự ti. Học để làm bồi họ (làm thông, làm phán) mới là điều nhục. Học để “sáng sữa bò tối sâm banh,” “để võng anh đi trước, võng nàng theo sau” để đè nén thiên hạ, vinh thân phì gia “một người làm quan, cả họ được nhờ,” đó chính là cái học ngu dân và nô lệ. Một cái học phản giáo dục. Cái học thật phải là cái học để tự lập, để vươn lên, để hay hơn, để hoàn hảo hơn. Đó chính là cái học vượt khỏi tình trạng trì trệ hiện tại. CÁI HỌC TIẾN BỘ.

Văn hóa vốn là linh hồn của một dân tộc. Thân thể bệnh tật, một phần chính vì tâm linh bất toàn. Thế nên, ta có thể lý luận cho rằng sự trổi vượt hay thua kém của bất cứ một dân tộc nào đều phản ánh nơi văn hóa của họ. Một dân tộc bất khuất hay nhu nhược, thông minh hay ngu độn, nhân đạo hay tàn ác... đều có thể biết được qua chính nền văn hóa. Với một nền văn chương thi ca toàn những câu tâng bốc, những ngôn từ sặc máu, đầy ắp khích động hận thù, ta khó có thể tưởng tượng được dân tộc ấy nhân đạo, cương trực, liêm chính.

Với tập quán xôi thịt, với phong tục tranh quyền cố vị, với nền “đạo đức” ăn trên ngồi chốc, xã hội như vậy chỉ có tranh chấp, đấu tranh và tham nhũng, nhưng không thể có tiến bộ. Những nhận xét của nhiều thức giả - từ thời Nam Phong tạp chí, qua thời Tự Lực Văn Đoàn tới thời nay, từ thời Phan Khôi, Vũ Trọng Phụng tới thời Nguyễn Gia Kìểng - về tính chất tiêu cực của văn hóa Việt hẳn không phải chỉ là sản phẩm tưởng tượng của nhóm trí thức “trưởng gỉa” thích “vạch áo cho người xem lưng” Làm sao chúng ta có thể giải thích được sự kiện, từ những đống gạch vụn, kẻ bại trận Nhật và Đức đã thành hai cường quốc kinh tế, khoa học và kỹ thuật. Trong khi cũng trên 30 năm hòa bình, tài nguyên giàu hơn Nhật và không kém Đức, người chiến thắng vẫn cầm đèn đỏ trong rất nhiều lĩnh vực.

Chúng ta thường đổ lỗi cho ngoại bang. Không chỉ có thế. Nam Hàn, Do Thái, Đài Loan đều bị ngoại bang đe dọa và chi phối. Nhưng họ vẫn phát triển, vẫn giầu. Hay là do chính sách, thể chế sai lầm? Cũng không hẳn như vậy. Ấn Độ có một thể chế dân chủ vào loại nhất Á châu, nhưng vẫn tụt lùi gần như trong mọi lãnh vực khác, ngay cả nhân quyền. Chính sách của Tân Gia Ba (Singapore) chẳng có dân chủ tí nào, nhưng lại làm nước này cường thịnh. Vậy thì, nguyên nhân chính yếu có lẽ là chính văn hóa. Bởi lẽ thể chế, chính sách luôn gắn liền với văn hóa, với lối suy tư. Có phải đó là NỀN VĂN HÓA “NHẪN NHỤC”?

Qúa nhẫn nhục đến thành hèn nhát, bất lực! Đầu thế kỷ thứ 20, Lỗ Tấn đã vạch trần mặt trái của một nền văn hóa nhẫn nại, phục tùng, thụ động của Tàu. Vào cuối thế kỷ, biết bao trí thức Việt cũng đã mổ xẻ cái bướu bất trị này trong văn hóa Việt. Có phải đó là nền văn hóa “con rùa” (hay lạc đà)? Nhà Thanh đã làm gì để đối phó với Tây phương? Nhà Nguyễn đã làm gì để chống chọi người Pháp? Bế quan, tỏa cảng! Từ chối giao tiếp, từ chối đối thọai, từ chối tiếp nhận! Sát hại những ai dám tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Để rồi chịu nhục vì bát quốc Liên Minh! Để rồi bị Pháp đô hộ cả gần 100 năm! Đó là tư cách con rùa rụt cổ vào vỏ, con lạc đà chui đầu trong cát. Đó là một nền văn hóa trốn trách nhiệm: trên đổ cho dưới, dưới đổ cho dân ngu cu đen. Đó là nền văn hóa kín cổng cao tường, một nền văn hóa trì trệ. Đó là một nền văn hóa lệ thuộc, thích làm bồi Tây, bồi Mỹ, bồi Nga, vân vân. Một nền văn hóa như vậy, thì cả ngàn năm sau, cho dù bất cứ ai cai trị đi nữa, thì chính thể vẫn thế, chính sách vẫn vậy.

“Sự thật mất lòng” nhưng “thuốc đắng đã tật.” Đã đến lúc mà ta PHẢI TRỰC DIỆN VỚI CHÍNH NỀN VĂN HÓA CỦA MÌNH. Nhận ra khuyết điểm, học hỏi phương thế chữa chạy, đó chính là những bước đầu tất yếu trong công cuộc xây dựng nền văn hóa của mình. Chẳng có gì đáng xấu hổ khi nhận ra sự yếu kém của mình. Chỉ đáng buồn khi chúng ta cứ cố ý tự lừa mình, như con bò tự thổi phồng nó lên. Chỉ đáng sợ nếu chúng ta vẫn chưa bỏ được tâm thức của con ếch nằm dưới đáy giếng nhìn thiên hạ. Chỉ còn trì trệ khi mà ta “không biết mình, cũng chẳng biết người.” Và chỉ còn là cái chết khi mà văn hóa lệ thuộc, nịnh hót, đầu độc làm ta chán ghét, hãi sợ sự thật (trung ngôn nghịch nhĩ) và chạy theo hưởng thụ.

Chúng ta thử hỏi. Cao Bá Quát đã có “công gì với núi sông” cho ngay cả khi ông đã “nắm được ba bồ chữ trong tất cả bốn bồ chữ của thiên hạ”? Thực ra, Cao Bá Quát, Lê Văn Siêu, Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương chỉ là đại biểu cho những người chủ trương nền “văn hóa trì trệ” (nói theo nữ sĩ Lê Thị Huệ). Sẽ chẳng bao giờ có tiến bộ ngay cả khi câu khoe khoang “Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán, Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường” có thật đi nữa. Tại sao cứ phải so mình với người Tàu, người Tây. Tại sao ta không dám nghĩ, dám làm, và dám vượt họ?

Với một não trạng “NGẠO MẠN VỚI NGƯỜI MÌNH, TỰ TI VỚI NGƯỜI NGOÀI” như vậy, làm sao mà có tiến bộ. Làm sao mà ta “ngóc đầu” lên được! Tại sao cứ phải đao to búa lớn với bốn ngàn năm văn hiến, với hàng ngàn tiến sĩ khắc trên bia Văn Miếu, khi mà ngay cả một chiếc xe đạp ta cũng không thể tự chế tạo? Chúng ta có hàng vạn thi sĩ, nhưng có mấy ai ảnh hưởng tới cả nhân loại như Dante, Goethe, Shakespear, vân vân? Có phải đại thi hào chỉ là loại thợ thơ ca tụng lãnh tụ (gồm cả lãnh tụ nước Nga, nước Tàu), với sáo ngữ, tuy mỹ lệ nhưng trống rỗng, vô thực? Nếu chỉ có thế thì, nói theo Nguyễn Du, “rằng hay thì thật là hay” nhưng mà “nghe như ngậm đắng nuốt cay thế nào”!

Đã đến lúc chúng ta phải biết THỨC TỈNH, PHÊ BÌNH và HỌC HỎI. Bài học bế quan tỏa cảng của Tàu, bài học nước Đức, nước Mỹ, nuớc Nhật và cả nước Tân Gia Ba (Singapore) là những bài học ta không được phép quên. Ngẫm người lại nghĩ đến ta. Cái gì đã làm người ta thay đổi? Cái gì đã làm họ phát triển? Và cái gì đã làm ta lạc hậu?

Tính ngạo mạn từ thời cha ông cho tới ngày nay (tự cho mình cái gì cũng nhất thế giới) đã làm cho nước Tàu “vĩ đại” lẹt đẹt, đã làm bốn ngàn năm văn hiến An Nam lẽo đẽo. Óc tự ti đã khiến ta lệ thuộc vào văn hóa Tàu, rồi Pháp, rồi Nga và, ngày nay, Mỹ. Ta chỉ mong được phần nào giống Tàu, giống Tây, giống Nga, giống Mỹ. Ngược lại, NGƯỜI ĐỨC không thế. Bài học bại trận, bị cưa cắt đất đai, bị phân tán thật chua cay bi đát đã giúp người Đức nhận ra sự thua kém của họ. Chẳng cần tự hào với “bốn ngàn năm văn hiến,” họ đã có thể trở thành đầu óc của nhân loại với những Kant, Hegel, Marx, Einstein, Heisenberg, Beethoven, Brahms, vân vân. Từ một đám dân hỗn tạp, MỸ đã trở thành đại cường quốc trong vòng hai thế kỷ, và dẫn đầu thế giới gần như trong tất cả mọi lãnh vực. Với một nguồn nhiên liệu ít ỏi, tài nguyên hạn hẹp và đầy thiên tai, NHẬT đã làm thế giới khâm phục và khiếp hãi.

Gần ta hơn, chỉ với vài ba triệu dân, một mảnh đất nhỏ xíu, với khoảng 40 năm lập quốc, và luôn trong tình trạng bị Mã Lai to lớn đe dọa, Tân Gia Ba (SINGAPORE) đã biến thành một con rồng nhỏ. Lợi tức người dân cao thứ nhì sau Nhật ở châu Á, và được tiếng thơm là sạch sẽ, trật tự và an toàn vào loại nhất thế giới. Chẳng cần phải nói, cái tinh thần làm cho các nước trên tiến bộ, chính là nên văn hóa của họ. Người dân Tân Gia Ba (Singapore) không rêu rao bốn hay năm ngàn năm văn hiến. Họ chỉ cầu tiến. Văn hóa của họ là VĂN HÓA CẦU TIẾN, chứ không phải là văn hóa hoài cổ, nệ cổ và trì trệ. Họ không bắt chước người khác như con vẹt hay con khỉ. Họ học từ Mỹ và Âu châu, không phải để giống như những nước da trắng, nhưng để vượt khỏi chính những nước thầy này.

Chỉ riêng về giáo dục, vào thập niên 1990s, họ đã đủ sức tranh đua với Âu Mỹ (Năm 1987, thủ tướng Lý Quang Diệu đã dám tuyên bố là Đại Học Quốc Gia Tân Gia Ba (Singapore) không những không thua, mà còn khá hơn nhiều đại học lớn của Âu châu). Và gần đây, nền giáo dục của nước tí hon nay đã trở thành mẫu mực nhiều nước phải học. Đại học của Tân Gia Ba (Singapore) tranh đua nhiêng ngửa với những đại học thời danh nhất của Anh như Oxford và Cambridge. Ngược lại, đại học tốt nhất của Việt nam vẫn thua xa các đại học Thái Lan tới 15 hay 20 lần (theo Giáo sư Hoàng Tụy trong bài phỏng vấn trên Vietnam Express, 8.2005).

Học nơi người không phải là tự ti. Học để làm bồi họ (làm thông, làm phán) mới là điều nhục. Học để “sáng sữa bò tối sâm banh,” “để võng anh đi trước, võng nàng theo sau” để đè nén thiên hạ, vinh thân phì gia “một người làm quan, cả họ được nhờ,” đó chính là cái học ngu dân và nô lệ. Một cái học phản giáo dục. Cái học thật phải là cái học để tự lập, để vươn lên, để hay hơn, để hoàn hảo hơn. Đó chính là cái học vượt khỏi tình trạng trì trệ hiện tại. CÁI HỌC TIẾN BỘ.

Khi 90 triệu người cùng quyết... làm quan!

Đa số sĩ tử trong các cuộc thi đều mong mình may mắn thi đậu để được làm Quan chứ không phải vì mục đích cao cả hay quốc gia đại sự.

Học để “cả họ được nhờ”

Nhìn qua các thống kê, có thể thấy tinh  thần hiếu học của dân ta ít nước nào theo kịp. Quả là đáng khâm phục cho một đất nước ngày nào còn khắp nơi “Bình dân học vụ” nhưng chỉ hơn nửa thế kỷ sau đã có tới gần 30 ngàn Tiến Sĩ, khoảng 120 ngàn Thạc Sĩ và mỗi năm ra lò hơn 400 ngàn người tốt nghiệp ĐH-CĐ (năm sau cao hơn năm trước).

Hiếu học là vậy, nhưng có vẻ cái sự học này chưa phát huy hiệu quả. Bằng chứng là tuy người người đi học, nhà nhà đi học sau đại học nhưng  vẫn hiếm thấy bóng dáng các sản phẩm chất lượng cao mang tên “trí tuệ Việt”.

Do đặc thù lịch sử, Việt Nam từng chịu ảnh hưởng rất lớn của Nho vốn có chủ trương tìm về cái cũ, cái ngày xưa tươi đẹp nên không chú trọng hay khuyến khích mọi người nghĩ ra cái mới hay cải cách, đổi mới. Cũng vì vậy nên giáo đồ của họ đa số chỉ quan tâm đến học thuộc lòng, nhớ lấy những gì quan trọng để khi cần thì mang ra đối đáp, thi thố.

Dần dần khái niệm "học để làm người" và tìm ra ý nghĩa cuộc sống đã trở thành xa xỉ. Thay vào đó, đa phần quen học vẹt, học để kiếm cơm (theo cách nói của cụ Phan Khôi), và để thoát nghèo bền vững hay biến một người đang là nông dân trở thành trí thức.

Trong xã hội đó, đa số sĩ tử trong các cuộc thi đều mong  mình may mắn thi đậu để được làm Quan chứ không phải vì mục đích cao cả hay quốc gia đại sự. Do khi làm quan, đôi lúc “cả họ được nhờ” nên phần đông mọi người cố gắng học thuộc lấy một “bồ chữ” để theo đuổi mục đích riêng của mình, làm giàu cho gia đình mình, rạng danh dòng họ mình chứ ít ai quan tâm đến cái chung hay phụng sự đất nước.

Tâm lý đó vẫn còn ảnh hưởng rất lớn đến mục đích học của nhiều người Việt ngày nay. Rất nhiều người coi bằng Tiến Sĩ là cái ngưỡng cao nhất của học tập. Họ sẽ dừng việc học lại một khi có tấm bằng trong tay.

Văn hóa trọng sĩ khiến cho nhiều người coi việc học là đích đến chứ không phải tiến trình. Ở một số nước, người ta coi việc học là mục tiêu suốt đời nên họ cặm cụi học tập và tận tụy nghiên cứu hàng ngày để lần lượt cho ra đời các phát minh, sáng chế làm lợi cho nhân loại.

Nghề đi học

Nước ta cũng có nhiều người đi học suốt đời nhưng phần đa là do học mãi mà chưa lấy được bằng hoặc chưa biết làm gì nên cứ đi học – vì dù sao thì việc học luôn được coi trọng  trong một đất nước “hiếu học” như Việt Nam.

Không thiếu người suốt đời theo đuổi hết khóa này đến khóa khác, bằng này đến bằng khác (do được ưu đãi về học bổng) và tạo nên một hiện tượng “nghề đi học”.  Xét về quyền thì họ không sai, nhưng nếu nhìn rộng ra thì những người làm nghề này tuy có bằng cấp và kiến thức tốt nhưng lại không làm lợi cho xã hội vì họ không làm việc theo đúng nghĩa.

Cũng bởi vì cách tiếp cận trong giáo dục của chúng ta đang có vấn đề, nên hậu quả là “thầy” quá nhiều nhưng không biết hoặc không có cơ hội làm việc theo đúng nghĩa, trong khi đó thợ có tay nghề cao lại thiếu cho dù nhu cầu xã hội rất cao.

Nếu nhìn nhận theo quan điểm quản trị thì để một xã hội vận hành hiệu quả, không cần quá nhiều nhà quản lý (mà chỉ cần tinh nhuệ) hay nhà khoa học (ít nhưng hiệu quả), mà cần nhiều hơn những người thợ có tay nghề cao trong các nhà máy, xí nghiệp.

Cùng với những nông dân cần cù nơi đồng ruộng, họ mới chính là những người trực tiếp làm ra sản phẩm, vật chất cho xã hội, góp phần trực tiếp và có ý nghĩa thực tiễn nhất thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước. Họ cần mẫn, cặm cụi làm việc mà không hề kêu ca về lương thấp và các chế độ phụ cấp nghèo nàn. Với họ, hạnh phúc  đơn giản là được làm việc, có thu nhập để nuôi sống bản thân, chăm sóc gia đình và trông đợi một tương lai tươi sáng.

Một đất nước muốn phát triển thì cơ cấu ngành nghề cần được điều chỉnh phù hợp để lao động với hàm lượng trí tuệ cao cần chiếm ưu thế, nhưng điều kiện cần và đủ của Việt Nam cho vấn đề này vẫn chưa đến.

Trước mắt, hàng năm chúng ta vẫn phải sống nhờ vào 40 triệu tấn thóc, 6-7 triệu tấn cafe cùng các sản phẩm nông nghiệp khác. Lao động phổ thông vẫn đang là nguồn lực quan trọng để tạo ra hàng hóa xuất khẩu góp phần cân bằng cán cân mậu dịch của đất nước. Và trong số mấy chục nghìn doanh nghiệp nhỏ đa số được sở hữu và quản lý bởi những người chưa bao giờ tốt nghiệp ĐH kia, một lượng lớn lao động đang ngày đêm làm việc để góp phần nuôi sống mấy triệu cử nhân cùng hơn một trăm ngàn thạc sĩ, tiến sĩ trên toàn quốc.

Đến bao giờ sự hiếu học của dân ta mới phát huy được thế mạnh và đóng góp xứng tầm cho phát triển? Có rất nhiều điều cần bàn đến ở đây liên quan đến “Triết lý giáo dục”, “cơ chế sử dụng nhân tài”, cùng các biện pháp đồng bộ trong nghiên cứu và ứng dụng KHKT của nước nhà?

Nhưng, đó cũng là khi mỗi người đi học không chỉ để hành nghề, để làm quan hay để thoát nghèo mà còn để biết cách ngồi lại cùng nhau, biết chia sẻ, cảm thông, tôn trọng sự khác biệt thông qua vận dụng lối tư duy phản biện để cùng nhau làm việc vì mục tiêu chung. 

Tình trạng tội ác gia tăng, vì đâu nên nỗi?

Từ nhiều năm, đặc biệt trong những thời gian gần đây, tình trạng tội ác từ mức độ cướp của giết người trở xuống, biểu hiện một cách đa dạng dưới mọi hình thức, đã gia tăng đến mức làm cho mọi người dân lương thiện bình thường cảm thấy như mình cùng những người xung quanh đang bị sống trong một môi trường bất an thường trực, không được bảo vệ chặt chẽ, và điều này làm đau đầu biết bao những nhà hoạt động xã hội-văn hóa-giáo dục có thiện chí muốn tìm giải pháp góp phần cứu vãn tình thế.

Không thể dẫn chứng hết những trường hợp cụ thể. Cứ giở báo ra đọc, nhất là những tờ báo thuộc ngành công an, hằng ngày đều thấy có nhiều vụ giết người hoặc cướp của giết người xảy ra nhan nhản ở khắp nơi nơi, từ Nam ra Bắc, từ nông thôn đến thành thị. Và lứa tuổi phạm tội thông thường-đa số ở độ tuổi trên dưới 20, tức được sinh ra và lớn lên trong khoảng những năm 90 của thế kỷ trước, sau thời kỳ cải cách-mở cửa chừng vài năm. Điều này không có nghĩa, và càng không có nghĩa đơn giản quy kết mọi tội lệ cho công cuộc cải cách-mở cửa của đất nước gắn liền với nền kinh tế thị trường vốn dĩ bắt buộc phải chấp nhận yếu tố tôn trọng sự cạnh tranh, giành giật mặc dù trong khuôn khổ của pháp luật lành mạnh, trên lý thuyết. Nhưng ở một mặt khác, cũng không thể tách rời hẳn những hiện tượng tội ác xấu xa ra khỏi cái môi trường văn hóa trong một thời kỳ lịch sử cụ thể, mang những nét đặc trưng-đặc thù của nó.

Theo kết quả nghiên cứu về lịch sử các nền văn minh, nhân loại thời nào ở đâu cũng có sự gian lận, tội ác, kể cả tội loạn luân và những thứ xấu xa khác, nhưng tùy nơi, tùy chỗ mà mang những đặc điểm, mức độ phổ biến khác nhau. Ở những quốc gia có nền “phong tục thuần hậu”, lại có thêm minh quân cai trị, luật pháp nghiêm nhặt, giáo dục từ phía tôn giáo hoặc từ phía nhà cầm quyền phát triển thì hành vi tội ác trong dân thường không đáng kể. Lại có thêm một quy luật, mà ta có thể mượn giọng nhà nho xưa để phát biểu, nói lên rằng tình trạng rối loạn kỷ cương thường xuất phát từ nguyên nhân thật sâu xa, không phải một sớm một chiều: “Bề tôi mà giết vua, con mà giết cha, nguyên do không phải một sớm một chiều; tình trạng dẫn đến như thế phải dần dần mà hình thành nên” (Thần thí kỳ quân, tử thí kỳ phụ, phi nhất triêu nhất nhật chi cố, kỳ sở do lai giả tiệm hĩ). Theo cách diễn đạt này thì cái ác, cái xấu cũng không thể do một ngày một bữa, mà do sự tích tụ chất chứa lâu ngày từ nhiều nhân tố và thời gian mới thành mức độ nghiêm trọng và nguy hiểm. Cái ác không tích chứa lại lâu ngày dài tháng thì không đủ để diệt thân (Ác bất tích bất túc dĩ diệt thân- kinh Dịch, “Hệ từ hạ”.

Các văn nhân, học giả hoặc sử gia Việt Nam thời xưa mỗi khi đề cập đến một vùng đất nào, đều có nói đến phong tục của vùng đất đó, mà trước tiên họ đánh giá chung về nếp sống của người dân trong vùng miền, như trong mục “Phong tục” sách Đại Nam nhất thống chí (soạn từ năm 1865, bản dịch phần Lục tỉnh Nam Việt của Tu Trai Nguyễn Tạo, Sài Gòn, 1959), phần về tỉnh Biên Hòa, đại khái viết: “Vì địa khí ấm áp trong lặng, nên dân gian phong tục thuần hậu, tánh khí đơn giản, kẻ sĩ chuộng thơ, nhân dân siêng việc cày ruộng, dệt cửi, nghề thợ và nghề buôn tùy theo địa thế phát triển mà làm ăn; ưa sự hát múa, sùng thượng đạo Phật…”. Về tỉnh Gia Định, có đoạn viết: “Tục chuộng tiết khí, khinh tài trọng nghĩa…Dân ở thôn dã thì chất phác, dân ở thị thành thì du đãng…”. Về tỉnh Định Tường, mục “Phong tục” nhận định: “Đất đai rộng, người hào hiệp, siêng nghề nghiệp, hay bố thí… Người ở gần thành thị hay chơi bời biếng nhác, như con gái ở vùng Mỹ Tho thì hay sửa soạn trang sức đi coi hát xướng, quen thói dâm đãng (sic); con trai ở các phố khách thì cờ bạc hút xách, tục xấu chưa trừ”.

Nói “con gái ở vùng Mỹ Tho thì hay sửa soạn trang sức đi coi hát xướng, quen thói dâm đãng (sic); con trai ở các phố khách thì cờ bạc hút xách, tục xấu chưa trừ”, có thể đúng phần nào, do yếu tố tiếp xúc nhiều hơn với người Tàu rồi sau đó người Pháp, bởi quân Pháp đánh chiếm tỉnh Định Tường và bắt đầu đặt nền cai trị ở đó rất sớm, từ năm 1861, Định Tường trở thành một trung tâm thương mại. Nhưng mặc dù vậy, tại một số vùng bị chiếm đóng mà nền kinh tế bắt đầu phát triển theo hướng thị trường thô sơ, xã hội chỉ bắt đầu xuất hiện lác đác một số biểu hiện thuộc tệ nạn xã hội chứ chưa phải tội ác giết người. Quyển Lịch sử cuộc viễn chinh Nam Kỳ (Histoire de l’Expédition de Cochinchine en 1861) của viên sĩ quan chứng nhân người Pháp Léopold Pallu đi theo đoàn quân chinh phục của Phó thủy sư đô đốc Charner năm 1861 đã chứng minh cho sự thật thú vị này, trong có đoạn viết: “…Người An Nam khiếp sợ cảnh máu rơi. Ở Âu châu, giết người thường đi đôi với cướp bóc, vì giết người là để bảo đảm việc cướp bóc dễ dàng; bọn cướp bóc An Nam chỉ lột sạch nạn nhân nào lọt trong tay họ nhưng không giết; trước năm 1859 (tức là trước khi người Pháp bắt đầu đánh chiếm Nam Kỳ-TKN), chưa chắc đã có đến ba vụ giết người trong một năm… Trong xứ An Nam án mạng xảy ra là một chuyện cực kỳ hệ trọng, luật của người An Nam buộc họ sống theo bản tính thiên nhiên của họ tức là không bao giờ giết chóc” (bản dịch tiếng Việt của Hoang Phong, NXB. Phương Đông, 2008, tr. 193-194).

Như vậy, căn cứ vào nhận định của tác giả Léopold Pallu đưa ra từ năm 1861, phải chăng chỉ trong vòng 150 năm, bản tính của người Việt Nam so với thời nay đã thay đổi quá nhiều, từ trạng thái hiền hòa, hiếu sinh, tôn trọng mạng sống của kẻ khác sang bản tính độc ác, giết người một cách dễ dàng? Điều này chắc chắn là không thể kết luận vội vàng, mà nếu có đúng một phần thì chỉ đúng trên một thiểu số người nào thôi chứ không thể khái quát thành bản tính thay đổi của cả một dân tộc được. Nhưng trên thực tế, cái gọi “thiểu số” vừa kể cũng là một loại thiểu số cực kỳ đáng ngại, vì tính trên tổng số và về tần suất- nhịp độ xuất hiện, cũng như về tính chất nguy hiểm của các vụ giết người, tình tiết vụ án,  nó không còn ít nữa mà lại có tính chất tràn lan ai cũng đều có thể trông thấy.

Cách nay chừng chục năm, trên báo Công Giáo & Dân Tộc, tôi đã từng đặt ra vấn đề này trong bài viết “Tình trạng gia tăng tội ác trong xã hội hiện nay” (ký tên Xuân Huy), bây giờ nhìn lại, những quan điểm và nhận định của tôi nêu ra trong khoảng thời gian đó hầu như về cơ bản vẫn không có gì thay đổi. Chỉ có điều, vào lúc đó, tôi vẫn còn ngây thơ hi vọng rằng rồi đây với sự củng cố của nền giáo dục và luật pháp, qua những nỗ lực xây dựng của chính quyền và các tổ chức xã hội, tôn giáo, tình trạng sẽ có thể khá lên rất nhiều chứ đâu ngờ ngược lại còn ngày một tồi tệ hơn như hiện nay.

Trong bài viết nêu trên, tôi có nêu rõ: “...Gần đây sự suy đồi của đạo đức hầu như không có gì kìm hãm bớt, trái lại càng có sức lan tỏa mạnh vì con người bị đánh mất niềm tin vào những giá trị truyền thống, đồng thời lại bị kích động bởi lối sống bạo lực ngày càng được cổ võ và phổ biến khắp nơi trên các phương tiện thông tin và phim ảnh, hậu quả của nền văn minh thiên trọng vào những giá trị kinh tế, vật chất. Sự dốt nát và nạn thất học, bạn đồng hành của tình trạng nghèo đói, cũng như mức sống chênh lệch quá lớn giữa các bộ phận dân cư tạo nên những mâu thuẫn tâm lý có thể là những nguyên nhân quan trọng làm gia tăng sự lệch chuẩn hành vi của con người… Có những thứ ban đầu không phải tội ác, mà chỉ là sự mềm yếu của con người, nhưng sau sẽ tiếp tay cho tội ác, như nạn cờ bạc, rượu chè, mại dâm, xì ke ma túy (bây giờ có thêm nạn đua xe, cá độ bóng đá- TKN)… Muốn hạn chế những thứ này, cần có một hệ thống luật pháp lành mạnh đạt hiệu quả...”.

Và cho đến hôm nay, thực tế nếp tư duy cùng nền văn hóa xã hội vẫn tiếp tục phát triển theo chiều lệch lạc, cực đoan hướng về những giá trị thực dụng, như cố bù đắp cho những gì thiếu thốn chưa thể có được trong thời kỳ chiến tranh kéo dài trước đó. Trong chuyển hình kỳ, một số không ít con người, đặc biệt thuộc các nhóm đặc quyền đặc lợi, đã câu kết lẫn nhau nhắm mắt chạy theo mọi thứ quyền lợi vật chất bất chấp thủ đoạn, coi đồng tiền và các tiện nghi đời sống là tiên là phật, từ đó phát sinh mọi thứ hiện tượng tiêu cực và bất công xã hội, các căn bệnh xã hội thừa cơ phát tác, hố ngăn cách giàu nghèo ngày một sâu thêm, trong đó có tệ nạn tham nhũng nổi lên tràn lan hầu như đã vượt khỏi tầm kiểm soát của luật pháp mà không có một cơ chế hữu hiệu nào khả dĩ chặn đứng. Trừ một số con em hư hỏng bắt đầu làm quen với lối sống xa hoa phung phí của giới quan chức hoặc nhà giàu mới nổi, các phần tử lép vế trong xã hội phần nhiều thất nghiệp cũng bị lưu manh hóa, nhất là giới trẻ sinh ra và lớn lên trong những điều kiện như thế, vừa bị ảnh hưởng bởi tư tưởng thực dụng chủ đạo chung của xã hội vừa mang nặng tâm lý bị đối xử bất công, lại mất hẳn lòng tin-lý tưởng khi trông lên tấm gương tệ hại của một số người lớn ở tầng lớp trên, họ đã không thể cam chịu được cảnh an phận thủ thường mà tìm mọi cách, mọi thủ đoạn, để cố chiếm giữ cho mình hoặc gia đình mình một chút tiện nghi mà không ngại phạm vào bất cứ một tội ác tày trời nào.  
 
Mới đây, trong cuộc hội thảo “Sự xuống cấp văn hóa và đạo đức trong xã hội ngày nay” do Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh tổ chức, qua bài tham luận, một nhà nghiên cứu đã đưa ra một hướng tiếp cận mới trong việc xem xét sự suy thoái văn hóa-xã hội, trong đó có vấn đề tội ác phát triển cực độ hiện nay. Tôi xin trích lại một đoạn ngắn gần cuối bài tham luận của ông như là một cách để giới thiệu và chia sẻ với tác giả: “Trong nỗ lực đi tìm mô thức mới để thay thế, vực dậy đời sống tinh thần cho xã hội, nếu không thanh toán cho được cơ sở lý luận cho phép người ta dựa vào các phạm trù ý thức hệ lỗi thời để thiết lập chính sách quốc gia, coi đó là những quyết định tối hậu, từ trên áp xuống, dựa vào những lợi ích nhất thời, cục bộ coi là giá trị để theo đuổi, cứ thế mà thực hiện, bất chấp hậu quả, bất chấp lòng dân thì cái giá phải trả, trong tình hình mới, không phải chỉ diễn ra như cũ, cũng không chỉ trên phương diện văn hóa mà có thể dẫn tới những tác hại quan trọng, không lường trước được, về mọi mặt đối với sự an nguy của đất nước”. 

Tuesday, December 27, 2016

Vườn thú người

“Một trò chơi sòng phẳng của sự sinh tồn cám dỗ làm điều xấu có thể kết thúc với phí tổn hàng ngàn silinh[1], nhưng kiểu biến thể này, chỉ tốn không quá vài silinh, có thể cho phép kẻ đấu tranh để nhận kích thích được thỏa mãn các hành động dụ dỗ, hãm hiếp, ngoại tình, bỏ đói, giết người và cướp bóc, mà thậm chí không cần phải nhấc mình khỏi chiếc ghế thoải mái của mình..”

Đó là đoạn trích trong cuốn sách của tác giả Desmond Morris mà tôi lấy làm tựa đề cho bài viết của mình “Vườn Thú Người”. Có thể coi đây là cuốn sách về Nhân chủng học, tôi thích đọc sách, đủ các thể loại, trong đó có sách về khảo cổ học – Sinh và Nhân chủng học. Chính xác thì cuốn sách thực ra cũng không hoàn toàn là về Nhân chủng học, nói cho đúng thì đó là cuốn sách viết về cuộc sống của Xã hội loài người nói chung và cá nhân sống trong xã hội đó nói riêng dưới góc nhìn sinh học – coi con người như một loài động vật bậc cao (theo đúng nghĩa đen), đoạn trích trên nằm ở Chương VI “Đấu tranh nhận kích thích”.

Thực ra, cuốn sách không liên quan nhiều lắm đến vấn đề tôi viết, nhưng tôi muốn mượn cái tên cuốn sách như một thông điệp đầy đủ nhất để nói về một câu chuyện khá ồn ào gần đây – “Chuyện cướp Bia”.

Chuyện kể rằng trong một ngày đẹp trời nọ, có một chút nắng nhẹ, một chút gió nhẹ, một chút tai nạn “nhẹ” (vì may mắn không có người nào thương vong hay tử vong) và sau đó là một câu chuyện buồn không hề nhẹ: Có 2 anh chàng Tài xế lái xe tải và Lơ xe chở Bia thì bất ngờ một xe ôtô khác qua đường phía trước, anh Tài xế đã bẻ quặt tay lái, để xe đâm vào lề đường. Vì đang đi với tốc độ cao nên khi bất ngờ đổi hướng, hàng ngàn két bia Tiger trên thùng xe đã đổ xuống đường, và rồi một cảnh tượng mà mang bề dày văn hóa của dân tộc làm thước đo thì “không lấy gì là đẹp đẽ lắm” đó là hàng trăm người nhảy vào “hôi của” (đó là nói lịch sự, chứ nói thẳng ra là “một lũ ăn cướp ban ngày”), mặc cho Tài xế và Lơ xe van xin...

Sự việc cơ bản chỉ có thế, phần sau thì các bạn ai cũng biết rồi, còn nếu không biết thì có thể lên google gõ tìm kiếm từ khóa “xe chở bia đổ tranh nhau cướp”, con số hiển thị rất “khiêm tốn” thôi: Khoảng 1.020.000 kết quả (0,34 giây). Khi đọc bản tin trên một trang báo mạng mà tôi cũng hơi shock, sự việc này đã cho thấy một vấn đề tồn tại: Cái xã hội mà chúng ta đang sống đã thất bại trên một phương diện nào đó, có thể hiểu theo nghĩa hẹp là “Đạo đức của một nhóm thiểu số (mà chưa chắc đã là thiểu số) rất thấp”.

Tôi nhớ cách đây cũng gần một năm khi một chuyện ở Trung Quốc hơi tương đồng đó là một người đàn ông lao động vất vả mang được một bọc tiền về để gia đình ăn tết, nhưng trên đường đi do túi bị rách và tiền rơi ra nên rất nhiều người đã dừng xe để “nhặt” (hộ mình) số tiền đó, trong ấy có cả những người giầu đi xe rất sang, nhớ ngày đó khi nhắc đến câu chuyện một vài người đã nói với tôi rất hồn nhiên “chuyện chỉ có ở Trung Quốc”, nghe cứ như là cái quốc gia đông dân nhất thế giới ấy là nơi chứa đầy những xấu xa và ti tiện, Việt Nam mình thì không, cao sang quá, sạch sẽ quá và “miễn dịch” với những thứ ấy.

Nhưng lần này thì... thậm chí còn bết bát hơn, người ta rơi tiền bị nhặt đã đành (mà thực ra mới trước đó không lâu, nước mình cũng có trường hợp “nhặt tiền rơi” tương tự), ở mình là “tai nạn” rồi đổ Bia, vậy mà hàng trăm con người “nhảy bổ” vào tranh cướp, nghe đâu có cả anh chàng nào đó nổi hứng (mà có lẽ nghiện bia hơn cả Chí Phèo nghiện rượu) mang cả xe Ba gác ra chở Bia “về”, rồi lại có vài kẻ leo lên cả xe để “nhặt” đồ rơi vãi...đủ loại người như thế, như của nhà mình. Không hiểu họ nghĩ cái gì và được “dạy bảo” ra sao? Cứ giả thiết đó là tiền, vàng, thịt, cá....hay bất cứ cái gì có thể ăn được thì đã đành, chứ Bia thì nói thật là uống vào là lại “cho ra” hết, chỉ mất công đi vệ sinh cho lắm, ấy thế mà họ cũng đâu có tha.

Kinh tế thị trường luôn kéo theo những mặt trái của nó, tại cái bối cảnh xã hội có kinh tế thị trường thì mọi sự đều để cho thị trường quyết định thông qua trao đổi, bán chác...và thế là Tiền có thể mua được hầu hết mọi thứ, nhưng vấn đề ở đây: chúng ta là “nền kinh tế thị trường có sự định hướng của nhà nước”, và sự thực là về mặt giáo dục cho đến thời điểm này nhà nước vẫn đang thất bại và loay hoay còn dài, coi như vế sau của khái niệm trên là chưa ổn. Cái gốc duy nhất đủ mạnh là hơn 4000 năm dựng nước - giữ nước hình thành nên bề dày “văn hóa” với truyền thống “tương thân tương ái”, có vẻ trong một giới hạn hẹp đã tan theo mây khói.

“Tương thân tương ái” vốn là một truyền thống văn hóa của người dân Việt Nam (nói riêng) do đặc thù canh tác Lúa nước gắn liền với việc trị thủy và để chống lại thiên tai, địch hóa, ngoại xâm mà cộng đồng gắn kết giúp đỡ lẫn nhau, yêu thương nhau. Những điều tốt đẹp đó đúng như nhận xét của một người nước ngoài “...nhưng chỉ phát huy khi đất nước có chiến tranh thôi”, còn đây – sau gần 40 năm thống nhất hòa bình, hình như người Việt Nam đã “chán” cảnh sống yên bình rồi hay sao mà “lá lành xé te tua thêm ra cho lá rách thành lá nát”. Văn hóa đâu rồi? Thuần phong mỹ tục đâu rồi?

Tôi không thể hiểu nổi những con người “cướp ngày” ấy nghĩ gì nữa? Khi có người gặp phải tai nạn khó khăn, thay vì chung tay giúp đỡ thì họ quay sang “đục nước thả câu” lương tri và thói vị kỷ của con người tồi tệ, hẹp hòi đến thế là cùng. Hẳn mấy gã này mà gặp tai nạn sắp bị chết đuối chắc không cần ai cứu giúp mà muốn người trên bờ đạp thêm cho mình mấy phát? Làm con người sống ở trên đời muốn gì thì gì ít nhất sống cũng phải có cái Đức, không giúp được người thì cũng đừng hại người, rồi sẽ có lúc chúng ta gặp khó khăn, xã hội mà cứ “quay mặt” với nhau như thế, vô tình với nhau như thế, tổn hại đến nhau như thế...rồi đến lúc mình bị tai họa ai giúp đây?

Mình sống ở trên đời này đã chẳng cho ai được cái gì thì cũng đừng lấy không của ai cái gì. Nền kinh tế thị trường có thể mua bán được mọi thứ bằng tiền đã là đau lòng lắm rồi, đã làm nhiều cái mất mát lắm rồi, đến Thiên lương và Đạo đức cũng không biết giữ mà đem nhau ra ngã giá rẻ rúng chỉ bằng mấy lon Bia, mấy đồng bạc lẻ như vậy thì dân tộc chúng ta chẳng còn có gì đáng giá nữa.

Cái nền tảng của mọi quốc gia dân tộc là Văn hóa, còn hay mất, thành hay bại là ở đó, nếu chúng ta cứ đem “bán thanh lý” đạo đức của mình như vậy thì cuối cùng chúng ta mãi vẫn chỉ là dân tộc nhược tiểu bé mọn không ngẩng mặt lên được. Thử hỏi những người tham gia vào vụ “cướp Bia” (và hàng trăm chuyện khác) như thế, khi mang “Chiến lợi phẩm” về nhà, con mình hỏi “ở đây vậy Ba (Má)....?” họ sẽ trả lời ra sao? Nói “là Ba thấy người ta gặp nạn nên Ba cướp về” à? Hay là nói dối? Phải rồi “người lớn cứ nói dối”. Bằng cách nào đi chăng nữa thì khi đấng sinh thành không sống cho tử tế thì trực tiếp hay gián tiếp cũng sẽ ảnh hưởng xấu đến con trẻ. Đã cả thế kỷ rồi mà lời than vãn của Tản Đà vẫn còn ở đó:

“Dân chín mốt[2] triệu, ai người lớn?
Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con”

Cứ cái đà này, chẳng mấy chốc mà chúng ta sẽ có “một dân tộc có văn hóa” tồn tại song song với “một dân tộc vô văn hóa”. Chừng nào đạo đức còn dễ bị tha hóa và người ta không kiên cường giữ vững, chừng đó người ta sẽ bị “mua đứt” từ thân xác cho đến tâm hồn, lúc đấy – khi đã chẳng còn gì để bán, đồng nghĩa với nó là họ cũng vô giá trị.

Con người sống trong những xã hội đông đúc, hiện đại hơn, tiện nghi hơn, họ cướp bóc trắng trợn không gian sinh tồn của rừng già, cây cối, muông thú, cá tôm. Họ phá đi những khu rừng hùng vĩ rồi tạo ra những công viên “cây xanh” đầy “thơ ngây bé mọn”, họ chặt phá cây cối, nơi sông, đuổi chim muông đi rồi lại tỏ vẻ yêu quý chúng bằng cách “tóm và nhốt trong lồng”, họ cướp đất của của động vật hoang dã để xây lên các thành phố, khu công nghiệp rồi lại giả tạo “ban ơn” làm một môi trường cho chúng sống gọi là “Vườn bách thú”...có loài nào cần sự “bảo vệ” của con người nếu như trước đó không phải do con người làm hại?

Và rồi khi chẳng còn hoang dã được với thiên nhiên, người ta quay sang hoang dã, cướp bóc, giết hại đồng loại mình. Chúng ta vẫn chỉ là một loài ở giai đoạn mông muội (cao hơn những loài khác một chút) khi không có ý thức và sẵn sàng quay sang cắn xé lẫn nhau chỉ bởi một vài miếng ăn thức uống, khi bản năng của loài thú không bị nén xuống, không bị kiềm chế lại thì chúng ta cũng chỉ là một loài động vật sống trong một “Vườn thú người”, một vườn thú rất lớn mà hầu như chẳng bao giờ chúng ta để tâm nhận biết.

“Thứ gì có thể dùng tiền mà mua được thì cũng có thể vì tiền mà bán được”, đất nước đã nhỏ bé, đã khó khăn mà nếu mỗi người Việt Nam không biết cố gắng, một, hai, ba, bốn rồi.....đến n người “quên” đi mất cái tinh thần “tương thân tương ái” trong văn hóa dân tộc thì sớm muộn chúng ta cũng mất nước theo đầy đủ các nghĩa. Một câu chuyện nhỏ, nhưng ẩn đằng sau nó là những vấn đề rất lớn.

Và để kết thúc, tôi xin mượn đôi lời cùa Trịnh để nói:

“Chúng ta đã đấu tranh. Ðang đấu tranh. Và có thể còn đấu tranh lâu dài. Nhưng tranh đấu để giành lại quyền sống, để làm người, chứ không để trở thành anh hùng hay làm người vĩ đại. Cõi nguồn từ khước tước hiệu đó.
           
Chúng ta đã đấu tranh như một người trẻ tuổi và đã sống mệt mỏi như một kẻ già nua. Tôi đang muốn quên đi những trang triết lý, những luận điệu phỉnh phờ. Ở đó có hai con đường. Một con đường dẫn ta về ca tụng sự vinh quang của đời sống. Con đường còn lại dẫn về sự băng hoại.

Nhân loại, mỗi ngày, đang cố bày biện những tiệm tạp hóa mới. Ðóng thêm nhiều kệ hàng. Người ta bán đủ loại: đói kém, chết chóc, thù hận, nô lệ, vong thân...”
....

Chú thích:

[1]: đồng tiền xu của nước Anh, hiện đã không còn lưu thông.
[2]: nguyên văn là “hai lăm triệu”.

Không cẩn thận chúng ta đang “lừa gạt” nhau

Không ít con số mới nghe tưởng tốt đẹp. Nhưng không cẩn thận cả xã hội thành “lừa gạt” nhau. Những người có trách nhiệm công bố các con số thành tích tự lừa mình, và lạc quan tếu. Hiện thực xã hội được khoác lên mình một chiếc áo ảo. Vậy thì đáng mừng hay đáng lo đây?

Vừa rồi, tại lễ tổng kết phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” năm 2015 và triển khai công tác năm 2016, một con số rất “đẹp” được công bố. Đó là năm qua đã có 19/22 triệu gia đình trên toàn quốc đạt chuẩn “Gia đình văn hóa”(GĐVH). Như vậy là đạt tỷ lệ 85% và tăng 2% so với năm 2014. Một con số khác cũng rất “đẹp”: Cả nước có 71.000 làng, tổ dân phố văn hóa được công nhận (đạt tỷ lệ 69%, tăng 7% so với năm trước).

Những con số đẹp

Đây không phải là lần đầu tiên những con số đẹp về danh hiệu GĐVH xuất hiện. Năm 2012, ngành văn hóa cũng đã công bố có 16/21 triệu gia đình đạt danh hiệu này. Như vậy là trong 03 năm qua, tính trung bình mỗi năm tăng thêm được 01 triệu GĐVH.Nhưng con số thành tích về GĐVH được công bố chưa khiến dư luận bận tâm. Người ta chỉ bàn tán và không khỏi hồ nghi cách có được những con số trên ở thời điểm này.

Vì sao? Vì bên cạnh sự tăng trưởng có thể đáng mừng về các chỉ tiêu phát triển kinh tế, lại là sự xuống cấp đáng báo động về các giá trị văn hóa. Năm 2015 có nhiều vụ thảm án cực kỳ nghiêm trọng (ở Nghệ An, Bình Phước, Yên Bái) với hành vi của hung thủ là triệt hạ nhiều người trong một gia đình một cách quá tàn độc, dã man. Ngoài ra còn nhiều vụ thành viên trong gia đình giết nhau chỉ từ những mâu thuẫn nhỏ hoặc tranh giành nhau quyền lợi. Nhiều đứa con bất hiếu ngược đãi cha mẹ già yếu. Nhiều clip bạo lực học đường được tung lên mạng. Những vụ tham nhũng lớn tiếp tục được phanh phui.

Mặt khác, để chạy theo đồng tiền, không ít người đã không từ bất cứ thủ đoạn bất lương nào kể cả reo rắc cái chết cho đồng loại. Ấy là nạn thực phẩm bẩn lan tràn ở khắp nơi. Rất nhiều biểu hiện phản văn hóa, đi ngược lại đạo lý truyền thống của ông cha đang phơi bày giữa xã hội hôm nay khiến tại các kỳ họp Quốc hội gần đây, các ĐBQH cũng phải lo lắng. Những tiêu cực nhức nhối đó là từ con người mà con người nào cũng được sinh ra từ những gia đình cụ thể. Rất nhiều hiện tượng tiêu cực, vi phạm pháp luật nhưng tỷ lệ GĐVH vẫn tiếp tục tăng?

Văn hóa là một khái niệm rộng. Nội hàm của từ này không dễ giải thích trong vài chữ, vài dòng. Nhưng GĐVH thì dễ hiểu và khá cụ thể. Trước hết và tối thiểu nhất, đó phải là những gia đình không có thành viên nào vi phạm pháp luật. Cao hơn, phải là những gia đình luôn ứng xử đẹp, văn minh, yêu thương, tôn trọng nhau trong gia đình mình và lan tỏa ra hàng xóm, cộng đồng. Những tổ ấm được coi là GĐVH phải giữ được nếp nhà chuẩn mực theo truyền thống ông cha. Như vậy, có được danh hiệu GĐVH không dễ. Chắc chắn, số GĐ đạt được danh hiệu này chỉ có thể chiếm tỷ lệ hạn chế nhất định, không thể đại trà như hiện nay.

Lạc quan tếu

Quả là đáng lo ngại hơn là đáng mừng khi trong lĩnh vực nào người ta cũng chỉ vì thành tích. Lúc đầu, chủ trương xây dựng GĐVH là một chủ trương đúng đắn, cần thiết. Nhưng vì chạy theo thành tích mà ngành văn hóa cơ sở đã làm ào ào, bình xét qua loa, chiếu lệ một cách rất hình thức, rồi phát những mảnh giấy chứng nhận rất đại trà khiến chẳng ai thích nhận. Đã rất mỉa mai khi hầu như gia đình nào cũng được cấp giấy chứng nhận mặc dù có gia đình thì luôn cãi cọ, to tiếng với nhau và có người còn đang…ở tù. Thậm chí một quan chức ngành văn hóa còn có phát ngôn ấn tượng, trước những hiện tượng đó lại cho rằng, bình chọn cần có cái nhìn… nhân văn hơn.Không thiếu những ví dụ cụ thể minh chứng cho việc xét, phong tặng danh hiệu GĐVH rất vô thưởng vô phạt, thậm chí là phản cảm, phản văn hóa.

Ông Phan Hồng Giang – một dịch giả quen biết kể, hồi cuối những năm 90 của thế kỷ trước, có lần ông đi khảo sát thực tế ở Cần Thơ được người dân ở đây cho biết “nhà chức trách” đến thu mỗi gia đình 50.000đ để được gắn biển GĐVH chứ họ không thích treo làm gì. Khoản tiền này lúc đó có giá trị hơn bây giờ nhiều. Bà con xì xào, không hiểu ngoài tiền để làm cái biển sắt to bằng cuốn sách, họ có “tát nước theo mưa” không? Ông Giang cũng kể rằng, một lần, khi gia đình ông về nhà thì thấy giấy chứng nhận GĐVH được ném qua khe cổng, nằm lăn lóc dưới đất.

Ngay hình thức phong tặng GĐVH cũng thiếu vẻ nghiêm túc và văn hóa, nên nhiều nhà xã hội học đã lên tiếng đề nghị cần chấm dứt cách làm văn hóa nặng tính phong trào mà không mấy tác dụng này. Lâu nay, dư luận XH vẫn phàn nàn căn bệnh thành tích rất trầm trọng trong lĩnh vực giáo dục. Nhưng đâu chỉ có giáo dục mà hầu như căn bệnh này có ở hầu hết mọi ngành, mọi địa phương, mọi lĩnh vực. Vậy nên, không ít con số mới nghe tưởng tốt đẹp. Nhưng không cẩn thận cả xã hội thành “lừa gạt” nhau. Những người có trách nhiệm công bố các con số thành tích tự lừa mình, và lạc quan tếu. Hiện thực xã hội được khoác lên mình một chiếc áo ảo. Vậy thì đáng mừng hay đáng lo đây?

Người Trung Quốc và cái vại tương

Vừa rồi ông Chủ tịch nói cuộc họp mặt hôm nay là một vinh hạnh của Hội "Tùng Xã", đúng ra vinh hạnh này là của tôi. Tôi xin cảm tạ quý vị đã cho tôi dịp được gặp mặt các vị ở nơi xa quê hương này để xin chỉ giáo.

Thực ra Chủ tịch và Chủ báo "Tân Sĩ Tạp Chí", ông Trần Tiến Trung nói với tôi đây là một cuộc tọa đàm, nên tôi rất vui được đến dự. Nhưng hôm qua từ Bo-xton đến tôi mới rõ là một buổi diễn giảng, việc này làm cho tôi rất lo vì New York là một đô thị lớn bậc nhất thế giới, đầy "rồng núp, hổ nằm".

Cho nên tôi chỉ dám nêu lên đây một ít cảm tưởng tản mạn và đó hoàn toàn là ý kiến riêng tư chứ không dám kết luận gì cả. Xin các vị chỉ giáo và chúng ta cùng trao đổi với nhau.

Chủ đề hôm nay ông Chủ tịch giao cho tôi là "Người Trung Quốc và cái vại tương". Nếu buổi hôm nay là một buổi thảo luận về học thuật thì trước tiên chúng ta phải định nghĩa người Trung Quốc là gì? Cái vại tương là gì? Tôi nghĩ tôi không phải định nghĩa nữa, sợ thành vẽ rắn thêm chân. Bởi vì có một hiện tượng trên đời là cái gì mọi người đều đã biết mà lại đi thêm cho nó một định nghĩa, việc này vô tình có thể biến nội dung và hình thức của nó trở thành mơ hồ, biến chân tướng của nó thành khó hiểu, và do đó còn khó bắt đầu thảo luận hơn.

Phật giáo vốn cho rằng con người phải qua vòng luân hồi. Việc này làm tôi nhớ đến một tích xưa.

Có người đến hỏi một vị cao tăng đã đạt đạo:

"Đời tôi bây giờ là do tiền kiếp mà tái sinh, thế thì kiếp trước tôi là người thế nào? Nếu còn phải đầu thai một lần nữa, ngài có thể cho tôi biết kiếp sau tôi sẽ trở thành người ra sao không?".

Vị cao tăng trả lời anh nọ bằng bốn câu thơ sau:

Dục tri tiền thế nhân
Kim sinh thụ giả thị
Dục tri hậu thế quả
Kim sinh tác giả thị

(Muốn biết cái nguyên nhân của kiếp trước
Cứ xem những gì mình nhận được ở kiếp này
Muốn biết cái hậu quả ở kiếp sau
Cứ xem những gì mình đang làm ở kiếp này)

(Tạm dịch thơ:)

Muốn biết kiếp trước thế nào
Cứ xem mình sống ra sao kiếp này
Đầu thai rồi thế nào đây
Hãy nhìn vào việc hiện nay đang làm
(NHT)

Giả sử kiếp này anh được sung sướng, kiếp trước nhất định anh là một người chính trực, độ lượng. Nếu kiếp này anh gặp nhiều khổ nạn thì phải suy ra rằng kiếp trước anh đã làm những điều ác. Cái tích xưa này gợi cho chúng ta rất nhiều ý nghĩa. Các vị ở đây, nếu là con nhà Phật hẳn cảm thụ dễ dàng, nếu không phải là người theo đạo Phật chắc không tin vào tiền oan nghiệp chướng, nhưng có thể xin các vị cứ suy nghĩ về cái triết lý của nó.

Vì tôi muốn nói chuyện này làm chúng ta liên tuởng đến văn hóa Trung Quốc.

Các vị ở đây, bất kể quốc tịch gì, đại đa số đều có dòng máu Trung Quốc, các vị thích hay không thích nó vẫn vậy, chẳng làm sao thay đổi được. Tôi nói người Trung Quốc là theo nghĩa rộng, theo nghĩa huyết thống chứ không phải nghĩa địa lý.

Người Trung Quốc từ 200 năm gần đây, lúc nào cũng có một ước mong cho đất nước hùng cường, ước mong cho dân tộc chúng ta trở thành một dân tộc ưu tú trong thế giới. Nhưng đã bao nhiêu năm nay, chúng ta luôn luôn yếu kém, mãi bị ngoại nhân khinh thị, nguyên nhân tại đâu?

Đương nhiên trách nhiệm là do nơi chúng ta. Nhưng nhìn dưới góc độ văn hóa mà đặt câu hỏi đó thì có thể nghĩ đến cái tích xưa vừa kể trên. Tại sao có ngày hôm nay? Vì sao nước nhà vẫn chưa lớn mạnh? Nhân dân vẫn còn biết bao khổ nạn? Từ kẻ cùng đinh không quyền thế đến kẻ phú quý với đặc quyền đặc lợi đều có một nguyện vọng tha thiết như nhau cho đất nước, cũng như đều có cùng một đau buồn sâu sắc.

Tôi nhớ thuở bé thầy học bảo chúng tôi: "Hy vọng của nước nhà đặt nơi các em". Nhưng rồi chúng ta bây giờ thì sao? Lại đến lượt chúng ta hướng về đám thanh niên bảo: "Các em là hy vọng của tương lai Trung Quốc". Cái kiểu cứ đùn đẩy trách nhiệm từ đời này xuống đời khác sẽ còn kéo dài cho đến bao giờ?

Những người Trung Quốc ở nước ngoài đối với vấn đề này lại càng nhạy cảm và kỳ vọng của họ lại càng sâu nặng. Ngoài việc tự thân chúng ta đã không thể mang hết được cái trọng trách về chuyện nước nhà rơi xuống một mức độ tồi tệ với những khổ nạn như vậy, chúng ta lại còn phải è cổ vác cái gánh văn hóa truyền thống nặng nề kia.

Đấy là nghiệp báo như đã nói ở trên.

Hôm trước, lúc đi thăm Viện bảo tàng Boston, tôi thấy bên trong có bầy đôi giày cho phụ nữ bó chân của thời đại các bà nội chúng ta. Kinh nghiệm bản thân cho tôi biết những người phụ nữ khoảng tuổi tôi thời ấy đều phải bó chân. Ngày nay những người trẻ tuổi nghe đến chắc không thể nào tưởng tượng nổi. Tại sao trong văn hóa chúng ta lại có thể sinh ra một cái tập quán tàn khốc thế? Lại có thể áp đặt nó lên trên một nửa dân số trong hàng nghìn năm, làm cho những người bị bức hại phải tàn phế cả hai chân, thậm chí có khi còn gãy cả xương, thối cả thịt, không thể đi đứng được. Tại sao văn hóa Trung Quốc lại có thể kéo dài cả hàng nghìn năm trong lịch sử một yếu tố dã man như vậy? Tại sao lại cho phép trường tồn qua một thời gian dài như thế mà không có một người nào đứng lên bảo nó phản tự nhiên, hại sức khỏe? Ngược lại, đại đa số nam nhi còn xem bó chân là hay ho, đẹp đẽ.

Còn nói đến việc bách hại nam nhi thì thế nào? Đó không phải chỉ riêng chuyện các hoạn quan. Theo ghi chép của lịch sử, từ các triều vua Tống trở về trước, các nhà có quyền và có tiền đều có thể tự do thiến các nô bộc của mình. Sự việc kinh rợn này kéo dài cho đến triều Tống - thế kỷ XI - mới bị cấm. Chỉ căn cứ vào hai việc trong biết bao nhiêu việc không hợp lý và vô nhân đạo của văn hóa Trung Quốc suốt quá trình lịch sử của nước này, ta cũng có thể thấy là những thành phần không hợp lý của nó đã lên đến một mức độ không thể nào khống chế được.

Bất kỳ văn hóa của một dân tộc nào đều như một dòng sông lớn, thao thao bất tuyệt trôi đi. Và với thời gian dần dần biết bao thứ nhơ nhớp bẩn thỉu trong dòng sông lớn ấy, - như cá chết, mèo chết, chuột chết - sẽ bắt đầu chìm lắng. Lắng đọng quá nhiều sẽ làm dòng sông không thể chảy nữa, biến thành một cái đầm nước chết, càng sâu càng nhiều, càng lâu càng thối, lâu dần thành một cái vại tương, một cái đầm bùn bẩn phát chua, phát thối.

Nói đến cái hũ tương có lẽ những bạn trẻ không thể hiểu, tôi vốn sinh ra ở phương Bắc, nơi quê tôi cái thứ này rất nhiều. Tôi không thể nói chính xác cái chất tương trong vại ấy làm bằng những chất liệu gì (chất chính là đậu tương và bột mì), nhưng các vị nếu đã ăn qua vịt quay tại các tiệm ăn Trung Quốc thì chính là loại tương đó. Nó là một chất đặc không chảy được, không giống nước sông Hoàng Hà từ trên trời chảy xuống một tý nào. (Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai, bôn lưu đáo hải bất phục hồi - thơ Lý Bạch). Nó là một thứ nước ao tù, lại được để cho bốc hơi, cho lắng đọng nên nồng độ càng ngày càng đông đặc. Cái văn hóa của chúng ta, cái tiền oan nghiệp chướng như đã nói cũng là như thế.

Trong văn hóa Trung Quốc, cái có thể gọi là điển hình nhất cho cái đặc sắc này là chế độ "quan trường". Thời xưa mục đích học hành của các phần tử trí thức là làm quan. Cái chữ "trường" nhìn không thấy, sờ không đụng này được hình thành qua chế độ khoa cử. Một khi người đọc sách đã lọt vào được chốn quan trường liền ở vào trạng thái đối nghịch với người thường, với nhân gian.

Dưới chế độ đó người đi học cốt chỉ được làm quan, vì có câu nói rằng trong sách có nhà vàng, có nhan sắc như ngọc. Đọc sách để có thể làm quan, làm quan ắt có mỹ nữ, kim tiền.

Thời xưa có người nói: "Hàng hàng xuất trạng nguyên", kỳ thực chỉ trong số những người đi học mới có trạng nguyên, còn những người khác cũng chỉ là thợ thuyền không đáng một đồng trinh. Thời đó những người của các giai tầng khác bị rất nhiều giới hạn, nào là không được mặc loại áo quần nào đó, không được đi thứ xe nào đó, ở loại nhà nào đó.

Xã hội phong kiến đặt cái lợi ích của những người làm quan lên trên hết, và vì nó đã khống chế Trung Quốc quá lâu, nên tạo thành một lực lượng và một ảnh hưởng vô cùng lớn.

Về mặt kinh tế không có gì thay đổi đáng kể, nhưng về mặt chính trị nó đã kìm hãm chúng ta lâu dài trong cái hũ tương văn hóa đó. Một trong những cái đặc trưng của nó là đặt tiêu chuẩn của giới quan lại thành một cái chuẩn cho xã hội, biến lợi ích các quan thành cái lợi chung. Vì vậy nó đẻ ra một thứ ngày nay gọi là "Chính trị thống soái" theo kiểu nói của Mao, làm cho cái hũ tương văn hóa của chúng ta càng thêm sâu đậm, càng thêm nồng nặc.

Chìm đắm lâu dài trong cái hũ tương đó, người Trung Quốc trở thành ích kỷ, nghi kị.

Tôi tuy đến Mỹ chỉ là du lịch ngắn ngày, nhưng nhìn bề ngoài tôi thấy người Mỹ khá thân thiện, hạnh phúc, lúc nào cũng tươi cười.

Tôi cũng đã gặp con em các bạn bè người Hoa ở đây, trông tuy có vẻ sung sướng, nhưng rất ít cười. Có phải là các bắp thịt ở mặt của người Trung Quốc chúng ta cấu tạo không giống họ? Hay là vì dân tộc chúng ta mang một cái gì vốn quá u ám?

Chúng ta có nghĩ được rằng dân tộc chúng ta sở dĩ như vậy vì thiếu sức sống trẻ, mà điều đó lại là do chính trách nhiệm của chúng ta không? Giữa chúng ta, chúng ta chèn ép lẫn nhau, không hề hợp tác.

Tôi nghĩ đến chuyện một người cảnh sát trưởng Nhật Bản, khi huấn luyện các học viên của mình, bảo thuộc hạ phải nghi ngờ tất cả mọi người, vì họ đều có thể là đạo tặc. Cái trạng thái tâm lý này dùng để huấn luyện cảnh sát hình sự thì được, nhưng tâm lý phổ biến của người Trung Quốc lúc bình thường lại cũng như thế, lúc nào cũng nghĩ kẻ khác có thể làm hại mình, nó hình thành một nỗi lo sợ về bất cứ một cái gì. Cái nỗi lo sợ này làm người Trung Quốc biến thành "một đống cát rời" năm bè, bảy mảng (như lời của Tôn Dật Tiên).

Một nước lớn như Trung Quốc, có tài nguyên, có nhân khẩu hơn một tỷ người nếu đồng tâm hiệp lực, trong Á châu này chẳng lẽ không bằng được Nhật Bản?

Mòn mỏi dưới chế độ xã hội phong kiến chuyên chế tự bao đời, đắm chìm ngụp lặn trong cái hũ tương đó, óc phán đoán cùng tầm nhìn của người Trung Quốc đã bị tương làm ô nhiễm nặng, không vượt ra nổi cái phạm vi ảnh hưởng của nó.

Qua bao nhiêu niên đại, đa số chúng ta mất dần năng lực phán đoán cái gì đúng cái gì sai, mất khả năng phân biệt cái gì là đạo đức, chỉ phản ứng bằng tình cảm và trực giác mà không biết suy nghĩ. Tất cả giá trị của hành động rồi đều bị cái tiêu chuẩn chính trị và đạo đức của cái hũ tương đó chi phối. Vì vậy thị phi, phải trái, đen trắng không còn có vẻ đối nghịch nữa. Trong hoàn cảnh này, khi tìm hiểu sự vật, chẳng ai còn đi đến chỗ phân tích cặn kẽ. Cứ qua loa lấy lệ một cách lâu dài rốt cuộc sẽ đưa đến cái quả báo nhãn tiền, đó là "Chiến tranh Nha phiến" (1840).

Chiến tranh Nha phiến là sự đột nhập của văn hóa nước ngoài theo chiều ngang. Đối với người Trung Quốc nó đánh dấu một kỷ niệm "quốc sỉ" (cái nhục của một nước), nhưng nhìn từ một góc độ khác nó lại là một lần thức tỉnh lớn không thể tránh được.

Nhật Bản trên mặt này đã phản ứng hoàn toàn khác chúng ta. Ở thế kỷ XVIII khi Mỹ đánh chìm hai tàu Nhật, nước Nhật đã mở cửa. Đối với người Nhật sự kiện này mang lại một cơ hội tốt, họ biết biến sự sỉ nhục thành một sự thức tỉnh.

Thực ra chúng ta phải cảm ơn Chiến tranh Nha phiến, nếu không có nó thì tình cảnh hiện tại sẽ như thế nào? Có lẽ các vị ngồi đây không chừng trên đầu vẫn còn cái đuôi sam, phụ nữ vẫn còn bó chân, còn mặc áo dài, áo ngắn (Áo kiểu ngày xưa của người Trung Quốc), trên bộ còn ngồi kiệu do người khiêng, dưới nước còn ngồi thuyền tam bản.

Ví thử Chiến tranh Nha phiến xảy ra sớm hơn 300 năm, có lẽ Trung Quốc đã biến đổi sớm hơn một tý; nếu nó xảy ra sớm hơn 1.000 năm thì lịch sử đã hoàn toàn chẳng như ngày nay. Tôi cho rằng cái "kỷ niệm quốc sỉ" này là một cú đập mạnh vào cái hũ tương văn hóa của chúng ta. Không có nó người Trung Quốc vẫn còn chìm đắm dưới đáy, có khi còn ngạt thở mà chết rồi.

Sự đột nhập của văn hóa ngoại lai trong Chiến tranh Nha phiến làm cho chúng ta có thể nghĩ rằng nhà Thanh là một thời đại quan trọng nhất trong lịch sử Trung Quốc. Nếu chiến tranh này xảy ra vào thời nhà Minh chưa chắc Trung Quốc chịu nổi cú sốc và tình hình đã khác. Văn minh hiện đại phương Tây đối với nước Trung Quốc già nua thật ra càng đột nhập sớm càng tốt. Cái sự xung kích lớn lao này chắc hẳn là một sự kiện khiêu chiến nghiêm trọng đối với lịch sử và văn hóa, nhưng đem lại cho chúng ta cái văn minh vật chất và văn minh tinh thần mới.

Cái gọi là văn minh vật chất Tây phương như máy bay, trọng pháo, xe hỏa, tàu điện ngầm, v.v...làm cho chúng ta bỗng nhiên thấy thế giới bên ngoài mới mẻ làm sao, có biết bao nhiêu thứ không giống chúng ta, làm cho chúng ta có một nhận thức biết coi trọng cái mới, cái văn minh vật chất. Còn nói đến văn minh tinh thần, những ý thức hệ chính trị Tây phương cùng các tư tưởng học thuật cũng cho chúng ta bao nhiêu quan niệm và gợi ý mới mẻ. Xưa nay chúng ta nào biết dân chủ, tự do, nhân quyền, pháp trị là gì. Tất cả những thứ này đều là các sản phẩm lấy giống từ phương Tây.

Trước đây người Trung Quốc chỉ biết câu: "Nhân mệnh quan thiên" (số mệnh con người là do nơi trời). Thực ra số mệnh một con người có phải là do trời hay không cũng còn tùy. Nếu tôi giết chết một người, có lẽ sẽ do trời thật, nhưng nếu hung thủ là một kẻ quyền thế thì đã chắc gì? Vì vậy còn phải xem vấn đề là dính dáng đến ai.

Có một nhân vật cổ quái còn nói một câu: "Dân vi quý, quân vi khinh" (Dân là quý, vua là thường). Đấy chỉ là một thứ lý tưởng mà Trung Quốc chưa bao giờ thực hiện. Thời phong kiến xưa, sau một triều vua lại đến một triều vua, chẳng có gì thay đổi. Lật đổ triều đại trước, thiết lập triều đại mới, cách biểu thị duy nhất về sự bất đồng của mình với triều vua trước là đốt phá các cung vàng điện ngọc mà triều trước đã xây để làm cung điện mới của mình.

Lý do viện dẫn để đốt phá vẫn được đưa ra là vì triều trước chính sách bạo tàn, triều đại của mình mới là nhân hậu. Nhân hậu nên mới phải làm cái việc đem chính sách nhân hậu của mình để tàn phá nhà cửa của chính sách hung tàn.

Cứ đời này sang đời khác như thế, về mặt tư tưởng chính trị chẳng có xây dựng được gì, nhưng nhà cửa thì cứ tiếp tục đốt phá để biểu lộ sự khác nhau. Chẳng trách ở một nước lâu đời như Trung Quốc sau mấy nghìn năm các kiến trúc cổ chẳng còn được là bao!

Trong hệ tư tưởng chính trị Trung Quốc, có vài khái niệm lý tưởng gần với Tây phương như "Vua phạm pháp cũng bị tội như thứ dân" (Vương tử phạm pháp dữ thứ dân đồng tội). Nhưng điều này chẳng qua cũng chỉ là một hy vọng và ảo tưởng mà thôi. Sự thực cái điều vua và dân cùng tội này trên căn bản tuyệt đối không thể có.

Người Trung Quốc xưa nay có bao giờ biết dân chủ, tự do, pháp trị là gì. Tuy có người bảo chúng ta cũng có tự do, có thể chửi cả hoàng đế, song thật ra quyền tự do của chúng ta rất có hạn, bị kẻ thống trị khống chế trong phạm vi cho phép. Nhân dân nếu được phép chửi hoàng đế chắc cũng chỉ dám lén lút chửi sau lưng. Phạm vi của tự do rất hẹp hòi. Đương nhiên có thể có cái tự do suy nghĩ vớ vẩn chứ các khái niệm dân chủ, pháp trị thì hoàn toàn chẳng có.

Dân tộc chúng ta là một trong những dân tộc lớn, đương nhiên trong vấn đề tình cảm không nói thế thì không xong. Nhưng trên thế giới này còn có một dân tộc vĩ đại khác là dân Anglosaxon (Ăng-glô-sắc-xân).

Dân tộc này đã thiết lập cho văn minh thế giới những khuôn khổ như chế độ quốc hội, tuyển cử, tư pháp độc lập, tư pháp bồi thẩm,v.v..., cống hiến cho cộng đồng nhân loại những cơ cấu văn minh tốt đẹp như vậy, và đó cũng là một nguyên nhân cho phép những xã hội Tây phương về mặt chính trị hướng đến công bình, hợp lý.

Cái việc tuyển cử dù lãng phí thế nào đi nữa so với việc giết người như núi, máu chảy thành sông vẫn còn tốt hơn. Đối với những thứ tốt đẹp này của Tây phương chúng ta phải có can đảm mà tiếp nhận.

Có người bảo tuyển cử kiểu Tây phương không phải tuyển cử nhân tài, chỉ bầu cử tiền, mà cái loại tiền này thì không phải người bình thường nào cũng có thể bỏ ra được. Dù có thế chăng nữa, lãng phí tiền bạc vẫn tốt hơn lãng phí đầu người.

Hết thảy những điều tốt chúng ta phải tự đấu tranh mới có được, không giống trong vườn Eden (Ê-đen) của Thượng đế nơi cái gì cũng đã được an bài một cách tốt đẹp.

Người Trung Quốc sống trường kỳ trong cái hũ tương, lâu ngày quá tự nhiên sinh ra một tâm lý cẩu thả. Một mặt tự đại khoe khoang, còn mặt khác tự ti, ích kỷ.

Tôi nhớ có xem một bộ phim - mà đã quên mất tên - trong đó một phụ nữ quý phái có hai nhân cách: một mặt đẹp đẽ, đáng quý làm cho người ta có thể sùng bái, mặt khác lại hoang dâm, vô liêm sỉ. Cô ta không làm sao hợp nhất được hai nhân cách này lại với nhau. Khi bị bác sĩ tâm thần bắt phải đối diện với thực tại, cô ta đã tự sát.

Khi tự kiểm hồ sơ bệnh của mình chúng ta có dám đối diện với thực tại không? Có dám dùng cái tâm lý khỏe mạnh để xử lý bệnh tình của mình một cách hợp lý không?

Chúng ta cần học tự nhận xét mình. Người Trung Quốc thường không có tập quán dùng lý trí để tự tìm hiểu mình mà chỉ dùng cảm tính. Ví như vợ chồng cãi nhau, chồng bảo vợ: "Bà đối với tôi không tốt". Vợ bèn vứt thức ăn lên bàn cãi: "Tôi đối với ông không tốt thế nào? Không tốt mà tôi còn nấu cơm cho ông ăn à?" Cái động tác này cũng đủ nói lên sự đối xử không tốt của bà ta rồi. Tự xét mình như thế thì thà không tự xét còn hơn.

Từ khi văn hóa Tây phương được du nhập vào (Trung Quốc) dĩ nhiên về mặt tư tưởng chính trị có thay đổi dần, mặt quan niệm đạo đức cũng vậy. Ngày trước chồng đánh vợ là chuyện cơm bữa. Bây giờ cứ thử đánh một tý xem sao!

Tuổi trẻ thời nay thật may mắn, rất nhiều thứ văn hóa hủ lậu đã bị đào thải. Không kể đến vấn đề chính trị và đạo đức, ngay cả trên các lĩnh vực nghệ thuật, thi ca, văn học, tuồng kịch, vũ điệu đều có ảnh hưởng của sự thay đổi này.

Hễ nói đến văn hóa, văn minh phương Tây, thế nào cũng có người chụp mũ, bảo tôi "sùng bái Tây phương, nịnh hót nước ngoài".

Theo ý tôi tại sao không thể sùng bái Tây phương? Cái lễ nghĩa của người ta đúng là hơn hẳn cái thô lậu của mình. Súng ống của người ta đích thực là hơn hẳn cung tên của mình. Nếu như giữa bạn bè với nhau có người đạo đức, học vấn hơn hẳn mình tại sao lại không có thể không hâm mộ được?

Người Trung Quốc không có cái can đảm dám khen người khác, chỉ có cái dũng khí dùng để đả kích kẻ khác. Cũng bởi cái "văn hóa hũ tương" của chúng ta quảng đại tinh thông quá mới làm cho người Trung Quốc thành "cây quýt bên sông Hoài" tất cả (tích Án Tử và vua Sở). Cây quýt này vốn mọc ở một địa phương nọ thì rất to và ngọt, đem trồng ở một nơi khác, không hợp thủy thổ, thì vừa nhỏ vừa chua.

Ông Tôn Quan Hán, một người bạn đã tìm cách cứu tôi suốt trong thời gian 10 năm tôi ở tù, từng đem một thứ cải trắng gốc Sơn Đông trồng tại Pittsburg (Pít-xbơ), nhưng ở đây nó lại thành một thứ cải hoàn toàn khác.

Người Nhật có biệt tài bắt chước cái gì là giống cái đó, còn người Trung Quốc thì học cái gì cũng chả giống cái gì. Cái tinh thần này ghê gớm lắm, nó cho phép người Nhật học được những ưu điểm mà học giống hệt. Người Trung Quốc thường chỉ giỏi tìm lối tránh né, viện cớ "không hợp với hoàn cảnh nước nhà" để bào chữa cho lý do tại sao mình lại cự tuyệt nó.

Trước chiến tranh Giáp Ngọ (1895) người Nhật đến thăm hải quân Trung Quốc, thấy binh sĩ đem phơi quần áo la liệt trùm cả lên súng cà-nông, bèn xác định rằng cái loại quân đội này không thể tác chiến được. Chúng ta căn bản không tính đến chuyện xây dựng và làm mới các quan niệm, nên khi chúng ta không muốn làm một cái gì, ngay cả như chuyện đừng phơi quần áo trên trọng pháo, thì chúng ta tìm cách thoái thác, bảo: "Cái đó không hợp với hoàn cảnh đất nước".

Cũng như vấn đề giao thông ở Đài Bắc, có thể là một vấn đề rất đơn giản, thế mà bấy nhiêu năm nay vẫn không dứt điểm được. Theo tôi cứ phạt nặng những kẻ phạm luật là xong. Nhưng có người lại đề xuất nào là phải dậy dỗ sự "lịch thiệp" cho những kẻ phạm luật, bởi vì như vậy mới hợp lẽ với Trung Quốc. Chúng ta đã lịch thiệp quá lâu rồi, bị giỡn mặt hoài không chịu nổi nữa, lại còn nhường nhịn đến bao giờ? Chúng ta làm những chỗ qua đường cho người đi bộ để bảo vệ họ, nhưng kết quả là biết bao người đã bỏ mạng ở đó.

Tôi có một người bạn lúc ở Đài Bắc là loại hay phóng nhanh vượt ẩu, đến lúc sang Mỹ bị phạt tơi bời, phạt đến đầu tối mắt hoa, cuối cùng không thể không chú ý được. Có mỗi luật đi đường, một việc thật đơn giản mà tại Trung Quốc vẫn còn là một vấn đề.

Cứ nói đến cái hay của các nước khác là lại bị nghe câu "Sùng bái Tây phương, nịnh hót nước ngoài" (Sùng dương, mị ngoại). Sự thực nếu các nước Mỹ, Pháp, Anh, Nhật có điều gì tốt thì chúng ta phải học, cái xấu thì không học, chỉ đơn giản thế thôi!

Có một người Mỹ viết một quyển sách: "Người Nhật làm được tại sao chúng ta lại không thể làm được?" Thế mà chẳng có ai bảo ông giáo sư này là "sùng bái Đông phương, nịnh nọt nước ngoài". Vì vậy mới biết cái hũ tương văn hóa đã sâu đậm làm người Trung Quốc mất hết khả năng hấp thụ và tiêu hóa, chỉ một mực trầm luân trong cái cảm tính của mình.

Một anh bạn tôi lúc lái xe cứ thỉnh thoảng lại đột nhiên bóp còi một cái. Tôi hỏi tại sao. Anh đùa bảo: "Để cho thấy rằng tôi không mất gốc đấy!". Chúng ta hy vọng chúng ta có đầy trí tuệ để nhận rõ những khuyết điểm của mình, có đủ năng lực phán đoán phân biệt phải trái, làm cho, cái hũ tương kia nhạt đi, mỏng đi, thậm chí biến thành một hũ nước trong, hoặc một hồ nước mênh mông.

Người Trung Quốc bị cảm tính chi phối, chủ quan thái quá, đối với việc gì cũng chỉ nhận thức, phán đoán bằng các tiêu chuẩn của những gì mình vốn thấy. Chúng ta nên nuôi dưỡng được cái con mắt nhìn sự vật một cách toàn diện, toàn thể. Rất nhiều sự tình phát sinh từ những góc độ không giống nhau, nên từ một góc độ càng phải xem xét một cách toàn diện. Từ hai điểm, đường ngắn nhất là một đường thẳng, đó là theo vật lý. Nhưng trong cuộc đời, cái cự ly ngắn nhất thường lại là cái quanh co nhất.

Cho nên để trở thành một người biết thưởng thức, chúng ta phải tìm tòi được mục tiêu. Xã hội có trình độ thưởng thức sẽ đề cao được tài năng và phân biệt được cái tốt, cái xấu.

Trước đây tôi từng được xem Khương Diệu Hương diễn kịch, lúc ấy bà đã ngoài 60, mặt đầy vết nhăn, chẳng còn cái đẹp của thủa nào, nhưng việc ấy không hề ảnh hưởng đến những thành tựu của bà. Đương lúc bà hát khúc " Em bé chăn trâu ", anh có thể hoàn toàn quên mất cái hình tượng già nua của bà. Một khi mọi người đều có trình độ thưởng thức cao, những điều ác sẽ tránh xa.

Chẳng khác nào tranh tôi vẽ và tranh của Van Gogh để cùng một chỗ, có người không phân biệt được lại bảo: "Tranh của Bá Dương và Van-Gogh cũng như nhau!" Nếu thế thì các nhà nghệ thuật chân chính phải chết hết và xã hội sẽ vĩnh viễn chẳng bao giờ có được những tác phẩm nghệ thuật giá trị nữa.

Trung Quốc là một nước lớn, nhưng người Trung Quốc thật nhỏ mọn và hẹp hòi.

Hôm kia tôi đáp máy bay tại phi trường Kennedy ở New York, lên phi cơ ngồi chợp mắt một tiếng, tỉnh lại vẫn chưa thấy máy bay bay, sau khi nghe ngóng mới biết họ đang đình công. Tôi rất kinh dị khi thấy hành khách vẫn trật tự bình thường, nói năng cười đùa như không có gì xảy ra.

Nếu sự việc này mà xảy ra ở đất nước chúng ta cục diện sẽ hoàn toàn khác hẳn. Hành khách tất nhao nhao nhảy xổ ra hò hét: "Tại sao vẫn chưa bay?". Nhưng hành khách Mỹ lại nhìn từ một góc độ khác; vì họ nghĩ: Nếu tôi là nhân viên hàng không, không chừng tôi cũng tham gia cuộc đình công này. Nhìn vào đó người ta có thể thấy được khí độ của một nước lớn.

Ở Mỹ tính khoan dung rất lớn. Không những nước Mỹ có thể khoan dung được các màu da và chủng tộc, lại còn chứa chấp được cả những ngôn ngữ, phong tục, tập quán khác nhau; thậm chí còn chịu đựng được cả những người Trung Quốc thô lỗ như chúng ta. Thái độ này nói lên tính bao dung của một nước lớn.

Cứ nhìn lúc Reagan và Carter tranh luận trên ti-vi, bên này bên kia phát biểu chính kiến của mình, nhưng không ai dùng những lời lẽ thô lỗ để công kích nhau. Ri-gân không hề nói ông làm tổng thống mấy năm toàn chỉ dùng những người thân tín của mình. Các-tơ cũng không hề nói từ trước đến nay ông chưa hề có kinh nghiệm chính trị, làm sao có thể lèo lái được một quốc gia. Hai bên đều biểu lộ một thái độ cực tốt. Đó cũng là phẩm chất của một nền dân chủ cao độ.

Đối với chính trị, cá nhân tôi không mấy quan tâm. Tôi cũng không khích lệ mọi người làm chính trị. Nhưng nếu ai thích thú thì phải tham dự, bất kể đang làm nghề gì, bởi vì chính trị thật quan trọng. Chỉ cần một điều luật được ban hành, có thể gia sản, tự do và ngay cả sinh mạng anh cũng có thể bị nó làm tiêu tan.

Chúng ta không nhất thiết ai cũng phải làm chính trị, nhưng đều phải có khả năng đánh giá. Việc này không kém tầm quan trọng. Đánh giá không phải chỉ trong lĩnh vực chính trị, mà cả trong văn học nghệ thuật. Chẳng hạn như về tranh vẽ thì trình độ thưởng thức cực kỳ quan trọng. Nó sẽ bắt những người vẽ tranh như Bá Dương tôi phải thu mình vào một xó. Bởi nếu bày tranh mình ra người ta chỉ nhìn thoáng một cái đã biết giá trị, có thể nói: "Anh gọi thế này là vẽ à? Thế mà còn dám đem cho người ta xem ư?"

Một xã hội có trình độ thưởng thức tức biết cái hay cái dở, tức không hồ đồ trước bất cứ một sự việc gì; chứ mọi người cứ ù ù cạc cạc như ở trong hũ tương, bẩn sạch, cao thấp cũng không phân biệt thì làm sao tiến bộ và phát triển được?

Tôi chỉ có vài ý kiến này đưa ra xin các vị thảo luận và chỉ giáo cho.

Xin đa tạ!

Bá Dương
Bạn có thể xem tác phẩm Người Trung Quốc xấu xí của tác giả Bá Dương TẠI ĐÂY
Bài nói tại New York ngày 16-08-1981, do ký giả tờ báo tiếng Hoa " Bắc Mỹ nhật báo " ghi lại.
P/S: Dưới đây là đạn trích trong Người Việt xấu xí - Truyện ngắn của Thái Bá Tân:

“Tôi thấy cái ông Bá Dương kia hoàn toàn đúng khi ví nền văn hóa năm nghìn năm của nước ông là cái hũ tương. Còn của ta, bốn nghìn năm, nếu quả đúng bốn nghìn năm, thì là cái hũ nhỏ hơn một chút, thối hơn một chút, chứa một chút tương Trung Quốc, một chút cái gì đó của ta, của Tây, thành thứ hổ lốn mà suốt ngày hôm nay tôi cố tìm tên gọi mãi chưa được. Ta cứ tạm gọi là hũ mắm tôm, món đặc sản dân tộc. Tất nhiên dân tộc nào cũng có cái tốt, Việt Nam lại càng nhiều, nhưng giờ không phải lúc nói chuyện ấy. Người ta nói mãi rồi. Cái cần nói bây giờ là bắt chước ông nhà văn Đài Loan kia một lần tự ngẫm lại mình xem còn điều gì chưa được. Có nói quá đi một tí cũng chẳng sao. Tự khen mình quá đáng mới nguy hiểm. Như tôi và ông luôn tự diễu dân Nghệ An “cá gỗ”, “vắt cổ chày ra nước” có sao đâu? Có vì thế mà bị trách là không yêu quê hương đâu, nếu không muốn nói ngược lại?

Về đại thể, tôi thấy dân Việt ta có đủ những thói xấu ông Bá Dương đã nói về đồng bào mình. Nói gì thì trong sách đã ghi rõ. Cái xấu của ta thậm chí còn ở mức tồi tệ hơn, vì chúng ta vốn là dân nhược tiểu. Nhược tiểu mà còn muốn làm cha bố người khác! Tôi nghĩ kỹ rồi, và thấy nó thế này. Ta chỉ nói phét chứ thực sự xưa nay không làm được điều gì ra hồn. Không một nhà tư tưởng ra hồn, không một trường phái triết học ra hồn, không một công trình kiến trúc ra hồn kiểu Angco Vat, Angco Thom hay Chùa Vàng ở Miến Điện. Không một tác phẩm văn học nào ra hồn, trừ Truyện Kiều, mà suy cho cùng cũng chỉ là bản phổ thơ lục bát một tích Tàu. Hội họa cổ là con số không. Thậm chí không có cả một điệu múa nào có thể coi là đặc trưng thuần túy dân tộc. Chữ viết tự mình nghĩ ra cũng không nốt, lúc đầu phải nhờ anh Tàu, rồi sau nhờ mấy cha truyền đạo Phương Tây.

Mà một khi không tự sáng tạo được gì thì ta nhập. Người Nhật nhập cái ngoại lai để biến nó thành của mình, nâng nó lên tầm cao hơn, ta thì tất cả đều biến thành cái bóng mờ mờ và nhiều khi chỉ để làm khổ mình. Ta nhập Nho Giáo để trói buộc dân ta trong một mớ rối rắm các nguyên tắc đạo lý hà khắc. Ta nhập chế độ quan trường để biến những người có học thành nô lệ của chức quan nhỏ và chút bổng lộc đi kèm. Ta nhập nguyên xi chính sách cải cách ruộng đất của anh Tàu Cộng sản để con chửi cha, anh tố em và hàng vạn người tử tế bị giết hại oan uổng. Trước đó ta nhập chủ nghĩa Cộng sản của mấy ông tây xa lơ xa lắc chẳng phù hợp tẹo nào với đất nước nông nghiệp lạc hậu của chúng ta. Giờ mấy ông tây ấy hết thời, nước các ông từ bỏ thứ chủ nghĩa kỳ cục ấy từ lâu rồi, thế mà ta, như ông biết, vẫn khư khư ôm lấy nó dù chẳng ai bắt, dù ai cũng biết làm thế là tự trói tay chân mình. Nay thì ta nhập văn hóa đại chúng của thằng Mỹ để làm hỏng trẻ con ta. Chính cái thói ưa nhập ấy đã biến dân Việt chúng ta thành những người lười suy nghĩ, không biết suy nghĩ và cũng không dám suy nghĩ, nên cứ cam chịu mãi trong cái hũ mắm của mình...”

Đọc sách: Để làm gì và như thế nào?

1. Sách, đương nhiên là một thứ "báu vật của đời". Thậm chí, phải coi đó là thứ báu vật ở đẳng cấp cao nhất. Đơn giản vì sách chứa đựng thứ ánh sáng riêng của con người và chỉ dành cho con người. Vì nhờ có thứ ánh sáng đó mà con người trở thành động vật văn minh ("động vật xã hội"), trở thành "chúa trùm" của muôn loài. Càng đọc sách, con người càng khẳng định mình là con người theo nghĩa đích thực.

Sách, với tư cách là "vật mang ánh sáng", là phương tiện xã hội hóa tri thức hữu hiệu hàng đầu, chính là thứ công cụ phát triển quan trọng bậc nhất của con người.

Theo nghĩa như vậy, nhu cầu đọc sách, xét trong bản chất người (tính loài), vừa là nhu cầu tự thân, tất yếu, vừa là sự bắt buộc mang tính xã hội.

2. Đọc sách nghĩa là gì?

Câu hỏi dường như quá đơn giản, để cho bất cứ ai có chút ít học hành đều có thể đưa ngay ra một câu trả lời, cũng rất đơn giản. Câu hỏi đơn giản đến mức dễ bị coi là tầm thường. Nhưng nghĩ cho kỹ, sau khi đã đọc hàng ngàn cuốn sách, tôi lại thấy câu trả lời thật không dễ dàng. Ít nhất, cũng không dễ dàng như thoạt nghĩ.

Câu trả lời "đọc là gì" có quan hệ với hai vấn đề lớn. Một là đọc cái gì; hai là đọc để làm gì.

Biết chữ, đương nhiên, là có thể đọc được mọi cuốn sách (tất nhiên, không biết tiếng Anh thì không thể đọc sách tiếng Anh). Nhưng đó đã gọi là đọc sách chưa, hay mới chỉ là đọc chữ?

Chúng ta đều biết, sách có vô vàn loại, bao gồm đủ "thập bát ban võ nghệ". Có sách vật lý, có sách triết học, có sách toán, lại có sách văn học, sách kiếm hiệp, sách dạy nuôi mèo, sách dạy giết rận, v.v. Trong mỗi loại sách, lại có vô vàn tầng bậc tri thức - sơ cấp, trung cấp, cao cấp; có sách chuyên khảo, lại có Bách khoa toàn thư, v.v.

Đối diện trước biển sách đó, thế nào là đọc sách?

Khi tôi là nông dân, sách vật lý cao siêu đối với tôi chẳng khác gì một cục sắt, hay một thứ để trưng bày trên bàn thờ. Thậm chí, cả sách về nguyên lý cấu trúc gen và di truyền, đối với ông nông dân - tôi đó, có thể còn ít giá trị hơn cuốn sách dạy buộc nút dây thừng.

Như vậy, khái niệm đọc sách, trong tính hiện thực của nó, được định nghĩa theo đối tượng - chủ thể, theo nhu cầu. Đọc cái gì gắn với ai. Nếu không, chỉ là đọc chữ, là "đọc ngược". Đọc "hầm bà làng", có gì đọc nấy, đọc có chọn lựa, - cũng là đọc cả, nhưng ở những tầng bậc khác nhau của cái gọi là "văn hóa đọc".

Quan hệ giữa những loại đọc này thế nào cũng là vấn đề đáng bàn. Bởi vì sách là thứ công cụ vạn năng, nhu cầu đọc là vô tận. Không định vị đúng quan hệ này, dễ lệch lạc trong định hướng và lựa chọn. Thời gian thì ít, năng lực cá nhân thì hữu hạn, tri thức thì vô tận, đọc "bách khoa" đến mức nào là đủ? Lúc nào thì đọc chuyên sâu? Sâu đến đâu là vừa? Phối hợp ""thâm" - "bác" trong việc đọc như thế nào để việc đọc mang lại lợi ích lớn nhất?

Để trả lời những câu hỏi này, phải làm rõ một vấn đề khác, cũng rất "đơn giản": đọc để làm gì?

3. Đọc để làm gì?

Đa phần là đọc để biết, tức là để làm giàu sự hiểu biết của mình. Có lẽ đọc là cách thức đơn giản nhất để mỗi người tự làm giàu mình lên, một sự giàu lên bản chất người, sự giàu lên của nhân cách. Hòa vào động cơ đọc thông thường, phổ biến và đơn giản này là động cơ đọc vì tò mò, vì hiếu sự, vì sĩ diện, không muốn thua chị kém em về "trí tuệ". "Thấp" hơn một chút là đọc để "giết thời giờ một cách hữu ích" thay vì ngồi không ngáp vặt.

Nói chung, đây là sự đọc với động cơ thụ động, tính mục đích "yếu", không có sự chọn lựa rõ ràng. Ở cấp độ này, báo hấp dẫn hơn sách. Chuyện "giật gân", "ly kỳ, rùng rợn" lôi cuốn hơn những công trình luận bàn lý sự. Tri thức sách vở, khi đó, tự nó là mục đích.

Cấp độ đọc cao hơn là đọc để khám phá, để tìm chân lý. Đọc không còn chỉ là "để biết", để thừa nhận và tiếp nhận tri thức thiên hạ mà đã là đọc để phát hiện, để chứng minh chân lý. Khi đó, con người định hướng đến sách, đến các bộ sách, đến các công trình lớn, đến các lý luận và học thuyết. Sự đọc này ngầm định sự giao tiếp và tranh luận.

Nâng cao hơn một chút là việc đọc để có công cụ hành động, để thúc đẩy phát triển. Đọc như Bác Hồ đọc Luận cương Tháng Tư của Lenin, sau đó, Người òa khóc vì "đã tìm thấy công cụ giải phóng dân tộc". Đó là đọc nhằm tìm kiếm tri thức, để rồi biến nó thành "sức mạnh thực tiễn cải tạo thế giới".

Đối với sự đọc này, sách là vật chuyển tải, tri thức chỉ là mục tiêu trung gian, là phương tiện dẫn dắt, hỗ trợ cho mục tiêu chân lý và mục đích cải biến thế giới.

Vậy là nội hàm khái niệm "đọc" tùy thuộc quyết định vào mục tiêu, động cơ của việc đọc. Mục tiêu, động cơ đó lại gắn chặt với ai đọc, trong đó, "ai" là một chủ thể lịch sử - cụ thể, mà năng lực và nhu cầu "đọc" bị quy định bởi trình độ phát triển, đặc điểm văn hóa, xã hội không chỉ của cá nhân anh ta mà còn cả của dân tộc và cộng đồng anh ta sống.

Trong xã hội nông nghiệp - nông thôn cổ truyền, mọi nhu cầu và năng lực chỉ giới hạn trong mảnh ruộng, trong phạm vi làng xã, theo phương thức tự cấp, tự túc, không có cạnh tranh, chỉ có sinh tồn, thì cả nhu cầu và năng lực chỉ cần và chỉ là đi bộ - người tự đi bộ bằng đôi chân của mình hay thi thoảng dựa vào chân bò, chân ngựa. Đọc để có tri thức trong xã hội đó cũng tương tự vậy thôi.

Nhưng sang xã hội thị trường - công nghiệp, với sự phát triển của cạnh tranh, kỹ nghệ, của phân công lao động xã hội và trao đổi ngày càng mở rộng, khi nhu cầu giao tiếp tăng lên, bức tranh khác hẳn. Nguyên lý vận động không thể là đi bộ. Công nghiệp cho phép con người đi lại không chỉ bằng xe đạp mà phải là ô tô. Ô tô là nguyên lý vận động của công nghiệp. Đọc sách cũng vậy. Dưới áp lực của cạnh tranh, nhờ có năng lực mới do thị trường và công nghiệp mang lại, đọc là để khám phá, chinh phục; đọc có phân tích, đọc để tạo ra những công cụ mới để thắng trong cạnh tranh. Sách trở thành công cụ xã hội hóa tri thức, giúp cho sự phát triển nhân cách người theo kịp đòi hỏi của cạnh tranh và công nghiệp.

4. Người Việt có mê đọc sách?

Người Việt ham học, thích hiểu biết, chịu khó tìm tòi. Người Việt coi "dốt", với biểu hiện cụ thể là mù chữ, là "giặc" trong ba thứ giặc. Ai bảo người Việt không ham đọc sách, e chừng xúc phạm dân tộc.

Ham đọc sách nhưng tại sao người Việt lại có câu răn đầy tính dè chừng: "đa thư loạn mục"? Sự khôn ngoan hay là tình trạng không đủ năng lực đọc rộng, đọc nhiều? Tại sao lại có chuyện tiếu lâm - ngụ ngôn "trường cổ tắc đại thanh", "phi nhân đả, tắc thiên đả" giễu cợt sự biết chữ (đúng hơn là sự biết chữ "suông") của một anh có học, không bằng một anh nông dân dốt chữ mà thiết thực?

Câu trả lời cho vấn đề này gồm ba ý: chủ thể đọc (ai đọc) đối tượng đọc (đọc cái gì) và năng lực đọc (đọc như thế nào). Ẩn sau ba ý này là động cơ đọc và kết quả thực tiễn của sự đọc.

Trước hết, phải trả lời cho rõ ràng: Người Việt đọc sách - họ là ai? Họ đọc với động cơ nào (để làm gì), bằng năng lực gì?

Rõ ràng, người Việt không chỉ là nhóm 5-7% dân số bao gồm số tri thức chăm đọc sách và số công chức văn phòng thích đọc báo và hay lên mạng. Số người Việt cơ bản là 70% nông dân, có trình độ tiểu nông, manh mún. Câu hỏi: người nông dân Việt Nam hiện nay đọc cái gì, để làm gì và họ đọc như thế nào - là câu hỏi không khó trả lời. Đa số họ biết chữ nhưng rất ít đọc. Thiếu cái để đọc và thiếu cả động cơ để đọc.

Số người Việt đọc sách chủ yếu theo đúng nghĩa là lực lượng đã từng là học sinh, nay là công chức nhà nước và làm việc phi nông nghiệp. Cộng thêm vào đó là số học sinh, sinh viên đang trên ghế nhà trường. Lực lượng này, do điều kiện và "địa vị" xã hội khác nên đọc nhiều hơn, biết đọc hơn 70% nông dân. Song đó vẫn chỉ là cái hơn kém của tình trạng "trong nhà nhất mẹ nhì con". Nguồn gốc kinh tế - xã hội của lực lượng này, nền tảng văn hóa lịch sử của họ mới là yếu tố quyết định họ là ai với tư cách là người đọc.

Xin lưu ý thêm tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp, nhầm trường kéo dài trường kỳ hàng chục năm, với sản phẩm là vô số người trong chúng ta, là chính chúng ta đây. Không nghi ngờ gì rằng sự nhầm lẫn đó nói lên rất nhiều điều đích thực về cái gọi là năng lực đọc và động cơ đọc của nhóm người này và của cả xã hội.

Điểm qua lực lượng đọc như vậy, có cơ sở để mạnh dạn nói rằng một cách thực tiễn, người Việt ta, người Việt cho đến nay và chính lớp người Việt chúng ta hiện nay, không phải là người mê đọc sách lắm.

Người Việt hiện đại là sản phẩm của lịch sử mấy nghìn năm. Nhưng khác với nhiều dân tộc khác, đó là mấy nghìn năm đất nước gần như bất động về phương thức phát triển. Người Việt hiện đại xuất thân từ một nền kinh tế nông dân, có lịch sử sinh tồn dựa chủ yếu vào tự cấp tự túc và khép kín. Căn gốc lịch sử đó tổ hợp với hệ thống kế hoạch hóa tập trung bao cấp, là hệ thống mà nhà nước bao cấp đến cả tư duy, lo cho dân đến mức không để cho dân phải chủ động suy nghĩ. Hệ thống đó không vận hành theo cơ chế cạnh tranh, hầu như không tạo nên tinh thần cạnh tranh - đua tranh giữa các cá nhân, thậm chí còn cố loại bỏ nó. Đến như nhà khoa học, về cơ bản, cũng tồn tại và hoạt động nghiên cứu với tư cách của một anh công chức được bao cấp đủ sống nhưng thiếu nhiều thứ để sáng tạo. Anh ta đọc sách theo tinh thần bao cấp, với động lực bao cấp.

Đó là chưa kể đến một trạng thái xã hội của một đất nước, vì phải đi qua nhiều cuộc chiến tranh nên trong đời sống, thiếu sự công khai mà thừa sự bí mật, luôn triệt để đi theo một dòng tư tưởng, hạn chế mở cửa với bên ngoài, cả trong phương diện tri thức.
Trạng thái xã hội đó, con người đó quy định năng lực đọc của anh ta.

Người Việt cho đến nay đọc cái gì? Có thể nói gần đây, nhất là sau đổi mới, phạm vi đọc của người Việt được mở rộng ra nhiều. Điều này có thể thấy qua sự bùng nổ báo chí và sách vở in ấn. Đủ loại ấn phẩm, rất phong phú về thể loại. Sự kiêng dè, cấm kỵ cũng giảm đi. Sự đọc tăng lên mạnh mẽ. Tuy nhiên, nếu coi đọc như là một sản phẩm văn hóa, được định nghĩa bằng "văn hóa đọc", phổ biến cho cả xã hội và dân tộc thì trình độ "đọc cái gì" cho đến nay của ta vẫn còn nhiều hạn chế. Trình độ đó vẫn là sản phẩm trực tiếp của một thời thiếu thốn sách vở, cả về khối lượng lẫn cơ cấu và chủng loại. "Có gì đọc nấy" chính là mệnh đề phản ánh tình trạng khan hiếm sách vở ("khan hiếm tri thức") ở một dân tộc ham đọc và ham học. Sách là hàng hiếm, lại "đơn tuyến".

Học sinh mê đọc chủ yếu "cày đi xới lại" mấy cuốn sách giáo khoa. Trước 1975, ở một số thành phố lớn của miền Nam, có sự phong phú nhất định về sách vở. Nhưng cũng chủ yếu giới hạn ở vài thành phố mà thôi. Nhìn chung, cả nước, toàn dân "bận" chiến tranh, ít có thời giờ dành cho việc đọc, hầu như không có lúc nào được đọc trong sự tĩnh tâm, nghiềm ngẫm chân lý và suy tư sáng tạo. Ít cả ánh sáng để đọc sách ban đêm vì không có điện, vì dầu lửa quá khan hiếm, và đặc biệt, vì ít được thắp đèn ban đêm để đọc (để tránh bị ném bom).

Tình trạng đọc và năng lực đọc như vậy còn có cơ sở lịch sử - văn hóa sâu xa. Xin dẫn một đoạn văn của cố Giáo sư Trần Đình Hượu, tuy không trực tiếp bàn về việc đọc, nhưng lại giúp làm rõ hơn nhiều thực chất "đọc" - như là một phần nhân cách Việt - của người Việt hiện nay.

"Giữa các dân tộc, chúng ta không thể tự hào là nền văn hoá của ta đồ sộ, có những cống hiến lớn lao cho nhân loại, hay có những đặc sắc nổi bật. Ở một số dân tộc, hoặc là một tôn giáo, hoặc là một trường phái triết học, một ngành khoa học, một nền âm nhạc, hội hoạ, ... phát triển rất cao, có ảnh hưởng phổ biến và lâu dài đến toàn bộ văn hoá, thành đặc sắc văn hoá của dân tộc đó. Ở ta, thần thoại không phong phú - hay là có nhưng một thời gian nào đó đã mất hứng thú lưu truyền?

Tôn giáo hay triết học cũng đều không phát triển. Người Việt Nam không có tâm lý kiền thành, cuồng tín tôn giáo, mà cũng không say mê tranh biện triết học. Các tôn giáo đều có mặt nhưng thường là biến thành một lối thờ cúng. Ít ai quan tâm đến giáo lý. Không có một ngành khoa học, kỹ thuật, giả khoa học nào phát triển đến thành có truyền thống. Âm nhạc, hội hoạ, kiến trúc đều không phát triển đến tuyệt kỹ. Trong các ngành nghệ thuật, cái phát triển nhất là thơ ca. Hầu như người nào cũng có thể, cũng có dịp làm dăm ba câu thơ. Nhưng số nhà thơ để lại nhiều tác phẩm thì lại không có. Xã hội có trọng văn chương nhưng cũng chưa bao giờ tôn ai làm thi bá, và bản thân các nhà thơ cũng không ai nghĩ cuộc đời, sự nghiệp của mình là ở thi ca. Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc, một ngành văn hoá nào đó trở thành đài danh dự, thu hút, quy tụ cả nền văn hoá.

Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo. Họ coi trọng hiện thế trần tục hơn thế giới bên kia. Không phải người Việt Nam không mê tín. Họ tin có linh hồn, có ma quỷ, thần phật. Nhiều người thực hành cầu cúng. Nhưng về tương lai, họ lo cho con cháu hơn là lo cho linh hồn của mình. Tuy là coi trọng hiện thế nhưng cũng không bám lấy hiện thế, không quá sợ hãi cái chết (sống gửi thác về). Trong cuộc sống, ý thức về cá nhân và sở hữu không phát triển cao. Của cải vẫn được quan niệm là của chung, giàu sang chỉ là tạm thời, tham lam giành giật cho nhiều cũng không giữ mãi mà hưởng được. Người ta mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con nhiều cháu, ước mong về hạnh phúc nói chung là thiết thực, yên phận thủ thường, không mong gì cao xa, khác thường, hơn người.

Con người được ưa chuộng là con người hiền lành, tình nghĩa. Không chuộng trí mà cũng không chuộng dũng. Dân tộc chống ngoại xâm liên tục nhưng không thượng võ. Đâu đâu cũng có đền thờ những người có công đức - chủ yếu là có công chống ngoại xâm - nhưng không một anh hùng xuất chúng, một võ sĩ cao cường nào được lưu danh. Trong tâm trí nhân dân, thường có Thần và Bụt mà không có Tiên. Thần uy linh bảo quốc hộ dân và Bụt hay cứu giúp mọi người; còn Tiên nhiều phép lạ, ngao du ngoài thế giới thì xa lạ. Không ca tụng trí tuệ mà ca tụng sự khôn khéo. Khôn khéo là ăn đi trước, lội nước đi sau, là thủ lễ, giữ mình, gỡ được tình thế khó khăn. Đối với cái dị kỉ, cái mới, không dễ hoà hợp nhưng cũng không cự tuyệt đến cùng; chấp nhận cái gì vừa phải, hợp với mình nhưng cũng chần chừ, dè dặt, giữ mình".

"Tinh thần chung của văn hoá Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hoà. Không có khát vọng để hướng tới những sáng tạo mới mà nhạy cảm, tinh nhanh, khôn khéo gỡ cái khó khăn để tìm được sự bình ổn. Cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo. Ta không háo hức cái tráng lệ, huy hoàng, không say mê cái huyền ảo, kỳ vĩ. Màu sắc chuộng cái dịu dàng, thanh nhã, ghét sặc sỡ. Quy mô chuộng sự vừa khéo, vừa xinh, phải khoảng giao tiếp, ứng xử chuộng sự hợp tình, hợp lý. áo quần trang sức, món ăn đều không chuộng sợ cầu kỳ. Tất cả đều hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng và có quy mô vừa phải.

... Trong nền văn hoá cũ, sức sáng tạo của ta không khỏi có khuynh hướng tiểu kỹ, ứng dụng, thiếu những sáng tạo mới. Đó là con đẻ của tinh thần thiết thực. Trong tương lai, đó là một nhược điểm. Đổi thay được nhược điểm đó chắc chắn không phải là dễ dàng.

Cũng khó mà kế hoạch hoá được việc sáng tạo. Ta chỉ có thể chờ đợi điều đó ở những nhà tư tưởng, những nghệ sĩ, và ở nền sản xuất, tổ chức xã hội có khả năng sản sinh ra họ.

Trong lịch sử học thuật của ta không có những nhà kinh học để cả cuộc đời tra cứu, biện bác, làm sáng tỏ nghĩa kinh điển mà cũng không có những nhà tư tưởng nhìn tổng quát cả học thuật quá khứ để phê phán, đề xuất kiến giải riêng. Những người lỗi lạc, có tinh thần tự hào dân tộc đều muốn phát triển tư văn ở Việt Nam bằng cách đi theo và tiến kịp không thua Trung Quốc chứ không phải phê phán nó để tìm cái của mình.

Chúng ta đào tạo đội ngũ khoa học, kỹ thuật đông đảo. Nhưng trong điều kiện kinh tế phát triển còn thấp, không có đủ cơ sở để sử dụng thì kỹ sư không phải là người hành nghề mà thành cán bộ, sống bằng bằng cấp, danh vị... Thanh niên và các bậc phụ huynh lại toan tính con đường chắc chắn: học cho có bằng cấp, vào biên chế sống dựa vào nhà nước kiếm lộc, kiếm bổng. Chuẩn bị vào đời bằng trau dồi "tư cách" (đánh giá về mặt đạo đức, vốn hoạt động chính trị) và bằng cấp chứ không phải bằng nghề nghiệp tự lập".
(Trích Về đặc sắc văn hóa Việt Nam
Trần Đình Hượu// Tia sáng, tháng 4+5/2002)

Cơ sở kinh tế - xã hội - văn hóa - lịch sử như vậy tạo nên cơ sở thực tiễn để xác định năng lực, nhu cầu đọc đích thực của đa số người Việt: thiếu cơ sở để đọc nhiều, đọc rộng; động lực đọc dừng lại chủ yếu nhu cầu thỏa trí tò mò, là sự ham hiểu biết thụ động, ngắn hạn và không hệ thống.

Chúng ta ít đọc vì mục tiêu đi tìm chân lý. Là vì chân lý đã được khẳng định sẵn, là vì động cơ cạnh tranh quá yếu ớt. Chúng ta càng ít đọc vì nỗ lực đua tranh thực tiễn, vì tiền lương cao, vì sự đánh giá trí tuệ của xã hội. Tuy là một dân tộc mang nặng tính "thiết thực nông dân", song trong đa số trường hợp, người Việt đọc vì sự sĩ diện, vì "con gà tức nhau tiếng gáy".

5. Công cuộc chuyển đổi hệ thống diễn ra trong vài chục năm trở lại đây đã tạo ra một sự khởi động mới căn bản cho đời sống xã hội. Việc đọc sách cũng đang khởi sắc mạnh mẽ. Giờ đây, chúng ta có nhiều sách hơn để đọc; có nhiều dòng tri thức hơn để tiếp cận, đối chiếu và sản sinh cảm hứng tranh luận và đổi mới. Nhưng như vậy vẫn còn rất chưa đủ cho một cuộc lột xác toàn diện và triệt để.

Rất mừng là cơ chế thị trường với động lực cạnh tranh ngày càng hoàn thiện. Quá trình hội nhập và cạnh tranh quốc tế được đẩy mạnh đang tạo ra cả cơ hội, thời cơ và các điều kiện thực tiễn để cải thiện sự "mê đọc sách" của người Việt, đưa nó lên một tầm cao mới, trong quỹ đạo giống loài người.

Trong môi trường đó, đọc sách đang ngày càng trở thành một yêu cầu, một nhu cầu sinh tử. Đọc trở thành công cụ tạo lợi thế trong cuộc đua tranh, để vượt lên sánh kịp thế giới trong thời đại tri thức và công nghệ hiện nay.

Từ đó, xin được nêu mấy điều cụ thể. Đối với Việt Nam hiện nay, cần phải đọc với tinh thần cạnh tranh quốc tế, để tận dụng thời cơ lớn (không bỏ lỡ thời cơ) do hội nhập mang lại; đọc để chuyển sang kinh tế tri thức, để vươn kịp thời đại, để khỏi tụt hậu muôn đời.

Vì thế, phải đọc đa dạng, đọc trong thế mở cửa, không đơn tuyến, cấm kỵ vô lối, đọc với thái độ phê phán nhưng không thiên kiến.

Cần nhận thức đối với nước ta, "đi sau" là một lợi thế tuyệt đối. Nó cho phép tiếp thu tinh hoa thế giới với chi phí thấp nhất và thời gian ngắn nhất. Mà sách chính là vật dẫn truyền tinh hoa thuộc loại  phổ thông hiệu quả nhất. Lợi thế đi sau có, cộng hưởng với áp lực cạnh tranh quốc tế đang đè lên nhân cách người Việt, lên số phận dân tộc chưa thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu sẽ tạo ra hợp lực sức mạnh và sự đồng thuận trong khát vọng vươn tới tri thức.

Để tận dụng lợi thế đó, cần đến hai tuyến lộ trình "đọc sách":

+ Đọc để học hỏi tri thức, để "bắt chước" thế giới nhanh và hiệu quả nhất (là quan trọng hàng đầu)

+ Đọc để bắt kịp tri thức thế giới, tạo lập nền tảng tri thức mới cho Việt Nam, trên cơ sở đó mà hình thành nền văn hóa và khoa học hiện đại (nghiên cứu phát minh) (riêng) của Việt Nam.

Ngoài ra, còn phải lưu ý đến sự khác biệt giữa đọc sách và đọc báo. Đó là sự khác biệt bởi tri thức chứa đựng trong mỗi thứ. Vì thế chúng bổ sung cho nhau nhưng không thay thế được nhau. Vì giữa chúng, sự khác biệt là rất cơ bản - khác biệt ở tính hệ thống, dẫn tới sự khác biệt trong sản phẩm đọc - khác biệt trong tầm nhìn, trong tư duy và năng lực hành động.

Cuối cùng, cần phải tạo ra hai động lực xã hội mạnh của việc đọc: tự do cạnh tranh phát triển và tự do tranh luận, công khai. Cần có những diễn dàn rộng rãi hơn để truyền bá, phổ biến tri thức và tranh luận học thuật. Những diễn đàn đó, không khí học thuật đó sẽ thổi lửa thêm vào tiềm năng hiếu học và thích đọc của người Việt chúng ta.