Wednesday, December 28, 2016

Bao giờ chân người Việt hết giao chỉ?

Khổng Khâu một đời lang thang phiêu bạt sáu nước chẳng vua chúa nào tin dùng, viết sách dạy học, 3000 môn đệ ngồi nghe giảng ở đất Dĩnh, đời sau xưng tụng là Vạn Thế Sư Biểu.

Lý Bạch thảo xong 24 khúc “Thanh Bình Điệu” quẳng bút xách hồ lô rượu về lại chốn không nhà, ngày nay còn được ngợi ca là Thi Thánh. Tất-Đạt-Đa bỏ cung điện ngai vàng vợ đẹp đi vào thâm sơn cùng cốc, nhân gian tôn thờ là Phật. Giê-Su 12 tuổi không nhận cha mẹ từ cửa thánh đường Do Thái ra đi biệt tích cho đến năm 30 tuổi, thế gian kính ngưỡng là Đấng Cứu Thế …

Không có tên người Việt Nam đủ vĩ đại để có thể nêu lên thí dụ về những triết gia, thi hào, giáo chủ tâm cao trí cả lừng lững ý chí và lý tưởng bao trùm cả nhân loại.

Suốt gần 5000 năm lịch sử quốc gia này không nô lệ Tàu Tây thì nội chiến dai dẳng, độc lập không lâu, hòa bình quá hiếm. Không lệ thuộc thì xâm lăng: người Việt chiếm Chiêm Thành, diệt Lâm Ấp, phá Phù Nam, lấn Khmer, …

Một tộc người nhỏ bé, da vàng, trán giồ, mũi tẹt, răng hô, chân giao chỉ, đến thiên niên kỷ thứ ba của dương lịch vẫn còn tranh cãi về nguồn gốc, lác đác những huyền thoại truyền thuyết mù mờ mâu thuẫn, vẫn chưa ra khỏi văn minh lúa nước, khư khư cái nếp văn hóa làng xã lỗi thời.

Định mệnh phân rẽ, chia ly của dân tộc này đã bắt đầu với 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha xuống biển; chẳng hiểu tại sao lại phải ngăn cách nhau bằng đất đai đồng bằng.

Hay là đất bình nguyên dành cho người, con cái của thần tiên phải sống ở trên trời mây và dưới lòng biển, nên cuối cùng phải nồi da xáo thịt huynh đệ tương tàn kiếm đất cắm dùi? Nên con dân Việt hôm nay cũng chưa qua cái định mệnh phân chia, ly cách?

Thục An Dương Vương gả con gái làm dâu kẻ thù phương Bắc. Con gái nghe lời chồng mà hại cha mình và dân tộc mình, ngồi sau lưng cha chạy giặc còn bứt lông ngỗng trên áo thả làm dấu cho chồng đuổi theo. Cha đành phải giết con rồi tự sát. Chung thủy và phản bội của tổ tiên người Việt đối kháng kịch liệt và lẫn lộn tàn nhẫn đến thế thì thôi!

Vóc người Việt Nam nhỏ bé như mảnh đất tổ quốc gầy còm tượng trưng cho tất cả mọi sự nhỏ bé gầy còm khác. Chùa Một Cột ở Hà Nội là hình ảnh biểu trưng đầy đủ nhất.

Một đất nước không có những công trình vĩ đại. Một dân tộc không có những giá trị khổng lồ.

Còn nói riêng về văn học thì tất cả đều nhỏ bé hoặc tầm tầm. Đành đau xót, nhưng chẳng lẽ người Việt không một lần thành tâm mỏ cửa so bì với thế giới nhân loại mãi sao?

Cứ mãi thu góp đủ loại tinh hoa thế giới mà không đóng góp được gì với người ta sao? Có một cái sức mạnh của truyền thống tạo sức ì hay lực cản sáng tạo hay không?

“Người Việt Nam gì cũng cười”, ông Nguyễn Văn Vĩnh cả trăm năm trước đã nhăn nhó đúc kết một nét đặc trưng dân tộc tính như thế. Nụ cười này có thể dễ thương hay thân thiện, nhưng nếu gì cũng cười thì thật đáng sợ.

Giận ghét, khinh chê, thù hận gì cũng cười cả, thì cái sự cười này thật bất trắc, không chừng trong vẻ cười ngô nghê có hàm chứa biết bao gian hiểm, nét cười thân ái che dấu răng nanh hút máu như Frankenstein. Còn không thì cũng là cái cười xí xóa, lấp liếm, cầu cạnh, bí hiểm, vô nghĩa hoặc vô duyên…

Cô Tấm trong truyện cổ tích phổ biến nhất nước ta mấy ngàn năm rồi, ngày nay còn được đánh bóng tô son nhiều lắm trong sách giáo khoa, truyện đọc, truyện kể, sân khấu, phim ảnh, thậm chí âm nhạc nữa.

Cô Tấm xinh đẹp, nết na, thuần hậu, chân chất này thật ra gian hiểm thua gì mụ mẹ ghẻ và cô nàng Cám ác độc đâu! Thâm hận độc địa và mưu mẹo trả thù tinh xảo cực ác như thế mà là quốc hồn quốc túy ở người con gái Việt Nam vẫn được ngợi ca là dịu dàng thùy mị hay sao?

Nàng Lọ Lem trong cổ tích của người da trắng chắc hẳn kinh hãi và rầu rĩ lắm khi biết được ở cái xứ da vàng nọ có cô Tấm giống mình và khác mình đến thế! Hình ảnh đầu lâu cô nàng Cám dưới đáy hũ mắm cô Tấm dâng tặng mẹ ghẻ thật khủng khiếp, có lẽ chỉ có thể gặp trong văn học dân gian nước ta.

Trong sử Tàu có Việt Vương Câu Tiễn. Hầu hết những nhà viết sử nước ta khẳng định tộc Việt của giai nhân Tây Thi này không có dây mơ rễ má gì với người Việt đất Phong Châu cả.

Nhưng sao cái đức tính chịu hèn nuốt nhục kiểu Câu Tiễn không xa lạ gì mấy với dân ta, có điều không phải lúc nào cũng là nuôi chí phục quốc, thậm chí tệ hơn, chỉ vì hám lợi cầu vinh. Chí Phèo của Nam Cao phải chăng là biến cách của Câu Tiễn trong bối cảnh văn minh làng xã?

Tất nhiên không phải tất cả dân ta đều là Chí Phèo. Dân tộc nào chẳng có những anh hùng hiển hách dựng nước giữ nước cho đến hôm nay. Đất nước nào chẳng có văn hào thi bá lừng lẫy đến muôn đời.

Nhưng thử ngẫm nghĩ mà coi, phong thổ Việt Nam rặt sản sinh những hiển hách lừng lẫy tầm tầm thôi. Từ động vật, trái cây đến núi sông thành quách. Rồi đến hình tượng con rồng uy nghiêm cao cả cũng gầy gò nhỏ bé. Để đến nỗi những tài năng xuất chúng cũng chỉ là xuất chúng với dân mình ở quê hương mình mà thôi.

Có phải vì nguồn gốc mù mờ (Tây Tạng, Tam Miêu, Bách Việt, Mông Cổ, Đại Lý, Mã Lai Á, hay Indonésien?), cộng với cả nghìn năm sống trong gông cùm nô lệ hoặc chống trả gian khổ các giống dân phương Bắc (Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh), mà dân Việt truyền đời thói quen xem mình là “tiểu nhược quốc”, cái gì cũng cố thành ra nhỏ bé ốm yếu, tránh làm gai mắt kẻ thù, để mà tồn tại trong đắng cay căm hận?

Vì thế mà dân Việt ta giỏi âm mưu, khéo luồn lách, tài độc hiểm dưới vẻ ngòai khiêm tốn, chịu đựng và yếu ớt chăng? Ta đã chẳng ví mình như lòai châu chấu đó sao? “Nực cười châu chấu đá xe, Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng!” Châu chấu mà đá nghiêng cỗ xe thì tất nhiên là bằng kế sách rồi, nhưng liệu có phải tất cả mọi kế sách đều tốt không? Kế sách gì cũng tốt miễn là dành được độc lập cho dân tộc tổ quốc? Có phải đã gọi là kế thì ngại gì quỷ kế, gian kế, hay độc kế? Nhưng lẽ nào để người xưa đông tây đều phân biệt rạch ròi vương đạo với bá đạo chứ?

Nguyễn Trãi được Tổ Chức Liên Hiệp Quốc tôn vinh là một danh nhân của thế giới. Chúng ta không nên lấy thế làm tự hào lắm; chẳng qua cũng chỉ là danh vị cho có mà thôi. "Bình Ngô Đại Cáo" (Hán văn) cụ Bùi Kỷ dịch sang quốc ngữ thật tuyệt vời, nhưng chuyển dịch sang tiếng Anh, Pháp thì mất hết cả khí vị hịch truyền, điệu vần biền ngẫu (văn tứ lục), từ ngữ văn phong lúc cuồn cuộn hào hùng, lúc êm đềm nhân nghĩa, chỉ còn lại phần tư tưởng có giá trị tương đối mà thôi.

Thơ văn khác của ông cũng không hẳn xuất sắc ngang tầm nhân loại. Nguyễn Trãi được tôn vinh như là một nhà chính trị và một nhà văn hóa có công lao hiển hách xây dựng và phát triển cả triều đại nhà Lê kéo dài 100 năm (1427-1527) độc lập và cường thịnh trong sử Việt. Xem vậy, Nguyễn Trãi cũng chỉ là nhân tài Việt Nam dưới cái mũ kim cô Nho học mà thôi.

Nhà sử học Trần Trọng Kim cảm thán thật sâu sắc cách nay gần 100 năm, ngày nay đọc lại chúng ta vẫn phải suy nghĩ nao lòng:

Thời đại Bắc thuộc dai dẳng đến hơn một nghìn năm, mà trong thời đại ấy dân tình thế tục ở nước mình thế nào, thì bây giờ ta không rõ lắm, nhưng có một điều ta nên biết là từ đó trở đi, người mình nhiễm cái văn minh của Tàu một cách rất sâu xa, dẫu về sau có giải thoát được cái vòng phụ thuộc nước Tàu nữa, người mình vẫn phải chịu cái ảnh hưởng của Tàu. Cái ảnh hưởng ấy lâu ngày đã thành ra cái quốc túy của mình, dẫu ngày nay có muốn trừ bỏ đi, cũng chưa dễ một mai mà tẩy gội cho sạch được. Những nhà chính trị toan sự đổi cũ thay mới cũng nên lưu tâm về việc ấy, thì sự biến cải mới có công hiệu vậy.” (Việt Nam Sử Lược, Tựa, tr. 9).

Thế đến thiên niên kỷ thứ ba này cái quốc túy của ngừơi Việt Nam còn phải chịu cái văn minh Tàu cổ kính ấy nữa không?

Nói cho cùng, người Việt nhiễm đủ thứ văn minh, ngòai Tàu còn có Pháp, Mỹ – hai nền văn minh lớn từ phương Tây, trái ngược hẳn với cái văn minh phong kiến Đông phương già cỗi phong tỏa đã lâu.

Và ngày nay, do hoàn cảnh đặc biệt của lịch sử, con cháu Hùng Vương rải rác khắp năm châu bốn biển, đi đi về về như mắc cửi, hình ảnh Việt Kiều trọ trẹ tiếng Việt, dáng dấp dềnh dàng, da trăng trắng mắt xanh xanh, tóc vàng tóc đỏ chẳng còn lạ nữa.

Rồi văn hóa toàn cầu tác động ồ ạt lên lối sống của người Việt mãnh liệt, đồng lọat và sâu sắc như mưa rơi trên đồng khô hạn từ sau Đổi Mới 1986.

Như một anh nhà nghèo khao khát tích lũy ôm đồm đủ thứ thượng vàng hạ cám số mệnh ban cho, người Việt đang phân hóa nghiêm trọng trong một đất nước mới tìm đường phát triển về tất cả mọi phương diện, bao gồm cả phát triển con người.

Quan niệm dân gian “Ta về ta tắm ao ta” phải chăng đã trở thành tư tưởng hủ lậu của dân Việt, là lực cản mọi khai phóng tiến bộ của tiền nhân (như Nguyễn Trường Tộ) và trí tuệ của không ít trí thức đương đại?

Văn minh lúa nước và văn hóa làng xã với tất cả những đặc tính cố hữu như là bảo thủ, tôn ti, an phận, gia trưởng, lễ nghi, thiển cận, vun vén…là cái món quốc túy thâm căn cố đế cản trở tiến hóa dân Việt ta trong thời đại của mobile phone, internet hôm nay.

Làm gì còn mãi cái ao bé tí cho anh tắm nữa mà hả hê “dù đục hay trong”, khi mà chính anh cũng quen tắm hồ bơi hiện đại nước trong xanh thơm phức?

Kho tàng văn học nước ta thật rạng rỡ với tác phẩm Truyện Kiều của thiên tài Nguyễn Du. Nhưng ta cũng phải bình tĩnh sáng suốt đánh giá Truyện Kiều một cách khách quan giá trị của nó so với những tác phẩm văn học bất hủ của thế giới.

Giá trị của Truyện Kiều là ở thơ lục bát. Thể loại thơ đặc biệt này của người Việt, của ngôn ngữ Việt, đạt tới đỉnh cao của thi tài, có thể nói trước và sau Nguyễn Du, chưa có tác phẩm lục bát nào tương xứng.

Nguyễn Du lừng lững phá bỏ một truyền thống thi ca từ chương ước lệ trong hình ảnh và cảm xúc, bung phá cái khuôn vàng thước ngọc của thơ Đường già cỗi, khơi mở khuynh hướng lãng mạn, báo hiệu dòng thi ca trữ tình Việt Nam phát triển rạng rỡ trong thế kỷ 19, đặc biệt với Cao Bá Quát chói lọi.

Ngôn ngữ bình dân xen kẽ và hòa trộn tài tình với ngôn ngữ bác học trong một tổng thể dung dị mượt mà, trên cái nền nhịp 6-8 êm ái như điệu võng, dễ thấm vào lòng người Việt từ cuối làng đến góc phố nỗi thương cảm nàng Kiều tài sắc mà bất hạnh, vừa đáng thương vừa đáng giận, vừa đáng trách lại vừa đáng yêu.

Nhưng mà cốt truyện không phải của Nguyễn Du, cô Thúy Kiều khiến cho người tài tử kẻ phàm phu đất Việt tấm tắc xót thương lại là gái Tàu ở một triều đại Minh Gia Tĩnh xa lơ xa lắc của một ông nhà văn Thanh Tâm Tài Nhân nào đó.

Dấu vết ảnh hưởng văn hóa Bắc phương còn áp đặt, hay Nguyễn Du của chúng ta kiêng dè vua quan nhà Nguyễn truy xét nỗi lòng hoài Lê, nên phải mượn chuyện bên Tàu bất đắc dĩ?

Bên cạnh nội dung cũ ấy, sáng tạo Truyện Kiều của Nguyễn Du cho dù có thêm bớt làm mới, đề cao Phật giáo bên cạnh truyền thống Nho Lão, cũng không sáng lên ánh độc đáo mới lạ nào về tư tưởng văn hóa dân tộc đầu thế kỷ 19.

Truyện Kiều là thơ lục bát thiên tài chuyên chở một câu chuyện cảm động trong kho tàng văn học Việt Nam, dù chuyển dịch sang tiếng nước ngòai tuyệt vời như thế nào thì cũng chỉ có giá trị tham khảo mà thôi. Hồn lục bát còn đâu?

Cảnh ao mình có tuyệt vời thì cũng chỉ trong làng mình thôi, người ta có tấm tắc ngắm nghía thì cũng chẳng ai bê cái ao của mình về xứ họ để học hỏi tắm táp đâu!

Cái “ao thu lạnh lẽo nước trong veo” của cụ Nguyễn Khuyến có “một chiếc thuyền câu bé tẻo teo” ; ngoài ra còn có một con ếch lúc nào cũng tưởng mình có thể to bằng con bò, và ta có thể tưởng tượng thêm trên bờ ao có một cỗ xe trâu đang lọc cà lọc cọc giữa đường làng.

Nước Việt Nam chúng ta ngày nay còn luyến tiếc cái văn minh ao chuôm này sao? Người ta còn muốn tiến hóa bằng bánh xe trâu đủng đỉnh giữa làng sao? Thậm chí “trời xanh ngắt” trên vũng ao và “ngõ trúc quanh co” ấy của tao nhân mặc khách Nguyễn Khuyến là cả thế giới trong văn minh toàn cầu này chăng?

Tại sao những ông lý trưởng thời hiện đại thậm chí vẫn muốn đúc bê tông cổng làng và khóa bằng ổ khóa điện tử, để yên tâm ngồi xoa xoa bụng ếch trên ngai vàng gỗ mục dưới đáy giếng? Cả nước Việt ta là một nhà bảo tàng khổng lồ ư? Đi suốt nước toàn gặp những cổng chào truyền thống thôi ư?

Sau gần 5000 năm văn hiến, nước ta thật chẳng thiếu anh hùng tài tử, nhưng tại sao không có những công trình văn hóa lừng lẫy sánh ngang tầm nhân loại?

Có phải vì chiến tranh trong ngoài liên miên và những hệ quả khốc liệt của nó? Có phải người Việt vẫn tự đắc tôn thờ hình ảnh con châu chấu anh hùng và sẵn sàng mai phục để được lật nghiêng những cỗ xe đồ sộ khác? Và có phải trong tâm lý chúng ta vẫn khoái trá làm ớt hiểm, ớt hạt tiêu, thích sâu cay, ưa tháu cáy?

Để đến nỗi người một nước quen nhìn nhau nhỏ bé khiêm tốn, nghi kỵ và sợ sệt những tài năng tư tưởng muốn vươn mình thành người khổng lồ, phá vỡ cái cổng làng cổ kính rệu rạo mà bước ra thế giới bao la?

Để đến nỗi thậm chí người Việt tha phương cầu thực, lưu lạc giang hồ khắp nơi trên thế giới mà thua xa các bang hội kiều dân khác trong tương trợ đùm bọc lẫn nhau, chẳng phải vì cái đầu óc làng anh làng tôi, con vua con sãi truyền đời đó sao? Đến bao giờ, để mong nhảy mạnh tiến xa, chân người Việt mới hết giao chỉ?

Nói riêng về văn học, bài thơ "Vịnh Con Cóc" gần như ai cũng biết, có thể nói lên hết cái thiển cận, dốt nát và ngông cuồng của sáng tạo. Sáng tạo như thế được tiếng tốt là dễ hiểu, là gần gũi, là hiện thực, là nhân dân, là trong sáng, v.v…

Nhưng quan trọng hơn cả là nó vô hại, thậm chí nó đem lại cho người thưởng thức một trò cười cợt trong lúc trà dư tửu hậu. Và trong kho tàng văn chương ngâm vịnh thù tạc của dân Việt, bài "Vịnh Con Cóc" này nhất định sẽ sống mãi.

Chiến tranh và nội thù đã mấy ngàn năm ngăn chặn vùi dập biết bao trí tuệ và tài hoa con dân Việt, làm sao kể hết? Truyền đời không ngoại xâm thì giặc giã, không giặc giã thì loạn sứ quân, không loạn sứ loạn thần thì loạn đảng.

Người Việt đã truyền kiếp nghi ngờ chia rẽ nhau, chỉ có thể đoàn kết trước nguy hiểm chung có tính sống chết thôi, chứ yên bình rồi thì đàn áp, giành giật, đố kỵ chiếu trên chiếu dưới ngay. Ngày nay, tổ quốc chưa qua đói nghèo, dân trí còn trong trì trệ, không phải là điều đáng nói nữa.

Vậy, nếu nước Việt ta, người Việt ta vẫn chưa kỳ vọng những công trình văn hóa đồ sộ, những tác phẩm văn học vĩ đại sánh ngang tầm thế giới hiện đang trở thành một cái làng khổng lồ hướng ra văn minh vũ trụ, thì có đáng nói hay không, hỡi các ngài thần hoàng, các ông hương lý, các cụ tiên chỉ và các bác trương tuần?…

Và nếu sáng tạo vẫn phải canh chừng tiếng mõ cầm canh cầm chịch của các ông mõ thời đại thì sao nhỉ? Đức Thánh Gióng vươn vai thành người khổng lồ phá giặc Ân cứu nước xong bay thẳng lên trời.

Mấy ngàn năm rồi con dân Việt không thấy ngài đâu nữa! Liệu trong hòa bình phát triển hôm nay của nước Việt, Thánh Gióng có thể hóa thân vào một nhà triết học, một nhà tư tưởng, một nhà sáng tạo ngang tầm thế giới nhân loại hay không?

Nguyễn Phan Thịnh

Thủy Hử là bộ tiểu thuyết 'bệnh hoạn'?

Cuốn tiểu thuyết được dựng thành không biết bao nhiêu phim, truyện tranh, trò chơi điện tử… giờ đây đang trở thành đề tài nóng hổi được tranh luận tích cực trên các diễn đàn văn học nghệ thuật và cuộc sống.

Thuỷ Hử tô đẹp hành vi lưu manh?

Bàn về tác phẩm này, GS Bill Jenner nhận xét: “Tôi thấy đây là một vấn đề rất thú vị, vì nó liên quan tới nền văn hóa và trạng thái tâm lý của xã hội TQ từ triều Minh cho đến ngày nay. Một mặt, sự chém giết lẫn nhau trong Thủy Hử rất chi là nhộn nhạo; mặt khác, người ta không thể không hỏi rốt cuộc vì mục đích gì mà những người ấy vung tay chém giết như vậy?

Cái gọi là các anh hùng hảo hán trong sách ra tay choảng nhau thường gây ra tổn thương cho bản thân và người nhà, chỉ vì để chứng tỏ võ công của mình mà họ sử dụng bạo lực, làm hại kẻ khác. Xét về ý nghĩa ấy thì Thủy Hử là một bộ tiểu thuyết bệnh hoạn. Thủy Hử từng được nhà văn Mỹ đoạt giải Nobel Pearl S. Buck dịch ra tiếng Anh là All men are brothers (Tất cả là anh em). Trong đó việc tuyên truyền ca ngợi quan niệm bạo lực và nghĩa khí anh em kiểu lưu manh thì không có chút ý nghĩa xây dựng nào cả”.

Lý giải về việc bộ tiểu thuyết này từ bao đời nay được người dân Trung Quốc và thế giới đón nhận nhiệt thành, GS Bill Jenner cho biết: “Tôi cảm thấy các nhân vật trong Thủy Hử không phải là sự miêu tả cuộc sống chân thực, cuộc sống hiện thực không như thế giới hảo hán trong Thủy Hử. Nghĩa khí giang hồ trong Thủy Hử là sự tô đẹp hành vi lưu manh – loại giá trị quan này rất có tính phá hoại.

Sở dĩ cuốn tiểu thuyết này cùng với bộ phim truyền hình nhiều tập được cải biên dựa vào tiểu thuyết đó được phổ biến rộng rãi là do, thế giới trong sách tồn tại một sự tương phản với cuộc sống hiện thực. Các hảo hán trong sách ra tay choảng nhau không xét tới hậu quả. Trong đời sống hiện thực có nhiều người ưa thích cuốn sách này, đó là do họ phải chịu sự trói buộc của các thế lực quyền thế trong xã hội, chỉ có từ các anh hùng hảo hán phóng đãng bạt mạng trong sách họ mới tìm kiếm được sự giải thoát và trút bỏ nỗi phẫn nộ trong lòng. Đây là hiện tượng làm mọi người rất lo ngại”.

Dẫn dắt thanh thiếu niên vào vấn nạn bạo lực?

Khẳng định lại ý kiến Thủy Hử là một bộ tiểu thuyết bệnh hoạn, GS Bill Jenner kịch liệt phê phán tính bạo lực trong tác phẩm này: “Sở dĩ nói Thủy Hử là một bộ tiểu thuyết bệnh hoạn, đó là do nó ca tụng bạo lực như trong một vở hài kịch, mà không vạch ra hậu quả nghiêm trọng của điều đó. Con người bị giết một cách vô cớ mà không có sự thương xót của ai cả.

Nhân vật Lý Quỳ là một dẫn chứng điển hình. Tay này hữu dũng vô mưu, trung thành hết mực với bạn. Anh ta còn là một người con rất hiếu thảo, chẳng sợ gian nan đi đón mẹ về, dù bà mẹ đã bị hổ ăn thịt rồi, anh ta vẫn gắng hết sức mình. Nhưng mặt khác, nếu Lý Quỳ đã tức giận thì anh ta sẽ mất khả năng tự kiềm chế, không những chỉ giết kẻ thù mà còn giết tất cả mọi người không phân biệt ai, kể cả những người bàng quan vô tội cũng bị anh ta dùng rìu chém chết tuốt.

Điều đó nói lên, vì để trút giận mà Lý Quỳ không tiếc tay sử dụng bạo lực cực đoan không chút ý nghĩa gì hết. Điều này rất dễ gây ra sự dẫn dắt sai lầm cho thanh thiếu niên. Dĩ nhiên đây không phải là thứ riêng TQ mới có, các nước khác cũng có vấn đề bạo lực thanh thiếu niên. Chẳng hạn, xã hội Mỹ hiện nay cũng có sự thể hiện giá trị quan của Thủy Hử. Thiếu niên mang súng vô cớ bắn giết người khác chỉ vì để trổ tài, giống hệt như biểu hiện của các hảo hán trong Thủy Hử.

Mặt khác, chính quyền từng coi Thủy Hử là cuốn tiểu thuyết ca ngợi cuộc khởi nghĩa của nông dân, qua đó tuyên truyền cho cuốn tiểu thuyết này. Thực ra, trừ Lý Quỳ ra, 108 tướng trong Thủy Hử đều không phải là nông dân. Phần lớn họ là người thuộc tầng lớp quan lại, có cả những chủ đất, ngay anh em họ Nguyễn cũng là các nhà tư bản thuê mướn sức lao động. Nếu nói Thủy Hử thể hiện mâu thuẫn giai cấp gì đó thì tôi cho rằng, nó chủ yếu thể hiện mâu thuẫn nội bộ tầng lớp dưới của giai cấp thống trị.

Các anh hùng hảo hán trong sách chỉ lo báo thù riêng tư, họ quan tâm nhiều hơn đến sự thừa nhận họ là hảo hán và họ coi trọng nghĩa khí của hảo hán. Song loại nghĩa khí ấy không chú trọng cái nghĩa của chuẩn tắc đạo đức, không phải là chính nghĩa. Ngay Thủy Bạc Lương Sơn bản thân cũng là sự thể hiện một xã hội có giai cấp. Khi chia của ăn cướp được, Thủy Bạc Lương Sơn chia chiến lợi phẩm ra làm hai phần: một phần để cho các anh hùng hảo hán hưởng thụ, một phần khác chia đều cho các tiểu lâu la đông người hơn, song chưa bao giờ họ chia lương thực cho những người nghèo đói.

Tuy họ cũng đánh úp bọn quan lại ác bá, song lý do đánh thường thường là vì các thành viên trong số hảo hán ấy bị bọn quan lại ác bá đối xử không công bằng – nghĩa là có nhiều yếu tố cá nhân hơn. Chính vì thế mà người Trung Quốc mới có câu “Già chẳng đọc Tam Quốc, trẻ không xem Thủy Hử”.

Tìm thủ phạm “ám sát” văn hiến

Những tâm hồn thấp kém thì không thể thấu hiểu các bậc vĩ nhân. Cũng như những kẻ nô lệ nhe răng cười nhạo khi nghe hai tiếng Tự do.
(J.J Rouseau - 1762)
Nhân đại lễ ngàn năm Thăng Long, Hà Nội (HN) được ngắm nghía đặc biệt kỹ.

Chăm sóc nhiều. Khen chê cũng lắm.

Nhiều người không khỏi hoang mang tự hỏi: Văn hiến Thăng Long, còn hay mất?

Nếu mất, ai đã cầm nó trên tay và đánh mất? Bọn Người nhập cư đã đánh mất lối thanh lịch Tràng An? Hay kẻ nào? Cần phải tìm địa chỉ để “bắt đền” chứ?!

Quan niệm và ứng xử thế nào về khái niệm Người HN trong kỷ nguyên của Người nhập cư?

Liệu còn làm gì được không để cứu vãn nền văn hiến?

Ta hãy ngắm xem văn hiến còn hay mất.

Thân xác: đế chế kiến trúc “quan tài bê tông và hộp diêm vụn”

Nếu đến HN từ các ngõ vào thành phố, đặc biệt là từ phía sân bay Nội Bài đến cầu Thăng Long, cầu Chương Dương, cầu Thanh Trì, cầu Pháp Vân..., với lợi thế ngắm HN từ trên cao, nhiều người sẽ không khỏi băn khoăn: Lẽ nào, đây là nơi mà chúng ta vẫn tự hào là Thăng Long ngàn năm văn hiến?

HN hôm nay trình diện dưới mắt kẻ qua người lại với vô số nhà cửa như một mớ “hộp diêm” hoặc các “quan tài” bằng bê tông lắp ghép bằng các mảnh vụn đủ mọi kích cỡ rồi được ném vô lối xuống mặt đất thành phố qua bàn tay của đứa trẻ chưa biết suy tính đến hậu hoạ ngàn năm.

Những hộp diêm vô hồn ấy ngự ngạo nghễ trên đất HN. Chân của lũ hộp diêm cắc cớ ấy cắm sâu xuống đất, trơ gan cùng tuế nguyệt. Rồi đây, theo các dự án đã được duyệt, sẽ có tới khoảng mấy trăm cao ốc lừng lững dựng ngược dậy, như cọc bùa yểm linh khí, như chông lởm chởm, cắm vào mảnh đất nội đô vốn đã quá tải, vốn đã méo mó hình thù và vô cùng chật chội.

Rồi đây, HN sẽ còn thêm rất nhiều “hộp diêm”, “quan tài” bê tông và toà cao ốc, những chung cư không linh hồn được xây nên. Có đặc điểm nguy hại mà những nhà quy hoạch không để ý. Mỗi lần họ không để ý là một lần bầu trời hoặc những gương hồ HN bị xẻo đi một miếng, mà toàn là những miếng lớn, không có cơ hội vá víu được. Đó là cho phép những toà cao ốc trấn yểm các ngã ba ngã tư thành phố. Cứ theo đà này, sẽ đến ngày một ngày không xa, người HN ngẩng đầu lên mà ngày không thấy trời, đêm không thấy trăng. Đến mặt trăng và mặt trời mà ngày càng xa lạ với con người, thì đương nhiên tầm nhìn của con người ngày càng chật hẹp và bức bối.

Hậu quả là kiến trúc nội đô HN hiện tại không có cách gì sửa chữa được. Nó khủng bố thẩm mỹ của những kẻ hậu sinh, khiến cho thế hệ này đến thế hệ khác ngày càng xa lạ với văn hiến và nền văn minh. Tự động hình thành một tầm nhìn chật hẹp, manh mún, tạp nham nửa quê nửa tỉnh. Một số nhà chuyên môn còn gọi đó là hiện tượng phỉ nhổ kiến trúc, phỉ nhổ những con đường cây xanh, không khí mơ màng bốn mùa, phỉ nhổ những gương hồ quý giá...

Hầu hết mỗi con đường mới tôn tạo đều như những con đê chắn đường thoát nước. Mỗi ngôi nhà mới xây tương tự một cái chốt khổng lồ làm thương tổn nền đất và mạch nước ngầm, đường dẫn nước thải .

Nếu như năm 2008, mọi người đều quá hoảng sợ khi thấy chỉ sau ba ngày mưa mà HN đã thành sông biển và nhiều người chết đuối ngay trên mặt phố nội đô. Để phòng ngừa, Ngân sách đã phải chi một khoản tiền lớn đầu tư chống úng ngập. Hiệu quả sau khi bơm thêm rất nhiều tiền, hai năm sau, kỷ lục chuyển phố thành sông biển sau mưa ở HN nhanh hơn gấp nhiều lần. Sau trận mưa to kéo dài khoảng hai giờ đồng hồ sáng ngày 13/7/2010, lượng nước mưa ấy không thể tự tiêu. Sau năm giờ đồng hồ các trạm bơm hút cật lực, giao thông HN mới khả dĩ nối lại.

Bên cạnh các đền chùa miếu mạo mà hồn đã lìa khỏi xác, là những khu dân cư lộm nhộm đủ kiểu nhà, đủ kiểu người, đủ kiểu quần áo phơi phóng giăng mắc cơi nới điện mạng nhện lâu nay được điểm tô thêm một cái nốt mụn cóc: đó là tấm biển thô thiển đề “Khu dân cư văn hoá”. Hoàn thiện thêm bức tranh ấy, tiếng loa phóng thanh theo lối thời chiến ngày hai ba lần bất thần nổ ra trên đầu toàn thể cư dân, theo cách tuyên truyền áp đặt, buộc tất cả nam phụ lão ấu và khách nước ngoài đều phải nghe những nội dung tuyên truyền nghèo nàn, chủ yếu là mục chính quyền cơ sở tự khen mình, những bài hát chiến tranh đã cũ mèm, những nội dung thông tin xa rời sự thật, góp phần làm hỏng thẩm mỹ và tâm hồn nhiều thế hệ.

Có thể gọi kiến trúc HN mấy chục năm qua cho đến hiện tại là đế chế kiến trúc “quan tài bê tông và hộp diêm vụn”. Loại ô nhiễm môi trường ở tầm vĩ mô.

Dường như người Việt Nam, đặc biệt là HN, có một năng lực đặc biệt trong việc làm xấu đi những ân sủng do thiên nhiên ban tặng. Quy hoạch đô thị từ mấy chục năm nay vẫn là manh mún và chắp vá, luôn chỉnh sửa theo ý chí của nhiều vị lãnh đạo có khi chỉ mới tốt nghiệp tiểu học, trung học cơ sở hoặc không có kiến thức gì về quy hoạch. Theo một số kiến trúc sư cho biết, năm 1972-1973, một đại diện của Hội Mỹ thuật đã đề nghị “nên vẽ một HN hình nắm đấm hướng về phía Nam để thể hiện ý chí “đánh cho Mỹ cút...”.

Còn vùng HN mới xây và đang xây có duyên không? Có “văn hiến” không?

Có một HN mới được tính từ khu Mỹ Đình và mở rộng ra các vùng lân cận ngoại thành HN, một chuỗi những khu đô thị vệ tinh sắp hình thành nay mai.

Nhưng bằng vào tất cả những gì đã xuất hiện, lại đã thấy cái thẩm mỹ trọc phú, manh mún vụn vặt, vô hồn, bắt chước kiến trúc la liệt chung cư của một số TP biên giới của Trung Quốc mà bây giờ người ta đã nhận ra sai lầm và đang cố khắc phục mà không nổi. Bắt chước lối kiến trúc ấy nhưng lại kém xa về thẩm mỹ và về nhịp không gian thư giãn so với Trung Quốc. Những ngôi nhà chọc trời ganh đua mọc trên một diện tích chật hẹp là thứ kiến trúc đã bị nhiều nước tẩy chay, bỗng trở nên mới mẻ và thịnh hành ở HN và Việt Nam. Ta đã thấy kết quả tội nghiệp của việc nhặt nhạnh kiến trúc Trung Quốc Hàn Quốc, những toà nhà không linh hồn được đua nhau đẩy lên cao hết cỡ để kiếm lợi nhuận tối đa bất luận hậu quả thế nào.

Sự tham nhũng gần như không bị ngăn cản của một hệ thống vận hành ráo riết khiến cho mỗi toà nhà cao tầng có thể biến thành những lò nướng người nếu có xẩy ra hoả hoạn. Theo thống kê của ngành phòng cháy chữa cháy, khoảng 90% toà nhà cao tầng đã xây hiện nay không trang bị hoặc trang bị rất hời hợt về thiết bị báo cháy, chống cháy và thoát hiểm, nhìn chung là rất ít khả năng vận hành. Các nhà đầu tư và quản lý cao ốc đã kiếm rất nhiều tiền và còn tiếp tục móc túi người tiêu dùng bằng nhiều lối bội tín.

Linh hồn: Đốt đuốc đi tìm bản sắc

Trong phố HN mà chúng ta vẫn mơ mòng nựng tai mình bằng các mỹ từ: thanh lịch, ngàn năm văn hiến, hào hoa..., thì trớ trêu thay, lại cứ có những “hiện vật” nhỡn tiền giễu cợt đám mỹ từ đó, khiến cho người ta cứ phải hoang mang trăn trở.

Nói chuyện Thăng Long, đương nhiên phải kể đến Hồ Gươm. Thiên nhiên đã hào phóng đeo chiếc nhẫn ngọc lục bảo quý giá ấy cho HN. Hồ Gươm còn duyên bội phần bởi là nơi duy nhất có các cụ rùa thiêng ngộp thở thỉnh thoảng lên phơi nắng, tha hồ cho lũ con cháu kẻ tưởng bở kẻ lo sợ, khấp khởi đoán già đoán non.

Nhưng Hồ Gươm lâu nay lại là nơi chiếm hữu của những chúng nhân quần đùi áo may ô, đồ bộ, quần lửng nhàu nát mướt mồ hôi... của lũ lượt những người đi tập thể dục ngày vài ba bận dưới cái nhìn ngỡ ngàng của du khách.

Văn hiến và thanh lịch đó chăng? Người HN xung quanh Hồ Gươm, quanh các dẫy phố cổ ăn mặc thế sao? Đâu rồi những bóng áo dài? Kể cả áo dài của những người xay thóc giã gạo và buôn thúng bán mẹt thuở trước? Cái thuở HN còn rất nghèo, còn rất quê mùa, chỉ là nơi ở của những người đánh cá trồng hoa trồng lúa nước và buôn bán vặt vãnh nhưng hễ bước chân ra khỏi ngõ, người ta coi việc ăn vận không tươm tất là một sự tự xỉ nhục.

Thanh lịch đâu rồi? Khi những hậu sinh của họ lâu nay, trên môi luôn trề dài hai chữ “nhà quê” để miệt thị những người không làm vừa mắt họ?

Những người không làm vừa mắt họ thì quá nhiều. Có thể là những người lao động nhập cư dạt về thành phố kiếm sống và đang phục vụ nhu cầu thuê mướn của người thành phố với giá rẻ mạt và bị chính sách hộ khẩu đã lỗi thời gạt ra rìa xã hội. Cũng có thể là những chúng sinh thành công hơn họ kể cả về địa vị và tài chính do nỗ lực, do có ý chí và dám thay đổi nên nắm bắt được thời cơ... Cái từ nhà quê thường trực nhả ra trên môi nhiều người HN và cách nhìn kỳ thị ghen tỵ không những không làm cho họ thanh lịch lên mà còn thể hiện một sự tự ti thảm hại.

Rất nhiều người từ nơi khác đến đã thốt lên: ở xa nghe phố Hàng Đào Hàng Ngang, tưởng tượng đó là dãy phố hào hoa đẹp đẽ, mang bản sắc HN ghê lắm, đến nơi mới biết trông chẳng khác gì dãy phố chợ quê với rất nhiều hàng rởm hàng nhái và chủ yếu là hàng Trung Quốc.

Nhiều người, dù đã ở HN vài ba đời và kiếm được nhiều tiền nhưng vẫn nói ngọng và chửi tục, nhiều hộ gia đình dùng chung những “chuồng xí” thời đổ thùng cách đây vài thế kỷ và luôn đùn đẩy trách nhiệm vệ sinh cho nhau. Họ vận quần áo xộc xệch nhếch nhác đi quanh phố. Họ thà chen vai thích cánh cắn rứt nhau mười mấy người trong vài chục mét vuông, còn hơn là đồng lòng chung sức ra khỏi ngõ hẻm chật hẹp, tìm một lối thoát mới.

Thử vào quán ăn, nhà hàng, công sở, đường phố nào ở HN mà xem, tai bạn thường khi sẽ chứa đầy những tiếng văng tục chửi thề miệt thị mang tính côn đồ. Thậm chí, HN là nơi gần như duy nhất trên cả nước cho phép tồn tại và nhiều người còn vui vẻ chấp nhận kiểu chủ quán ăn tha hồ chửi bới khách hàng. Miếng ăn phải trả tiền ở đây thực sự là mua miếng nhục. Thế mà người HN còn ngồi ăn, ăn đi ăn lại, và nhăn nhở cười! Đó là một dạng bạo lực tinh thần không thể chối cãi.

Nhiều người Sài Gòn và khách nước ngoài lấy làm ngạc nhiên về điều này lắm, hỏi bạn bè rằng, có phải người HN lấy văng tục chửi thề và khạc nhổ làm đầu vị để khẳng định bản sắc không?

Ta có thể tựa vào đám di tích văn hoá lịch sử của cổ nhân để lại để kể lể về bản sắc và hồn cốt dân tộc? Những chùa đình miếu mạo sau trùng tu tổn phí biết bao mồ hôi nước mắt của dân, đang nói lên điều gì?

Theo nhận định của nhiều người trong giới báo chí và giới chuyên môn, thì cần phiên dịch lại cho đúng khái niệm. “Tôn tạo” cần được hiểu là “đổ tiền dân vào để phá nốt”.

Đa phần các di tích đành ngậm ngùi lâm cảnh mất mát rất nhiều cổ vật, với những những đường nét, nghi trượng mới tạo nên bằng bê tông với những bàn tay thô vụng, đứng tẽn tò phô sự giả tạo trước khách thập phương.

Sự hãi hùng quyền lực trong lề thói cầu cúng, không khí hối lộ và mua chuộc, tham lam khẩn thiết xin xỏ vật chất đã hoàn toàn thoán đoạt tín ngưỡng và tôn giáo thuần khiết. Thật đáng sợ khi vào các đền chùa đình miếu ở khu vực HN.

Khấn lạy van vái quyền lực ở cõi dương khốn khổ nhục nhã thế chưa đủ, người ta hăng hái hối lộ cõi âm, dùng cả đến những hành vi bỉ ổi do đám buôn thần bán thánh xúi giục, nhét cả tiền vào tay các pho tượng thần phật để cầu lợi. Những hòm công đức mọc lên như nấm tại các đền chùa miếu mạo là thí dụ cực kỳ nhục nhã đối với sự xuống cấp của nhân cách sống, thế giới tinh thần và tín ngưỡng của HN và người Việt Nam nói chung.

Rồng sẽ bay trên bầu trời nào? Liệu có còn thấy được rồng bay?

Còn làm gì được nữa với một HN cũ – nhiều người nói vớt vát rằng nó cổ. Không nhúc nhích được. Không sửa chữa được. Định mệnh của những kẻ sinh ra và sống ở HN này là mở mắt ra là phải nhìn thấy cái xấu, cái vỡ vụn, cái quái thai hậu quả của một nền giáo dục và kiến trúc, văn học nghệ thuật được chăng hay chớ, thiếu thẩm mỹ cho đến nay đã phát tác đến đỉnh.

Theo khảo sát của ngành du lịch thì hơn 85% du khách đến HN chỉ một lần, không quay lại. Những ưu điểm như cảnh sắc thiên nhiên phong phú tươi đẹp, giá sinh hoạt còn rẻ so với giá ở những nước phát triển, tàn tích của lối sống lộn xộn quê kiểng ở một xứ sở còn nhiều mông muội pha lẫn sự hối hả ban đầu của thời kỳ tư bản hoá còn có thể nhìn thấy ở VN không đủ kéo du khách trở lại bởi sự bẩn thỉu cổ lỗ của những phương tiện đi lại, sự thiếu linh hồn văn hoá và không giữ chữ tín của dịch vụ cùng tai nạn giao thông rình rập.

Phác thảo bức tranh HN

Để mô tả bức tranh HN ngày nay, lại là những nét phác thảo “nhát gừng”, làm nhức mắt người xem.

HN là:

Là khoảng 700 cái hồ tự nhiên hồi đầu thế kỷ 20 nay đã bị ám sát gần hết, chỉ còn khoảng 44 chiếc, và đang biến thành ao.

Là mấy dòng sông đẹp đựơc biến thành cống rãnh.

Là phố cũ HN bẩn thỉu, nhếch nhác được tự an ủi thành phố cổ và mấy chục năm nay vẫn chưa biết nên bảo tồn và tôn tạo thế nào.

Là hầu hết di tích gặp nạn trùng tu tôn tạo mà hồn lìa khỏi xác.

Là một nền học thuật và văn hoá phong tục lễ nhạc dựa vào chữ Hán và văn hoá Trung hoa làm gốc và ngày nay nhiều người còn nô lệ tới mức khấn khứa cầu xin van vái cũng phải bằng chữ nho (chữ Hán), trong khi 99,9% thần phật ông bà cha mẹ tổ tiên ngự ở trên kia không biết lấy một chữ Hán bẻ đôi.

HN là nơi nhiều người tham nhũng nhất nước. HN là nơi tỉ lệ người cân gian đong thiếu, trộm ngày cướp ngày, nói năng tục tĩu và nói xấu sau lưng nhau nhiều nhất nước và văn hoá thô tục được người ta sử dụng như một cách khẳng định cá tính và ăn trên ngồi trốc thiên hạ.

Những đường phố thơ mộng của HN xưa, nay là những dòng sông người ăn mặc xấu xí bởi áo chống nóng khăn bịt mặt vì quá ô nhiễm, như cả một thế giới khủng bố, một thế giới nặc danh, đi lại hết đờ đẫn là náo loạn trong tiếng động cơ xe rền vang và tiếng còi xé tai. Xê dịch như một đàn kiến đã bị tước bỏ lý trí.

Những công trình chào mừng ngàn năm Thăng Long chủ yếu mang tính hình thức, chủ yếu đầu tư vào lễ hội và công trình xây dựng tốn kém đáng ngờ, mang tính đối phó ăn xổi ở thì...

Cái đẹp và văn hiến Thăng Long, đương nhiên chưa phải đã chết. Nhưng khi cái đẹp chỉ còn rơi rớt đâu đó mà ngoi ngóp ngộp thở trong cái xấu, cái thô lậu, con người vin vào đâu để đảm bảo cho sáng tạo tương lai?

Văn hiến là gì? Có thể có nhiều cách hiểu.

Nhưng không thể quan niệm văn hiến như một mớ thư tịch, khuôn phép, trước tác ...đã định hình và được đóng thành khuôn mẫu. Văn hiến được xây dựng, bồi đắp từ các cư dân trong cộng đồng, luôn vận động và thích ứng để cuối cùng, phục vụ cho nền văn minh và chất lượng sống của con người. Về đại thể, văn hiến chỉ trạng thái phát triển của mỗi dân tộc. Trạng thái đó bộc lộ khả năng khắc phục tình trạng sơ khai, thấp kém lạc hậu để vươn tới sự tiến bộ, cao đẹp hơn, với sự phong phú của đời sống tinh thần. Văn hiến còn bao gồm một nội dung hết sức quan trọng khác, là phải tạo môi trường đào tạo được những con người ưu tú cả về trí tuệ, phẩm cách, tài năng cho đất nước.

Một khi nền văn hiến suy vi, đương nhiên ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng sống của con người.

Ám sát văn hiến, cũng có nghĩa là một nền văn minh và tương lai bị ám sát.

Lâu nay, người lạc quan nhất thì cũng nhận thấy rằng nền văn hiến HN đã suy vi tột độ. Thì phải có thủ phạm chứ.

Nếu nhận diện không trúng thủ phạm, lại tự an ủi bằng cách đổ quanh cho nhau, thì nền văn hiến lại cứ bị “ám sát” tiếp.

Ai?

Dân nhập cư đã “ám sát” văn hiến?

Một số người HN thường hay nói rằng, chúng tôi vốn thanh lịch lắm, chúng tôi làm nên nền văn hiến Thăng Long, chẳng qua dân nhập cư tứ chiếng đến đây bê nguyên những thói hư tật xấu của họ về làm xấu mặt thủ đô đấy thôi.

Có đúng không? Phải chăng người HN đã bắt được thủ phạm ám sát nền văn hiến Thăng Long và chỉ đích danh: dân nhập cư!

Vậy, dân nhập cư là ai?

Quan niệm về dân nhập cư càng ngày càng mở rộng nội hàm. Dân nhập cư bao gồm những người đến từ các địa phương trong cả nước và cả đến từ các quốc gia khác trên thế giới.

Ta hãy xét xem, có phải dân nhập cư là thủ phạm ám sát nền văn hiến không?

HN, vốn xưa là Đại La thành, dân cư thưa thớt, đánh cá buôn bán nhỏ và cày ruộng. HN năm 2010 dân số khoảng 5 triệu người. Và trong một tương lai gần, HN là thủ đô có tới khoảng 10 triệu dân.

Ta có thể nhìn rõ trong dân số hùng hậu đó, tỉ lệ cơ bản là người nhập cư.

Về cội nguồn, HN từ trước đến nay, là TP của người nhập cư. Ngay cả Lý Thái Tổ – tức Lý Công Uẩn – người sáng lập kinh thành Thăng Long lại càng đích thị là dân nghèo nông thôn từ ngôi làng heo hút Cổ Pháp, Tiên Sơn, Hà Bắc nhập cư về kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) rồi về HN. Đến Hồ Chí Minh – người khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà – cũng là dân nhập cư. Và hiện nay, tỉ lệ những người nhập cư chiếm phần lớn trong hầu khắp các cấp lãnh đạo đảng và chính quyền VN, chưa kể các tầng lớp văn nghệ sĩ và các nhà khoa học, nhà kinh doanh...

Chính bản thân người nhập cư, bằng mồ hôi nước mắt và máu của mình, đã làm nên HN, từ thuở bán khai, từ thuở Đại La thành, rồi cho đến khi Lý Thái tổ dời đô từ Kinh Hoa Lư về, năm 1010, đặt tên là Thăng Long thành.

Bởi thế, sẽ thậm vô lý, nếu quan niệm HN tách rời khỏi những người nhập cư và ngược lại.

HN là Kẻ chợ. Cội nguồn HN là Tứ chiếng. Động mạch nuôi sống kinh đô là hợp lưu của những dòng máu tứ chiếng. Bản chất của kinh đô là dung nạp. Là cái miệng phễu tham lam không đáy thu hút nhân tài tứ chiếng đem về xây dựng, tôn tạo nên nền kinh tế, nền văn hiến và cuối cùng là để tạo nên nền văn minh Thủ đô, tạo nên một kinh thành ánh sáng về mọi mặt, để làm đầu tàu cho cả nước đi tới tương lai tươi sáng.

Nếu một thủ đô, một thành phố, ngay cả một vùng nông thôn, mà không thu hút được người nhập cư, để thu hút tài năng, kinh nghiệm, sức sáng tạo của tứ xứ về làm giàu và làm vui cho vùng đất mình, thì đó là một xứ sở tù đọng và rất dễ chết yểu do bế quan toả cảng và tăm tối.

Đất Thủ đô thời phong kiến là nơi tổ chức những cuộc thi đình và nhiều cuộc thi khác để chọn người tài. Nơi đây trong nhiều năm là cơ hội rồng mây của những hàn sĩ thức chảy máu mắt, dùng ánh sáng đom đóm để học hành tu luyện. Qua lối mở của cách quản lý nhân khẩu và cư trú, qua những cuộc sát hạch ngặt nghèo, người nghèo có năng lực cũng được ngang bằng cơ hội với những công tử, những phú hào trong việc được vua giao những trọng trách gánh vác sơn hà xã tắc và trở nên sang quý bằng kiến thức và ý chí.

Tiếp nối truyền thống đó, đất thủ đô trong chừng ấy năm cho đến ngày nay, đã vớt vát được nhiều học sinh nghèo thực sự có năng lực và bền bỉ. Bằng thi cử, bằng nỗ lực, họ đã có nhiều cơ hội gia nhập vào đội ngũ trí thức và tầng lớp kinh doanh, tầng lớp lao động công nghệ cao, làm nên dưỡng chất nuôi sống HN cả về tinh thần và vật chất.

Cần phải phân định rõ rằng, nếu nền văn hiến HN có bị suy vi, hay những tình trạng tồi tệ đó xẩy ra ở bất kỳ nơi đâu tại VN và trên thế giới, thì hoàn toàn không chỉ do dân nhập cư, cũng không chỉ do dân sở tại (cần nói rõ là dân HN gốc là dân nhập cư sớm hơn so với dân HN mới nhập cư gần đây). Đổ tội cho dân nhập cư là đổ tội cho chính mình. Đó là một nhầm lẫn khiến cho tình trạng càng thêm thảm hại.

Và do nhầm lẫn về nhận định “thủ phạm”, nên gần đây, có một số biện pháp từ phía những người có trách nhiệm thể hiện một thái độ phân biệt đối xử rất rõ ràng với người nhập cư HN.

Cụ Lý Công Uẩn bị từ chối nhập cư

UBND TP HN hiện có dự án Luật Thủ đô (DL) trình Quốc hội (đã soạn thảo đến lần thứ 4 – dự dịnh ban hành nhân kỷ niệm ngàn năm Thăng Long nhưng có nhiều ý kiến phản đối nên tạm hoãn, dự định thông qua và công bố năm 2010). Trong bản DL có nhiều vấn đề bất cập.

Thứ nhất là, có cần phải ban hành luật Thủ đô không?

Trước hết, ban hành Luật Thủ đô là không hợp hiến. Theo ông Trần Thế Vượng, Trưởng Ban dân nguyện của Quốc hội, Hiến pháp không có quy định riêng về Thủ đô. Ý kiến của nhiều luật gia và đại biểu Quốc hội là có một số điều DL trái với Hiến pháp. Chẳng hạn quy định cho HĐND TP HN quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong khi Hiến pháp quy định chỉ có Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Rõ ràng, nếu ban hành Luật thủ đô thì các thành phố khác cũng có cớ để xin ban hành luật riêng cho các tỉnh, thành phố của họ. Chẳng hạn, TP Sài Gòn, là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, đóng góp phần lớn GDP, họ có lý do để đề nghị ban hành Luật TP đặc thù? Điều này sẽ dẫn tới tình trạng khu biệt và cát cứ quyền lực, dễ bị lạm dụng.

Theo công bố của Bộ Tư pháp, trên thế giới rất hiếm nước có luật thủ đô, chỉ trừ một số nước theo mô hình Liên bang như Canađa, Ấn Độ... Cho một thủ đô, chỉ cần quy chế là đủ.

Thứ hai, DL có những quy định ngăn trở quyền tự do đi lại và tự do cư trú của công dân như điều 68, điều 55 của Hiến pháp và điều 5 Bộ luật lao động VN. Bên cạnh đó, những quy định này cũng vi phạm điều 23 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá mà VN đã gia nhập và ký cam kết thực hiện từ nhiều năm nay.

Theo DL, người nhập cư phải tạm trú liên tục 5 năm mới có hy vọng được chấp nhận thường trú HN, trong khi Luật cư trú quy định một năm là đủ điều kiện. Chưa kể một bất công khác: khoản 2 điều 19 dự thảo quy định về điều kiện làm việc tại HN phải có Giấy phép lao động do Sở Thương binh Xã hội của thành phố cấp. Đây là một điều khoản gây kinh hoàng cho những công dân đã thấm thía thế nào là thủ tục hành chính và nạn giấy tờ ở HN nói riêng và VN nói chung!

Trên thực tế, việc phân biệt đối xử ấy cũng sẽ không ngăn cản được dòng công dân nhập cư về HN do điều chỉnh tự nhiên của chuyển dịch cơ học dân số. Dẫu cho số người này sẽ họ bị bần cùng hoá do bị phân biệt đối xử, con cái của họ bị gạt ra ngoài lề xã hội không được vào các trường học, bệnh viện, các loại bảo hiểm và phúc lợi xã hội khác như đã từng xẩy ra... Như thế, chẳng những không kiểm soát được mà còn là ngược đãi người lao động lương thiện và làm cho bộ mặt thủ đô càng nhếch nhác hơn.

Xét về phương diện hợp hiến cũng như hợp tình hợp lý, việc ban hành Luật thủ đô là không cần thiết, là xác định sai thủ phạm “ám sát” nền văn hiến và văn minh HN, gây phân biệt đối xử, nạn giấy tờ, nạn sách nhiễu, ảnh hưởng đến quyền con người và hạn chế sự phát triển tự nhiên của Thủ đô.

Để xây dựng một Thủ đô HN có văn hiến và văn minh, không thể dùng các biện pháp hành chính thô bạo, hẹp hòi, những luật lệ riêng biệt để hạn chế người nhập cư và ngăn trở cơ hội thi thố tài năng, cơ hội việc làm của những người nghèo trong cả nước.

Hầu hết các đế vương khởi nghiệp tại Việt Nam đều xuất thân từ con nhà nghèo và từ những miền xa tới, do tài năng mà “nhập cư” về kinh đô. Giả sử thời đó, các đế chế, hoặc những vị cai quản đất Hoa Lư, đất Thăng Long hay đất Huế...mà có chủ trương hạn chế người nghèo nhập cư như bây giờ, thì lịch sử VN đã không là những trang sử anh hùng quật cường như thế này.

Một so sánh có thể khập khiễng, nhưng không phải không có cớ để liên tưởng, dù là một giả tưởng hài hước. Nếu hồi cuối thế kỷ 10, đầu thế kỷ 11, tại kinh đô Hoa Lư, thời Lê Ngọa Triều – vị vua nổi tiếng tàn ác nhất trong lịch sử VN – mà áp dụng những điều khoản hạn chế người nhập cư tương tự dự luật Thủ đô bây giờ, thì Lý Công Uẩn sẽ bị trục xuất ra khỏi nội đô Hoa Lư. Không có cơ hội Lý Công Uẩn vào kinh, lĩnh chức Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ, có dịp lên ngôi vua khi Lê Ngọa Triều chết. Thế càng không có chuyện dời đô, sáng lập kinh thành Thăng Long vào mùa xuân 1010!

Máu và nước mắt cùng trí tuệ, tài năng của dân tứ xứ đã để lại, đã hoà nhập cùng người HN bản địa để làm nên kinh đô này từ bao đời. Phân biệt đối xử, bạc đãi họ bằng những quyết định hành chính vội vàng, vi hiến là xoá bỏ cơ may duy nhất còn lại của HN, và quan trọng hơn, xoá bỏ điều kiện sinh tồn cốt tử của đất Kẻ chợ này.

Vậy thủ phạm “ám sát” nền văn hiến là ai?

Về trình độ văn hoá mà nói, thì trình độ cư dân HN hiện nay cao hơn rất nhiều so với cái thời còn gọi là Tràng An. Thời đó dân HN nội đô còn lội bùn, răng đen mắt toét, nhiều người mù chữ. Cái lối “giấy rách giữ lề”, ăn mặc cử chỉ thanh lịch, chỉ xuất phát từ trong số rất ít các nhà nho, nhà quan lại...

Số lượng người này chỉ đếm trên đầu ngón tay. Thế nhưng ảnh hưởng của lề thói ấy lại có sức lan truyền lớn đến xã hội, khiến cho những người mù chữ nơi thôn quê cũng tự thấy thuyết phục bởi cái hay, cái đẹp mà làm theo.

Cái hay, cái đẹp trong văn hoá và lề thói không phải bao giờ cũng đi cùng với cái tiện lợi và điều kiện vật chất. Chẳng hạn như thói quen mặc áo dài (có thể là áo tứ thân với nữ, áo lương khăn xếp với nam...) khi đi ra cộng đồng. Thời ấy, người dân VN còn rất nghèo, nhiều khi cả mấy người trong nhà mới chung nhau may được một manh áo lành, mà công việc lao động thì rất lam lũ, nặng nhọc, đường sá thì lẩy lội. Còn ngày nay, khi vải vóc và điều kiện mua sắm, điều kiện lao động, giao thông đi lại được cải thiện lên hàng vài chục lần, thì người HN và nhiều nơi trong cả nước lại ăn mặc xốc xếch, đồ bộ quăn queo, quần đùi áo may ô đi ra đường và đua nhau nói tục chửi bậy, đua nhau côn đồ lừa lọc.

Như thế, vấn đề nằm ở đâu?

Để trả lời câu hỏi này, cần những công trình khảo cứu nghiêm túc của các nhà chuyên môn để đề ra những biện pháp hữu hiệu cứu vãn.

Một điều mà mọi người đều thừa nhận, là chính những người có vị thế, có trách nhiệm, các chức sắc, các nhà quản lý văn hoá, các văn nghệ sĩ, trí thức trong xã hội, trước hết, phải có trách nhiệm trở thành những hình mẫu đẹp, thanh lịch, có trí tuệ, phẩm cách, ứng xử đẹp... Sự tuỳ tiện, tham nhũng, thiếu thẩm mỹ, kém văn hoá, tính vật chất thực dụng thô thiển ở nhiều người trong đội ngũ tầng lớp trên này đã khiến dân chúng tuyệt vọng, thậm chí còn muốn phá bĩnh như một cách đối phó hoặc xả bớt nỗi tức giận.
Cần phải thừa nhận một thực tế rằng, thủ phạm của việc ám sát văn hiến, trước hết nằm ở chính những người có trách nhiệm.Với cây quyền trượng trong tay, những người lãnh đạo có thể xây dựng văn hiến hoặc nhanh chóng ám sát văn hiến.

Để cứu vãn: cần cam kết một Khế ước văn minh

Với thời đại mang vận tốc chóng mặt như hiện nay, nếu để tính dã thú tự do khuynh loát, thì không khác gì ta mua chiếc máy bay phản lực rồi đặt một dã thú lên ghế điều khiển bay. Dã thú di chuyển với tốc độ máy bay phản lực, tác hại là khôn lường.

Nếu những người quản lý xã hội không kiềm chế được tính dã thú, thì mọi nỗ lực của cộng đồng sẽ bị vô hiệu hoá và mỗi ngày qua là lùi một bước trở về thời dã man. J.J.Rouseau, nhà văn, nhà triết học thuộc trào lưu Khai sáng ảnh hưởng đến cuộc Cách mạng Pháp 1789, ngay từ năm 1762 đã cay đắng mà viết rằng “Những tâm hồn thấp kém không thể thấu hiểu các bậc vĩ nhân. Cũng như những kẻ nô lệ thì nhe răng cười nhạo khi nghe hai tiếng Tự do...”.

Một đất nước muốn phát triển, đạt đến mục tiêu hạnh phúc cho mỗi người, thì đất nước ấy không thể thiếu những nhà lãnh đạo và công dân có tri thức, có lương tri, có lòng cao thượng và văn minh. Sự tăm tối và giáo điều, sự nô lệ trong hành xử và tư tưởng, nhất là trong thời đại ngày nay, chắc chắn sẽ đưa đến thảm hoạ.

Nhiều kinh thành sở dĩ trở thành Kinh đô ánh sáng, chính vì trước hết, bao nhiêu thế hệ các điền chủ, các chức sắc, các nhà quý tộc và các tổng thống, các Thủ tướng, lãnh đạo chính phủ và các địa phương, thành phố sau này đã biết chịu học hành, rèn luyện, học cách thưởng thức cái đẹp, trau dồi nhân cách và thẩm mỹ, bổ sung và cập nhật kiến thức về văn hoá, khoa học,văn học nghệ thuật.

Trong cuộc đời của họ, nhiều người đã đầu tư phần lớn tài sản cho các công trình kiến trúc, nghệ thuật, bảo trợ sáng tác cho các hoạ sĩ, nhà văn, nhạc sĩ, nhà khoa học… có thực tài và sau đó, những công trình này lập tức trở thành tài sản quốc gia.

Họ hiểu rất rõ một chân lý: sự sang trọng và quý phái, trước hết và cuối cùng, chỉ là sự sang trọng về văn hoá và văn minh chứ không nằm ở tiền bạc. Trọc phú là một tình trạng đáng xấu hổ. Paris hẳn đã khác nếu các nhà chức sắc của Pháp chỉ quan tâm đến việc tiệc tùng, vui chơi giải trí, ăn nhậu hưởng lạc, làm nô lệ cho tiền bạc và không hiểu biết gì về văn học nghệ thuật...

Rõ ràng, trình độ văn hiến và văn minh của một địa phương nào đó tự nó quảng cáo hoặc tố cáo, tự nó phơi bày tầm nhìn, khả năng lường trước vấn đề, trình độ, trách nhiệm và thẩm mỹ của những chức sắc - những người có trách nhiệm - giai cấp lãnh đạo - tầng lớp trên của địa phương đó. Thực trạng ấy, dẫu có dùng các phương tiện vật chất để che đậy cũng không có tác dụng và càng che đậy chỉ càng thảm hại mà thôi.

Trụ đỡ cho văn hiến, hạnh phúc cho mỗi công dân cũng như của mỗi quốc gia, chính là mọi người phải cam kết một Khế ước văn minh và hành động. Trước hết từ phía những nhà quản lý rồi tới các công dân.

Trong quá khứ, cha ông ta rất cần cù lao động, nhưng đã để lỡ cơ hội đổi mới và phát triển để theo kịp đà tiến của những nước như Nhật Bản. Nhật Bản đã từ một nước kiệt quệ, phong kiến bảo thủ, lệ thuộc giáo lý Khổng Tử và Trung Quốc, trở nên một cường quốc đứng thứ ba thế giới về kinh tế, xã hội cũng như các phát minh sáng tạo, tự do dân chủ và phúc lợi cho người dân. Cũng nhờ thế, Nhật Bản là nơi có nền văn hiến bền vững thuộc loại nhất nhì thế giới. Có được điều đó là nhờ tinh thần khai sáng quyết liệt, mang tên “Thoát Á luận” mà Nhật Bản đã tận dụng rất hiệu quả trong những năm đầu thế kỷ XX. Đặc biệt tinh thần khai sáng này được hưởng ứng và nhân rộng trong giới trí thức và văn nghệ sĩ Nhật Bản, được sự thực hiện mạnh mẽ của vua Minh Trị.

Như thế, nhờ những cam kết văn minh, nhìn thẳng vào thực trạng của chính mình và nhận thức rõ những điều kiện và thách thức của thời đại mà Nhật Bản đã thoát khỏi cái vỏ chật hẹp, vươn mình lớn dậy thành người khổng lồ. Cũng chỉ cần một khởi đầu quyết liệt khai sáng như vậy, cả trăm năm nay, Nhật Bản đã vững bước tiến trên con đường phát triển, mang vận tốc nằm trong tốp các nước tiền phong nhất của thời đại.

Trong khi đó, rất nhiều nước trong phần còn lại của thế giới, cho đến nay, vẫn tiếp tục trong mớ bòng bong tự mãn của mình, chưa thôi bị giam hãm trong những chiếc “túi da” chật hẹp, luôn sợ hãi và chỉ trích kẻ khác chỉ để cố thủ, chỉ loay hoay cố gắng trong việc bắt chước, mô phỏng từ văn hoá tới công nghệ, bán sức lao động rẻ mạt hoặc cho thuê, bán đất đai tài nguyên ngày càng cạn kiệt. Càng sợ hãi càng cố thủ, những đất nước phát triển theo kiểu ấy càng dễ mất danh dự, thời cơ, biến thành bãi thải công nghệ của các nước phát triển, hoặc bằng mọi giá cung cấp hàng hoá và sức lao động giá rẻ nhưng kém phẩm chất, mang tính lừa đảo, cho đến lúc bị thế giới tẩy chay.

Việt Nam đang cần một sự khai sáng quyết liệt. Một cam kết thực hiện Khế ước văn minh. Nếu không bắt đầu từ bây giờ, sẽ là quá muộn và tất cả chúng ta đều bị tổn thương, đều bị lụi tàn bởi tình trạng dã thú này, kể cả những người ở tầng lớp có quyền lực lớn.

Có những vận hội mới. Nếu biết tận dụng, sẽ vãn hồi nền văn hiến, đem lại văn minh, hạnh phúc và danh dự cho người Việt Nam. /.

Một góc nhìn về thực trạng của Văn hóa Việt

Học nơi người không phải là tự ti. Học để làm bồi họ (làm thông, làm phán) mới là điều nhục. Học để “sáng sữa bò tối sâm banh,” “để võng anh đi trước, võng nàng theo sau” để đè nén thiên hạ, vinh thân phì gia “một người làm quan, cả họ được nhờ,” đó chính là cái học ngu dân và nô lệ. Một cái học phản giáo dục. Cái học thật phải là cái học để tự lập, để vươn lên, để hay hơn, để hoàn hảo hơn. Đó chính là cái học vượt khỏi tình trạng trì trệ hiện tại. CÁI HỌC TIẾN BỘ.

Văn hóa vốn là linh hồn của một dân tộc. Thân thể bệnh tật, một phần chính vì tâm linh bất toàn. Thế nên, ta có thể lý luận cho rằng sự trổi vượt hay thua kém của bất cứ một dân tộc nào đều phản ánh nơi văn hóa của họ. Một dân tộc bất khuất hay nhu nhược, thông minh hay ngu độn, nhân đạo hay tàn ác... đều có thể biết được qua chính nền văn hóa. Với một nền văn chương thi ca toàn những câu tâng bốc, những ngôn từ sặc máu, đầy ắp khích động hận thù, ta khó có thể tưởng tượng được dân tộc ấy nhân đạo, cương trực, liêm chính.

Với tập quán xôi thịt, với phong tục tranh quyền cố vị, với nền “đạo đức” ăn trên ngồi chốc, xã hội như vậy chỉ có tranh chấp, đấu tranh và tham nhũng, nhưng không thể có tiến bộ. Những nhận xét của nhiều thức giả - từ thời Nam Phong tạp chí, qua thời Tự Lực Văn Đoàn tới thời nay, từ thời Phan Khôi, Vũ Trọng Phụng tới thời Nguyễn Gia Kìểng - về tính chất tiêu cực của văn hóa Việt hẳn không phải chỉ là sản phẩm tưởng tượng của nhóm trí thức “trưởng gỉa” thích “vạch áo cho người xem lưng” Làm sao chúng ta có thể giải thích được sự kiện, từ những đống gạch vụn, kẻ bại trận Nhật và Đức đã thành hai cường quốc kinh tế, khoa học và kỹ thuật. Trong khi cũng trên 30 năm hòa bình, tài nguyên giàu hơn Nhật và không kém Đức, người chiến thắng vẫn cầm đèn đỏ trong rất nhiều lĩnh vực.

Chúng ta thường đổ lỗi cho ngoại bang. Không chỉ có thế. Nam Hàn, Do Thái, Đài Loan đều bị ngoại bang đe dọa và chi phối. Nhưng họ vẫn phát triển, vẫn giầu. Hay là do chính sách, thể chế sai lầm? Cũng không hẳn như vậy. Ấn Độ có một thể chế dân chủ vào loại nhất Á châu, nhưng vẫn tụt lùi gần như trong mọi lãnh vực khác, ngay cả nhân quyền. Chính sách của Tân Gia Ba (Singapore) chẳng có dân chủ tí nào, nhưng lại làm nước này cường thịnh. Vậy thì, nguyên nhân chính yếu có lẽ là chính văn hóa. Bởi lẽ thể chế, chính sách luôn gắn liền với văn hóa, với lối suy tư. Có phải đó là NỀN VĂN HÓA “NHẪN NHỤC”?

Qúa nhẫn nhục đến thành hèn nhát, bất lực! Đầu thế kỷ thứ 20, Lỗ Tấn đã vạch trần mặt trái của một nền văn hóa nhẫn nại, phục tùng, thụ động của Tàu. Vào cuối thế kỷ, biết bao trí thức Việt cũng đã mổ xẻ cái bướu bất trị này trong văn hóa Việt. Có phải đó là nền văn hóa “con rùa” (hay lạc đà)? Nhà Thanh đã làm gì để đối phó với Tây phương? Nhà Nguyễn đã làm gì để chống chọi người Pháp? Bế quan, tỏa cảng! Từ chối giao tiếp, từ chối đối thọai, từ chối tiếp nhận! Sát hại những ai dám tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Để rồi chịu nhục vì bát quốc Liên Minh! Để rồi bị Pháp đô hộ cả gần 100 năm! Đó là tư cách con rùa rụt cổ vào vỏ, con lạc đà chui đầu trong cát. Đó là một nền văn hóa trốn trách nhiệm: trên đổ cho dưới, dưới đổ cho dân ngu cu đen. Đó là nền văn hóa kín cổng cao tường, một nền văn hóa trì trệ. Đó là một nền văn hóa lệ thuộc, thích làm bồi Tây, bồi Mỹ, bồi Nga, vân vân. Một nền văn hóa như vậy, thì cả ngàn năm sau, cho dù bất cứ ai cai trị đi nữa, thì chính thể vẫn thế, chính sách vẫn vậy.

“Sự thật mất lòng” nhưng “thuốc đắng đã tật.” Đã đến lúc mà ta PHẢI TRỰC DIỆN VỚI CHÍNH NỀN VĂN HÓA CỦA MÌNH. Nhận ra khuyết điểm, học hỏi phương thế chữa chạy, đó chính là những bước đầu tất yếu trong công cuộc xây dựng nền văn hóa của mình. Chẳng có gì đáng xấu hổ khi nhận ra sự yếu kém của mình. Chỉ đáng buồn khi chúng ta cứ cố ý tự lừa mình, như con bò tự thổi phồng nó lên. Chỉ đáng sợ nếu chúng ta vẫn chưa bỏ được tâm thức của con ếch nằm dưới đáy giếng nhìn thiên hạ. Chỉ còn trì trệ khi mà ta “không biết mình, cũng chẳng biết người.” Và chỉ còn là cái chết khi mà văn hóa lệ thuộc, nịnh hót, đầu độc làm ta chán ghét, hãi sợ sự thật (trung ngôn nghịch nhĩ) và chạy theo hưởng thụ.

Chúng ta thử hỏi. Cao Bá Quát đã có “công gì với núi sông” cho ngay cả khi ông đã “nắm được ba bồ chữ trong tất cả bốn bồ chữ của thiên hạ”? Thực ra, Cao Bá Quát, Lê Văn Siêu, Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương chỉ là đại biểu cho những người chủ trương nền “văn hóa trì trệ” (nói theo nữ sĩ Lê Thị Huệ). Sẽ chẳng bao giờ có tiến bộ ngay cả khi câu khoe khoang “Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán, Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường” có thật đi nữa. Tại sao cứ phải so mình với người Tàu, người Tây. Tại sao ta không dám nghĩ, dám làm, và dám vượt họ?

Với một não trạng “NGẠO MẠN VỚI NGƯỜI MÌNH, TỰ TI VỚI NGƯỜI NGOÀI” như vậy, làm sao mà có tiến bộ. Làm sao mà ta “ngóc đầu” lên được! Tại sao cứ phải đao to búa lớn với bốn ngàn năm văn hiến, với hàng ngàn tiến sĩ khắc trên bia Văn Miếu, khi mà ngay cả một chiếc xe đạp ta cũng không thể tự chế tạo? Chúng ta có hàng vạn thi sĩ, nhưng có mấy ai ảnh hưởng tới cả nhân loại như Dante, Goethe, Shakespear, vân vân? Có phải đại thi hào chỉ là loại thợ thơ ca tụng lãnh tụ (gồm cả lãnh tụ nước Nga, nước Tàu), với sáo ngữ, tuy mỹ lệ nhưng trống rỗng, vô thực? Nếu chỉ có thế thì, nói theo Nguyễn Du, “rằng hay thì thật là hay” nhưng mà “nghe như ngậm đắng nuốt cay thế nào”!

Đã đến lúc chúng ta phải biết THỨC TỈNH, PHÊ BÌNH và HỌC HỎI. Bài học bế quan tỏa cảng của Tàu, bài học nước Đức, nước Mỹ, nuớc Nhật và cả nước Tân Gia Ba (Singapore) là những bài học ta không được phép quên. Ngẫm người lại nghĩ đến ta. Cái gì đã làm người ta thay đổi? Cái gì đã làm họ phát triển? Và cái gì đã làm ta lạc hậu?

Tính ngạo mạn từ thời cha ông cho tới ngày nay (tự cho mình cái gì cũng nhất thế giới) đã làm cho nước Tàu “vĩ đại” lẹt đẹt, đã làm bốn ngàn năm văn hiến An Nam lẽo đẽo. Óc tự ti đã khiến ta lệ thuộc vào văn hóa Tàu, rồi Pháp, rồi Nga và, ngày nay, Mỹ. Ta chỉ mong được phần nào giống Tàu, giống Tây, giống Nga, giống Mỹ. Ngược lại, NGƯỜI ĐỨC không thế. Bài học bại trận, bị cưa cắt đất đai, bị phân tán thật chua cay bi đát đã giúp người Đức nhận ra sự thua kém của họ. Chẳng cần tự hào với “bốn ngàn năm văn hiến,” họ đã có thể trở thành đầu óc của nhân loại với những Kant, Hegel, Marx, Einstein, Heisenberg, Beethoven, Brahms, vân vân. Từ một đám dân hỗn tạp, MỸ đã trở thành đại cường quốc trong vòng hai thế kỷ, và dẫn đầu thế giới gần như trong tất cả mọi lãnh vực. Với một nguồn nhiên liệu ít ỏi, tài nguyên hạn hẹp và đầy thiên tai, NHẬT đã làm thế giới khâm phục và khiếp hãi.

Gần ta hơn, chỉ với vài ba triệu dân, một mảnh đất nhỏ xíu, với khoảng 40 năm lập quốc, và luôn trong tình trạng bị Mã Lai to lớn đe dọa, Tân Gia Ba (SINGAPORE) đã biến thành một con rồng nhỏ. Lợi tức người dân cao thứ nhì sau Nhật ở châu Á, và được tiếng thơm là sạch sẽ, trật tự và an toàn vào loại nhất thế giới. Chẳng cần phải nói, cái tinh thần làm cho các nước trên tiến bộ, chính là nên văn hóa của họ. Người dân Tân Gia Ba (Singapore) không rêu rao bốn hay năm ngàn năm văn hiến. Họ chỉ cầu tiến. Văn hóa của họ là VĂN HÓA CẦU TIẾN, chứ không phải là văn hóa hoài cổ, nệ cổ và trì trệ. Họ không bắt chước người khác như con vẹt hay con khỉ. Họ học từ Mỹ và Âu châu, không phải để giống như những nước da trắng, nhưng để vượt khỏi chính những nước thầy này.

Chỉ riêng về giáo dục, vào thập niên 1990s, họ đã đủ sức tranh đua với Âu Mỹ (Năm 1987, thủ tướng Lý Quang Diệu đã dám tuyên bố là Đại Học Quốc Gia Tân Gia Ba (Singapore) không những không thua, mà còn khá hơn nhiều đại học lớn của Âu châu). Và gần đây, nền giáo dục của nước tí hon nay đã trở thành mẫu mực nhiều nước phải học. Đại học của Tân Gia Ba (Singapore) tranh đua nhiêng ngửa với những đại học thời danh nhất của Anh như Oxford và Cambridge. Ngược lại, đại học tốt nhất của Việt nam vẫn thua xa các đại học Thái Lan tới 15 hay 20 lần (theo Giáo sư Hoàng Tụy trong bài phỏng vấn trên Vietnam Express, 8.2005).

Học nơi người không phải là tự ti. Học để làm bồi họ (làm thông, làm phán) mới là điều nhục. Học để “sáng sữa bò tối sâm banh,” “để võng anh đi trước, võng nàng theo sau” để đè nén thiên hạ, vinh thân phì gia “một người làm quan, cả họ được nhờ,” đó chính là cái học ngu dân và nô lệ. Một cái học phản giáo dục. Cái học thật phải là cái học để tự lập, để vươn lên, để hay hơn, để hoàn hảo hơn. Đó chính là cái học vượt khỏi tình trạng trì trệ hiện tại. CÁI HỌC TIẾN BỘ.

Khi 90 triệu người cùng quyết... làm quan!

Đa số sĩ tử trong các cuộc thi đều mong mình may mắn thi đậu để được làm Quan chứ không phải vì mục đích cao cả hay quốc gia đại sự.

Học để “cả họ được nhờ”

Nhìn qua các thống kê, có thể thấy tinh  thần hiếu học của dân ta ít nước nào theo kịp. Quả là đáng khâm phục cho một đất nước ngày nào còn khắp nơi “Bình dân học vụ” nhưng chỉ hơn nửa thế kỷ sau đã có tới gần 30 ngàn Tiến Sĩ, khoảng 120 ngàn Thạc Sĩ và mỗi năm ra lò hơn 400 ngàn người tốt nghiệp ĐH-CĐ (năm sau cao hơn năm trước).

Hiếu học là vậy, nhưng có vẻ cái sự học này chưa phát huy hiệu quả. Bằng chứng là tuy người người đi học, nhà nhà đi học sau đại học nhưng  vẫn hiếm thấy bóng dáng các sản phẩm chất lượng cao mang tên “trí tuệ Việt”.

Do đặc thù lịch sử, Việt Nam từng chịu ảnh hưởng rất lớn của Nho vốn có chủ trương tìm về cái cũ, cái ngày xưa tươi đẹp nên không chú trọng hay khuyến khích mọi người nghĩ ra cái mới hay cải cách, đổi mới. Cũng vì vậy nên giáo đồ của họ đa số chỉ quan tâm đến học thuộc lòng, nhớ lấy những gì quan trọng để khi cần thì mang ra đối đáp, thi thố.

Dần dần khái niệm "học để làm người" và tìm ra ý nghĩa cuộc sống đã trở thành xa xỉ. Thay vào đó, đa phần quen học vẹt, học để kiếm cơm (theo cách nói của cụ Phan Khôi), và để thoát nghèo bền vững hay biến một người đang là nông dân trở thành trí thức.

Trong xã hội đó, đa số sĩ tử trong các cuộc thi đều mong  mình may mắn thi đậu để được làm Quan chứ không phải vì mục đích cao cả hay quốc gia đại sự. Do khi làm quan, đôi lúc “cả họ được nhờ” nên phần đông mọi người cố gắng học thuộc lấy một “bồ chữ” để theo đuổi mục đích riêng của mình, làm giàu cho gia đình mình, rạng danh dòng họ mình chứ ít ai quan tâm đến cái chung hay phụng sự đất nước.

Tâm lý đó vẫn còn ảnh hưởng rất lớn đến mục đích học của nhiều người Việt ngày nay. Rất nhiều người coi bằng Tiến Sĩ là cái ngưỡng cao nhất của học tập. Họ sẽ dừng việc học lại một khi có tấm bằng trong tay.

Văn hóa trọng sĩ khiến cho nhiều người coi việc học là đích đến chứ không phải tiến trình. Ở một số nước, người ta coi việc học là mục tiêu suốt đời nên họ cặm cụi học tập và tận tụy nghiên cứu hàng ngày để lần lượt cho ra đời các phát minh, sáng chế làm lợi cho nhân loại.

Nghề đi học

Nước ta cũng có nhiều người đi học suốt đời nhưng phần đa là do học mãi mà chưa lấy được bằng hoặc chưa biết làm gì nên cứ đi học – vì dù sao thì việc học luôn được coi trọng  trong một đất nước “hiếu học” như Việt Nam.

Không thiếu người suốt đời theo đuổi hết khóa này đến khóa khác, bằng này đến bằng khác (do được ưu đãi về học bổng) và tạo nên một hiện tượng “nghề đi học”.  Xét về quyền thì họ không sai, nhưng nếu nhìn rộng ra thì những người làm nghề này tuy có bằng cấp và kiến thức tốt nhưng lại không làm lợi cho xã hội vì họ không làm việc theo đúng nghĩa.

Cũng bởi vì cách tiếp cận trong giáo dục của chúng ta đang có vấn đề, nên hậu quả là “thầy” quá nhiều nhưng không biết hoặc không có cơ hội làm việc theo đúng nghĩa, trong khi đó thợ có tay nghề cao lại thiếu cho dù nhu cầu xã hội rất cao.

Nếu nhìn nhận theo quan điểm quản trị thì để một xã hội vận hành hiệu quả, không cần quá nhiều nhà quản lý (mà chỉ cần tinh nhuệ) hay nhà khoa học (ít nhưng hiệu quả), mà cần nhiều hơn những người thợ có tay nghề cao trong các nhà máy, xí nghiệp.

Cùng với những nông dân cần cù nơi đồng ruộng, họ mới chính là những người trực tiếp làm ra sản phẩm, vật chất cho xã hội, góp phần trực tiếp và có ý nghĩa thực tiễn nhất thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước. Họ cần mẫn, cặm cụi làm việc mà không hề kêu ca về lương thấp và các chế độ phụ cấp nghèo nàn. Với họ, hạnh phúc  đơn giản là được làm việc, có thu nhập để nuôi sống bản thân, chăm sóc gia đình và trông đợi một tương lai tươi sáng.

Một đất nước muốn phát triển thì cơ cấu ngành nghề cần được điều chỉnh phù hợp để lao động với hàm lượng trí tuệ cao cần chiếm ưu thế, nhưng điều kiện cần và đủ của Việt Nam cho vấn đề này vẫn chưa đến.

Trước mắt, hàng năm chúng ta vẫn phải sống nhờ vào 40 triệu tấn thóc, 6-7 triệu tấn cafe cùng các sản phẩm nông nghiệp khác. Lao động phổ thông vẫn đang là nguồn lực quan trọng để tạo ra hàng hóa xuất khẩu góp phần cân bằng cán cân mậu dịch của đất nước. Và trong số mấy chục nghìn doanh nghiệp nhỏ đa số được sở hữu và quản lý bởi những người chưa bao giờ tốt nghiệp ĐH kia, một lượng lớn lao động đang ngày đêm làm việc để góp phần nuôi sống mấy triệu cử nhân cùng hơn một trăm ngàn thạc sĩ, tiến sĩ trên toàn quốc.

Đến bao giờ sự hiếu học của dân ta mới phát huy được thế mạnh và đóng góp xứng tầm cho phát triển? Có rất nhiều điều cần bàn đến ở đây liên quan đến “Triết lý giáo dục”, “cơ chế sử dụng nhân tài”, cùng các biện pháp đồng bộ trong nghiên cứu và ứng dụng KHKT của nước nhà?

Nhưng, đó cũng là khi mỗi người đi học không chỉ để hành nghề, để làm quan hay để thoát nghèo mà còn để biết cách ngồi lại cùng nhau, biết chia sẻ, cảm thông, tôn trọng sự khác biệt thông qua vận dụng lối tư duy phản biện để cùng nhau làm việc vì mục tiêu chung. 

Tình trạng tội ác gia tăng, vì đâu nên nỗi?

Từ nhiều năm, đặc biệt trong những thời gian gần đây, tình trạng tội ác từ mức độ cướp của giết người trở xuống, biểu hiện một cách đa dạng dưới mọi hình thức, đã gia tăng đến mức làm cho mọi người dân lương thiện bình thường cảm thấy như mình cùng những người xung quanh đang bị sống trong một môi trường bất an thường trực, không được bảo vệ chặt chẽ, và điều này làm đau đầu biết bao những nhà hoạt động xã hội-văn hóa-giáo dục có thiện chí muốn tìm giải pháp góp phần cứu vãn tình thế.

Không thể dẫn chứng hết những trường hợp cụ thể. Cứ giở báo ra đọc, nhất là những tờ báo thuộc ngành công an, hằng ngày đều thấy có nhiều vụ giết người hoặc cướp của giết người xảy ra nhan nhản ở khắp nơi nơi, từ Nam ra Bắc, từ nông thôn đến thành thị. Và lứa tuổi phạm tội thông thường-đa số ở độ tuổi trên dưới 20, tức được sinh ra và lớn lên trong khoảng những năm 90 của thế kỷ trước, sau thời kỳ cải cách-mở cửa chừng vài năm. Điều này không có nghĩa, và càng không có nghĩa đơn giản quy kết mọi tội lệ cho công cuộc cải cách-mở cửa của đất nước gắn liền với nền kinh tế thị trường vốn dĩ bắt buộc phải chấp nhận yếu tố tôn trọng sự cạnh tranh, giành giật mặc dù trong khuôn khổ của pháp luật lành mạnh, trên lý thuyết. Nhưng ở một mặt khác, cũng không thể tách rời hẳn những hiện tượng tội ác xấu xa ra khỏi cái môi trường văn hóa trong một thời kỳ lịch sử cụ thể, mang những nét đặc trưng-đặc thù của nó.

Theo kết quả nghiên cứu về lịch sử các nền văn minh, nhân loại thời nào ở đâu cũng có sự gian lận, tội ác, kể cả tội loạn luân và những thứ xấu xa khác, nhưng tùy nơi, tùy chỗ mà mang những đặc điểm, mức độ phổ biến khác nhau. Ở những quốc gia có nền “phong tục thuần hậu”, lại có thêm minh quân cai trị, luật pháp nghiêm nhặt, giáo dục từ phía tôn giáo hoặc từ phía nhà cầm quyền phát triển thì hành vi tội ác trong dân thường không đáng kể. Lại có thêm một quy luật, mà ta có thể mượn giọng nhà nho xưa để phát biểu, nói lên rằng tình trạng rối loạn kỷ cương thường xuất phát từ nguyên nhân thật sâu xa, không phải một sớm một chiều: “Bề tôi mà giết vua, con mà giết cha, nguyên do không phải một sớm một chiều; tình trạng dẫn đến như thế phải dần dần mà hình thành nên” (Thần thí kỳ quân, tử thí kỳ phụ, phi nhất triêu nhất nhật chi cố, kỳ sở do lai giả tiệm hĩ). Theo cách diễn đạt này thì cái ác, cái xấu cũng không thể do một ngày một bữa, mà do sự tích tụ chất chứa lâu ngày từ nhiều nhân tố và thời gian mới thành mức độ nghiêm trọng và nguy hiểm. Cái ác không tích chứa lại lâu ngày dài tháng thì không đủ để diệt thân (Ác bất tích bất túc dĩ diệt thân- kinh Dịch, “Hệ từ hạ”.

Các văn nhân, học giả hoặc sử gia Việt Nam thời xưa mỗi khi đề cập đến một vùng đất nào, đều có nói đến phong tục của vùng đất đó, mà trước tiên họ đánh giá chung về nếp sống của người dân trong vùng miền, như trong mục “Phong tục” sách Đại Nam nhất thống chí (soạn từ năm 1865, bản dịch phần Lục tỉnh Nam Việt của Tu Trai Nguyễn Tạo, Sài Gòn, 1959), phần về tỉnh Biên Hòa, đại khái viết: “Vì địa khí ấm áp trong lặng, nên dân gian phong tục thuần hậu, tánh khí đơn giản, kẻ sĩ chuộng thơ, nhân dân siêng việc cày ruộng, dệt cửi, nghề thợ và nghề buôn tùy theo địa thế phát triển mà làm ăn; ưa sự hát múa, sùng thượng đạo Phật…”. Về tỉnh Gia Định, có đoạn viết: “Tục chuộng tiết khí, khinh tài trọng nghĩa…Dân ở thôn dã thì chất phác, dân ở thị thành thì du đãng…”. Về tỉnh Định Tường, mục “Phong tục” nhận định: “Đất đai rộng, người hào hiệp, siêng nghề nghiệp, hay bố thí… Người ở gần thành thị hay chơi bời biếng nhác, như con gái ở vùng Mỹ Tho thì hay sửa soạn trang sức đi coi hát xướng, quen thói dâm đãng (sic); con trai ở các phố khách thì cờ bạc hút xách, tục xấu chưa trừ”.

Nói “con gái ở vùng Mỹ Tho thì hay sửa soạn trang sức đi coi hát xướng, quen thói dâm đãng (sic); con trai ở các phố khách thì cờ bạc hút xách, tục xấu chưa trừ”, có thể đúng phần nào, do yếu tố tiếp xúc nhiều hơn với người Tàu rồi sau đó người Pháp, bởi quân Pháp đánh chiếm tỉnh Định Tường và bắt đầu đặt nền cai trị ở đó rất sớm, từ năm 1861, Định Tường trở thành một trung tâm thương mại. Nhưng mặc dù vậy, tại một số vùng bị chiếm đóng mà nền kinh tế bắt đầu phát triển theo hướng thị trường thô sơ, xã hội chỉ bắt đầu xuất hiện lác đác một số biểu hiện thuộc tệ nạn xã hội chứ chưa phải tội ác giết người. Quyển Lịch sử cuộc viễn chinh Nam Kỳ (Histoire de l’Expédition de Cochinchine en 1861) của viên sĩ quan chứng nhân người Pháp Léopold Pallu đi theo đoàn quân chinh phục của Phó thủy sư đô đốc Charner năm 1861 đã chứng minh cho sự thật thú vị này, trong có đoạn viết: “…Người An Nam khiếp sợ cảnh máu rơi. Ở Âu châu, giết người thường đi đôi với cướp bóc, vì giết người là để bảo đảm việc cướp bóc dễ dàng; bọn cướp bóc An Nam chỉ lột sạch nạn nhân nào lọt trong tay họ nhưng không giết; trước năm 1859 (tức là trước khi người Pháp bắt đầu đánh chiếm Nam Kỳ-TKN), chưa chắc đã có đến ba vụ giết người trong một năm… Trong xứ An Nam án mạng xảy ra là một chuyện cực kỳ hệ trọng, luật của người An Nam buộc họ sống theo bản tính thiên nhiên của họ tức là không bao giờ giết chóc” (bản dịch tiếng Việt của Hoang Phong, NXB. Phương Đông, 2008, tr. 193-194).

Như vậy, căn cứ vào nhận định của tác giả Léopold Pallu đưa ra từ năm 1861, phải chăng chỉ trong vòng 150 năm, bản tính của người Việt Nam so với thời nay đã thay đổi quá nhiều, từ trạng thái hiền hòa, hiếu sinh, tôn trọng mạng sống của kẻ khác sang bản tính độc ác, giết người một cách dễ dàng? Điều này chắc chắn là không thể kết luận vội vàng, mà nếu có đúng một phần thì chỉ đúng trên một thiểu số người nào thôi chứ không thể khái quát thành bản tính thay đổi của cả một dân tộc được. Nhưng trên thực tế, cái gọi “thiểu số” vừa kể cũng là một loại thiểu số cực kỳ đáng ngại, vì tính trên tổng số và về tần suất- nhịp độ xuất hiện, cũng như về tính chất nguy hiểm của các vụ giết người, tình tiết vụ án,  nó không còn ít nữa mà lại có tính chất tràn lan ai cũng đều có thể trông thấy.

Cách nay chừng chục năm, trên báo Công Giáo & Dân Tộc, tôi đã từng đặt ra vấn đề này trong bài viết “Tình trạng gia tăng tội ác trong xã hội hiện nay” (ký tên Xuân Huy), bây giờ nhìn lại, những quan điểm và nhận định của tôi nêu ra trong khoảng thời gian đó hầu như về cơ bản vẫn không có gì thay đổi. Chỉ có điều, vào lúc đó, tôi vẫn còn ngây thơ hi vọng rằng rồi đây với sự củng cố của nền giáo dục và luật pháp, qua những nỗ lực xây dựng của chính quyền và các tổ chức xã hội, tôn giáo, tình trạng sẽ có thể khá lên rất nhiều chứ đâu ngờ ngược lại còn ngày một tồi tệ hơn như hiện nay.

Trong bài viết nêu trên, tôi có nêu rõ: “...Gần đây sự suy đồi của đạo đức hầu như không có gì kìm hãm bớt, trái lại càng có sức lan tỏa mạnh vì con người bị đánh mất niềm tin vào những giá trị truyền thống, đồng thời lại bị kích động bởi lối sống bạo lực ngày càng được cổ võ và phổ biến khắp nơi trên các phương tiện thông tin và phim ảnh, hậu quả của nền văn minh thiên trọng vào những giá trị kinh tế, vật chất. Sự dốt nát và nạn thất học, bạn đồng hành của tình trạng nghèo đói, cũng như mức sống chênh lệch quá lớn giữa các bộ phận dân cư tạo nên những mâu thuẫn tâm lý có thể là những nguyên nhân quan trọng làm gia tăng sự lệch chuẩn hành vi của con người… Có những thứ ban đầu không phải tội ác, mà chỉ là sự mềm yếu của con người, nhưng sau sẽ tiếp tay cho tội ác, như nạn cờ bạc, rượu chè, mại dâm, xì ke ma túy (bây giờ có thêm nạn đua xe, cá độ bóng đá- TKN)… Muốn hạn chế những thứ này, cần có một hệ thống luật pháp lành mạnh đạt hiệu quả...”.

Và cho đến hôm nay, thực tế nếp tư duy cùng nền văn hóa xã hội vẫn tiếp tục phát triển theo chiều lệch lạc, cực đoan hướng về những giá trị thực dụng, như cố bù đắp cho những gì thiếu thốn chưa thể có được trong thời kỳ chiến tranh kéo dài trước đó. Trong chuyển hình kỳ, một số không ít con người, đặc biệt thuộc các nhóm đặc quyền đặc lợi, đã câu kết lẫn nhau nhắm mắt chạy theo mọi thứ quyền lợi vật chất bất chấp thủ đoạn, coi đồng tiền và các tiện nghi đời sống là tiên là phật, từ đó phát sinh mọi thứ hiện tượng tiêu cực và bất công xã hội, các căn bệnh xã hội thừa cơ phát tác, hố ngăn cách giàu nghèo ngày một sâu thêm, trong đó có tệ nạn tham nhũng nổi lên tràn lan hầu như đã vượt khỏi tầm kiểm soát của luật pháp mà không có một cơ chế hữu hiệu nào khả dĩ chặn đứng. Trừ một số con em hư hỏng bắt đầu làm quen với lối sống xa hoa phung phí của giới quan chức hoặc nhà giàu mới nổi, các phần tử lép vế trong xã hội phần nhiều thất nghiệp cũng bị lưu manh hóa, nhất là giới trẻ sinh ra và lớn lên trong những điều kiện như thế, vừa bị ảnh hưởng bởi tư tưởng thực dụng chủ đạo chung của xã hội vừa mang nặng tâm lý bị đối xử bất công, lại mất hẳn lòng tin-lý tưởng khi trông lên tấm gương tệ hại của một số người lớn ở tầng lớp trên, họ đã không thể cam chịu được cảnh an phận thủ thường mà tìm mọi cách, mọi thủ đoạn, để cố chiếm giữ cho mình hoặc gia đình mình một chút tiện nghi mà không ngại phạm vào bất cứ một tội ác tày trời nào.  
 
Mới đây, trong cuộc hội thảo “Sự xuống cấp văn hóa và đạo đức trong xã hội ngày nay” do Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh tổ chức, qua bài tham luận, một nhà nghiên cứu đã đưa ra một hướng tiếp cận mới trong việc xem xét sự suy thoái văn hóa-xã hội, trong đó có vấn đề tội ác phát triển cực độ hiện nay. Tôi xin trích lại một đoạn ngắn gần cuối bài tham luận của ông như là một cách để giới thiệu và chia sẻ với tác giả: “Trong nỗ lực đi tìm mô thức mới để thay thế, vực dậy đời sống tinh thần cho xã hội, nếu không thanh toán cho được cơ sở lý luận cho phép người ta dựa vào các phạm trù ý thức hệ lỗi thời để thiết lập chính sách quốc gia, coi đó là những quyết định tối hậu, từ trên áp xuống, dựa vào những lợi ích nhất thời, cục bộ coi là giá trị để theo đuổi, cứ thế mà thực hiện, bất chấp hậu quả, bất chấp lòng dân thì cái giá phải trả, trong tình hình mới, không phải chỉ diễn ra như cũ, cũng không chỉ trên phương diện văn hóa mà có thể dẫn tới những tác hại quan trọng, không lường trước được, về mọi mặt đối với sự an nguy của đất nước”.