Sunday, February 9, 2014

ĐI TIM GOC TICH BUA LAO


Đi tìm gốc tích bùa lèo
Nông Huyền Sơn

                                                              Ngôi nhà của Mó Kheng
Có một điều trùng hợp khá lạ là, 4 quốc gia khu vực Đông Nam Á liền kề có núi mang tên "Voi" đều được xem là nơi linh khí hội tụ, gồm: Núi Tượng tức ngọn Liên Hoa Sơn, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, Việt Nam; Núi Bokor (núi Voi), tức ngọn Tà Lơn ở Kampot, Vương quốc Campuchia; núi Suthep ở Cheangmai, Thái Lan và núi Phou Kao thuộc tỉnh Campassak, Lào. Bốn địa danh đó đều được giới pháp sư chọn làm nơi tu luyện pháp thuật. Trong đó, ngọn Phou Kao được xem là nơi tu luyện của giới pháp sư Lào mà người Việt thường gọi là "thầy bùa Lèo".

Một số bậc trưởng lão ở khu vực phía Nam thường kể cho con cháu nghe nhiều giai thoại bí hiểm về những pháp sư Lèo đeo ba chiếc bị (gọi là ông Ba Bị) chứa bùa, ngải đi tìm ma khắp thế gian. Đến nơi nào có người bị ma ám, pháp sư dừng lại trừ tà, bắt ma nhốt vào bị rồi tiếp tục hành trình. Khi tìm đủ số ma, thầy bùa Lèo trở về núi huấn luyện chúng thành công cụ phục vụ cho mình. Mỗi năm, thầy bùa Lèo đi bắt ma một lần. 

Dù một số người cho rằng đó là mê tín dị đoan nhưng bùa Lèo vẫn tồn tại như một tôn giáo giữa lòng xã hội Việt suốt nhiều thế kỷ.

Thầy mó dưới chân núi Phou Kao

Theo sự hướng dẫn chi tiết của thầy Ba Quốc ở Tịnh Biên, An Giang, chúng tôi đi Pakse bằng chuyến xe bus thương hồ khởi hành tại quận 12, TP HCM.

Cách nay 50 năm, thầy Ba Quốc được sư phụ giới thiệu sang Champassak (Lào) thọ giáo một pháp sư Lèo tên Thỏm, tu luyện tại một hang động trên dãy núi Phou Kao. Học được 3 năm chưa ngộ hết các bí pháp, nghe tin mẹ mất, thầy Ba Quốc từ giã sư phụ Thỏm trở về quê nhà thọ tang. Thọ tang xong, khi trở lại Phou Kao thì sư phụ Thỏm đã viên tịch.

Bạn đồng khóa của thầy Ba Quốc - một người Lào gốc Việt - tên là Kheng trở thành người kế tự. Do chưa học hết các bí pháp như thầy Ba Quốc, thầy Kheng rời núi lấy vợ, sinh con. Suốt nửa thế kỷ qua, thầy Ba Quốc và thầy Kheng vẫn thường xuyên qua lại, thăm nhau. Dù không học hết các bí pháp nhưng thầy Kheng vẫn hành nghề pháp sư để trị tà ma cho cư dân bản địa.

Từ Pakse, chúng tôi thuê xe gắn máy đi hơn 45km đến khu vực Wat Phou cạnh chân núi Phou Kao. Nhờ  tấm giấy ghi địa chỉ bằng tiếng Lào, chúng tôi được người địa phương chỉ dẫn đến tận ngôi nhà sàn của thầy Kheng. Một người phụ nữ trạc 60 tuổi vận trang phục Lào từ trong nhà đi ra, chắp tay thốt "sabadie" (chào) rồi sau đó xua tay lia lịa vì không hiểu tiếng Việt.

Thất vọng, chúng tôi phải trở về Pakse tìm người phiên dịch. Anh Phú - một người Lào gốc Việt ở Ban Luang, Pakse tình nguyện làm phiên dịch miễn phí cho chúng tôi.

Ngày hôm sau, chúng tôi trở lại ngôi nhà của thầy Kheng. Người phụ nữ hôm qua là vợ của thầy Kheng cho biết, thầy đã xách bị đi tìm ma suốt một tháng nay chưa về. Tuy vậy, Ượi Kheng vẫn cho chúng tôi biết rất nhiều thông tin bổ ích về bùa Lèo.

 Một căp quả Val ka ly phủl bên trái (và đực)

Bà cho biết, với người Lào, bùa phép chú ngải (tạm gọi là pháp thuật) là một phần không thể thiếu trong đời sống thường nhật. Dân Lào không xem pháp thuật là mê tín dị đoan mà là một thứ tín ngưỡng song hành với Phật giáo vốn được xem là quốc giáo. Họ xem Phật giáo là cứu cánh phần hồn cho kiếp sau tốt hơn kiếp này, còn pháp thuật là cứu cánh cho phần xác của kiếp này. Vì vậy ở Lào, đi đâu cũng gặp bùa. Mỗi người Lào có ít nhất 1 dây "cà tha" (bùa hộ mạng, cứu nạn) trong người.

Mỗi làng, xóm ở Lào có ít nhất 1 “thầy mó" (pháp sư). Riêng khu vực Phou Kao này có ít nhất 20 thầy mó. Bà nói ngày xưa ở đây có hàng trăm thầy mó nhưng do cần tiền, nhiều thầy bỏ nghề, bỏ làng ra chợ để làm giàu. Ai chấp nhận làm thầy mó phải chấp nhận cảnh nghèo khổ, cơ cực. Khi đã giàu thì pháp thuật hết linh nghiệm. Sư tổ đã dạy như vậy.

Vùng này có nhiều thầy mó vì có ngọn núi Phou Kao linh thiêng. Giới pháp sư Lào xem ngọn núi Phou Kao là nơi người trần gian có thể hấp thu linh khí từ cõi trời. Vì vậy, có dạo thầy mó ở các nơi khác khăn gói về đây, leo lên đỉnh Phou Kao tìm hang đá làm am tu luyện.

Val Đồ Thuol 
Sau năm 1980, chính quyền không cho người dân tự tiện vào núi để bảo tồn quần thể di tích Wat Phou. Các thầy mó rời núi chọn đất hoang quanh vùng cất chòi lá định cư. Bây giờ, thầy mó không còn nhiều nhưng cũng đủ giúp dân làng không bị các "phí" (linh hồn xấu) phá rối, yên tâm sinh sống. Bà Kheng khoe, nhiều người là bác sĩ cũng tìm đến thầy Kheng xin trục "phí" ra khỏi người để tránh chuyện xui xẻo.

Kết thúc cuộc trò chuyện, Ượi Kheng đã cho chúng tôi địa chỉ của nhiều thầy mó nổi tiếng ở Champaksak. Khi chúng tôi xin chỉ đường tìm vào hang động tu luyện năm xưa của sư phụ mó Thỏm. Ượi Kheng lộ vẻ kinh sợ, xua tay lia lịa bảo không nên. Khi chúng tôi đưa ra một lá bùa do thầy Ba Quốc tặng, Ượi Kheng mới yên tâm, chỉ đường tận tình. Ượi Kheng không quên cho chúng tôi mượn 1 con dao đi rừng.

Cũng may, anh Phú đã từng là một thợ rừng, giờ đang sống bằng nghề chạy xe 3 bánh ở Pakse.

Saturday, February 8, 2014

Chả đậu lá lốt

Biết đâu món ăn này lại thay thế được nhiều món trong mâm cỗ ngày Tết các bạn nhỉ?

Chuẩn bị những nguyên liệu sau:

- 1 bìa đậu phụ                                                

- 200gr mộc nhĩ

- 100gr lá lốt

- Muối, dầu ăn

Đến phần hành động này: >:D<

Bước 1:

- Rửa sạch lá lốt bằng nước muối nè.

Bước 2:

- Chần đậu phụ qua nước nóng.

- Rồi thái miếng vuông dày khoảng 2-3cm các bạn nhé!

Bước 3:

- Ngâm mộc nhĩ trong nước nóng cho mềm ra nè.

- Rồi thái mộc nhĩ thành dạng sợi.

Bước 4:

- Giờ thì đặt đậu phụ vào giữa lá lốt.

Bước 5:

- Sau đó, rắc mộc nhĩ lên trên miếng đậu, gói lá lại và dùng tăm cố định nhé!

- Tương tự, chúng mình làm thêm nhiều miếng chả như vậy nghen.

Bước 6:

- Cuối cùng, đem chả đậu đi chiên vàng thui nào!

Thật đơn giản phải hem nào?

Lâu lâu, măm thịt nhiều rồi cũng phải đổi món chay mời ba mẹ và ông bà chứ!

Món này măm kèm cùng một chút sốt cà chua hoặc nước tương là ngon lắm đó!

Làm để ngày thường hay Tết măm đều rất tuyệt!

http://kenh14.vn/made-by-me/thay-doi-khau-vi-voi-mon-chay-doc-dao-cha-dau-la-lot-20121704535776.chn

Thursday, February 6, 2014

Ý NGHĨA CỦA LẠY VÀ VÁI


Ý-Nghĩa của Lạy và Vái

 Số lần lạy và vái đều mang một ý-nghĩa rất đặc-biệt. Sau đây chúng tôi xin trình-bày về ý-nghĩa của vái và lạy. Đây là phong-tục đặc-biệt của Việt Nam ta mà người Tàu không có tục-lệ này. Khi cúng, người Tàu chỉ lạy 3 lạy hay vái 3 vái mà thôi.

 a/. Ý-Nghĩa Của 2 Lạy và 2 Vái

Hai lạy dùng để áp-dụng cho người sống như trong trường-hợp cô dâu chú rể lạy cha mẹ. Khi đi phúng-điếu, nếu là vai dưới của người quá-cố như em, con cháu, và những người vào hàng con em, v.v., ta nên lạy 2 lạy.
Nếu vái sau khi đã lạy, người ta thường vái ba vái. Ý-nghĩa của ba vái này, như đã nói ở trên là lời chào kính-cẩn, chứ không có ý-nghĩa nào khác. Nhưng trong trường- hợp người quá-cố còn để trong quan-tài tại nhà quàn, các người đến phúng- điếu, nếu là vai trên của người quá-cố như các bậc cao-niên, hay những người vào hàng cha, anh, chị, chú, bác, cô, dì, v. v., của người quá-cố, thì chỉ đứng để vái hai vái mà thôi. Khi quan-tài đã được hạ-huyệt, tức là sau khi chôn rồi, người ta vái người quá cố 4 vái.
Theo nguyên lý âm-dương, khi chưa chôn, người quá-cố được coi như còn sống nên ta lạy 2 lạy. Hai lạy này tượng-trưng cho âm dương nhị khí hòa-hợp trên dương-thế, tức là sự sống. Sau khi người quá cố được chôn rồi, phải lạy 4 lạy.

 b/. Ý-Nghĩa Của 3 Lạy và 3 Vái

Khi đi lễ Phật, ta lạy 3 lạy. Ba lạy tượng-trưng cho Phật, Pháp, và Tăng. Phật ở đây là giác, tức là giác-ngộ, sáng-suốt, và thông hiểu mọi lẽ. Pháp là chánh, tức là điều chánh-đáng, trái với tà ngụy. Tăng là tịnh, tức là trong-sạch, thanh-tịnh, không bợn-nhơ. Đây là nói về nguyên-tắc phải theo. Tuy-nhiên, còn tùy mỗi chùa, mỗi nơi, và thói quen, người ta lễ Phật có khi 4 hay 5 lạy.
Trong trường-hợp cúng Phật, khi ta mặc đồ Âu-phục, nếu cảm thấy khó-khăn trong khi lạy, ta đứng nghiêm và vái ba vái trước bàn thờ Phật.

 c/. Ý-Nghĩa Của 4 Lạy và 4 Vái

Bốn lạy để cúng người quá-cố như ông bà, cha mẹ, và thánh-thần. Bốn lạy tượng-trưng cho tứ-thân phụ-mẫu, bốn phương (đông: thuộc dương, tây: thuộc âm, nam: thuộc dương, và bắc: thuộc âm), và tứ-tượng (Thái Dương,Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm). Nói chung, bốn lạy bao-gồm cả cõi âm lẫn cõi dương mà hồn ở trên trời và phách hay vía ở dưới đất nương vào đó để làm chỗ trú-ngụ.
Bốn vái dùng để cúng người quá-cố như ông bà, cha mẹ, và thánh thần, khi không thể áp-dụng thế lạy.

 Thường nếu đến viếng tang lễ mà không có điều kiện đưa người quá cố đến nơi an nghĩ thì nên lạy 4 lạy, 2 lạy cho người còn trên dương thế và 2 lạy kính cẩn tiễn biệt.

 

Sunday, February 2, 2014

BÌNH TÀI LỘC


Ý nghĩa và cách sử dụng Bình Tài Lộc theo Phong Thủy
 
 

 
Trong phong thủy, bình tài lộc bảo quản được của cải tài sản. Bạn có thể dùng một cái bình có hình dáng đẹp thuộc hành Thổ hoặc hành Kim cho mục đích phong thủy.

Bình thuộc hành Thổ phải làm bằng gốm sứ hoặc pha lê. Bình thuộc hành Kim phải làm bằng đồng bạc hoặc vàng. Nếu có thể bạn nên dùng bình mạ vàng đem lại hiệu quả tốt nhất. Sau đó bạn bỏ vào trong bình nhiều loại đá quý như pha lê, thạch anh, thạch anh tím, đá citrine, ngọc mắt mèo ngọc bích, ngọc trai… Ngoài ra, bạn cũng có thể bỏ nữ trang vào trong bình.

Vị trí đặt bình

Nếu bình bằng thủy tinh, gốm sứ đựng nhiều đá quý, thuộc hành Thổ bạn nên đặt bình ở trong tủ thuộc góc Thổ của phòng ngủ, tức là góc Tây Nam. Đặt ở góc Đông Bắc cũng có thể chấp nhận được. Còn bình bằng kim loại thì đặt ở góc Tây hoặc Tây Bắc.

Bạn nên đặt bình vào nơi kín đáo, ví dụ trong tủ của phòng ngủ. Lưu ý, bình tài lộc không được đối diện với cửa chính vì điều này tượng trưng cho sự thất thoát tiền bạc, tài sản. Đồng thời không để cho bất cứ ai nhìn thấy bình tài lộc của bạn.

Trưng bày bình tài lộc bạn có thể bảo tồn được tất cả tài sản của mình. Dùng một bình thủy tinh nhỏ (bằng kim loại hay gốm sứ cũng được) bỏ vào trong đó nhiều loại đá quý hoặc pha lê. Sau đó đặt bình ở khu vực phù hợp với hành mà bạn đang sử dụng.

 

Chúc xuân Giáp Ngọ - Mã đáo thành công

dvsktak
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Đức Phật luận về bốn loại Ngựa
Sau khi thành đạo, trên các nẻo đường du hóa, có hơn một lần Đức Đạo Sư
đã mang loài ngựa ra làm hình ảnh ví dụ để huấn thị hàng môn đệ:
“Này các Tỳ kheo! Trên đời này có bốn loại ngựa hay:
1. Hạng ngựa vừa thấy bóng roi đã chạy, như người vừa nghe nhắc rằng có ai đó mệnh chung liền tỉnh ngộ tu tập và đạt kết quả tốt.
2. Hạng ngựa không sợ bóng roi, chỉ sợ gậy (có đóng đinh nhọn) thúc vào mông, giống như người vừa thấy ai đó mệnh chung, liền tỉnh ngộ, tinh cần tu tập và đạt kết quả tốt.
3. Hạng ngựa đợi gậy đâm vào thịt mới sợ, như hạng người khi tận mắt thấy thân nhân mình mệnh chung, liền tỉnh ngộ, tinh cần tu tập và đạt kết quả tốt.
4. Hạng ngựa đợi đến lúc gậy thúc thấu xương mới sợ, như hạng người khi tự thân bị bệnh khổ mới tỉnh ngộ, tinh cần tu tập và đạt kết quả tốt”.
(Tương Ưng Bộ - Kinh Gậy thúc ngựa)
- Cuộc sống rày đây mai đó, gần gũi với thiên nhiên, loài người, cùng thú vật của Đức Phật đã khiến cho các bản kinh thời nguyên thủy mang rất nhiều hình ảnh sống động của thế giới hiện thực. Nhờ vậy loài ngựa đã in dấu chân rải rác trên các tờ lá bối. Chẳng hạn như: “Hôm nọ, có một chàng trai tên Kesy đến viếng Phật.
Biết anh làm nghề luyện ngựa, Đức Đạo Sư bèn hỏi thăm anh về khả năng chuyên môn. Nghe đúng sở trường, Kesy thao thao giảng giải về bí quyết nghề nghiệp của mình: - Bạch Thế Tôn, con thường chia ngựa ra làm bốn loại:
1. Loại được nhiếp phục bằng lời mềm mỏng.
2. Loại được nhiếp phục bằng lời thô ác.
3. Loại được nhiếp phục bằng lời mềm mỏng lẫn thô ác.
4. Loại bất trị, không thể nhiếp phục nổi.
Với hạng này chỉ còn cách đem giết thịt để khỏi mất danh dự của nhà luyện ngựa”.
Xong, Kesy hỏi Phật về cách nhiếp phục hàng môn đệ.
Đức Đạo Sư đáp rằng, Ngài cũng chia hàng đệ tử ra làm bốn loại:
1. Hạng người được nhiếp phục bằng lời mềm mỏng: khi được chỉ dạy về các việc thiện của thân, khẩu, ý
cùng các quả báo tương ứng ở cõi trời, người, họ liền tinh cần tu tập.
2. Hạng người được nhiếp phục bằng lời cứng rắn: khi được chỉ dạy về các hành động bất thiện của thân, khẩu, ý,
cần nên tránh vì chúng sẽ đưa đến quả báo tương xứng nơi ba đường ác.
3. Hạng người được nhiếp phục bằng lời mềm mỏng lẫn cứng rắn: bao gồm cả hai lối trên.
4. Hạng người bất trị, không thể nhiếp phục bằng lời mềm mỏng hay cứng rắn, thì đành phải giết đi.
Nghe đến đây, Kesy hốt hoảng hỏi: - Nhưng, bạch Thế Tôn, tại sao lại giết đi? Há không phải Ngài thường khuyên răn hàng môn đệ nên trì giới bất sát đó sao? - Này chàng trai, trong giáo pháp của ta, giết đi chỉ có nghĩa là không thèm nói tới, vì đương sự không xứng đáng để bỏ công dạy dỗ, nhắc nhở nữa.
(Tương Ưng Bộ kinh) 
vtrumd
Hạnh phúc đích thực có được từ sự biết hài lòng và hòa bình nội tại.
Sự hài lòng và hòa bình nội tại chỉ có thể đạt được thông qua sự phát triển tinh thần vị tha về tình thương,
từ bi và sự diệt trừ vô minh, ích kỷ và tham lam.
( True happiness comes from a sense of inner peace and contentment,
which in turn must be achieved through the cultivation of altruism,
of love and compassion and elimination of ignorance, selfishness and greed ).
Dalai Lama 
httrl
- Tâm nhàn vạn sự
thông ba cõi
Một tiếng cười khan
ấm đất trời !
Ngược xuôi chi lắm..
bàn chân mỏi
An tọa nhìn xuân đến thảnh thơi.
Bodhgaya monk 
thatdep!
Mến chúc cả nhà Theo Dấu Như Lai một mùa Xuân, một cái Tết :
- Vừa đủ HẠNH PHÚC để giữ tâm hồn ta được ngọt ngào.
- Vừa đủ THỬ THÁCH để giữ ta luôn kiên nhẫn.
- Vừa đủ MUỘN PHIỀN để giữ ta thật sự tỉnh táo.
- Vừa đủ HY VỌNG để cho ta được hạnh phúc.
- Vừa đủ THẤT BẠI để ta khiêm nhường.
- Vừa đủ THÀNH CÔNG để giữ ta mãi nhiệt tâm.
- Vừa đủ BẠN BÈ để ta được an ủi.
- Vừa đủ VẬT CHẤT để đáp ứng các nhu cầu
- Vừa đủ NHIỆT TÌNH để cho đời thêm hân hoan.
- Vừa đủ NIỀM TIN để xua tan những thất vọng *:) happy
1530353_10203012124883432_1021576991_n
Tinh cần giữa phóng dật
Tỉnh thức giữa quần mê
Bậc trí như tuấn mã
Bỏ xa con ngựa què.
(Pháp Cú số câu 29) 
39-41ec8
Theo dân gian, với năm Ngựa, câu chúc "Mã đáo thành công" sẽ là câu chúc Tết hay nhất.
Câu chúc “Mã đáo thành công” phù hợp với cả mọi lĩnh vực, người làm kinh doanh,
lẫn người chinh phục chính mình trên con đường tâm linh.
Như vậy, Tết năm nay, bên cạnh lời chúc sức khỏe,
quí Pháp hữu chúng ta có thể gửi đến bạn bè, người thân, gia đình,
câu chúc "Mã đáo thành công" cho năm mới 2014 nầy.
Th%C6%B0 phap ch%C3%BAc n%C4%83m m%E1%BB%9Bi sinh %C4%91%E1%BB%99ng ( Blog mi t%C3%B4m..)

Thực hiện: Thích Tánh Tuệ
nvcv

Saturday, February 1, 2014

LỄ HÓA VÀNG TIỄN ÔNG BÀ TỔ TIÊN



PLà tục lệ cúng lễ hóa vàng tiễn tổ tiên về "cõi vĩnh hằng" sau những ngày Tết, nhưng nhiều người vẫn phân vân cách cúng như thế nào cho đúng?
Theo tục lệ người Việt Nam, cứ mỗi dịp xuân về Tết đến các gia đình lại làm cơm cúng mời tổ tiên về dự 3 ngày Tết với con cháu.
Ba ngày Tết đó là ngày 30 Tết (nếu tháng thiếu thì vào ngày 29 Tết), đến ngày mùng 3 Tết hoặc ngày khai hạ mồng bảy Tết, là ngày cuối cùng, tiệc xuân đã mãn, con cháu lại cáo lễ để tiễn đưa Tổ tiên về cõi vĩnh hằng.
Do mỗi vùng miền có một phong tục khác nhau, nên một số nơi chỉ cúng đến ngày mùng 2 Tết (tức là chỉ có 2 ngày Tết), nhưng theo một số quan điểm vùng miền khác, như thế là chưa đúng, chưa phù hợp. Bởi lẽ, ngày mùng 3 Tết theo quan niệm dân gian vẫn là ngày Tết thầy, nên các gia đình vẫn phải làm cơm mời ông bà tổ tiên ở lại ăn Tết với con cháy. Mùng 4 và mùng 5 mới là ngày làm cơm cúng tiễn các cụ.                        
Sau những ngày cúng Tết, lễ hóa vàng được người Việt Nam rất chú trọng. Tùy theo hoàn cảnh mỗi gia đình mà cách chuẩn bị khác nhau. Đó được gọi là lễ tạ gia tiên gia thần và chư vị thánh thần, phật. Theo quan niệm dân gian, có lễ tạ thì tấm lòng của chủ nhà mới được người âm chứng giám.

Sau khi lễ, các gia chủ sẽ hóa vàng. Phần tiền, vàng của gia thần phải hóa trước, tiền vàng, đồ dùng của tổ tiên hóa sau. Tục xưa, tại nơi đốt vàng mã, người ta thường đặt vài cây mía dài. Dân gian cho rằng đây là đòn gánh để các linh hồn dùng làm gậy chống, hay mang hàng hóa.

Sắm lễ:
Lễ vật dâng cúng trong lễ tạ năm mới (lễ hóa vàng) gồm: Nhang, hoa, ngũ quả, trầu cau, rượu, đèn nến, bánh kẹo, mâm lễ mặn hoặc chay cùng các món ăn ngày Tết đầy đủ, tinh khiết.
Văn khấn lễ tạ năm mới (lễ hóa vàng)
- Nam mô A-di-đà Phật (3 lần)
- Con kính lạy chín phương trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương
- Con kính lạy Hoàng Thiên, Hậu Thổ,  Long Mạch, Táo Quân, chư vị tôn thần
- Con kính lạy Hoàng thiên Hậu thổ. Chư vị Tôn thần
- Con kính lạy Ngài Đương niên hành khiển, ngài Bản cảnh Thành Hoàng, các ngài Thổ địa, Táo quân, Long mạch Tôn thần.
- Con kính lạy các cụ Tổ khảo, Tổ tỷ, nội ngoại tiên linh.
Hôm nay là ngày mùng 3 tháng giêng năm …………………
Chúng con là: ……………………………tuổi………………
Hiện cư ngụ tại ……………………………………………….
Thành tâm sửa biện hương hoa phẩm vật, phù tửu lễ nghi, cung bày trước án. Kính cẩn thưa trình: tiệc xuân đã mãn, Nguyên đán đã qua, nay xin thiêu hóa kim ngân, lễ tạ Tôn thần, rước tiễn âm linh trở về âm cảnh.
Kính xin lưu phúc, lưu ân, phù hộ độ trì dương cơ âm trạch, mọi chỗ tốt lành, con cháu được bách sự như ý, vạn sự bình an, tài lộc song toàn, gia đạo hưng vượng.
Lòng thành kính cẩn, lễ bạc tiến dâng, lượng cả xét soi, cúi xin chứng giám.
Nam mô A-di-đà Phật (3 lần)
(Theo Văn khấn cổ truyền Việt Nam)

Bài văn cúng, khấn lễ hóa vàng khác được nhiều người sử dụng
Hôm nay ngày....
Tức năm thứ năm mươi... Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tại: Thôn... xã... huyện... tỉnh....
Tín chủ là:...... cùng toàn gia kính bái.
Nay nhân ngày lễ tạ.
Kính cẩn sắm một lễ gồm....
gọi là lễ mọn lòng thành, kính dâng lên:
Đông trù Tư mệnh Táo phủ thần quân, bản gia tiên sư, bản viên thổ công, liệt vị tôn thần.
Trước linh vị của: ...


Và các vị tổ bá, tổ thúc, tổ cô, cùng các vong linh phụng thờ theo tiên tổ.
Kính cẩn thưa rằng:
Tiệc xuân đã mãn
Lễ tạ kính trình
Rước tiễn tiên linh
Lại về âm giới
Buổi đầu năm mới
Toàn gia mong đợi
Lưu phúc lưu ân
Kính cáo tôn thần
Phù trì phù hộ
Dương cơ âm mộ
Mọi chỗ tốt lành
Con cháu an ninh
Vận hành khang thái.
Cẩn cáo!
Ghi chú:
- Đối với bàn thờ chung cho cả gia thần và gia tiên thì khấn gia thần trước, gia tiên sau. Nếu thờ gia thần ở bàn thờ riêng thì tách riêng ra hoặc thắp hương trước, rồi khấn chung một lượt ở gian chính thờ gia tiên.
(Theo Tập văn cúng gia tiên - Nhà XB Văn hoá Dân tộc).

Cà rốt kho nấm - Kim

carotkhonam

Nguyên liệu:
2 củ carrot
1 vỉ oyster mushroom
Boa rô băm nhuyễn

Cà rốt gọt vỏ, cắt  cà rốt và nấm lát hơi dày một chút xong rồi rửa sạch.
Cho một tí dầu vào chảo, phi boa rô cho thơm, xong bỏ cà rốt vô xào vài phút, khi cà rốt hơi chín thì bỏ nấm vào.
Cho 1/2 muỗng cà phê muối, 1 muỗng cà phê đường, một chút nước tương, 1 muỗng canh dầu hào chay, 1 muỗng cà phê bột nấm chay, đảo đều lên, có thể cho chút nước soup chay hay nước lạnh, bỏ thêm vài trái ớt cho có chút vị cay cay, kho lửa riu riu khi thấy nước còn sền sệt thì tắt lửa.
Múc ra dĩa cho tí tiêu và vài cọng ngò lên trên. Món này ăn với một chén cơm nóng rất ngon.

Chúc các bạn năm mới nấu được nhiều món chay ngon.

Kim