Saturday, October 11, 2014

Phần nhiều đại gia Việt là phú ông-trọc phú

Theo ý kiến của bạn đọc VNN đánh giá thì những người giàu Việt nam đều giàu bằng con đường bất minh.Từ gọi trong dân là Trọc phú hoặc Phú ông. Nếu những người này mà thực hiện đúng phê và và tự phê kèm theo kỷ luật nghiêm của Đảng chắc nhà nước ta phải xây nhanh thêm nhiều nhà tù để làm nơi điều dưỡng họ!

Trọc phú, Phú ông hay đại gia?

Ở VN cứ giàu có, nhà lầu xe hơi là được gọi là ‘đại gia’. Không biết là làm ăn có phải bằng thực lực và trí óc không, hay là vơ vét của người nghèo, trốn thuế, cúp lương, buôn lậu, buôn gian, bán lận?

“Xin đừng vội tung hô và tự phong cho ai hết, ngựa phi đường dài mới biết con ngựa nào hay. Rất nhiều ‘đại gia’ sống ảo tưởng giàu sang bằng đồng tiền đi vay nợ, vung tay tiêu xài quá trán, đến khi mất cửa, mất nhà vẫn không nhận ra mình và không dám chấp nhận sự thật. Đây là bài học đắt giá cho các ‘đại gia’ ảo VN”.

“Nếu những ông chủ kia đi lên từ việc đầu tư kinh doanh các ngành kỹ thuật mang lại nhiều giá trị thặng dư, xây dựng được thương hiệu làm vẻ vang cho trí tuệ và bản lĩnh của người Việt Nam thì hãy nên ca ngợi. Còn dựa vào cơ chế, vào luồn lách, đi đêm, thậm thụt, buôn tiền một cách không minh bạch... mà phất lên thì đừng tâng bốc vội”.

“Đại gia’ Việt là thế nào nhỉ? Tôi đã từng gắn bó, làm việc với một trong những ‘đại gia’, nhưng thật sự thất vọng khi thấy ông chủ chỉ cơ hội, chộp giật... hay ngắn gọn hơn là rình lấy tài sản của dân, của nhà nước cho vào túi mình”.

“Trong nhận thức của tôi ở VN chưa có ‘đại gia’ nào cho đúng nghĩa cả. Hầu hết họ được tạo ra trong cơ chế xin- cho, chạy chọt, nịnh bợ .. chứ chưa có những doanh nhân tầm cỡ từ tư duy kinh tế, nhạy cảm về thị trường, dám nghĩ, dám tạo ra những sản phẩm có thương hiệu uy tín trong nước và thế giới. Hầu như tất cả những người giàu có của VN đều phất lên nhờ bất động sản hay biến động cơ chế”.

“Ở VN hiện tại, những người được gọi là ‘đại gia’ chỉ là các ‘phú ông’. Có thể ‘phú ông’ gây ra sự ngạc nhiên, nhưng không có được sự ngưỡng mộ”.

“Đại gia’ ở VN hiện nay chỉ là những người đầu tư liều lĩnh và có người ‘đỡ’ nếu họ ngã. Họ sẽ chẳng làm được gì nếu không có bàn tay của các ‘nhóm lợi ích’ giúp đỡ, thậm chí còn đạo diễn”!

“Hãy xem nước Mỹ và các nước phát triển, ‘đại gia’ của họ là ai, làm được gì? Còn ‘đại gia’ của mình chỉ có bán tài nguyên, abc...chứ đâu có một sản phẩm nào được bán đi cả thế giới như iphone, google...”?

“Cỡ như anh Bill của ngành CNTT mà nước Mỹ chỉ thống kê và nói là người giàu nhất thôi. Họ đâu dùng cái từ ‘đại gia’ để chỉ những người có tiền (đem tài nguyên đi bán, nhất là đất đai) như ở ta. Hiện tại chỉ chú tâm đến công tác từ thiện nhưng năm rồi anh Bill cũng bỏ túi hơn 6 tỉ USD. Lợi nhuận này chắc cộng hết các ‘đại gia’ của Việt Nam lại làm trong vòng 10 năm nữa cũng không biết có được không? Đó mới thực sự là đại gia - Đại gia của trí tuệ. Họ làm giàu bằng chất xám, tạo ra các sản phẩm công nghệ phục vụ loài người. Vì thế họ rất đáng kính. Chứ lợi dụng cơ hội đem đất đai đi bán mà giàu thì có gì là hãnh diện”?

Có quả cam trong tay còn hơn nhiều so với cầm quả bóng bay.

“Tôi không hiểu họ cứ muốn thành ‘đại gia’ để khoe mẽ hay là có cùng tật xấu của những người ‘thích thành tích’? Liệu có mấy ‘đại gia’ đúng nghĩa trăn trở cống hiến được gì cho xã hội, hay chỉ phục vụ một vài ‘nhóm lợi ích’? Tôi không phục các ‘đại gia’ này bằng những người lao công, công nhân xây dựng...giúp ích được cho xã hội và phần mình luôn bị thiệt thòi”.

“Tiền các ‘đại gia’ thâu tóm công ty này, công ty kia từ đâu mà ra, đã minh bạch dòng vốn chưa? Hay toàn tiền vay mượn, sau đó phá sản, kêu gào nhà nước đứng ra bảo lãnh, mua nợ xấu, dân có được hưởng lợi gì đâu, mà chỉ phục vụ vài ‘nhóm lợi ích”!

“Ngân hàng Phương Nam mấy năm trước suýt phá sản, bỗng dưng đủ tiền mua được Sacombank? Cần phải xem mấy ngài này đã đóng bao nhiêu thuế cho nhà nước? Không phải thuế GTGT, mà phải là thuế TNCN hoặc thuế TNDN ấy”.

“Đại gia’ kinh doanh BĐS mua 1 bán 10, bán 1 miếng đất xây 10 căn biệt thự, ăn chơi, vung tiền quá trán. Bây giờ lại kêu la lỗ nặng, lỗ nhẹ, đòi nhà nước cứu, tiền ở đâu mà cứu mấy ông? Hãy cứu những người thiệt thòi, những con người làm ăn chân chất, sử dụng chất xám của mình cống hiến cho xã hội, nhưng vẫn không đủ tiền để mua nhà ở”.

“Có ai phân loại được các ‘đại gia’ làm giàu cho đất nước, cho mình và các ‘đại gia cơ hội’ làm khổ dân nghèo? ‘Đại gia’ mà làm cho đất nước nghèo đi thì cần xử lý ngay”

“Đất nước thì trong tốp nghèo của thế giới, khoa học công nghệ thì chẳng có lĩnh vực nào nổi trội cả. Sau mấy năm mà nghe lắm ‘đại gia’ với khối tài sản nghe như đếm lá trong rừng, khiến người dân phát choáng! Nên trở về với hoàn cảnh thực cho nó bền vững, bé như quả cam còn hơn to như quả bóng bay”.

Nguồn: vietnamnet.vn

"Trọc phú" nghĩa là người giàu có nhưng vô học
Trọc phú thường hiện lên với hình ảnh những người do gặp thời nên phất lên như diều gặp gió chứ về chữ nghĩa thì chẳng là bao nhiêu, luôn học cách sang trọng, học cách quý phái, tiêu xài tiền vào những trò xa xỉ, làm xấu cho xã hội

MẶT HỔ PHÙ

Hổ phù, hổ phù phong thủy, mặt hổ phù

  Hổ phù, là một hình ảnh từ tích chuyện về cuộc đấu tranh giành nước trường sanh giữa thần và quỷ. Khi con quỷ đang uống trộm nước trường sanh thì bị thần mặt trăng phát hiện và chém đứt ngang thân, nhưng nước trường sanh đã ngấm  phần trên nên con quỷ không chết, ngược lại trở thành bất tử dù chỉ còn lại hai chi trước. Hình tượng mặt Hổ phù trở thành biểu tượng của sự no đủ, bền vững, chúng chiếm một vị trí đáng kể trong tạo hình của các nước Đông Nam Á.


Mặt hổ phù tại một ngôi chùa ở Huế
 Trong triết lý vũ trụ Nho giáo, không gian bên trong tự tại của là thế giới thần tiên linh diệu, mặt Hổ Phù chứa đựng bí quyết trường sinh bất lão. Mặt Hổ phù cũng là sự biểu hiện vũ trụ bao la vô bờ bến, là hình ảnh tượng trưng linh thiêng, là sự ám ảnh xua đuổi tà ma, chống lại ám khí, bảo vệ chủ nhân.
 Thông thường có những sự phối hợp đa diện, đa chất liệu của motif mặt Hổ phù như Lưỡng long chầu Hổ phù, Lưỡng long chầu Hổ phù đội bầu Thái Cực… hình tượng này thường đặt giữa đỉnh mái các công trình quan trọng trong Hoàng thành và lăng tẩm. Nhưng đẹp và cân đối nhất là mặt Hổ phù trang trí ở các đầu hồi, cổng, bình phong với nghệ thuật khảm sành sứ hay đắp nổi nề hoạ tinh tế.

 Mặt hổ phù tại lăng Kiên Thái Vương
 Mặt Hổ phù là biểu tượng tôn giáo, niềm tin tâm linh và triết lý vũ trụ khác nhau. Chúng được kiểu thức hóa cho phù hợp với tâm thức người Việt. Kiểu thức mặt Hổ phù được khảm sành sứ khá nhiều trên các công trình kiến trúc, đó là kiểu đầu rồng trang trí chính diện với góc nhìn đăng đối. Nhiều kiểu thức mặt rồng được diễn tả bằng sứ màu làm nổi bật cả một đầu hồi cung điện, có khi còn kết hợp với hoa lá, lá lật.
 Hình mặt rồng Hổ phù ở đầu hồi tiền điện và chính diện của điện Thái Hòa là cụm sứ màu diễn tả đám mây xoáy tròn, mây tia lửa, cái vây đầu rồng, vảy rồng đạt đến trình độ kỹ thuật và nghệ thuật cao. Chúng tạo nên được các mảng trang trí chính, trang trí phụ, nhắc lại rất chặt chẽ và có sự tính toán, phân bố hợp lý và sinh động.

 Mặt hổ phù tại lăng Gia Long
 Tính trang trí thuần chất ở kiểu thức mặt rồng ngang thể hiện rất rõ trong chất liệu đất nung tại điện Ngưng Hy (Lăng Đồng Khánh) hay chất liệu nề vữa khảm sứ ở Triệu Miếu nhưng mật độ trang trí và hiệu quả tâm lý không mạnh như ở điện Thái Hòa. Điều này cũng dễ hiểu vì điện Thái Hòa là công trình kiến trúc quan trọng bậc nhất của Đại Nội, nơi vua thiết triều, làm lễ đăng quang và tiếp các sứ thần. Do vậy, sự đầu tư cẩn trọng cho trang trí nội, ngoại thất ở điện Thái Hòa là nhằm đảm bảo yêu cầu thống nhất, chặt chẽ cho toàn thể các tiết diện trang trí chung của khu vực kiến trúc Đại Nội.
 Như vậy kiểu thức Lưỡng long chầu vào mặt Hổ phù - bầu Thái cực (Hồ loa) là sự tích hợp của nhiều ý nghĩa tâm linh, nhân văn và triết lý vũ trụ - nhân sinh của nhiều tôn giáo khác nhau. Màu sắc chuyên biệt của những mặt Hổ phù tại điện Thái Hòa làm cho chúng không thể lẫn với các bộ phận trang trí khác nhau trong công trình.
 Tất cả các bộ phận khác nhau trên cơ thể Hổ Phù đều được nghệ nhân xưa gắn ghép bằng những mảnh gốm, những mảnh sứ có màu có mảng hình, tạo cho chúng một vẻ đẹp khác lạ, cầu kỳ nhưng rất ấn tượng. Vì thế trong bài ghi chép về gốm sứ trang trí kiến trúc kinh thành Huế, tác giả Đặng Hữu Tuyền đánh giá về nghệ thuật khảm sành sứ tại điện Thái Hòa: "Kỹ thuật cắt gọt tỉ mỉ, mài dũa và gắn ghép công phu tới mức khó có thể tìm thấy một sự sai sót đáng kể nào. »
 Mặt Hổ phù được trang trí khá nhiều trong nghệ thuật khảm sành sứ. Chính vì vậy, hình ảnh của chúng rất đa dạng, biến hóa. Sự biến hóa của kiểu thức mặt Hổ phù thể hiện sự khéo léo và tài nghệ trang trí, tạo hình của những người sáng tạo ra chúng. Sự diễn tả hóa thân mặt Hổ phù từ hồi văn hoa lá thường có sự kết hợp nề vữa với khảm sành sứ, như các trang trí tại bình cung Trường Sanh.
 Mặt Hổ phù thời Nguyễn được các nghệ nhân tập trung tư tưởng, mỹ cảm để diễn tả sức mạnh chế ngự của vương quyền. Mặt khác, hình tượng mặt Hổ phù, phải thể hiện sâu sắc những vẻ đẹp uy nghiêm, ý nghĩa huyền diệu đặc trưng của biểu tượng.
 Đề tài trang trí trong nghệ thuật cung đình Huế thể hiện tinh thần và nội dung Nho giáo. Nhưng các nghệ nhân dân gian đã Việt hóa những đề tài và kiểu thức mặt Hổ phù một cách nhuần nhuyễn, tạo ra những sự chuyển đổi mang đậm cốt cách tâm hồn dân tộc, làm cho mỗi hình tượng trở nên sống động và gần gũi, đầy biểu cảm, khiến cho sự cảm nhận đề tài trở nên đa dạng, phong phú và sinh động hơn.

Tbst

Friday, October 10, 2014

ĐỪNG GIẢ VỜ NHÂN NGHĨA NỮA

Ngày 10/10/1954 đã trở thành một mốc son trong lịch sử xây dựng và phát triển của Thủ đô Hà Nội. Đó là ngày Hà Nội hoàn toàn thoát khỏi ách thống trị của đế quốc thực dân; xóa bỏ mọi chế độ áp bức, bóc lột. Trong không khí trang nghiêm của mùa thu lịch sử ấy, Hà Nội kỷ niệm 60 năm giải phóng thủ đô và tổ chức bắn pháo hoa tại 3 điểm nội và ngoại thành. 


Thế nhưng những anh em rân chủ không biết ủng hộ người nghèo được đồng xu cắc bạc nào chưa mà đòi "biểu tình yêu cầu hủy bắn pháo hoa để tiền lo cho người nghèo".

Thứ nhất, đất nước không chỉ có người nghèo, nên trách nhiệm của chính quyền không chỉ là lo cho người nghèo. Thực tế sau đêm qua cho thấy nhu cầu xem bắn pháo hoa để vui ngày giải phóng là vô cùng lớn.











Nhu cầu xem pháo hoa của người dân Hà Nội


Thứ hai, tiền để tổ chức bắn pháo hoa là tiền "xã hội hóa" do các doanh nghiệp đóng góp. Mà cụ thể, bắn pháo hoa 10/10 3 doanh nghiệp hỗ trợ kinh phí 4,5 tỷ đồng. Chính sách này có từ lâu rồi, hẳn các bạn rân chủ chưa cập nhật. Với cả các bạn ý không biết đóng bao nhiêu tiền thuế rồi mà ra sức tiếc rẻ nữa không hay. 


Thứ ba, người nghèo thì đã có hàng ngàn quỹ ủng hộ, hàng trăm chính sách lớn nhỏ khác nhau để giúp cải thiện cuộc sống của họ. Mà quan trọng là người nghèo phải tự giàu lên, lúc nào mở miệng cũng "sao không giúp người nghèo" thì khi nào người nghe khá lên.

Thứ tư, Những sự kiện như sự kiện này, chính mang lợi nhiều nhất cho người nghèo, từ anh công nhân làm pháo hoa, đến ngưới bán trà chanh, chị bán hàng rong đêm qua. Trên hết đó là món ăn tinh thần cho toàn dân, nghèo vật chất cũng là nghèo, nghèo tinh thần cũng là nghèo. Tư duy chỉ dừng ở lỗ miệng bao giờ mới khá.

Thứ năm, lá lành đùm lá rách, lá rách đùm lá nát, lá nát đùm lá tả tơi, là truyền thống tốt đẹp ngàn đời của người Việt ta, hãy để nó được biểu hiện 1 cách tự nhiên, làm ơn đừng làm trò mèo vì mưu đồ chính trị bẩn của mình. Các anh các chị rân chủ đã làm bẩn từ dân chủ đẹp đẽ chưa đủ hay sao?

Lan Hương





TRÒ LỐ "CHÚNG TÔI MUỐN BIẾT"

Trong thời gian gần đây lợi dụng việc những sinh viên Hồng Kông xuống đường biểu tình bãi khóa xung quanh vấn đề bầu cử tại đặc khu kinh tế này thì những trang mạng có xu hướng chống đối trực tiếp với đảng lại loan tin để có thểluận điệu cho rằng chúng ta cần biết và cho rằng: “Chúng tôi đã biết! Nhưng chúng tôi cần tất cả người dân cần phải biết sự thật bán nước hại dân của đảng”. Không biết là đảng ta cùng nhân dân đã thực hiện biết bao cuộc cách mạng cũng như những cuộc cải cách quan trọng để có thể đảm bảo cho nhân dân chúng ta có cuộc sống bình yên như ngày nay và đánh đuổi được những thế lực to lớn là đế quốc Mỹ, thực dân Pháp. Không biết có phải vì thế mà chúng đưa ra những luận điệu cho rằng đảng đã bán nước hay chăng, đúng thật là nực cười.





Điều mà đáng nói ở đây là những điều mà mọi người dân chúng ta đã quá rõ về việc chủ quyền của Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam cũng như việc Trung Quốc chiếm một số đảo ở Hoàng Sa là do chính quền Việt Nam Cộng Hòa quá yếu kém nên để mất. Chúng đưa cái luận điệu công hàm 1958 cho rằng “Dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh lúc đó đang là người đứng đầu đảng và nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1958 đã chỉ đạo Phạm Văn Đồng lúc đó là thủ tướng chính phủ ký công hàm công nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam là của Trung Quốc”. 

Nhưng thực chất, công hàm của Phạm Văn Đồng chỉ là sự thể hiện một thái độ chính trị, một cử chỉ hữu nghị với tuyên bố giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc để tranh thủ sự ủng hộ của Trung Quốc mà thôi. Nếu coi đây là một nhượng bộ về chủ quyền lãnh thổ thì hoàn toàn không có cơ sở pháp lý vì Công hàm này không được Quốc hội Việt Nam thông qua, do đó công hàm này sẽ bị coi là một việc làm “vi hiến”, hoàn toàn không có giá trị ràng buộc pháp lý vì khi đó hai quần đảo nêu trên đang thuộc thẩm quyền quản lý của chính quyền Việt Nam cộng hòa và năm 1975 Việt Nam đã giải phóng quần đảo Trường Sa và được nhiều nước, trong đó có Trung Quốc thừa nhận và chúc mừng.

Hơn nữa công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ đặc thù Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Trung Quốc lúc đó đang "vừa là đồng chí vừa là anh em”. Thực chất chính phủ Hà Nội lúc đó nêu quan điểm ủng hộ tuyên bố lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc là muốn cho Hạm đội 7 của Mỹ tôn trọng vùng biển như tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc mà không gây hấn trên vùng biển vịnh Bắc bộ, nhằm tránh sự xung đột, tranh chấp phức tạp để VN yên tâm bảo vệ nền hòa bình mới được lập lại trên miền Bắc và xây dựng cuộc sống mới. 

Trên con đường đổi mới đất nước chúng ta giành được nhiều thắng lợi to lớn nhất là cuộc cải cách ruộng đất thì chúng lại cho rằng đảng và nhà nước đã giết hại nhân dân. Chúng còn mạnh dạn nói rằng: “Đảng cộng sản Việt Nam với chính sách sắt máu đã đàn áp các đảng phái đối lập, tôn giáo, những nhà bất đồng chính kiến, những người tranh đấu cho sự tiến bộ xã hội là truyền thống, là việc làm thường xuyên từ khi đảng cộng sản cướp được chính quyền từ năm 1945 đến nay”. Quả thật chẳng có từ nào nói về hành động của chúng ngoài từ xuyên tạc thôi và khi đảng thực hiện chính sách bảo vệ quyền lợi cho nhân dân thì chúng lại bảo giết hại nhân dân, thật đúng bái phục cái miệng của Dân Làm Báo. Quyền tự do ngôn luận cũng như tự do tôn giáo của Việt Nam được thể hiện trong hiến pháp cũng như việc thực hiện những chính sách của nhà nước nhưng chúng lại cho rằng nhà nước đã đàn áp tôn giáo, cái mà chúng cho rằng nhà nước chúng ta đàn áp chỉ là những tên chống phá đất nước lợi dụng tự do tôn giáo thôi. Và những tên chúng cho rằng yêu nước và là những “tù nhân lương tâm” thực chất là cái chúng gây dựng nên những tên chống phá đất nước, đấu tranh dân chủ nhưng vì quyền lợi cá nhân và đi lai lợi ích thiết thực của nhân dân.
Và thời gian gần đây chúng đan ráo riết thực hiện hành động “Những sự thật chúng tôi đã biết! và tất cả người dân cần phải được biết”, nhưng những cái mà chúng lý luận đưa ra là chúng ta đã quá rõ rồi mà chúng chỉ thêm mắm thêm muối để có thể lừa gạt người dân thôi chứ chẳng có mục đích nào khác đâu. Cái mà chúng nói cần biết thực chất là cái cớ để chúng có thể thực hiện được những mục đích của mình trong cuộc đấu tranh bất bạo động chống phá đảng và nhà nước; nhưng để có thể thực hiện được mục đích của mình được thành công hơn thì lại tìm mọi cách có thể xuyên tạc chế độ để lừa gạt người dân thiếu hiểu biết. Hành động của chúng là lợi dụng sự hiểu biết sâu sắc về những vấn đề chính trị để có thể lợi dụng họ thực hiện âm mưu biểu tình và gây rối trật tự công cộng để có thể chống phá đảng và nhà nước.

Có thể nói tình hình Hồng Kông có nhiều biến chuyển là một trong những cơ hội để chúng có thể lừa gạt thanh niên, học sinh và những người dân có thể xuống đường biểu tình chống phá đất nước. Bộ mặt của những tên được cho là làm dân chủ như dân làm báo là không bao giờ thay đổi được tư tưởng chống phá của mình và đang rình rập tìm cơ hội để có thể thực hiện được âm mưu đối đầu lâu dài cũng như thực hiện mục đích chống phá của chúng.

Trung Nguyễn

NỀN DÂN CHỦ THÔNG QUA LĂNG KÍNH CỦA RẬN

Cái góc làm nên “dân chủ” phải xuất phát từ sự thống nhất của toàn thể con người cùng chung sống trong một cộng đồng, mà ở đó chủ yếu là nhân dân. Dân chủ XHCN là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Dân chủ phải được thực hiện trong cuộc sống thực tế ở từng cấp và trên tất cả các lĩnh vực thông qua hoạt động của Nhà nước do nhân dân bầu ra và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm.

Giới rận Việt Nam ra tuyên cáo
Thế nhưng, các nhà dân chủ hiện tại ở Việt Nam, tự cho mình cái quyền sáng tạo ra nền dân chủ theo tư duy Mỹ và các nước Phương Tây. Đồng thời, tự đấu tranh để quyền lợi thuộc về một bộ phận nhỏ “Nhóm lợi ích” trong giới dân chủ. Những hành động đó như một việc làm thường lệ trong thời gian qua của giới dân chủ giả danh, dã cầy Việt Nam. Mục đích đấu tranh hướng tới hoàn toàn không phải là quyền lợi chung cho toàn thể nhân dân Việt Nam, vậy lý tưởng của họ là vì điều gì ? chắc là không ngoại lệ nhu cầu cá nhân của bản thân họ.

Thông qua lăng kính cá nhân của mình, tự do, dân chủ dưới con mắt của các nhà dân chủ Việt Nam luôn là sự tuyệt đối, nằm ngoài sự quản lý của pháp luật. Xét ở góc độ nhìn về các nước bạn, kể cả là Mỹ cũng hoàn toàn không thực hiện được những mục tiêu, lý tưởng như họ nói. Mà đây là một sự áp đặt, một sự gán ghép không cần thiết đối với dân tộc Việt Nam.

Đối với “rận” sự kiện biểu tình ở Hồng Kong (Cách mạng dù) thì đó như một sự thôi thúc hành động kiếm ăn của chúng. Ngoài những hoạt động như đăng bài cỗ vũ biểu tình ở Hồng Kong, chúng còn hà hơi tiếp sức cho việc kích động biểu tình. Chống đối ở trong nước. Mới đây nhất, trong khi cả nước đang hân hoan, phấn khởi chuẩn bị kỷ niệm 60 năm ngày giải phóng thủ đô 10/10, các nhà “rận” lại thi nhau kích động nhân dân đi biểu tình để đòi dân chủ. Hóa ra, những tay “rận” này cũng chỉ tầm tiểu thế thôi, chẳng làm được cái gì nên, ngoài mấy cái trò kiếm ăn tầm thường. Dân tộc Việt Nam là dân tộc vốn có truyền thống tôn trọng lịch sử, luôn hướng về cuội nguồn, không quên những gì mà cha ông đã gầy dựng. Vậy, cớ gì để các “rận” hô hào biểu tình phá hoại sự ổn định an ninh đất nước.

Suy cho cùng, lăng kính của các “nhà rận” họ chẳng hiểu dân chủ là gì ? mà mục tiêu cuối cùng chỉ là đấu tranh và nuôi bản thân. Tổ chức biểu tình chỉ là mục tiêu để chúng gây dựng thanh thế để nước ngoài hậu thuẫn, nhưng với bản chất đó thì nhân dân Việt Nam đã quá hiểu rõ và sẽ khó có thể lôi kéo được.

Quê Choa


Làng xã xưa và nay

Cơ sở hình thành và những hệ quả của xã hội làng xã từ cổ truyền đến hiện tại

Nguồn gốc sâu xa của mọi sự khác biệt về văn hoá chính là do những khác biệt về điều kiện tự nhiên (địa lý - khí hậu) và xã hội (lịch sử - kinh tế) qui định (Xem thêm Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hoá Việt nam, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001, tr.36.).

Xét về vị trí địa lý và khí hậu, Việt Nam nằm ở phía Đông Nam Châu Á, diện tích 312.000 km2, có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, đặc thù nắng nóng và mưa nhiều (lượng mưa hàng năm hàng khoảng 1000 mm), với hệ thống sông nước dày đặc, rất thuận lợi cho thực vật phát triển, đặc biệt là lúa nước (Xem Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2003, tr.12-13.).

Xuất phát từ nền văn hoá nông nghiệp vốn dĩ phải phụ thuộc nhiều vào thời tiết, người nông dân có xu hướng chú trọng tới các mối quan hệ hoà đồng, hình thành lối tư duy cầu an, ưa ổn định, ngại thay đổi.

Từ thời Hùng Vương đến thời Bắc thuộc chúng ta không có chế độ tư hữu về ruộng đất và cũng chưa hề tồn tại trong lịch sử Việt Nam một chế độ xã hội hoàn chỉnh được đặt định trên nguyên lý sở hữu tư nhân về đất đai thực thụ và triệt để.Chính vì không có sở hữu tư nhân thực sự về ruộng đất trong một thời gian dài dẫn đến tư duy “tiểu nông”, “SX nhỏ” và lối kinh doanh "phường hội". Trong cá tính của người Việt, từ yếu tố lịch sử cũng hình thành nên rất nhiều đức tính quí báu rất đáng trân trọng, nhưng cũng hình thành nên những tính cách rất “khác thường”.

Do phải sống chung với kẻ thù quá lâu, ban đầu là thói quen phản kháng ách cai trị của người Hán, ban đầu là chống, chống lâu thành quen, từ đó hình thành nên truyền thống trọng lệ hơn luật, truyền thống chống lại pháp luật “Phép vua thua lệ làng”.

Bên cạnh những ưu điểm của tính linh hoạt, đôi khi thuộc tính này còn bị biến dạng theo chiều hướng tiêu cực dưới những dạng thức như:

- Lối ứng xử linh hoạt trong xã hội làng xã dẫn đến căn bệnh tuỳ tiện, dễ thay đổi ý kiến. (Thí dụ, tật co giãn giờ giấc, giờ "cao su")

- Người làm nông nghiệp sống trong một không gian làng xã khép kín theo một nhịp sống tĩnh tại, ổn định, không vội vã hình thành nên một tác phong đủng đỉnh trong công việc;

- Trong kinh doanh đó là thói quen xấu như chèn ép, nói dối, thất hứa v.v... thói chụp giật, cò con, gian lận...(cạnh tranh không lành mạnh);

- Ngại tiếp xúc, giao lưu với bên ngoài cũng hình thành nên tâm lý bài ngoại, hoài nghi…

Về tổ chức quản lý và sinh hoạt của làng xã, xã có thể cùng là làng hoặc một xã có thể gồm vài làng, xóm cũng có thể cùng là thôn hoặc một thôn cũng có thể có vài xóm (nông thôn Nam bộ còn có ấp [ấp là xã thôn lập ra ở nơi mới khai khẩn hoặc thôn ở biệt lập]).

Làng xã muốn duy trì sự ổn định của mình nên đã hạn chế việc người nông dân bỏ làng đi ra ngoài, cũng như không cho người ngoài vào làng sống.

Dân chính cư trong xã chia thành 5 hạng: Chức sắc gồm những người đỗ đạt hoặc có phẩm hàm; chức dịch gồm những người đang làm việc trong xã; Lão gồm những người thuộc hạng lão trong các giáp; Đinh gồm trai đinh trong các giáp; Ti ấu là hạng trẻ con của các giáp.

Lí dịch quản lý chủ yếu ba hạng dân Lão, Đinh, Ti ấu, dựa vào giáp nên việc tổ chức quản lý hoàn toàn tự nguyện và khá ổn định; đứng đầu ban lý dịch là lý trưởng; dưới đó là phó lí (giúp việc), hương trưởng (công ích) và trương tuần hay xã tuần (lo việc an ninh, tuần phòng). Phương tiện quản lý chủ yếu của lí dịch có hai loại sổ - sổ đinh và sổ điền: một tay nắm nhân lực (trai đinh), và một tay nắm kinh tế ruộng đất.

Từ việc tổ chức như vậy, nên đã tạo ra tính cộng đồng và tính tự trị.

Tính cộng đồng là sự liên kết các thành viên trong làng lại với nhau, mỗi người đều hướng tới những người khác.

Tính tự trị là sự tồn tại biệt lập giữa các làng, và độc lập cả với trung ương. Mỗi làng là một vương quốc nhỏ khép kín với luật pháp riêng (mà các làng gọi là hương ước); có hội đồng kì mục (ở miền Bắc và miền Trung do tiên chỉ và lý chỉ đứng đầu và ở các thôn ấp miền Nam sau này gọi là Hội tề do hương cả đứng đầu- cơ quan lập pháp); lí dịch (cơ quan hành pháp).

Nếu như tính cộng đồng có chức năng liên kết các thành viên trong làng xã (hướng ngoại), thì tính tự trị lại xác định sự độc lập của làng (hướng nội).

Chính từ tính cộng đồng nên ai bỏ làng đi bị coi là biến chất, dẫn đến hệ quả là không khuyến khích việc làm giàu, làng xã đã hình thành nên một vách ngăn vô hình khiến người dân quê rất khó “mở mày mở mặt với thiên hạ”.

Chính từ những cơ sở của lịch sử, kinh tế và xã hội đã phân tích cho thấy yếu tố dân chủ trong truyền thống Việt Nam chưa thực sự được quan tâm chú trọng. Dân chủ trong lịch sử Việt Nam chủ yếu tồn tại ở hai dạng là dân chủ nông dân mà mục tiêu cao nhất của nó là hướng đến bình quân chủ nghĩa, và dân chủ làng xã lấy quan hệ cộng đồng để trói buộc con người, từ đó dẫn đến thủ tiêu vai trò cá nhân.

Người Việt luôn coi trọng tình cảm hơn lý trí, tinh thần hơn vật chất, ưa sự tế nhị kín đáo hơn sự rành mạch mà thô bạo (làm gì cũng sợ rút dây động rừng, nên có việc gì thường chủ trương đóng cửa bảo nhau, chín bỏ làm mười...).

Tính tự trị tạo ra óc gia trưởng, tôn ti, tính ích kỉ, óc bè phái, địa phương. Đồng thời tính cục bộ làng xoá nhoà sự cạnh tranh giữa từng làng lẫn từng cá nhân trong cộng đồng làng (hình thành truyền thống xấu đều hơn tốt lỏi; khôn độc không bằng ngốc đàn; Toét mắt là tại hướng đình, cả làng toét mắt riêng mình em đâu).

Dưới góc độ tâm thức, tâm thức của người Việt dù đi đâu làm gì cũng đều hướng về làng quê, bản quán, sức mạnh của tâm thức bắt nguồn từ những níu kéo của những giá trị đạo đức, của mạch nguồn gốc rễ, dòng họ, chẳng vậy mà đi đâu xa người ta vẫn luôn hướng về dòng họ, mục đích cuối cùng của người dân quê thành đạt cũng đều nhằm làm vẻ vang cho dòng họ của mình. Chẳng vậy mà trong những dòng hồi tưởng của mình người Việt luôn sống bằng những hoài niệm, kí ức, từ đây trong tâm thức của người Việt cũng hình thành thói dựa dẫm, ỷ lại, ngại khó. Thí dụ, tệ đi cửa sau trong giải quyết công việc: nhất thân, nhì quen, tam thần, tứ thế... Từ đó tạo cơ sở cho việc hình thành óc bè phái địa phương, thói ích kỉ, lối sống dựa dẫm, ỷ lại, căn bệnh bằng cấp, háo danh, ham mê bổng lộc, chạy theo dục vọng...

Cho đến nay, mặc dù xã hội đã thay đổi nhưng những thói quen cũ đó nó vô hình nhưng vẫn hiện hữu, tự thân nó đã ngấm sâu, bám rễ vào trong từng cử chỉ, hành vi khiến cho việc cư xử như vậy trở nên bình thường, và được chấp nhận như một lẽ tự nhiên, nó tồn tại trong cách nghĩ, cách làm của rất nhiều người và vấn đề là ở chỗ khi là một thành viên trong xã hội như thế người ta "khó có thể xử xự khác được".

Xây dựng một xã hội công dân, một xã hội pháp quyền từ xã hội làng xã - liên hệ vào điều kiện Việt Nam

Thuật ngữ xã hội công dân ra đời từ thế kỷ IV-III, TCN, gắn liền với triết thuyết chính trị của hai nhà triết học cổ đại Platon (427-347 TCN) và Arixtốt (384 - 322 TCN) từ thời Hy Lạp cổ đại.

Mặc dù vậy thuật ngữ này chỉ sự thịnh hành trong ngôn ngữ chính trị - pháp lý qua các tác phẩm của T. Hốp xơ; G. Lốc-cơ (chủ nghĩa duy vật Anh); của các nhà triết học khai sáng Pháp và đặc biệt là triết học cổ điển Đức như I. Cantơ và G. Hêghen.

Nếu như theo thông lệ, con đường tuần tự mà lịch sử đã đi qua là muốn xây dựng nhà nước pháp quyền, phải bắt đầu từ xã hội công dân. Ở Việt nam, một xã hội công dân không thể được hình thành một cách tự phát, mà đòi hỏi tính tự giác, đặc biệt khi mà những ảnh hưởng của đặc thù xã hội truyền thống như đã phân tích còn khá nặng nề, việc chuyển mình từ xã hội hiện tại - xã hội làng xã lên xã hội công dân càng trở thành một vấn đề lớn đáng được quan tâm.

Ngược với xã hội làng xã, xã hội công dân là xã hội được xây dựng trên cơ sở mối quan hệ bình đẳng giữa nhà nước và công dân, và giữa các công dân với nhau trên cơ sở pháp luật, là một hệ quả tất yếu của quá trình toàn cầu hoá (Xem Charles R.Beitz. Social and cosmopolitan liberalism. International Affairs, page 75, 1999., xã hội công dân trước hết phải là một xã hội dân sự). Xã hội dân sự (Civil society) là những tổ chức phi nhà nước, phi lợi nhuận, được thành lập một cách tự nguyện có mục tiêu giảm nghèo và hướng tới dân chủ thực chất., thừa nhận, bảo vệ và coi trọng quyền tự định đoạt của công dân.

Đi lên từ một xã hội làng xã, để xây dựng một xã hội công dân cần phải giải quyết được các mâu thuẫn căn bản và được thực hiện bằng nhiều giải pháp cụ thể. Trong giai đoạn trước mắt hiện nay, tôi cho rằng cần phải tập trung vào việc thực hiện các biện pháp sau:

Thứ nhất, cần ưu tiên phát triển một nền kinh tế năng động, xây dựng những chính sách hợp lý, phù hợp với quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội

Muốn xây dựng xã hội công dân không còn cách nào khác hơn nếu không phải là phải đặt việc thúc đẩy quan hệ kinh tế - thị trường lên hàng đầu, vì chính điều này là cội nguồn hiện thực của xã hội công dân.

Khi đã là một thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO, Nhà nước cần tạo ra cơ chế nhằm đảm bảo tự do kinh tế, tự do thương mại, lao động; đổi mới cơ cấu tổ chức, cũng như phương thức hoạt động của nhà nước một cách kịp thời; xác lập môi trường, khuôn khổ pháp lý thích hợp; đồng thời nhà nước cũng cần giảm việc can thiệp quá sâu vào quyền điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, mà tập trung vào quản lý ở tầm vĩ mô, hạn chế tác động tiêu cực, mặt trái của kinh tế thị trường...

Tất cả sẽ hiện thực hoá một chân lý rất giản dị một khi đô thị hoá, công nghiệp phát triển ắt thoát khỏi sự khống chế của nông thôn, đời sống vật chất cao, đầy đủ ắt sẽ thoát khỏi sự nghèo nàn, thiếu thốn; một tốc độ đô thị hoá nhanh, thái độ làm việc khẩn trương, nền nếp sẽ làm cho hàng loạt các tính cách xấu không có lý do để tồn tại.

Thứ hai, bằng nhiều các biện pháp đồng bộ tác động nhằm tăng cường công tác xây dựng lối sống, ý thức tuân thủ chấp hành pháp luật. Ta lâu nay vẫn nghĩ cứ làm luật là dân theo, thực tế không phải như vậy. Chúng ta đầu tư rất nhiều vào việc xây dựng, ban hành ra các đạo luật, nhưng thực tế sự chấp hành pháp luật của người dân chưa được cải thiện là bao; hay nói cách khác sự đầu tư còn có sự chênh lệch giữa đầu tư cho công tác xây dựng luật và đầu tư cho công tác tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật. Đề cao pháp luật, tăng cường pháp chế phải đi liền với mối quan tâm làm sao để đưa cuộc sống vào pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, tạo thói quen và nếp sống tôn trọng pháp luật trong cán bộ và mọi tầng lớp nhân dân. Do đó không thể tách rời việc đưa cuộc sống vào pháp luật trong xây dựng pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống trong thực tiễn áp dụng pháp luật - đây là hai mặt của một nhiệm vụ.

Như vậy, tựu trung lại, cần phải có sự kết hợp tổng hợp nhiều yếu tố:

Thứ nhất, Luật pháp đạt tới tiêu chí khách quan công bằng, nhân đạo;

Thứ hai là mỗi công dân trong xã hội đều tôn trọng và hiểu rõ giá trị, ích lợi đích thực của luật pháp. Một khi lối sống tôn trọng luật pháp trở thành lẽ tự nhiên, như con người sống cần phải thở, thì khi đó lối hành xử theo cảm tính, hoặc do nể nang sẽ không còn.

Thứ ba, xây dựng một xã hội bình đẳng trước hết là trong mối quan hệ giữa công dân với nhà nước vì lợi ích đa phương. Nhà nước không thể vì bất cứ lý do gì, dựa vào đó mà vi phạm những quyền cơ bản của công dân.

Muốn xây dựng một xã hội công dân không thể còn tồn tại trường hợp một công dân làm thiệt hại đến lợi ích của nhà nước mà không phải gánh chịu hậu quả pháp lý tương xứng, cũng không còn trường hợp nhà nước có thể ban hành văn bản pháp luật vi hiến, gây thiệt hại cho lợi ích của công dân và xã hội, lại không có chế tài hay bất cứ một cơ chế kiểm soát nào. Tôn trọng sự bình đẳng, thoả thuận, tự do khế ước, nhà nước cũng là một chủ thể bình đẳng trong giao lưu dân sự, và là và chỉ là một chủ thể, một đối thủ quan trọng trong giao lưu kinh tế.

Một nhà nước hiệu năng là một nhà nước không ngừng lắng nghe, suy tư và hành động nhanh nhậy, muốn vậy cần phải tăng cường cơ chế phản biện xã hội, nhà nước không lấy cái đa số để đè bẹp cái thiểu số mà phải tìm trong các nhóm lợi ích đó tiếng nói chung, đưa ra những giải pháp đạt được lợi ích đa phương, vì sự phát triển bền vững.

Vẫn biết rằng xây dựng một xã hội công dân là một quá trình, song nếu quyết tâm đổi mới, dám so mình với thế giới để biết mình đang đứng ở đâu mà nhìn thẳng vào những yếu kém, mặt trái, những tác động nghịch (tuy vô hình nhưng hiện hữu), một xã hội biết suy tư, trăn trở như thế, xã hội đó có quyền để hi vọng về sự phát triển.

Tham khảo thêm: Nguyễn Minh Tuấn, Dân chủ hóa nông thôn vì sự phát triển bền vững, Tạp chí Khoa học và Tổ quốc, Số tháng 9 (259), ra ngày 20/9/2005, tr. 19-21.

VIỆT TÂN - NGU DI TRUYỀN

Lý do chúng ta phải học mầm mon, tiểu học rồi trung học, đại học theo thứ tự, là bởi như một quy luật tự nhiên, nhà phải xây từ móng. Kỹ năng đọc hiểu phải có trước khi tiếp thu các kiến thức khác. 


Thiết nghĩ Việt Tân nên mở 1 lớp bình dân học vụ để dạy lại khả năng đọc cho đám admin trên fanpage của mình. Sau đó thì ném hiệp định Genève vào mặt chúng nó. 




Hiệp định Genève tuy dài, nhưng đọc hiểu nhớ ý chính rất dễ:

Thứ nhất: trong hiệp định Genève  không có chủ thể tham gia nào có cái tên Quốc Gia Việt Nam, dĩ nhiên càng không có cái điều khoản nào nói giao miền Nam cho Quốc Gia Việt Nam. Quốc Gia Việt Nam vốn là tay sai của Pháp, cùng người Pháp chỉa súng vào nhân dân.

Thứ 2: Hiệp định Genève tinh thần chung nhất là yêu cầu Pháp và các bên công nhận và tôn trọng sự độc lập thống nhất của Việt Nam, vĩ tuyến 17 là "chia vùng đóng quân" chứ không phải "chia đôi đất nước", sau thời gian 2 năm Pháp phải rút hết quân và bàn giao lại cho Việt Nam. Tuy nhiên người Pháp lật lọng, bàn giao lại cho Quốc Gia Việt Nam (vốn tay sai của Pháp), bọn Quốc Gia Việt Nam lật lọng không chịu tổng tuyển cử mà với sự hậu thuẫn của Mỹ lập ra VNCH. 

Về ngày giải phóng Thủ Đô:

Thứ nhất khi Pháp trở lại, đánh vào Hà Nội, chính phủ VNDCCH buộc phải rút lên Việt Bắc (cụ thể là Thái Nguyên), nhân dân buộc phải đi sơ tán các nơi. Pháp chiếm đóng Hà Nội.

Thứ hai, sau chiến thắng Điện Biên Phủ và hiệp định Genève, Pháp buộc phải rút quân khỏi Hà Nội, chính Phủ, quân, dân trở lại Thủ Đô (10/10)

Vậy không gọi là giải phóng thủ đô thì gọi là cái gì? Không có trận Điện Biên Phủ, Pháp tự rút quân không?

Việt Tân vốn là hậu duệ của phường bán nước (QGVN - VNCH), nhưng xem ra không khá hơn là mấy, sự đê tiện được di truyền, bên cạnh đó sự ngu dốt và hèn kém tăng bội phần.

Nguồn: HNNGBPĐ