Sunday, October 12, 2014

Dùng tưởng tu tập

LỜI PHẬT DẠY
“Này các Tỳ Kheo, có mười sáu tưởng này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh. Thế nào là mười sáu tưởng?

1- Tưởng bất tịnh
2- Tưởng vô thường
3- Tưởng chết
4- Tưởng khổ trên vô thường
5- Tưởng vô ngã trên khổ
6- Tưởng đoạn tận
7- Tưởng ly tham
8- Tưởng đoạn diệt
9- Tưởng vô ngã
10- Tưởng nhàm chán trong các món ăn
11- Tưởng không hoan hỷ đối với tất cả thế giới
12- Tưởng xương trắng
13- Tưởng trùng ăn
14- Tưởng xanh bầm
15- Tưởng nứt nẻ
16- Tưởng trương phồng

Này các Tỳ Kheo, mười sáu tưởng này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến quả lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh”.
(Tăng Chi Kinh tập 4 trang 380)

CHÚ GIẢI:

Trong pháp tu hành của Phật, chúng ta được phép dùng tưởng để tu tập. Nhưng chúng ta phải hiểu khi dùng tưởng có ích lợi về việc ly dục ly ác pháp trên thân tâm của chúng ta, chứ không phải dùng tưởng xuất hồn, tưởng hào quang, ánh sáng, tưởng Nhân điện, tưởng Khinh công, Khí công, Nội công, tưởng Phật Tánh, tưởng Cực Lạc, Thiên Đàng, tưởng thế giới siêu hình, tưởng trí tuệ Bát Nhã tánh không, tưởng Chân Không diệu hữu...

Pháp tưởng của Phật dạy là một loại tưởng có như thật. Ý thức không thể thấu suốt quá khứ và vị lai, nó chỉ xác định được trong hiện tại. Vì thế, nó không thể chỉ có lấy thời gian hiện tại mà xác định được vô thường của các pháp. Muốn xác định được sự vô thường của các pháp, thì phải lấy thời gian hiện tại và quá khứ của mọi vật mà so sánh. Cho nên, muốn biết được thân vô thường thì chúng ta nhớ tưởng về thân quá khứ (bằng tưởng thức) mà so sánh lại thân hiện tại (bằng Ý thức). Nhờ đó chúng ta mới nhận ra thân chúng ta có nhiều sự thay đổi. Sự thay đổi ấy là sự vô thường.

Cho nên, mới gọi là tưởng thân vô thường. Có nghĩa là ngay trong hiện tại thân chúng ta thường thay đổi liên tục từng sát na đi qua (trong từng giây). Tưởng vô ngã, tưởng chết... tưởng xương trắng, tưởng trùng ăn, v.v.. đều dùng tưởng uẩn mà quán xét như trên đức Phật đã dạy thì chúng ta sẽ thấy các pháp vô thường, vô ngã, bất tịnh, ... như thật.

Những loại quán tưởng đức Phật đã dạy trên đây là những loại quán tưởng các pháp thấy như thật, chứ không phải là những loại quán tưởng mơ hồ, ảo giác, trừu tượng như kinh sách Đại Thừa và Thiền Tông phát triển dạy.

Những loại quán tưởng này dùng tưởng uẩn để quán xét sự thật của kiếp người, khiến cho chúng ta thấu suốt và thấy rõ bản chất thật của các pháp trên thế gian này. Nhờ đó, chúng ta không bị chúng lừa đảo và mê hoặc.

Mười sáu đề mục quán tưởng trên đây, nếu chúng ta chịu khó tu tập, làm cho tích tập, làm cho sung mãn thì có lợi ích rất lớn cho cuộc sống của chúng ta, nó giúp cho thân tâm được an lạc và hạnh phúc. Và cuối cùng, tâm có thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh.

Trên đây là lời Phật dạy, các bạn có tin chăng? Nếu các bạn tin thì các bạn cứ quán tưởng theo từng đề mục, khi đề mục này có kết quả thì các bạn quán tưởng đến đề mục khác và cứ tu tập như thế cho đến viên mãn 16 đề mục thì các bạn sẽ thấy tâm tham, sân, si của các bạn không còn nữa, chừng đó các bạn đã nhập vào bất tử tâm định.

Sự quán tưởng 16 đề mục trên đây là để tu tập Định Vô Lậu. Định Vô Lậu là một loại định quán tưởng tuyệt vời để đi đến chứng Thánh quả A La Hán. Xin các bạn lưu ý: Vì pháp quán tưởng này dùng để tâm nhàm chán các pháp thế gian và nhờ đó mới diệt ngã xả tâm, ly dục ly bất thiện pháp hoàn toàn, chứ không như pháp môn của Đại Thừa và Thiền Tông dùng tưởng pháp (thấy các pháp như mộng, như huyễn) để tránh né và để ức chế tâm cho hết vọng tưởng, cuối cùng rơi vào định tưởng (chẳng niệm thiện niệm ác), mà tâm chẳng ly tham đoạn ác pháp.

Qua 16 đề mục quán tưởng để tâm nhàm chán, nhờ có nhàm chán tâm mới xa lìa tham, sân, si mạn, nghi. Theo pháp quán tưởng này các bạn cứ suy ngẫm lại có đúng không? Chúc các bạn thành công tốt đẹp trên pháp hành này.

Trưởng lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây

Ta là ai?

Có lần tình cờ nghe được mấy câu, cũng vì thế mà đi tìm mãi một câu trả lời.

Thử hỏi một lần ta là ai?
Mà sao mộng mãi giữa đêm dài
Đêm dài quên ngủ trong sinh tử
Thử hỏi một lần ta là ai?

Ta là ai vậy nhỉ, ta có phải là cái tên này không? Không rồi, cái tên là do cha mẹ đặt cho, cũng có thể thay đổi được. Hay ta là thân xác này, nhưng thân xác này rồi cũng không ra khỏi vòng sinh lão bệnh tử, sẽ có ngày về chốn viễn phương mà thôi. Ta là ai mà giữa trốn hồng trần này, cứ mải miết, mải miết trong những vòng xoáy cuộc đời, những bon chen toán tính, những tất bật hơn thua, khổ ải trầm luân…

Ta trước hết chỉ là một con người còn si mê, cạn cợt. Những điều ta biết chẳng qua chỉ là những thứ quá ít ỏi, nhỏ nhoi như một hạt bụi trong cái biển kiến thức mênh mông của thế gian, chưa nói tới những kiến thức của bậc thánh nhân, những hiểu biết xuyên suốt thời gian và không gian.Ta tranh cãi nhau, hơn thua nhau chỉ một vài câu chuyện, một vài tình tiết, một vài kiến thức nho nhỏ, chỉ là chuyện lặt vặt. Còn những cái lớn hơn, những kiến thức để nâng ta thoát khỏi cái màn vô minh dày đặc thì ta lại chưa biết một chút gì. Chẳng phải thế mà ta lúc nào cũng như vô đường vô hướng giữa biển khơi.

Ta còn là một con người mà đúng sai chưa tường, thiện ác chưa phân. Ta chưa biết đâu là thiện, đâu là ác, lúc làm việc thiện, lúc làm việc ác. Cứ nghĩ cái thiện và cái ác phân minh rõ ràng, ai ngờ nó đan xen, lẩn lấp, trong thiện có ác, mà trong ác có thiện, khiến cho ta u mê, lúng túng. Ví như thực hiện một ca phẫu thuật đó là thiện hay ác, đâu là thiện, đâu là ác. Một con cáo đang chuẩn bị bắt một con nai, ta giết con cáo để con nai không bị ăn thịt, ta có khác con cáo kia không, ta là ác hay thiện?

Trong Phật giáo có ghi lại, khi Phật đản sinh, Người đã chỉ lên trời rồi chỉ xuống đất: ‘‘Thiên Thượng, Thiên hạ, duy ngã độc tôn.’’. Đó là cái ta của đất trời vũ trụ. Đức Phật muốn gợi ý ta tìm thấy ta trong khắp đất trời. Ta có mặt trong cây cỏ hoa lá, trong con cá dưới sông, con chim trên trời… Tất cả đâu đó có phần xương thịt của ta.

Vậy có phải, ta xé một cái lá, bứt một nhành hoa, phá một cánh rừng, bắn một con chim… là ta đang hủy hoại chính mình không. Ta giận một người, ta đánh nhau với một người, ta hận thù một người… suy cho cũng cũng chỉ là hành động tay phải đánh tay trái mà thôi.

Vậy nên ta là yêu thương, là sẻ chia, là hy sinh và phụng sự, là sống vì mọi người, đây là vô ngã. Vô ngã không phải là không có cái ta, mà vô ngã là ta nằm trong vô lượng ngã. Còn sống riêng cho mình là bản ngã, là đánh mất đi chính mình, đánh mất đi cái ta chân thật.

Cuối cùng, ta tìm được cái ta chân thật là tìm được cái yêu thương, đồng cảm, sẻ chia, hy sinh và phụng sự trong mỗi nhành hoa ngọn cỏ, trong từng con người sống quanh ta.

Nguồn ảnh: Internet

Vì kiếp người mong manh...

Đêm tĩnh lặng… Miền quê nghèo thì đêm nào cũng như đêm lễ hội ma vì cứ bảy giờ là nhà ai cũng đóng cửa kín mít, ngoài đường thì chẳng lấy nổi một bóng đèn. Lang thang online, một mình cô đơn quá! Vô tình nghe văng vẳng vọng xa tiếng tụng kinh bằng đĩa, âm thanh trầm buồn, âm ba thổn thức. Kiếp người theo triết lý đạo Phật là cõi tạm bợ mong manh, khi mà con người vốn sinh ra đời đã gắn liền với nỗi khỗ. Tiếng khóc trẻ thơ oa oa cũng như ai đó đang giằng xé lấy nỗi niềm day dứt, kiếp khổ trầm luân khi mang nặng nợ kiếp con người.

Ta là một Phật tử, ta tạm có thể hiểu rằng cuộc sống của con người không bao giờ biết trước được tương lai, không bao giờ có thể vẹn toàn được những thứ con người mong muốn. Vậy, con người bon chen sống là vì cái gì nhỉ? Bon chen, chà đạp, lợi dụng, giả dối lẫn nhau là vì cái gì? Có một người bạn thân, quen qua Yume nói với ta rằng, sống ở Sài Gòn là học tập, mà ngay cả việc học cách bon chen cũng là học vì “cọp chết để da, con người ta chết để tiếng”. Ta không nói mình có suy nghĩ lạ hay kỳ quặc, nhưng thú thật ta không thể bon chen như thế. Và ta cũng chẳng thể là các vị chân tu để xuống tóc vô chùa mà thiền định. Ta vẫn là ta, đứa con gái tóc dài, thích mặc đẹp, thích ăn ngon, lắm lúc cũng thích ngắm nhìn các chàng trai tốt mã. Nhưng chẳng hiểu sao, ta lại không thích cuốn vào vòng xoáy bon chen.

Sống trên cõi đời tạm bợ này, tình người là quan trọng hơn cả cơ mà. Tại sao con người có thể vì mục đích cá nhân mà bon chen xô đẩy lẫn nhau? Việc chiến tranh, việc giả dối, việc xâm hại lẫn nhau dẫn đến tự tàn sát chính con người với con người là chuyện thường ngày xảy ra trong Huyện. Một góc nhìn khác về đại bộ phận con người, đó là việc tự sát. Người tự tử quả là một kẻ có gan, rất dũng cảm khi tự đem lại cho chính cơ thể mình cái chết, khi mà đến con kiến cũng mưu cầu sự sống. Không thể yêu và chăm sóc bản thân mình được tốt, nên họ đi tự tử vì họ biết họ chẳng thể yêu quí và chăm sóc được ai cả.

Người tự tử có tội… Tội bất hiếu với cha mẹ, hai đấng sinh thành đã tạo dựng nên một cơ thể, một kiếp người…. Ừ thì có tội. Nhưng có bao giờ ai đó nghĩ rằng, những người sống xung quanh của một kẻ tự tử cũng có tội, tội gấp nhiều lần hơn ấy chứ. Tội đã khiến người ta đi đến con đường cùng quẫn. Này nhé, nếu anh chàng họ Sở không ra đi khi cái bào thai dần lớn thì cô gái đã không nghĩ đến cái chết. Nếu họ hàng gia đình không ép buộc con bé học hành quá nhiều khiến nó stress nặng thì nó đã không quyên sinh. Nếu những gã đàn ông đừng dùng vũ lực để đàn áp hành hạ những người phụ nữ yếu đuối thì họ đã không phải chết.Nếu… Nếu…. Có rất nhiều rất nhiều cái nếu để thấy kiếp người mong manh như sợi tơ nhện, nhỏ xíu vắt ngang vách tường…

Mấy năm qua râm ran chuyện tận thế, con người sẽ làm gì khi tận thế? À thì dùng mọi cách để cứu lấy chính mình và người thân của mình. Vậy thì tại sao không dùng trí óc và trái tim để sống trọn vẹn cho những ngày mình còn sống? Ta chẳng dám nói mình là ai cả trên cái thế giới to lớn này, cái thế giới con người đã đạt cột mốc bảy tỷ. Ta chẳng biết phải làm gì nếu thật sự có ngày tận thế xảy ra… Nhưng ta biết, biết chắc chắn rằng ngày hôm nay ta vẫn còn sống. Ta sẽ cố gắng sống thật, sống cho trọn vẹn một ngày, sống cho những người ta yêu thương, sống như thể chỉ còn một ngày để sống.

Nếu chỉ còn một ngày để sống…. Ta sẽ sống cho những yêu thương với gia đình, với bạn bè, với lũ học trò nghèo nhưng rất đáng yêu. Và ta sẽ sống những giây phút ít ỏi còn lại cho hắn… Cái gã mà ta đang thầm nhớ, thầm thương dù hắn vẫn rất dửng dưng hờ hững. Ta sẽ sống trọn vẹn những tiếng đồng hồ cuối cùng để bên cạnh hắn, nấu cho hắn bát cháo thịt bằm nhiều tiêu và hành cho hắn giảm sốt. Ta sẽ dành cho hắn thật nhiều nụ cười, bắt hắn phải nhớ tiếng ta cười… Và khi chỉ còn vài chục phút, ta sẽ đi một nơi nào đó yên tĩnh. Thả hồn về với những câu kinh của Phật dạy… nhẹ nhàng ra đi.

Vì kiếp người mong manh… vì chẳng thể biết khi nào ta ra đi, mà ý nguyện của ta lại là chỉ cần có một người thật sự khóc thương cho mình, thật sự thương xót cho mình… Vì vậy ta đang cố gắng từng ngày để sống, từng ngày còn sống để đừng gây tổn thương cho bất cứ ai, dù là những người ta quen bên ngoài hay những người bạn trên Internet…

Vì kiếp nguoi mong manh....

Nấm Độc

Saturday, October 11, 2014

Khi tu xong, còn tham, sân, si nữa không?

Hỏi: Kính thưa Thầy! Câu “vì vô minh nên ta sống viễn ly” có phải người sống viễn ly như vậy tu toàn pháp quán, tưởng, Định Vô Lậu, tu không có đối cảnh để buông xả, ly dục ly ác pháp…. nhưng khi ra giữa chợ, họ còn thèm ăn, ai chửi mắng họ còn có tức giận và tham, sân, si nữa hay không?

Đáp: “Vì vô minh ta sống viễn ly”, Vô minh là không hiểu rõ, viễn ly là xa lìa.

Câu này không có nghĩa bỏ cuộc đời sống một mình trong rừng núi như các nhà Yoga, ông Nguyễn Bỉnh Khiêm mà phải hiểu “Vì thông hiểu rõ các pháp nên các pháp đến ta đều bỏ xuống không cho dính mắc trong tâm”.

Tu không đối tượng không bao giờ có giải thoát chỉ là một dạng người yếm thế tiêu cực trốn đời, lánh khổ. Đạo Phật không chấp nhận điều này nên pháp môn hành thiền của Ngài, Thiền Thứ Nhất “ly dục ly ác pháp” diệt ngã xả tâm quét sạch ngũ triền cái, đoạn dứt thất kiết sử, chỉ khi nào tâm không còn tham, sân, si, mạn, nghi nữa, thì mới sống độc cư trong rừng núi một mình để thực hiện những thiền định sau cùng. Xưa đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã trải qua nhiều kiếp tu hạnh “Nhẫn nhục”, “Tứ vô lượng tâm” (tu có đối tượng) đến kiếp cuối cùng Ngài mới thành Phật. Tu có đối tượng tức là “Hoa sen nở trong lò lửa”.

Người tránh cảnh, tu để tiêu dao, thảnh thơi an lạc không ai quấy rầy là người yếm thế như Lão Trang (Tiên Đạo). Khi đụng đến đối tượng, bao nhiêu tâm phiền não vẫn còn đầy đủ.

Đạo Phật không yếm thế, ngay cảnh phiền não, giải quyết tâm mình, buông xả hay viễn ly, tức bồ đề (giải thoát).

“Vì vô minh ta sống viễn ly”, câu này theo như các con hiểu khi tâm chúng ta còn tham, sân, si thì nên sống tránh xa mọi người, tìm nơi thanh vắng yên tịnh, để tu tập thiền định đến khi nhập các định xong, nhờ các định sẽ quét sạch tâm tham, sân, si, điều này là ảo tưởng con ạ! Con nên nhớ trong Bát Chánh Đạo, Chánh Định không bao giờ đi trước Chánh Kiến, Chánh Tư Duy và Chánh Ngữ, v.v..

Các con nên nhớ, khi sống trong rừng núi một mình tâm chúng ta không bao giờ chịu cô đơn, nó sẽ tìm mọi cách lý luận.

Cho nên, khi vào trong rừng núi ở tu một mình tâm sanh ra nhiều thứ chướng ngại khiến cho chúng ta bỏ hạnh độc cư thường hay thỉnh thoảng đi tới đi lui như sư cô..., sư Thầy... Còn ngồi lỳ trong thất tu hành mà không xả tâm lại ức chế tâm, nén tâm đến khi có pháp chướng ngại thì tâm nổi lên sân ầm ầm như Minh Tông mà các con là những người đã trực tiếp chứng kiến sự tu tập từ đầu đến cuối hoàn toàn sống cách ly suốt gần năm năm, thế mà tâm Thầy vẫn còn phiền não và sân hận như người bình thường chưa tu, rất uổng công tu tập gần năm năm trời một thời gian quá dài bây giờ trở về với một số “không”, chỉ còn có hình thức tu hành mà thôi, chứ xét nghiệm lại đức hạnh thì cũng không có mà thiền định thì lại rơi vào thiền tà giáo ngoại đạo của kinh sách phát triển, cho nên năm năm trời tu hành chẳng ích lợi cho mình và cho người, bây giờ chỉ còn nói vọng ngữ lừa đảo với thiên hạ mà thôi.

“Vì vô minh ta sống viễn ly”, hiểu như các con đó là sai, vì hiểu sai như vậy đã biến đạo Phật trở thành đạo yếm thế, nhưng để chứng minh cho các con thấy, các huynh đệ của các con đã để lại một kinh nghiệm sai lầm quá lớn “Vì vô minh ta sống viễn ly”.

Xưa, có một vị Hòa Thượng ở trong rừng núi, ông xin một đứa bé hài nhi đem về núi nuôi dạy tu hành, khi đứa bé đến tuổi trưởng thành ông đưa về thành phố nơi phồn hoa đô hội “Ngựa xe như nước áo quần như nêm”. Khi vào thành phố đứa bé thấy mọi vật cái gì cũng đẹp cũng lạ và nhất là phụ nữ thì cậu ta lại càng thích hơn và hỏi Thầy: “đó là con vật chi thưa Thầy?”.

Vị Thầy trả lời: “Đó là con cọp”.

Cậu bé hỏi: “Con cọp có dữ không thưa Thầy? Sao con thấy nó dễ thương quá vậy”.

Vị Thầy trả lời: “Con cọp dữ lắm con ạ! Nó sẽ ăn thịt con đó, con đừng nên lại gần nó”.

Sau chuyến đi thành phố này trở về núi, cậu bé không còn vui đùa hồn nhiên như trước, luôn luôn lúc nào cũng có chiều suy tư. Một hôm cậu thưa với Thầy: “Kính bạch Thầy! Xin Thầy cho phép con mua con cọp đó về nuôi được không? Sao con ưa thích nó quá”.

Vị Thầy làm thinh không trả lời và suy tư: “Tu hành theo đạo Phật không thể tránh cảnh mà tâm thanh tịnh được, trực tiếp trong mọi cảnh và phải thấu suốt cảnh vật, có trực tiếp, có thấu suốt thì mới buông xả được”, còn cậu bé này được cách ly thế giới bên ngoài từ lúc sơ sinh cho đến 18 tuổi chuyên ngồi thiền niệm Phật tụng kinh bái sám, nhưng ngồi thiền, niệm Phật, tụng kinh, bái sám chẳng giúp gì cho cậu buông xả được mà ngược lại khi trực tiếp vào cảnh thì cậu bị lôi cuốn ngay từ lúc đầu “ái dục”.

Cho nên, câu nói “Vì vô minh ta sống viễn ly” đó là lời nói sai không đúng. Đừng hiểu lầm theo kiểu kinh sách phát triển, trí tuệ từ thiền định sanh ra, điều này không đúng, người ta cứ nghĩ rằng khi tọa thiền, ngồi im lặng thân tâm bất động tức là tâm hết vọng tưởng thì trí tuệ sanh, hiểu như vậy là hiểu sai. Trí tuệ được phát triển từ chỗ quán xét tư duy đúng đạo đức nhân quả không làm khổ mình, khổ người, còn ngược lại tọa thiền ức chế tâm, tâm không vọng tưởng, từ trong sự yên lặng đó tưởng tuệ phát sanh, khiến cho từ xưa đến này mọi nguời đều lầm tưởng rằng tưởng tuệ là trí tuệ, cho nên kinh sách của các Tổ viết ra đều do tưởng tuệ, chứ không phải trí tuệ.

Cái sai thứ nhất của kinh sách phát triển và Thiền Tông là: Khi tâm hết vọng tưởng do sự tập trung ức chế ý thức mà cho là định thì đó không phải định của đạo Phật, mà định của ngoại đạo.

Cái sai thứ hai là: Trong chỗ hết vọng tưởng phát sanh sự hiểu biết, mọi người đều lầm tưởng cho sự hiểu biết đó là trí tuệ, sự thật đó là tưởng tri chứ không phải trí tuệ. Đức Phật đã xác định trí tuệ ở đâu thì giới luật ở đó, mà giới luật tức là đức hạnh, cho nên người có đức hạnh là người có trí tuệ, người có trí tuệ là người có đức hạnh.

Trí tuệ hiểu biết những tưởng pháp như hiểu biết trong kinh sách phát triển là tưởng tuệ, sự hiểu biết đó không ích lợi cho mình cho người, sự hiểu biết đó chỉ là một hý luận. Từ xưa đến giờ các thiền sư dựng lên trò hý luận “công án” nói Đông trả lời Tây, nói Nam trả lời Bắc và còn hơn thế nữa là la, hét, chỉ, trỏ, v.v..

Vì hiểu không đúng nên mọi người khi nói đến tu thiền định thì ai ai cũng nghĩ rằng phải tìm nơi yên tịnh vắng vẻ để tu tập thiền định, chừng nào đắc định thì trí tuệ phát sanh, trí tuệ phát sanh sẽ quét sạch tâm tham, sân, si và các chướng ngại pháp, do sự hiểu lầm lạc mà người ta đẻ ra câu kinh này: “Vì vô minh ta sống viễn ly”.

Thuần Tâm là một hành giả Yoga, ông biên soạn và viết về các loại sách này có câu: “Có thiền định mới có trí tuệ, ngoài thiền định không có trí tuệ”. Nếu không có bài kinh Sonadanda trong kinh Nguyên Thủy thì lấy đâu chỉnh đốn sự sai lầm này.

Đạo Phật lấy đức hạnh làm thanh tịnh trí tuệ, lấy trí tuệ làm thanh tịnh đức hạnh, do vậy mà người tu sĩ lấy đối tượng các chướng ngại pháp của cuộc sống đẩy lui khỏi tâm mình bằng sự triển khai trí tuệ vô lậu, cho nên câu: “Vì vô minh ta sống viễn ly”. Muốn hết vô minh ta phải sống viễn ly các ác pháp chứ không phải sống viễn ly là tránh né trốn đời, trốn ác pháp.

Khi mà tránh né trốn đời, trốn ác pháp, tìm nơi yên tịnh, thanh vắng tu tập thiền định của Đại Thừa và thiền Đông Độ, khi triệt ngộ xong có nghĩa là họ đã thành một thiền sư chánh thức, khi họ xuống núi va chạm vào cuộc đời thì tâm tham, sân, si họ vẫn còn đủ và có thể còn nhiều hơn nữa, bằng chứng các thiền sư Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam sống phạm giới, phá giới, sống ăn uống phi thời, chùa to Phật lớn, và mỗi vị Hòa Thượng tịch đều xây tháp vĩ đại, khiến cho hao tài tốn của, mang nợ của đàn na thí chủ quá nhiều, mà họ có làm lợi ích được những gì cho ai đâu.

Vào đầu thế kỷ thứ 20 làn gió Thiền Tông từ Nhật Bản thổi sang Tây Âu làm dậy sóng và thức tỉnh Á Châu, nhưng bước sang đầu thế kỷ thứ 21 Thiền Tông bắt đầu tuột dốc, vì người ta đã tìm thấy thực chất của nó là một trò hý luận ảo tưởng. Hai vị Thiền Sư lớn nhất của Việt Nam là Hoà Thượng Nhất Hạnh và Hoà Thượng Thanh Từ đã bắt đầu quay hướng về những lời dạy Nguyên Thủy của đức Phật, gần đây những bài giảng của hai Ngài rất gần với ý kinh Tứ Chánh Cần.

Tóm lại, tu hành thiền định của đạo Phật, không phải chỗ ngồi thiền, tụng kinh, bái sám, niệm chú, niệm Phật, v.v.. mà ở chỗ ngăn ác diệt ác pháp và đẩy lui các chướng ngại pháp trong tâm, thì đó mới chính là tu thiền của đạo Phật.

Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây

Đời lữ khách – Một kiếp người mộng ảo[1]

“Hương đất trời trổi khúc, hóa hiện những phương trời viễn mộng. Kiếp người như cánh nhạn chiều thu, thở hương đất, uống khí trời, dưỡng chí chân nhân. Hãy bắt đầu từ nơi không bắt đầu và kết thúc từ nơi chẳng kết thúc. Kiếp người mênh mang mà rõ ràng giữa chiêm bao mộng mị.”

Giấy trắng lưu hồn người cô lữ
Kết thành hương in dấu cuộc rong chơi

Trong cuộc chơi sanh – tử, ai thả hồn theo năm tháng đầy vơi? Ai lưu dấu chân trần trên cát bỏng trong cõi sa mạc hoang vu mộng mị? Câu trả lời là dấu chấm than đậm nét phong trần, thấm đậm sương đêm, mịt mù sương khói ngàn năm du thủ.

Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn.

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh núi này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng.

 Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Giờ ngó lại bốn bức tường ủ rũ
Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn.[2]

Dòng thời gian trôi chảy bất tận, mọi kỷ vật không đáp ứng được thị hiếu con người dần dần chìm vào bụi trần quên lãng thời gian, trôi vào quỹ đạo quá khứ quy ước. Tuy nhiên, nó vẫn tồn tại như nó từng tồn tại, vẫn có mặt giữa cuộc đời in dấu ấn nguyên sơ, soi tỏ kiếp người mộng ảo.

Khi ánh nhật bừng dậy trên đỉnh Cô liêu, xua đi sương khói mênh mang; lữ khách rũ lớp bụi thời gian đeo bám trên vạt áo phai màu năm tháng, và những con sóng bạc trường giang trổi dậy, cuốn phăng mọi sự ô uế của cuộc đời, mở ra những dòng thơ mới, dệt nên cuộc lữ mênh mông.

Ai đã từng bôn tẩu trên cuộc trình để tìm lại cánh bạch mai đã khuất, cố níu lại một chút gì mộng mơ đã vụt mất của kiếp làm người; và ai đã lênh đênh để đeo đuổi một tương lai xa vời ở cõi hoang đàng mông lung thăm thẳm, hy vọng ánh nắng vàng le lói chốn xa xăm.

Ta lênh đênh như cánh nhạn theo bước chân em trong từng phút hiện tại để nắm bắt, lưu giữ một nét đẹp phôi pha đang lưu hiện giữa nền trời cổ độ, phiêu lạc chốn phồn hoa đô hội “ngựa xe như nước, áo quần như nêm”.

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương[3]

Rốt cùng ta được gì, ngoài đôi chân trần rát bỏng? Tay vẫn hoàn không. Đôi mắt đẫm sâu niềm khắc khoải, hồn trôi dạt theo con nước lênh đênh, bồng bềnh trong cuộc tử – sinh. Tấm thân tàn lê mình trong gió sớm mùa xuân kiêu kì của dòng xanh.

Ai có nghe chăng? Một linh hồn đương trổi khúc. Đàn dương cầm ai đợi  lúc chia phôi. Niềm lưu lạc gãy lên rồi. Dìm trong cõi mộng cực hồi cung mê… Thật ê chề cho kẻ lữ khách, mãi quên mình theo sóng bạc trường giang, đâu lữ thứ muôn trùng? Đâu vong giả giả vong? Và đâu là quê hương đích thực? “Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách. Nhật viễn gia hương vạn lý trình”;[4] lênh đênh như chàng mộng mị, phiêu bồng mong lưu ảnh giữa hư không.

Nỗi ray rức ấy thẩm thấu thân tâm chàng nghệ sĩ trong cuộc ruỗi rong đến điêu linh mà chưa hề nắm được chút hơi gió trong lành của mùa xuân đô hội. Ngày lại qua ngày lùi dần vào bóng tối nhân sinh:

Ma đưa lối quỷ dẫn đường
Lại tìm  những chốn đoạn trường mà đi.

Ngày kia, trong cuộc chiêm nghiệm về linh ảnh của mình, chàng kịch sĩ kiệt sức thu mình trên đỉnh Cô phong. “Những lúc tâm hồn ta tuột dốc đến điểm tận cùng sâu thẳm của vực sâu thì đó cũng là điểm cao nhất của sự vươn đến.” Nó trổi dậy như ca khúc tình yêu thơ mộng. Nó trổi liên miên trong từng khoảnh khắc, trong từng sát na của thời gian và không gian sinh diệt.

Thời gian xưa hiện về như dòng thác đổ, một thuở Kiều Trần Như, người anh cả đang lang thang trong cuộc lữ, muốn tìm bóng dáng ngày xưa. Bản lai diện mục. Đâu? Ở đâu?

Những năm tháng trôi nổi bồng bềnh trong cuộc đời, lênh đênh như cánh hạc phiêu du, đâu là nguồn cội? Đâu là bến đỗ? Phương nao trời lạ hương cánh đồng hoang. Trầm mình trong rừng sâu, khí thiêng nước độc, khổ hạnh thanh sơn cùng cốc, một hạt mè nuôi thân tứ đại; bao nhiêu phương pháp có thể nghĩ được là có thể thực tập. Khổ hạnh ép xác; buông lung thoả mãn các dục. Rốt cùng chân lý nằm đâu giữa đất trời bao la, mênh mông, không một gợn mây đầu hạ hay cuối thu; không một chút ánh sáng le lói cuối chân trời mộng và thực. Mọi sự truy tầm dường như bước vào ngõ cụt, bế tắt.

Một thoáng gió thu mời gọi, mây trắng bàng bạc vây quanh. Tiếng rống trầm hùng của Sư tử chúa vang vọng giữa núi đồi cô tịch. Mọi trói buộc bị chặt dứt. Nào ngã ái, ngã mạn, ngã si và ngã kiến, tan nát như bụi bặm, biến mất giữa hư không. Khổ – Tập – Diệt – Đạo, chân lý bao trùm vũ trụ, gói gọn tất cả mà cũng có mặt trong cái nhỏ nhất của thế gian. Mọi phạm trù triết học Đông – Tây cũng không ngoài khuôn khổ ấy. Tiếng kêu của con nhái ở trời Tây đánh động cánh bướm đang ngủ vùi trên cành non của lá ở trời Đông. Con bướm trở mình, bay đi làm chao nghiêng cả bầu trời sinh – diệt.

Kiều Trần Như, tiếng gọi vang vọng, con đường “Trung Đạo”[5] có mặt trong cuộc sống thường nhật, trong đời sống tu tập. Khổ hạnh đâu rồi? Buông lung các dục còn mô? Kiếp tu hành trên  ngọn Tuyết sơn, những Đạo sĩ khắc khổ điểm thắm nụ cười và thầm gọi: Thế Tôn có mặt giữa cuộc đời!

Một tiếng gọi nhỏ vang lên từ hồn sâu thẳm. Chàng giật mình tỉnh giấc mộng Vu Sơn, đôi mắt long lanh sáng ngời. Tất cả chỉ là mộng, như ánh chớp chiều tà, như nồi kê chưa chín ngày xưa…

Ta cúi xuống nhặt dấu chân trên cỏ
Thấy tiền thân sương ướt áo chưa khô [6]

Chỉ một tích tắc, chỉ được bằng trực giác, chứ không qua ý niệm của sát na tâm thứ hai hay ngôn ngữ kiêu kỳ của ý niệm tri thức. Chàng đã thấy giọt sương đang hiện hữu trong từng giọt sương…

Đừng tìm về quá khứ
Đừng tưởng tới tương lai
Quá khứ đã không còn
Tương lai thì chưa tới
Hãy quán chiếu sự sống
Trong giờ phút hiện tại
Kẻ thức giả an trú
Vững chãi và thảnh thơi…[7]

Những con sóng về năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành và thức như những dòng chảy miên man vô tận, trôi hoài miên viễn trong dòng chảy cuộc đời, không hề dừng nghỉ.

Những sắc, thọ… kia, đã từng đưa ta về vui đùa cùng quá khứ. Chúng là không thật, không có tự thể.[8] Chúng là không. Và không những năm uẩn không có tự thể mà những thành tố tạo nên năm uẩn cũng vậy, đều không có tự tính riêng biệt.

Do một niệm sai thù mà ta rong ruỗi theo nó, đắm chìm vào biển mộng trùng khơi: nổi trôi như lá theo dòng, bao giờ dừng lại mà đong nỗi sầu…

Giác tánh viên minh, xưa nay vắng lặng; nếu không có ngã – nhân huyễn tướng thì nào có sanh – tử giả danh. Nhơn đầu tiên một niệm sai lầm, từ vọng tưởng có ngay sanh – diệt…[9]

Vị trí

Và tương lai, các uẩn cũng thế. Lưu động dịch chuyển như nước của dòng sông. Nó sống động, biến thiên không ngừng nghỉ, thệ giả như tư phù bất xả trú dạ, tạo nên trường thiên diễn vô tận của sương mai, của ráng chiều và của tâm thức giả huyễn.

Và pháp hiện tại, cũng chẳng sai khác như trên. “Ai đã từng tắm hai lần trên cùng một dòng nước”. Ai? Ai? Dù có chong đèn đi giữa ban ngày ở thành phố Hy Lạp như Hômeơ cũng chẳng bao giờ tìm ra “Con người” ấy. Huống gì với người mà chưa từng có một phút dừng chân, bừng niệm.

Em ơi dừng lại nghe sông trạo
Khúc hát ngàn xưa ngút muôn trùng
Bây chừ bao kẻ theo con sóng
Cứ mãi quanh năm vỗ chập chùng[10]

Ta dừng lại trong giây phút hiện tại, để nhìn rõ em, người con gái ngày xưa cùng một bản thể. Vì nguyện ước sai thù mà lưu lạc ngàn phương, bước hoang vu trên sa mạc hai ngàn năm phát tiết theo mộng yêu đương. “Như năm nào, chưa xa cách phân ly, cùng nguồn gốc bản thể, cội nguồn mênh mông bao la trùng điệp. Với nguyện ước năm nọ mà từ đó, người trời đông toả sáng. Tôi trời tây ấp ủ chiều tà.” Em là thân năm uẩn diệu kỳ, em hiện hữu như dòng sông xanh êm dịu tồn tại trong cuộc diệt – sinh, đắp đuổi nhau trổi lên như cánh bướm mùa xuân, không một chút dừng lại để ôm ấp nỗi đơn cô.

Ta nhìn nhận pháp hiện tại đang là, nhìn chúng dịch chuyển mà không hề khởi một niệm nắm bắt hay lưu giữ. Chỉ nhìn và nhìn mà thấy chúng diệt – sinh trong từng ý niệm. Chúng là không, là vô ngã. Chúng hiện hữu mầu nhiệm trong dòng chuyển dịch nhân duyên, nhân quả.

“Bạch mai, em đi mãi. Ta chìm vào cõi say”.[11] Cánh bạch mai lưu hiện, trôi chảy mãi trong dòng biến thiên, hằng chuyển như bộc lưu. Ta chìm vào cõi say để tỉnh. Ta bước vào cõi tỉnh để say. Sao có thể nói: “Thế gian giai trọc, ngã độc thanh”. Nhân duyên hội ngộ. Tương tức tương sinh. Tự nhiên như hơi thở của kiếp người, đâu dễ thiếu được.

Trong ánh sáng hiện tại, nội pháp và ngoại pháp hiện hữu rõ ràng, không sai chạy. Từ trong giây phút này, ta nhận ra các pháp hiện hữu trong quá khứ, có liên hệ chặc chẽ pháp hiện tại; và pháp tương lai cũng thế. Quá khứ, hiện tại và tương lai chỉ là ý niệm, sản phẩm của tâm thức con người quy ước, chứ thời gian không hề có quá khứ, hiện tại và tương lai. Thời gian chỉ là thời gian. Và có dùng danh từ gì để gọi chăng nữa, nó vẫn là thời gian, như tự thân nó đang là.

Khi thấy rõ gốc rễ, nhân duyên, quả báo… của các pháp, làm sao còn bị đắm chìm hay rong ruỗi. Bao nhiêu ảo vọng, hy vọng, nuối tiếc đều dứt tuyệt. Mọi chướng ngại đều cáo chung, nó không còn cơ hội hiện khởi để đày đoạ kiếp người. Từ đây, nó vắng mặt trên cuộc trường, còn đâu xưng bá, xưng hùng. Còn đâu ngửa mặt mà xưng chúa trời.

Giây phút hiện tại mở ra một chân trời mới, hun đúc sức sống nhiệm mầu cho nhiều ngưỡng cửa thi ca, âm nhạc và hội hoạ. Và giải phóng con người ra khởi sự hoen ố tâm tư. Nhất là mở ra một kỷ nguyên mới, một chân trời thơ ca hùng vĩ, trỗi dậy nét đẹp uyên nguyên như em bé ngày đầu mở mắt nhìn đời. Những mảng văn lung linh kết tinh đời cô lữ, tuôn về từ chốn thần tiên. Những vần thơ trong suốt, nhẹ nhàng:

Chiếc ao cũ
Con ếch nhảy vào
Vang tiếng nước xao[12]

hay:

Giọt sương trong vừa rụng
Ánh nắng vàng đang bay
Chim hót như mọi ngày
Ta ra vườn quét lá [13]

Thực tại nhiệm mầu trong từng hạt nước, trong từng áng mây bàng bạc thong dong. Thế mà ngày xưa, có người dùng ngôn ngữ để diễn tả thực tại. Thật viễn vông và rỗng tuếch. Tri thức ơi, ngắn ngủn quá. Mây trôi, nắng giọt bắt dừng chăng?

Hương đất trời trổi khúc, hóa hiện những phương trời viễn mộng. Kiếp người như cánh nhạn chiều thu, thở hương đất, uống khí trời, dưỡng chí chân nhân. Hãy bắt đầu từ nơi không bắt đầu và kết thúc từ nơi chẳng kết thúc. Kiếp người mênh mang mà rõ ràng giữa chiêm bao mộng mị.

Rồi đây, con người sẽ định vị lại sự tồn tại của chính mình, nghĩa là thấy được mối tương quan giữa mình và đất trời và thấy sự có mặt của mình trong giây phút ấy. Có vậy, mới nhìn thấy được sự thật, chân lý cuộc đời, mà không bị lừa phỉnh. Vậy, ai bảo rằng, ta uổng phí một kiếp làm người?

Nhuận Triều Minh
Nguồn: lieuquanhue.vn

[1] Nhân đọc bài thơ Trầm mặc của Thầy Tuệ Sỹ, trích trong thi phẩm Giấc mơ Trường sơn, mà có đề tựa này. Nguyên văn bài thơ như sau: Anh ôm chồng sách cũ/ Trầm mặc những đêm dài/ Xót xa đời lữ khách/ Mệnh yểu thế mà hay.
[2] Tuệ Sỹ, bài Khung trời hội cũ, trích trong thi phẩm Giấc mơ Trường sơn, cập nhật từ mạng quangduc.com. (Xem thêm Bùi Giáng, Đi vào cõi thơ, để hiểu thêm về tác giả bài thơ này; bài cập nhật từ mạng quangduc.com).
[3] Bà Huyện Thanh Quan, Thăng long thành hoài cổ.
[4]永 為 浪 蕩 風 塵 客 ,日 遠 家 鄉 萬 里 程
Lang thang làm khách phong trần mãi
Ngày vắng xa quê vạn dặm trường. (Không rõ người dịch).
[5] Hán: 中 道. Theo Thực tại luận (Realism), Trung đạo là đường hướng lý tưởng trong đời sống thực tiễn; không lạc quan, cũng không bi quan. (Middle Path as the ideal way in practical life; neither optimistic nor pessimistic.). Theo Hư vô luận (Nihilism), Trung đạo hay chân lý đạt được do thừa nhận tính vô thể, không thừa nhận sự tồn tại cá thể (pudgala) cũng như tâm và vật (dharma). Tất cả đều quy về Niết Bàn. Hư vô luận đối lập với thực tại luận. (Middle Path or Truth attainable by the recognition of nonentity, admitting neither individuality (pudgala) nor reality of matter and mind (dharma). All end in Nirvana (Void). Nihilism as opposed to Realism.). Theo Duy tâm luận (Idealism), trung đạo hoặc chân lý là không nằm nơi thực tại của vạn hữu, bởi vì ở thế giới ngoại tại mọi vật không hiện hữu, cũng không nằm nơi không thực tại của vạn hữu, bởi vì chỉ có thức hiện hữu. (Middle Path or Truth lies neither in recognizing the reality of all things because outer things do not exist, nor in recognizing the non-reality of all things because ideation do exist.). Theo Phủ định luận (Negativism), trung đạo hoặc chân lý được đạt đến bằng hỗ tương phủ định của Bát bất hay phức trùng phủ định của Tứ cú. (Middle Path or Truth attained by either reciprocal negation or repetitional negation; reciprocal negation being the eight-fold denial of phenomena of being, and repetitional negation being the fourfold serial denial of the popular and the higher ideas. – Junjiro Takakusu, The Essentials of Buddhist Philosophy, Third Edition, 1956, Office Appliance Co., Ltd., Honolulu, p. 12).
[6] Thơ Minh Đức Triều Tâm Ảnh.
[7] Đạo tràng Mai Thôn biên tập, Kinh Người biết sống một mình, trích trong Thiền môn nhật tụng năm 2000, Lá bối xuất bản, tr, 69. (Đoạn trên được dịch từ tạng Pàli, Nam truyền). Hệ Bắc truyền, chúng tôi thấy, trong Phật Thuyết Tôn Thượng Kinh (Đại 1 No. 77, tr. 886a23), do Ngài Trúc Pháp Hộ nước Nhục Chi dịch, nguyên văn Hán như sau: 過 去 當 不 憶 , 當 來 無 求 念 , 過 去 已 盡 滅 , 當 來 無 所 得 , 謂 現 在 之 法 ,  彼 彼 當 思 惟 , 所 念 非 牢 固 , 智 者 能 自 覺 。 Quá khứ đương bất ức/ Đương lai vô cầu niệm/ Quá khứ dĩ tận diệt / Đương lai vô sở đắc / Vị hiện tại chi pháp / Bỉ bỉ đương tư duy / Sở niệm phi lao cố / Trí giả năng tự giác v.v. (Quá khứ đừng hoài tưởng / Tương lai không mong cầu / Pháp quá khứ diệt rồi / Pháp tương lai chưa nắm / Pháp liên hệ hiện tại / Hãy quán sâu pháp ấy / Bậc trí thường tự giác v.v). Và trong Thích trung thiền thất tôn kinh (Đại 1 No. 166, tr. 698c3), A Nan Thuyết kinh (Đại 1 No. 167, tr. 699c27), Ôn Tuyền Lâm Thiên kinh (Đại 1 No. 165, tr. 696b23), như sau: 慎 莫 念 過 去 、  亦 勿 願 未 來 、 過 去 事 已  滅 、 未 來 復 未 至 、 現 在 所 有 法 、 彼 亦 當 為 思 、 念 無 有 堅 强 、 慧 者 覺 如 是 Thận mạc niệm quá khứ / Diệc vật nguyện vị lai/ Quá khứ sự dĩ diệt / Vị lai phục vị chí / Hiện tại sở hữu pháp / Bỉ diệc đương vi tư / Niệm vô hữu kiên cường / Huệ giả giác như  thị v.v. (Đừng truy niệm quá khứ / Và ước vọng vị lai / Pháp quá khứ đã diệt / Pháp tương lai chưa đến / Pháp nào đang hiện tại / Hãy quán sâu pháp ấy / Kiên cố, không lay chuyển / Bậc tuệ tu như vậy v.v.).
[8] Tuệ Sỹ, Cửa vào tuyệt đối, trích trong Tập san Nghiên cứu Phật học, Phật giáo Thừa Thiên – Huế, số 10, Vu Lan PL. 2548, tr. 61: “Năm uẩn này tan rã, thúc đẩy sự  phát sinh của năm uẩn khác, như từng con sóng xô nhau ngoài đại dương, tạo thành ảo ảnh về một tự ngã thường hằng tồn tại bên dưới hay bên trong tất cả những vô thường biến đổi ấy. Không chấp nhận tự ngã thường hằng, cũng không chấp thủ quan điểm đoạn diệt, hư vô. Vì vậy, những điều Phật nói, trong một giới hạn khả dĩ của tư duy suy lý, có thể diễn dịch thành sự xác nhận tồn tại một tự ngã, mà cũng có thể tuyệt đối phủ định sự tồn tại như vậy. Đó là sự sai biệt giữa hai tầm nhìn: nhìn từ Tục đế và nhìn từ Chân đế. Tức thực tại được quán chiếu trong tương quan hiện hữu, hay trong Thật tế Chân như. Chỉ là cách nhìn hay hướng nhìn sai biệt, thực tại vẫn như thế đó.”
[9] Phiên âm: Giác tánh viên minh, tùng lai trạm tịch, bổn vô ngã nhơn huyễn tướng, hà hữu sanh hữu diệt chi giả danh, nhân tối sơ nhứt niệm sai thù, tùy mộng tưởng hữu tư sanh diệt… (Thích Giải Năng biên soạn, Nghi lễ Phật Giáo Tán tụng, PL. 2544, DL. 2001, tr.16.)
[10] Bình Nguyên Nhuận Triều Minh, Không đề (5), trích trong thi phẩm Nhỏ giọt thông xanh, Đà Nẵng 2002, tr. 66.
[11] Nhuận Triều Minh, Bạch mai trong cõi mộng, trong Tập san Bắc một nhịp cầu, mùa thu 2002, Tăng sinh Viện Cao đẳng Phật học Từ Hiếu – Huế, tr. 42.
[12] Thơ Matsuo Bashô (1664 – 1694).
[13] Thơ Tánh Thuận.

Viết lại cổ tích, tại sao không?

Đừng nghĩ rằng nếu biên soạn lại truyện cổ tích sẽ làm "mất thiêng" ý nghĩa xa xưa vì khi nghĩ thế, chúng ta đang cố ru cho mình tin rằng di sản quá khứ là bất biến, là không cần thay đổi. Vả chăng, nếu đi thêm vài bước nghĩ nữa thì tại sao không tự hỏi cái mà ta sửa hôm nay, vài mươi năm sau chắc hẳn là đương nhiên cổ tích thật rồi?

Dư luận mấy tuần gần đây nóng nhiều nhất không phải là chuyện cơm áo gạo tiền mà là tranh luận xung quanh truyện cổ tích Cô Tấm 'thảo hiền'! Dù đúng sai thế nào chưa rõ, nhưng chắc chắn có một điều đáng mừng, nó chứng tỏ người Việt vẫn còn thiết tha, trăn trở vì văn hóa nước nhà nhiều lắm lắm, chứ chưa đến nỗi vô cảm, thờ ơ hay có xu hướng tiền tệ hóa văn hóa, các giá trị tinh thần khác như bấy lâu chúng ta vẫn âu lo.

Dã man... chẳng kém nhau

Hơn nữa, sự quan tâm của dư luận còn khẳng minh rằng, thực ra Cô Tấm chỉ là một biểu hiện rõ của sự trăn trở nhằm tìm kiếm một cách nghĩ khác, một lời giải mới cho mục tiêu chấn hưng dân khí, làm mạnh mẽ dân trí hiện nay...

Đoạn kết truyện Cô Tấm (bản phổ biến) trước kia là Tấm trả thù bằng cách chặt Cám- cô em ra làm mắm rồi gửi cho "mẹ ghẻ". Còn theo SGK (bản mới, đang soạn) thì Tấm đào hố, lừa Cám xuống và dội nước sôi(!) Có lẽ không cần suy ngẫm nhiều cũng thấy ngay rằng cả hai đoạn kết trên đều mang tính... dã man chẳng kém nhau nhiều lắm!

Đó là chưa nói cái kết sau còn tệ hơn ở cái điểm lừa đảo mà bất cứ sự thảo hiền nào cũng không thể dung nạp. So với dội nước sôi sau khi đào hố thì cái kết cho Cám bị sét đánh hay bị đày ra đảo xa tất nhiên là hay hơn nhiều.

Rõ ràng, trừng phạt nghiêm khắc (dẫu tàn nhẫn) vẫn tốt hơn là nghiêm khắc, tàn nhẫn tương tự nhưng lại thiếu thuyết phục vì cái sự dối gian mà nghĩ suy của một tâm hồn trong trắng chẳng bao giờ nên biết chứ đừng nói là nên làm.

Như vậy, nếu sửa cổ tích mà chẳng làm cho cổ tích hay hơn, tốt hơn, nhân văn hơn thì sửa để làm gì?

Mặt khác, cũng cần phải thống nhất với nhau rằng nếu truyện cổ tích không có tính giáo dục cao thì rất cần phải sửa!

Nguyên tắc đầu tiên của truyện cổ tích là nó được kể từ đời này sang đời khác (tính truyền miệng, tính chất tạo dựng rất nhiều dị bản và nhiều giải thích thậm chí rất xa nhau). Trong quá trình của hàng trăm năm đó, mỗi thế hệ lại thay đổi, thêm bớt theo ý chủ quan của chính người kể, hoàn cảnh kể truyện cũng như cả tác động khách quan của thời đại mà người ấy sống.

Nhiều huyền thoại khác cũng nên có sự điều chỉnh?

Từ cái đặc thù của truyện kể cổ tích này, việc thời nay chúng ta xem xét, đánh giá lại truyện cổ tích là điều chẳng có gì phải tốn quá nhiều giấy mực. Vấn đề còn lại là nên sửa như thế nào thôi.

Đừng nghĩ rằng nếu biên soạn lại truyện cổ tích sẽ làm "mất thiêng" ý nghĩa xa xưa vì khi nghĩ thế, chúng ta đang cố ru cho mình tin rằng di sản quá khứ là bất biến, là không cần thay đổi. Vả chăng, nếu đi thêm vài bước nghĩ nữa thì tại sao không tự hỏi cái mà ta sửa hôm nay, vài mươi năm sau chắc hẳn là đương nhiên cổ tích thật rồi?

Cổ tích, dân ca, ca dao là những tài sản tinh thần quý giá, có ảnh hưởng quyết định đến quá trình hình thành nhân cách tuổi thơ mà bậc làm cha làm mẹ nào cũng biết. Không thể tiếp tục để cho các thế hệ hôm nay và mai này khoái trá từ vô thức, hằn sâu nếp nghĩ về sự bàng quan trước cái dã man, lọc lừa mà cổ tích cứ "vô tình" mang đến - nói nặng hơn, gieo rắc những điều khó chấp nhận...

Một điều nữa cũng cần bàn là không chỉ truyện Cô Tấm mà rất nhiều truyền thuyết, huyền thoại khác cũng nên cần có sự điều chỉnh, chẳng hạn cái "đề thi" quái đản trong Sơn Tinh - Thủy Tinh. Chưa thi đã biết Thủy tinh không thể có voi chín ngà, gà chín cựa nên thua cuộc là cái chắc (chứ chẳng cần lý giải chuyện đến sớm hay muộn - một cách ngụy biện của những người kể khác).

Hoặc trong loạt truyện kể về Trạng Quỳnh có đầy rẫy tính cơ hội, hành hạ động vật (bắt mèo ăn rau thực ra là sự tàn nhẫn không thể tha thứ). Nếu Trạng - tiến sĩ lừng danh mà quanh đi quẩn lại chỉ lươn lẹo, khôn vặt, lỏi ranh thì ta dạy gì cho trẻ nhỏ đây? Chẳng lẽ chúng ta muốn cho thế hệ tương lai hiểu rằng thông minh, tài năng bao giờ cũng đồng nghĩa với lừa đảo?...

Cổ tích, dân ca, ca dao là những tài sản tinh thần quý giá, có ảnh hưởng quyết định đến quá trình hình thành nhân cách tuổi thơ mà bậc làm cha làm mẹ nào cũng biết. Không thể tiếp tục để cho các thế hệ hôm nay và mai này khoái trá từ vô thức, hằn sâu nếp nghĩ về sự bàng quan trước cái dã man, lọc lừa mà cổ tích cứ "vô tình" mang đến - nói nặng hơn, gieo rắc những điều khó chấp nhận...

MẠN ĐÀM VỀ ĐA ĐẢNG

Sau gần chục năm quan sát các cuộc cách mạng màu, cách mạng đường phố, cách mạng hoa hoè, cách mạng ô dù khắp thế giới, tôi thấy vài điểm chung thế này:

Các cuộc cách mạng ấy đều dính líu đến phương Tây, cụ thể là anh Mỹ. "Cách mạng" hiểu theo đúng nghĩa từ này nghĩa là một thay đổi lớn lao. Và tại sao phải thay đổi? Là vì nhân dân nước ấy cần thay đổi để đạt được cái gì đó tốt hơn cho họ, nghĩa là "cách mạng" phải là nhu cầu của người dân. Nếu quả thật người dân các nước có khát khao cháy bỏng thay đổi thể chế thì phương Tây cần gì phải xía vào? Một cuộc chính biến dính dáng đến nước ngoài, do nước ngoài giật dâ , tài trợ thì có được gọi là "cách mạng " hay không ? Bấy lâu nay báo chí và cả người đọc cứ hồn nhiên gọi các cuộc chính biến ấy theo báo Mỹ là "cách mạng". Có lẽ chúng ta phải suy nghĩ nghiêm túc hơn tìm ra một từ chính xác hơn để gọi mấy pha xuất khẩu dân chủ ngoạn mục của anh Mỹ thay vì dùng từ "cách mạng". A dua theo báo Mỹ nghĩa là chúng ta vô tình xếp các cuộc cách mạng kinh điển như CM Pháp 1789, CM tháng 10 Nga, CM tháng Tám ....vào chung mâm với chính biến Maidan, Ai Cập, Thái Lan, Ucraikne ....

Bàn tay lông lá của những con quỷ Phương Tây

Các chính Phủ nước ấy là hợp pháp chính Phủ được bầu cử đàng hoàng. Các nước ấy có một Quốc hội được tổ chức đúng theo Hiến pháp. Việc phế truất tổng thống, giải tán chính Phủ có thể được thực hiện hợp hiến. Thế nhưng các Tổng thống ấy đều được lật đổ theo đúng một kịch bản: một nhóm dân chúng biểu tình, đụng độ cảnh sát dẫn đến bạo động, và rồi Tổng thống phải rời dinh. Rõ ràng không có Hiến pháp nước nào có điều khoản một Tổng thống phải mất ghế bằng cách đó. Hiến pháp không phải một bài thơ con cóc được viết qua loa, đó là trí tuệ của dân nước đó, họ bàn nát bét cả, cãi nhau nhặng xị mới có một bản Hiến pháp. Nước Ý là một quốc gia thay đổi chính Phủ nhiều nhất ở Châu Âu, từ năm 1945 đến nay họ đã có tới gần 60 chính Phủ. Mới đây thôi, chính Phủ Nhật Bản cũng vừa giải tán xong, rất hòa bình. Lẽ nào Hiến Pháp Nhật Bản,Ý hay hơn hiến Pháp Ukraine, Ai Cập? Vậy thì phải chăng nước Mỹ can thiệp vào các nước ấy nhằm mang lại một bản Hiến pháp mới ưu việt hơn? Không, tác dụng một cuộc "cách mạng" như vậy không gì khác hơn là một chính Phủ thân Mỹ được dựng lên chứ bản hiến pháp ấy, chế độ chính trị ấy chả có tội tình gì. 

Cách thức để Mỹ can thiệp và dựng lên một chính phủ thân Mỹ đại khái thế này: Bơm tiền vào thành lập rất nhiều đảng ma nhằm chống cái đảng thật đang cầm quyền. Các đảng ma này dù có bao nhiêu thành viên và đại diện cho bao nhiêu phần trăm dân số cũng đều xưng là nhân dân cả. Những đảng xôi thịt được ngoại bang giật dây như vậy nếu nắm được chính quyền, thành lập chính Phủ thì đương nhiên không thể hành động vì lợi ích đất nước, nhân dân nên chúng ta cũng không cần phải thắc mắc tại sao sau ngày "cách mạng" tình hình các nước tồi tệ hơn xưa rất nhiều.

Với một nước độc đảng thì tuyệt chiêu "dựng vua" của anh Mỹ xem như xếp xó. 

Nếu bạn là giới cầm quyền Mỹ, bạn có muốn dựng nên một chính Phủ thân Mỹ ở Việt Nam không ? Nếu tôi là các ông trùm tư bản Mỹ, tôi muốn có ngay một chính phủ Việt Nam thân Mỹ để có cơ hội đóng quân ở Cam Ranh và các đảo ở Trường Sa nhằm khống chế cả biển Đông hoặc đặt vài trăm quả tên lửa mang đầu đạt hạt nhân ở Lạng Sơn,Móng Cái để khống chế anh Trung Quốc. 

Và nếu các bạn là lãnh đạo Trung Quốc, các bạn có thể ngồi khoanh tay nhìn Quân đội Mỹ tiến vào Việt Nam? Tôi là lãnh đạo Trung Quốc tôi sẽ ngăn chặn điều này. Bằng cách nào? Đập cho Việt Nam một trận bấy nhầy hay giật dây đảo chính, kích động ly khai vvvv...

Chúng ta tồn tại được trong hòa bình là nhờ vị thế trung lập trong cuộc tranh giành ảnh hưởng Mỹ -Trung. Nước nào cũng muốn Việt Nam ngả về họ nhưng Việt Nam không ngả về đâu cả. Cam Ranh vẫn cứ là cô gái đỏng đảnh trước sự ve vãn của các anh. Tướng Mỹ mới qua thăm Việt Nam xong thì ủy viên Bộ Chính Trị sang thăm Bắc Kinh. Vị thế trung lập của Việt Nam không mang nhiều lợi lộc cho hai nước ấy nhưng ít nhất là không làm hại ai. Vì thế chúng ta giảm thiểu được sự thù địch của hai nước "nó không về phe mình nhưng cũng không về phe thằng kia hại mình, cũng không tệ ".

Chế độ “độc đảng” ở Việt Nam đã giảm thiểu nguy cơ một cuộc "cách mạng màu" để lòi ra một chính phủ thân nước X, nước Y. "Thân" với nước nào cũng là đại họa cả. Và nhờ cơ chế “độc đảng” ấy, chúng ta mới kiên trì được đường lối ngoại giao nhất quán , từng bước xây dựng thương hiệu "trung lập" ở Đông Nam Á. Chúng ta vẫn nghe tin đồn rằng trong Đảng Cộng Sản có ông này thân Tàu, ông kia thân Mỹ vvv..vv . Tất nhiên, tin đồn cứ là tin đồn thôi, thực tế là hơn 20 năm qua Việt Nam luôn theo đuổi "ngoại giao đa phương". Chuyện gì sẽ xảy ra nếu Việt Nam đa đảng, nay đảng thân Tàu cầm quyền, mai đảng thân Mỹ cầm quyền? Chắc chắn Việt Nam sẽ bị cuốn vào vòng xoáy tranh chấp Mỹ Trung và lúc ấy thì quên chuyện "hòa bình , ổn định" đi nhé, nhìn anh Ukraine, Thái Lan thì biết. 

Chế độ “độc đảng” có thể ngăn chặn cách mạng màu, đảm bảo tồn vong của đất nước trong tranh chấp ảnh hưởng giữa các cường quốc nhưng điều đó vẫn chưa đủ sức thuyết phục chúng ta chấp nhận nó vì các vấn đề trên khá xa vời và mơ hồ với nhiều người. Điều quan trọng hơn cả là cái đảng ấy phục vụ lợi ích cho ai. Tôi xin mượn lời Blogger Thiếu Long Texas để trình bày rõ hơn. 
"Việt Nam và các nước XHCN thì gọi là 1 đảng hay 0 đảng đều đc. Vì bản chất của Đảng Cộng sản không phải là 1 đảng tư sản, không phải chỉ là 1 đảng phái chính trị theo cách hiểu của bọn dốt chính trị ngày đem kêu gào "dân chủ" theo cách hiểu khiếm khuyết của họ. Tại 1 nước tư bản, do lợi ích tư sản hình thành nên các nhóm lợi ích, mâu thuẫn lợi ích tư sản với nhau, dần hình thành nên đa đảng đa nguyên.
Tại 1 nước XHCH do giai cấp lao động làm chủ, lợi ích của giai cấp ấy (lợi ích giai cấp là chủ yếu, nhưng cũng đồng thời bao gồm tòan dân tộc, không mang tính ly khai, không hòan toàn gạt bỏ lợi ích tòan dân tộc bao gồm các tầng lớp khác) do tổ chức tiền phong của mình lãnh đạo, cái tổ chức đó được gọi chung là "Đảng Cộng sản". Việt Nam chỉ có thể đa đảng khi hủy bỏ con đường XHCN, thay thế bằng chế độ TBCN, sụp đổ như Liên Xô xưa. Đó là 1 bất hạnh, đại họa cho dân tộc Việt nhưng nó có nguy cơ sẽ xảy ra trong vòng bốn năm chục năm nữa nếu không hòan thành đc 3 mục tiêu mang tính nguyên tắc hiện nay: Chống tham nhũng tiêu cực. Chống Diễn Biến Hòa Bình (mà tuyên truyền đa đảng đa nguyên rồi gọi đó là "dân chủ" là 1 trong những luận điệu chủ chốt của chúng). Tiếp tục phát triển kinh tế, nâng cao mức sống nhân dân, có thực mới vực được đạo. Đây là những vấn đề sinh tử liên quan đến tiền đồ dân tộc và vận mệnh đất nước. Người Việt Nam yêu nước chúng ta mỗi người hãy chung tay góp 1 phần nhỏ của mình để giúp Đảng, giúp nước hòan thành những mục tiêu này."(Ngưng trích) 
Hơn một năm về trước, anh Nguyễn Quốc Quân (Việt Tân) trịnh trọng tuyên bố "Chúng tôi sẵn sàng chia sẻ quyền lực với Đảng Cộng sản", nghe câu này tôi cười suýt chết, Việt Tân có cái gì khiến cho Đảng Cộng Sản phải chia sẻ quyền lực? 

Trong đợt lấy ý kiến để sửa đổi Hiến pháp, có nhiều người đề nghị bỏ Điều 4 đi, Đại tá (VNCH) Ngô Doãn Tiên trong một buổi phỏng vấn đã nói rằng "làm sao đòi hỏi người ta (ĐCS Việt Nam) từ bỏ quyền lãnh đạo được, họ tốn báo xương máu, hiện tại đang cầm quyền ..."

Tôi đã trình bày những lý do tại sao tôi chấp nhận thể chế “độc đảng” với lực lượng lãnh đạo là một đảng theo tinh thần XHCN, hơn nữa cái Đảng ấy đã lãnh đạo nhân dân thực hiện hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc giành độc lập thống nhất. Cái đảng ấy có chính danh và hiện tại là nó đang có một vị thế chắc như bắp. Tôi hoàn toàn đồng ý với anh Thiếu Long, tôi sẽ còn ủng hộ thể chế “độc đảng” dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản cho tới khi nào Đảng cộng Sản vẫn là một đảng theo đuổi mục tiêu xây dựng XHCN. Với những lời kêu gào "đa đảng ", "đổi mới chính trị" "đa nguyên" hay "thân Mỹ là mốt" (Lê Thăng Long) bằng cách đưa ra các bánh vẽ như Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapre và Philippin,Campuchia ...tôi thấy rất buồn cười. Các anh kêu gào đạp đổ Đảng cộng sản thì ít nhất các anh phải có một lực lượng sáng chói hơn Cộng Sản để thuyết phục được tôi. Tôi nên đặt lòng tin vào Việt Tân hay các nhân sĩ Bờ Hồ?Tôi phải Lựa chọn Điếu cày hay Bùi Hằng làm tổng thống? Không có một lực lượng nào sáng giá hơn Đảng Cộng Sản cả. Vì vậy Việt Nam chỉ có "đa đảng" khi Đảng Cộng Sản .....từ chức thôi.


                         Fan cuồng Mỹ - Lê Thăng Long

Trên đời này làm gì có đảng nào từ chức?

Đối với trường hợp Việt Nam, mọi việc còn vô lý hơn nhiều khi chúng ta - những người không trong Đảng - lại muốn cái Đảng duy nhất đại diện cho quyền lợi của đại đa số nhân dân lao động "từ chức", dù rằng trên thực tế, rất nhiều người không có khả năng cảm nhận được quyền lợi công dân của mình được bảo hộ bởi Đảng cầm quyền này. Nếu như có những người Việt Nam thực sự hiểu và muốn ĐCSVN "văng" ra khỏi vị trí lãnh đạo đất nước thì đó chính là những người đang trở thành các thế lực kinh tế và đang khao khát sở hữu những thứ thuộc về "toàn dân" hoặc những kẻ đang muốn được chia sẻ miếng vụn bánh quyền lực chính trị, quyền lợi kinh tế khi dâng đất nước và đồng bào vào tay những tập đoàn tài phiệt quốc tế.

Một Đảng chính trị đại diện và hoạt động thực sự vì lợi ích của nhân dân lao động là điều mơ ước của đại đa số nhân loại nhưng chẳng bao nhiêu quốc gia có được điều đó. Trong khi đó, chúng ta đã có và việc của chúng ta là làm sao để cho cái chính đảng đó ngày càng khỏe mạnh hơn, trong sáng hơn.

Bảo Bình