Friday, January 9, 2015

Tu như thế nào để tâm không phi phạm hạnh

Hỏi: Kính thưa Thầy! Con xin sám hối về cái tội ăn thêm, đã ăn rồi mà còn ăn thêm nữa. Như vậy con phải tu Định Vô Lậu đặt niệm trước mặt quán xét tư duy như thế nào? Dùng pháp hướng như thế nào? Để quét sạch tội phi Phạm hạnh này?

Đáp: Muốn sống đúng Phạm hạnh, không ăn uống phi thời, con nên đặt niệm thực phẩm rồi quán xét sự bất tịnh của thực phẩm.

Quán xét thực phẩm bất tịnh trong lúc đi cầu.

Dùng pháp hướng tâm: “Thực phẩm là một thứ thuốc trị bệnh đói của cơ thể, ta không nên ưa thích”; “Thực phẩm là những thứ bất tịnh uế trược, để lâu mùi hôi khó chịu ta nên chừa bỏ tánh ưa thích ham ăn”.

Xét ra, từ cái ăn mà người ta nhận thấy và đánh giá trị được con Người, Thánh Nhân hay loài thú vật.

Một con thú vật, lúc nào gặp món ăn là nó ăn ngay, không phân biệt giờ ăn, giờ nghỉ là tại vì con thú vật không trí tuệ, chỉ biết sống ăn và tranh đấu cho miếng ăn.

Con người thì có trí tuệ, có đạo lý hơn, ăn uống biết chia ra giờ giấc, không ăn uống phi thời, ngược lại con người mà ăn uống lặt vặt phi thời không giờ, không bữa là con người đó còn mang bản chất của loài cầm thú thích ăn, chúng ta là con người phải có trí tuệ, nhất định ăn uống phải có giờ giấc.

Còn bậc Thánh Nhân thì khác, biết rằng ăn uống là sự sống của các loài động vật, nhưng bậc Thánh Nhân không xem ăn uống là một thứ dục lạc, gây sự ưa thích ham mê như người thế gian và loài thú vật, mà khi sống thì phải ăn để sống, cho nên ăn để sống, chứ không phải sống để ăn. Người thế gian và loài thú vật sống để ăn chứ không phải ăn để sống. Vì thế, trong sự ăn uống của họ, chỉ cần ngon và bổ dưỡng nên họ sát hại sanh linh để họ ăn thịt chúng sinh như loài cọp beo, ăn bằng thích, ăn bằng ưa, đó là sống để ăn, nhưng họ không biết đó là họ đã đem sự đau khổ vào thân tâm của họ.

Bậc Thánh Nhân đã hiểu điều này, nên họ ăn để sống, vì thế họ không ăn thịt chúng sanh và ăn ngày một bữa, không ăn uống phi thời, là vì những bậc Thánh muốn thoát ra khỏi bản chất của loài cầm thú sống để ăn uống; để nô lệ cho sự ăn uống.

Người ta không muốn mình làm con người, mà muốn sống như loài cầm thú, chỉ biết có ăn, ăn để ngon, để mập, để béo, nên ăn uống của họ không còn có đạo lý làm người gì cả.

Người ta sống để ăn, cho nên con người trở thành một con thú vật, đó là cách sống để ăn, nên người ta mới giày đạp lên sự sống của nhau, giết nhau. Bằng chứng, về chủ nghĩa cá nhân thì họ cướp giật, giết người không gớm tay; về tập thể thì nước này đánh chiếm nước kia, lịch sử loài người đã chứng minh điều này, đến ngày nay, không lúc nào thế giới chấm dứt chiến tranh, không nước này đánh nhau thì nước kia đánh nhau, giết nhau bằng những vũ khí tối tân và hiện đại.

Đó là, bản chất của loài cầm thú còn tồn đọng trong loài người. Họ chỉ là một con thú vật sống chỉ biết tranh giành để ăn, chứ không phải sống có đạo lý làm người, làm Thánh.

Bởi, con người là phải khác với con thú vật, vì con người phải sống có đạo lý, có đức hạnh, phải sống không vì ăn uống, không vì vật chất của cải tài sản. Sống, phải biết thương mình thương người, thương mọi sự sống trên hành tinh này, tức là sống không làm khổ mình, khổ người, khổ mọi loài, đó mới chính là con người, còn làm khổ cho nhau là những loài thú vật chỉ biết có ăn là trên hết, chứ không biết đạo lý.

Chúng ta muốn làm Người, muốn làm Thánh chứ không ai muốn làm loài thú vật. Phải không các bạn? Muốn vậy, thì chúng ta ăn để sống, ăn không làm khổ mình, khổ người, khổ chúng sanh thì phải ăn có giờ bữa, không được ăn uống lặt vặt phi thời và không được ăn thịt chúng sanh. Bởi muốn làm Thánh thì ăn ngày một bữa, như đức Phật ngày xưa và chúng Thánh Tăng.

Cho nên, sự ăn uống trong đạo Phật là sự ăn uống trong thiện pháp để không làm khổ mình, khổ người, khổ chúng sanh. Vì thế, đức Phật đã dạy: “Ngăn ác diệt ác pháp, sanh thiện tăng trưởng thiện pháp”.Do thế, coi chừng trong ăn uống sẽ rơi vào ác pháp, ăn uống theo phàm phu thì sự ăn uống ấy không đúng Thánh Hạnh. Ăn uống lặt vặt, ăn uống phi thời, cơ thể dễ sanh ra nhiều bệnh tật, đó là ác pháp là khổ đau cho mình, khi mình đau khổ, còn làm khổ cho người khác nữa.

Vì thế, ăn uống rất quan trọng cho đời sống của con người. Càng ăn uống đơn giản thì đời sống càng thảnh thơi, an lạc, cơ thể nhẹ nhàng ít bệnh tật, ít tai nạn.

Trong cuộc đời làm người, chúng ta cũng nhận thấy những pháp môn của đức Phật dạy đạo đức về ăn uống rất thực tế và cụ thể để con người sống trong đạo đức về ăn uống:

- Thứ nhất, là không làm khổ mình, khổ người, khổ chúng sanh.

- Thứ hai, là sống đúng đạo đức làm Người, làm Thánh không còn phàm ăn uống như loài thú vật.

- Thứ ba, là ăn uống đúng Phạm hạnh, không ăn uống phi thời, không ăn uống lặt vặt.

- Thứ tư, là ăn uống trong sự biết tôn kính và quý trọng của mồ hôi nước mắt làm ra bằng sức lao động của mình, của người khác.

- Thứ năm, là ăn uống để sách tấn trên đường tu tập, để được giải thoát sanh tử luân hồi, để được chấm dứt mọi sự khổ đau, chứ không phải ăn uống vì tham ăn, thích ăn v.v..

- Thứ sáu, là ăn uống phải thực hiện lòng từ bi, thương xót tất cả loài chúng sanh và thương xót người làm ra thực phẩm cực nhọc.

Khi chúng ta tu hành theo đạo Phật, mà còn thích ăn uống phi thời, thì đó là, chúng ta chạy theo tâm dục lạc thế gian, còn tâm dục lạc thế gian đó là huân ác pháp vào thân, vì thế chúng ta phải hiểu cho thấu suốt lý của đạo đức làm người, làm Thánh là không nên vì ăn mà làm khổ mình, khổ người. Luôn luôn nhớ đến bốn trọng ân, thì bấy giờ chúng ta sẽ nhiệt tâm dứt khoát, dù có chết nhất định không còn phạm phải lỗi ăn uống phi thời, chừng đó chúng ta mới thấy có sự an vui của người sống đúng Phạm hạnh.

Các con phải cố gắng đừng để vi phạm những lỗi lầm này, những lỗi lầm này sẽ đưa con trở về đời sống loài thú vật. Các con nên nhớ kỹ đừng quên lời Thầy dạy con nhé! Dù cho thân con có tan nát, nhưng đừng phạm phải lỗi ăn uống phi thời. Đó là con đường tiến đạo.

*****
Quý vị cần xét kỹ dục ăn uống, rất là quan trọng trong cuộc sống hàng ngày. Người ngoài đời vì ăn uống mà sinh tâm tham lam nên người ta xâu xé lẫn nhau, giết hại nhau, chà đạp lên nhau không chút lòng xót thương, so sánh với loài vật thì chúng ta cũng không khác. Phải không quý vị?

Vì ăn uống mà người ta nghèo đói, khổ sở, nợ nần; vì ăn uống mà người ta làm đủ điều gian lận, mánh khóe; vì ăn uống mà sản nghiệp tiêu tan; vì ăn uống mà cốt nhục tương tàn; vì ăn uống mà phải dầm sương, dãi nắng, chạy xuôi, chạy ngược, buôn tảo, bán tần. Quý Phật tử có thấy không?

Cái dục về ăn uống đối với đời người nó mang đến sự khổ đau biết là dường nào! Vậy từ đây về sau, quý Phật tử phải dùng nghị lực dũng mãnh chống lại cái dục về ăn uống. Chỉ ăn ngày một bữa mà thôi, ngon dở, nguội lạnh không màng. Chỉ cần giải quyết nghiệp đói của thân là đủ lắm rồi, đủ để thân yên ổn, thanh tịnh, tu tập Thiền Định, giải quyết luân hồi sanh tử. Đừng nghĩ rằng nay đòi ăn thứ này, mai đòi ăn thứ kia. Người tu hành ai cho gì ăn nấy, ngon cũng ăn, dở cũng ăn, không khen, không chê, không ham, không thích, chỉ ăn đủ no lòng mà thôi. Đừng sanh tâm lý luận “Ăn như vậy thiếu chất bổ”. Đó là cái lý luận chạy theo ăn uống.

. ...Thân tứ đại là khối bất tịnh, hôi thối, uế trược có gì là tốt đẹp, quý báu đâu mà ta phải xem nó là quan trọng. Hằng ngày nó phải luôn luôn tiếp nhận tứ đại bất tịnh bên ngoài (thực phẩm). Nuốt vào những thứ bất tịnh hôi thối ấy, có hạnh phúc gì đâu mà chúng ta ưa thích. Những người ưa thích thực phẩm, ưa thích ăn uống là những người ngu si, vô minh; đồ ăn uống là bất tịnh uế trược mà cứ mãi mê tham ăn thì thật là đáng trách đáng chê. Cuộc sống của họ chẳng có ý nghĩa gì, chỉ ăn, ngủ, đi cầu và dâm dục, toàn là sống trong sự nhiễm ô bất tịnh. Đời sống của họ, họ đang chui vào một cái bao đựng đầy đồ hôi thối. Thật là đáng thương vậy!

Cuộc sống con người chỉ còn biết bon chen chà đạp, tranh đấu giết hại lẫn nhau bằng cách này hoặc cách khác cũng chỉ vì ăn, ngủ, đi cầu và dâm dục… Thật là vô vị không có nghĩa lý gì cả.

Sống chỉ có thích những điều tệ hại, bất tịnh như vậy, mà mọi người hãnh diện một cách hả hê khi đạt được mục đích ấy. Đạt được mục đích để làm gì? Để mà khổ đau. Phải không các bạn?

Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây

Sống để làm gì?

Trong cuộc đời mỗi con người chúng ta, có mấy ai chịu ngồi lại để giải quyết câu hỏi: Sống để làm gì? Người ta luôn tránh xa câu hỏi này như một căn bệnh dịch, thế nhưng căn bệnh này không buông tha cho bất kì ai, và cái gì đến cũng sẽ đến...

Tất cả chúng ta luôn chạy theo những ảo ảnh để rồi kết thúc cuộc đời mình trong một sự rỗng tuếch và vô vị. Cho nên ngay tại ngày hôm nay ta muốn chấm dứt ra khỏi từ điển của mình một quan niệm: Đời là bể khổ.

Nietzsche-một trong những người sáng lập ra triết học hiện sinh đã thốt lên: "Đối với các nhà tư tưởng của chúng ta, điều kì lạ là vấn đề thúc bách nhất không ai chịu giải quyết: công việc của họ có ích lợi gì... và cho mục đích gì?"

Tất cả mọi chúng ta đang bị lạc lõng trong một thế giới đầy rẫy những tiếng ồn. Tivi, radio, báo chí, internet... tất cả mọi phương tiện thông tin đại chúng đang nhồi nhét vào não chúng ta biết bao nhiêu loại thông tin. Từ vụ đánh bom trong một thành phố nào đó làm hàng trăm người thiệt mạng, cho tới những quảng cáo đầy trơ trẽn về những món hàng nào đó...

Cùng một phát thanh viên cũng với giọng nói đầy truyền cảm, luôn thu hút và hấp dẫn người nghe vốn thường gây cho bạn một ấn tượng nghiêm trang về tình hình chính trị nào đó, thì giờ đây đang truyền tải cho khán giả về cái giá của một lọ nước mắm là bao nhiêu. Báo chí kể cho ta nghe về những tư tưởng cũ mèm hay các thói quen ăn sáng của những cô đào mới nổi danh nào đó, kèm theo là các vụ tai tiếng của những ngôi sao...

Tất cả những điều này cứ được lặp đi lặp lại đến nỗi người ta đã không còn biết đến tính chính xác của những gì được nghe thấy. Ta không còn bị kích thích, say mê...cảm xúc và sự phán xét của ta luôn bị ngăn trở và cuối cùng là thái độ hời hợt và lãnh đạm với tất cả mọi việc trên đời.

Thế vấn đề ở đây là gì? Tất cả mọi sức lực của chúng ta đều dành cho một mục đích nào đó, và người ta không bao giờ nghi ngờ về tiên đề này: họ biết được họ muốn cái gì. Thế nhưng không một ai chịu dừng lại để đặt ra câu hỏi: liệu những mục đích mà họ đang theo đuổi có thực sự là thứ mà bản thân họ mong muốn hay không?

Chúng ta thấy con người đang được đào tạo theo phương pháp lĩnh hội những cảm xúc vốn dĩ không phải là của mình, ta học cách "hoà đồng với mọi người", "giống như người khác", "thân thiện"... Nếu anh không mỉm cười thì anh sẽ bị đánh giá là kẻ thiếu tính cởi mở, mất lịch sự, do đó anh phải học cách lịch sự nếu như anh muốn bán được những dịch vụ của mình, dù cho anh có là bồi bàn, người bán hàng hay y bác sĩ...

Chỉ có những người nằm dưới cùng bậc thang của xã hội, những người không còn gì để bán, và những người ở tận trên cùng bậc thang của xã hội mới không cần phải tỏ ra đặc biệt "cởi mở". Sự thân thiện, vui vẻ và mọi thứ mà người ta cho là có thể bày tỏ bởi một nụ cười, giờ đây nó đã trở thành một việc đầy máy móc đến nỗi người ta có thể bậc tắt nó một cách thật dễ dàng giống như bậc tắt công tắc điện.

Ban đầu thì nhiều cá nhân cũng nhận thấy hành động này là làm bộ, nhưng lâu dần theo thời gian thì người ta đã mất luôn ý thức về nó, lúc này họ đã không còn khả năng để phân biệt được đâu là cảm xúc giả tạo và đâu là sự thân thiện tự nhiên. Tình trạng méo mó và giả tạo này cũng diễn ra đối với tư tưởng sáng tạo của con người, ngay từ quá trình giáo dục đầu tiên thì những tư tưởng sáng tạo luôn bị ngăn cản bởi sự nhồi nhét đủ mọi thứ vào trong đầu óc con người, hàng trăm sự kiện vụn vặt vốn chẳng ăn nhập gì với nhau cứ bị nhồi bừa vào đầu của chúng ta theo quan điểm nó ra sao thì ra.

Trên thực tế việc tiếp thu một sự kiện nào đó mà không biết được ý nghĩa của nó là điều hoàn toàn vô nghĩa, nó có tác dụng như khi người ta muốn tìm hiểu về cách chuẩn bị làm một cuộc hành trình qua sa mạc Sahara, nhưng lại được chỉ dẫn về đời sống ở Bắc Cực.

Theo dòng chảy của lịch sử, uy quyền của Giáo Hội được thay thế bởi uy quyền của Nhà Nước, rồi thay cho Nhà Nước là uy quyền của Lương Tri, và trong thời đại của chúng ta cái uy quyền ẩn danh này thường nấp dưới tên gọi "Ý thức cộng đồng" hay "Ý kiến dư luận". Con người đã sống trọn cuộc đời mình nhưng chưa bao giờ biết được hương vị thực sự của cuộc sống, nhất cử nhất động của chúng ta không xuất phát từ nhu cầu của bản thân, mà tất cả mọi hành động đều là do sự điều khiển của dư luận-con người đã bị biến thành con trâu và được "ý kiến dư luận" xỏ mũi dẫn đi.

Vì đã thoát khỏi những hình thái đe doạ trực tiếp và bên ngoài như trước kia, cho nên con người thường không nhận thấy rằng mình đã trở thành nạn nhân của một loại uy quyền mới. Chúng ta đã bị biến thành cái máy sống trong ảo tưởng của cái được gọi là "tự do", tất cả mọi người đều sống trong một thế giới mà ở đó không thể nào cảm nhận được những mối liên hệ đích thực-mối liên hệ giữa con người với con người. Mọi người và mọi công việc cho dù đó có là anh bán báo, chị viên chức, người học sinh... thì vào bất kể giờ phút nào họ cũng phải đóng một vở kịch, nhất cử nhất động đều chỉ để diễn cho người khác xem.

Lúc này cái gọi là ý thức về "trách nhiệm" như ta đã thấy đang tràn ngập trong đời sống của con người hiện đại, thật ra nó bị méo mó một cách khủng khiếp bởi sự dồn nén của xã hội, "lương tâm" là một người chủ ác nghiệt do chính con người tự quàng vào bản thân mình, nó thúc đẩy con người hành động theo những ý muốn và mục tiêu mà họ tưởng là của chính mình, trong khi thực tế thì nó là sự tiếp thu từ những đòi hỏi của xã hội bên ngoài.

"Trách nhiệm"-nó săn đuổi chúng ta gay gắt và ác liệt, nó ngăn cản chúng ta mơ mộng và hạnh phúc, nó biến cả cuộc đời của chúng ta thành những chuỗi ngày đền tội cho những thứ tội lỗi kì cục nào đó mà người khác đã gán cho.

Khi còn đi học chúng ta được giáo dục rằng phải có điểm tốt, khi trưởng thành thì muốn thành đạt hơn trong cuộc sống, kiếm được nhiều tiền hơn, có được nhiều quyền lực hơn, mua được chiếc xe tốt hơn... Song không một ai chịu dừng lại để suy ngẫm giữa một chuỗi hành động cuồng điên đó, thì vấn đề đằng sau có thể làm cho họ tỉnh ngộ: "Nếu tôi có được công việc mới này, nếu tôi có được cái xe hơi mới này, nếu tôi có được căn nhà mới này... rồi thì sao? Đâu là mục đích cuối cùng của tất cả những cái đó? Có thật là bản thân tôi muốn chúng hay không? Phải chăng tôi đang chạy theo những mục tiêu được cho là sẽ khiến tôi hạnh phúc, thứ hạnh phúc đó có tồn tại sau khi tôi đạt được chúng hay không?"

Thế nhưng khi những câu hỏi này được đặt ra thì nó thật khủng khiếp, bởi vì nó đã phủ nhận toàn bộ mọi hoạt động sống của con người. Thế nên những con người bình thường có xu hướng rủ bỏ càng sớm càng tốt những suy nghĩ phiền hà này, họ thấy mình bị làm phiền bởi những câu hỏi đó, họ cảm thấy mệt mỏi hay chán chường vì nó quá khủng khiếp đối với họ, họ tìm cách che đậy những suy nghĩ về vấn đề ý nghĩa của hành động bởi những thói quen trong hoạt động hàng ngày, bởi niềm vui mà còn người tìm thấy trong các mối quan hệ riêng tư hay quan hệ xã hội, bởi thành công trong công việc, bởi bất kì những trò tiêu khiến nào, bởi việc "tận hưởng niềm vui", "tạo ra các mối quan hệ", "đi đây đi đó"...

Thế nhưng một ngôi sao không thể làm sáng lên cả bầu trời, nỗi cô đơn sợ hãi khi bị bỏ lại trong sự tối tăm của cuộc đời dù sớm hay muộn thì người ta cũng nhận ra, nó khiến cho người ta không thể nào chịu đựng thêm được nữa, nhưng làm người bình thường thì cũng có cái hay của nó: họ lại ráng chịu đựng và tiếp tục theo đuổi những mục tiêu mà họ cho là của mình. Song tất cả những điều trên chỉ chứng tỏ một sự lạc lối của con người: họ cho rằng mình muốn cái gì và mình sống vì cái gì nhưng thật ra họ chẳng biết được mình muốn cái gì và mình sống vì cái gì.

Để nhận thức được vấn đề này thì người ta cần phải nhận thấy rằng: biết được mình thực sự muốn gì là việc làm không hề dễ dàng như người ta thường nghĩ, đây là một trong những vấn đề khó khăn nhất mà bất kì ai cũng phải đối mặt: Tôi muốn gì? Đây là một câu hỏi mà người ta thường hay né tránh bằng cách chấp nhận những mục đích, sở thích của người khác hay một nhóm người nào đó và cho đó là của mình, việc này tương tự như câu nói: Anh thích gì? Tôi thích những thứ mà người ta bắt tôi phải thích.

Khi cốt truyện chung của một vở kịch được dàn dựng lên, thì mỗi một người được phân công để đóng một vai diễn đầy sinh động trong đó, họ có thể diễn nó một cách thật xuất sắc, nhưng cuối cùng họ không hề băn khoăn về vai diễn của mình có ý nghĩa như thế nào đối với vở kịch, và do đó kết thúc của vở kịch này là một hành động đầy nhạt nhẽo, vô vị: người diễn xong bước xuống dưới để nhường chỗ cho người chưa diễn bước lên.

Tôi là ai?

Câu hỏi này nghe có vẻ là điên rồ, thế nhưng đằng sau nó là cả một sự cay đắng và bi phẫn. Con người ta đã bị đánh mất đi cái tôi của mình, điều này có nghĩa là con người chỉ có thể đảm bảo cho sự tồn tại của bản thân bằng cách sống theo sự mong đợi của người khác, nếu ta không sống theo sự chỉ dẫn đó thì ta không chỉ bị chống đối mà ngày càng bị xa cách và cuối cùng là ta bị tiêu diệt.

Bằng cách đáp ứng sự đòi hỏi của người khác thì ta luôn luôn ở trong tình trạng an toàn, tuy nhiên cái giá phải trả là quá đắt, đó là ta phải chấp nhận từ bỏ đi chính bản thân mình. Nói một cách ngắn gọn thì cá nhân đã không còn là chính mình nữa, con người đã hoàn toàn mô phỏng theo dạng tính cách mà những kiểu mẫu văn hoá mang lại cho họ, và vì thế mà họ trở nên giống với tất cả mọi người, và con người này chính là con người mà người xung quanh mong đợi. Cá nhân nào từ bỏ cái tôi thì cá nhân đó liền trở thành một cái máy, một cái máy chẳng khác nào hàng trăm, hàng triệu cái máy xung quanh nó.

Khi trẻ em được hỏi liệu chúng có muốn đến trường hay không? Câu trả lời luôn là: "đương nhiên em muốn", nhưng liệu câu trả lời này có phản ánh đúng sự thật? Trong rất nhiều trường hợp thì câu trả lời này là hoàn hoàn không chính xác, đứa trẻ đó có thể muốn đến trường song nó lại thích chơi đùa hay làm cái gì khác hơn.

Ở đây với trẻ em thì vấn đề này không cần bàn cãi, vì đó là lứa tuổi mà chúng cần phải được dẫn dắt. Nhưng vấn đề quan trọng là ở đây: hầu hết người ta luôn bị một áp lực vô hình nào đó xỏ mũi từ lúc sinh ra cho đến lúc chết đi. Khi cái tôi thật sự đã bị đánh mất và được thay thế bằng cái tôi giả tạo thì cá nhân luôn rơi vào tình trạng vô cùng bất an và lo sợ, người ta luôn sống trong nghi ngờ cho tới suốt đời, đây là hậu quả của việc đánh mất phẩm tính của mình, và việc sống với một phẩm tính nào đó được tạo ra bằng sự tán thành và đồng ý từ phía người khác.

Vì thế cho nên lúc này cuộc đời chỉ là một mớ bòng bong mà không thể nào gỡ nổi, con người luôn bị thôi thúc hành động bởi những lực lượng mà họ không tài nào hiểu được, con người hành động hấp tấp từ chỗ này vội vàng đến chỗ nọ, nhưng họ vội vàng chỉ để mà vội vàng, và cuối cùng cuộc đời của con người đã không còn một mục tiêu hay mục đích nào cả, vì đơn thuần cuộc đời lúc này chỉ là những chuỗi ngày đền tội cho những thứ tội lỗi nào đó mà người khác đã gán cho.

Nietzsche nói: "Hầu như tất cả mọi hoạt động của con người phải chăng đều nhằm một mục đích là ngăn cản con người cảm nhận được đời mình, nhờ sự phân tán liên tục các dòng tư tưởng của họ.  Sự chuyển biến điên cuồng này là một trò múa rối, một ảo giác làm cho con người ta quên mất mình là ai. Thế nhưng tại sao người cao thượng luôn mong muốn điều ngược lại? Tại sao họ lại mong muốn được cam chịu khổ đau vì cuộc sống? Bởi vì họ đã vễnh tai lên để nghe ngóng và ý thức được vấn đề, họ tuyên bố: "tôi chỉ muốn là tôi thôi". Vấn đề này thực sự là kinh khủng, bởi vì nó đặt ra cho người ta một câu hỏi phi thường: Tại sao tôi phải sống trên đời? Tôi đã học được gì từ đời sống này? Làm thế nào tôi mới có thể trở thành tôi? Họ luôn băn khoăn day dứt và nhận thấy rằng không ai đau khổ hơn mình....

Trái lại thì những con người đồng loại với họ đang say sưa giơ cả hai tay về những biến cố huyễn hoặc đang được bày ra trên sân khấu, trong đó có cả hàng trăm vai trò khác nhau, người trẻ tuổi, kẻ già nua, bậc cha mẹ, công dân, thầy tu, công chức, nhà buôn... tất cả đều khoe khoang và chỉ nghĩ đến tấn hài kịch mà họ đang đóng với nhau, không nghĩ gì tới thế giới mà họ đang sống. Với câu hỏi: Tại sao tôi sống trên đời? Họ sẽ lập tức trả lời với vẻ kiêu hãnh: để trở thành một công dân tốt, một nhà thông thái, một luật sư... nhưng dù sao đi nữa thì những con người này vẫn cứ là họ, là một đồ vật không hơn không kém chứ chẳng phải thứ gì khác.

Sự thật là như vậy, lúc nào con người cũng dường như ở trong trạng thái bận rộn, họ ba chân bốn cẳng, vội vội vàng vàng để làm xong những nhiệm vụ trong ngày. Dường như con người đang bị sóng gió cuộc đời cuốn trôi dạt đi, nhưng cuối cùng họ lại không biết mình sẽ cập đến bến bờ nào.

Nói một cách ngắn gọn thì con người đã hoàn toàn bị lạc lối trên đường đời, đằng sau cái gọi là tiến bộ và thành công, thì con người đang gặp phải một sự bất hạnh ghê gớm, trên thực tế là đang đứng trên bờ tuyệt vọng, chúng ta đang cố bám níu một cách vô vọng vào cái được gọi là tồn tại, tất cả mọi con người đang dần dần trở nên đồng nhất và không một ai có được sự khác biệt nào với những người xung quanh về bình diện tâm lí.

Có còn chăng đó là sự khác biệt về ngoại hình, tên gọi... chúng ta khai báo danh tánh mình cho nhân viên đường sắt để mua vé tàu, chúng ta mặc đồ theo đúng giới tính của mình-tất cả những điều này ngụ ý cho sự thèm khát được khác biệt với người xung quanh, và điều này có lẽ là tàn tích cuối cùng cho sự bám níu vào bản ngã của con người.

Bất cứ một cá nhân nào cũng khao khát được sống, nhưng chính bởi vì là một cái máy cho nên người ta đã không còn cảm nhận được cuộc sống theo nghĩa là hành động tự ý, là việc giãi bày tư tưởng theo suy nghĩ của riêng mình mà từng cá nhân xem đó như là sự biểu hiện cho sự tồn tại của mình. Vậy đâu là ý nghĩa cho sự tồn tại của con người?

Mặc dù con người đã được giải phóng ra khỏi những trói buộc bên ngoài vốn ngăn cản họ trong những hành động và suy nghĩ mà họ thấy là thích đáng, họ đã được tự do làm theo ý mình muốn nhưng vấn đề còn lại là họ không biết mình muốn gì và cảm nhận gì? Con người hiện đại đang phải tuân theo một uy quyền ẩn danh và sống một cuộc đời vốn không phải như mình mong ước, càng làm như thế thì người ta càng cảm thấy bất lực và càng bị bắt buộc phải tuân theo, bất chấp vẻ bề ngoài lạc quan và chủ động, con người hiện đại đang bị kiệt sức bởi một cảm giác bất lực sâu sắc đến nỗi người ta chỉ còn biết nhìn trân trối vào cuộc sống, và dần dần không còn một chút cảm giác gì đối với các sự kiện dang diễn ra.

Nhìn vào bề ngoài thì con người tỏ ra khá ổn định trong đời sống kinh tế và xã hội, thế nhưng thực sự là nguy hiểm nếu người ta lờ đi nỗi bất hạnh sâu kín nằm phía sau vẻ bề ngoài thích ứng đó. Đời sống mất đi ý nghĩa của nó bởi vì ý nghĩa này đã không tồn tại, con người đã trở nên tuyệt vọng và khốn cùng, con người đã không còn được sống và chết một cách thanh thản, bởi vì còn gì tệ hại hơn khi con người đã đánh mất đi ý nghĩa cuộc đời.

Khi mất đi ý nghĩa cuộc đời thì con người sẽ rơi vào tình trạng mất phương hướng, hay là những mâu thuẫn mà không thể nào thoát ra được, lúc này con người đã mất đi niềm tin vào tất cả, họ bắt đầu sa đoạ dần bởi bia rượu, cờ bạc, gái điếm, trai bao và những thú vui súc vật khác, họ thờ ơ với nghệ thuật, khô cằn về tình cảm, hời hợt trong tình yêu, con người đã bị biến thành con vật không hơn không kém. Và chính bọn súc vật này chứ không một ai khác đã làm đảo lộn tất cả mọi giá trị và sự thật trên đời, bọn rác rưởi và ghê tởm đó giống như một căn bệnh dịch đi đầu độc người khác và xã hội, vì những loại này luôn tôn thờ sự dối trá, đúng là "chân lý như ánh sáng làm cho người ta mù quáng. Điều dối trá thì ngược lại, nó như ánh hoàng hôn đẹp đẽ và đem lại giá trị cho mỗi sự vật".

Lũ người này tệ hại đến nỗi ta có thể mượn lại lời của các bậc tiền bối như Michel Mourre nói: "đó là lũ vô xã hội, lũ bệnh hoạn và lũ thất chí", đối với Adamop "đó là những bóng ma bí ẩn, những gã què cụt... và luôn luôn là những kẻ loạn thần kinh, ở Ionesco: "đó là bọn bù nhìn, những con rối, những nhân vật dở dở điên điên", hay Becket: "đó là những kẻ vô gia cư, những thằng hề, những bọn tàn tật", rồi Thackore: "đó là bọn quị luỵ với người trên và tàn nhẫn với người dưới", và Nietzsche: "đó là những kẻ hèn nhát, sợ sệt, vô giá trị, những kẻ hay nghi ngờ với cái nhìn dáo dát, những kẻ bần tiện, loại người chó má, những kẻ ăn mày nịnh hót và trên hết đó là bọn luôn nói láo".

Như vậy từng cá nhân đang dần cảm thấy bất lực trong một mớ hỗn độn các sự kiện, và họ luôn mong muốn có một ai đó có thể chỉ cho họ biết rằng họ phải làm gì và nên đi về đâu. Nhưng cũng có một nghịch lí, khi một cá nhân nào đó muốn tạo cho mình một sự khác biệt, thì họ lại bị rơi vào tình trạng bất lực và bấp bênh của một con người cô độc trong xã hội.

Vì kiệt sức cho nên người ta bắt đầu có những hoài nghi về bản thân mình, về ý nghĩa cuộc đời và cuối cùng là bởi mọi chuẩn mực mà theo đó có thể hướng dẫn cho mọi hành động của con người. Cả sự bất lực và hoài nghi này đã đẩy con người vào đường cùng: họ chấp nhận để ý kiến dư luận xỏ mũi dẫn đi. Thế nhưng cũng vẫn là câu hỏi này: Nếu như tôi chẳng phải là một cái gì khác ngoài cái mà mọi người đã gán cho tôi, thế thì tôi là ai?

Trong các vở kịch của mình Pirandello đã diễn tả sự cảm nhận sâu sắc của ông ta như sau, ông bắt đầu với câu hỏi: Tôi là ai? Tôi có sự khắng định nào khác cho nhân vị của mình ngoài cái mà người ta đã gán cho tôi? Câu trả lời của ông ta đã phản ánh một tình trạng tệ hại của con người hiện đại: Tôi không có nhân vị nào cả, chẳng có một bản ngã nào cả ngoại trừ một hình bóng phản chiếu những gì mà người khác đã đòi hỏi nơi tôi, như vậy tôi chỉ là "những gì mà người khác đòi hỏi nơi tôi".

Những con người không có tên

Hậu quả của việc đánh mất đi ý nghĩa của cuộc đời đã được phân tích rất sâu sắc bởi Becket, Ionesco và Adamop-ba cột trụ của kịch phi lý. Các nhân vật trong kịch phi lí đều luôn thảm hại, điên rồ, mất trí... đây là hậu quả của việc con người đã không còn biết mình sống để làm gì.

Trong tác phẩm nổi tiếng nhất của Becket là Trong khi chờ đợi Godo, thì cái phi lí của cuộc đời được thể hiện một cách cực kì sâu sắc trong câu hỏi: phải chăng cuộc sống của con người chỉ là một chuỗi ngày chời đợi-chờ cái chết? Ý nghĩa của câu nói này được thể hiện qua lời lẽ của nhân vật trong kịch: "Không có cái gì trôi qua, không có ai tới, không có ai đi, thật sự khủng khiếp", hay "ngày nào cũng như ngày nào vậy một ngày vẫn chưa đủ hay sao?"

Điều này lại tiếp tục được diễn tả trong tác phẩm Tàn cuộc, Hamm-nhân vật trong tiểu thuyết nói: "Chúng ta thở, chúng ta biến đổi, chúng ta rụng mất tóc, mất răng, mất đi sự tươi mát, mất đi lí tưởng". Còn Clao thì "có lúc trèo lên ghế đẩu, nhòm qua ống kính. Clao đã thấy ngoài kia là đại dương, nhưng đại dương chỉ là số không, không cánh buồm, không cánh hải âu, còn sóng thì giống như chì". Tàn cuộc cũng đưa ra một triết lí cay đắng cho cuộc đời không ý nghĩa "Cuộc đời là gì? Sống để làm gì? Có thể kết thúc được rồi đấy... cả cuộc đời vẫn chỉ là những câu hỏi như thế mà thôi". Nell cũng phát biểu: "Tại sao lại cứ diễn mãi cái trò này, ngày nọ sang ngày kia". Còn Hamm: "Sự kết thúc đã nằm trong cái mở đầu, ấy vậy mà người ta vẫn cứ tiếp tục".

Hầu hết các nhân vật mà Becket miêu tả đều có mối liên hệ với những vai hề và những con rối, hình như ý ông ta muốn nói: trong cuộc đời, con người giống như là những con rối, bị giật giây một cách thảm hại để làm những trò hề. "Trò chơi" mà các nhân vật đang chơi trên sân khấu, cũng chính là những tấn trò mà mỗi một con người ngoài đời đang chơi, dù đó là vô vị.

Đối với Ionesco thì "bi kịch của con người luôn luôn là hài kịch". Vì vậy suy cho cùng hài hước chỉ làm cho tính chất bi đát ngày một tăng thêm, cuộc sống đã không còn ý nghĩa lúc này sự tồn tại của con người thực sự đáng buồn cười, như Becket nói: "Chẳng có gì buồn cười hơn là nỗi bất hạnh... đây là điều hài hước nhất trần gian".

Vẫn là câu hỏi: Sống để làm gì?

Một câu hỏi tiếp theo lại xuất hiện: liệu câu hỏi sống để làm gì có nên hỏi hay là bỏ mặc nó đi để rồi sống?

Camus nói rằng: "Việc hỏi rằng cuộc đời này đáng sống hay không đáng sống là một câu hỏi cơ bản nhất trong mọi câu hỏi. Tất cả những câu hỏi còn lại, như thế giới là ba chiều hay nhiều chiều, trí tuệ có chín hay mười hai phạm trù đều chỉ là những câu hỏi đến sau".

Như vậy dù có muốn hay không muốn thì câu hỏi: Sống để làm gì, phải được giải quyết càng nhanh càng tốt nếu như chúng ta thực sự muốn biết được cuộc sống này là gì.

Tiểu thuyết kiếm hiệp Tru Tiên do Tiêu Đỉnh viết, mặc dù là về ma quỉ, thần thánh... thế nhưng có một đoạn văn này rất đáng để suy ngẫm:

Quỉ Lệ-nhân vật chính nhìn Chu Nhất Tiên chợt hỏi: "Tiền bối thử nói xem, những người dân vô tội bị chết oan ấy, ai chẳng phải là những con người như chúng ta, ai chẳng đang sống một cách yên lành? Không phải là toàn bộ, nhưng chí ít là chín chín trong một trăm người vốn dĩ đều chẳng làm hại người hay súc vật, nhưng tại sao họ lại chịu đựng những tai hoạ tai bay vạ gió".

Chu Nhất Tiên đáp: " Ngươi hôm nay đang đứng được nơi đây, còn những người dân vô tội thì đã bỏ mạng, ta hỏi ngươi, ngươi cho là vì duyên cớ gì?"

Quỉ Lệ im lặng một hồi lâu mới nói: "Ta khác với họ, ta tu tập đạo pháp, nên dù yêu quái kéo đến ta vẫn tránh được"

Chu Nhất Tiên gật đầu: "Vậy thì ngươi cho rằng ai cũng như ai, đó là ngươi nhìn từ một tầm cao, từ một cảnh giới rộng lớn tựa như Phật Môn của Thiên Âm Tự vẫn nói chúng sinh là bình đẳng. Theo lời của Phật Môn thì đâu chỉ là loài người, mà loài mãnh thú thì cũng có khác gì với chúng ta. Lão ngừng lại mỉm cười rồi nói tiếp, nhưng đâu thể nào nhìn thế gian theo cách nhỏ nhoi và đơn giản đến như thế? Ngươi có bản lĩnh thần thông, có pháp lực cao siêu nên có thể thoát thân trong tử địa, có thể siêu thoát để vượt lên trên tầm chúng sinh phàm tục, nói là chúng sinh bình đẳng nhưng khi suy xét tỉ mĩ thì chưa bao giờ có bình đẳng cả."

Vẻ mặt Quỉ Lệ có nét hoang mang, hắn chầm chậm lắc đầu: "Ta không mong muốn vượt lên trên chúng sinh, ta cũng không có lòng từ bi phổ độ, ta tuy tu đạo nhưng cũng không có chút quan tâm đến trường sinh bất tử".

Chu Nhất Tiên điềm đạm hỏi: Vậy ngươi cần điều gì?

Quỉ Lệ cười gượng gạo với tiếng nói đầy chua chát: "Đúng thế, ta muốn cái gì thì chính bản thân ta cũng không biết".

Sắc mặt hắn liên tục thay đổi, vầng trăng đã treo cao giữa trời toả ánh vàng rực rỡ, bóng hắn trải dài xuống mặt đất.

Chu Nhất Tiên lặng lẽ nhìn Quỉ Lệ, ánh mắt lão hoàn toàn khác với mọi ngày, trước mắt lão là nhân vật duy nhất trên thế gian đã tu tập xong bốn quyển Thiên Thư, mình đầy đạo pháp quỉ thần khó lường. Nhưng lúc này nhìn vào thì hình như Chu Nhất Tiên còn cao hơn cả hắn. Trông lão rất nho nhã ung dung, làn gió đêm thổi qua bên mái tóc bạc trắng, hình như cả ánh trăng cũng lặng lẽ tụ lại bên lão.

Nhưng Quỉ Lệ thì hình như không cảm thấy có gì khác lạ, thực ra thì Chu Nhất Tiên vẫn đang đứng yên lành trước mặt hắn, còn hắn thì đang chìm đắm trong suy tư.

Sau một hồi, Quỉ Lệ gượng gạo mỉm cười nói: "Xem ra, ta đúng là chẳng ra gì cả, ngay cả ta sống vì cái gì, muốn cái gì thì ngay chính bản thân ta cũng không biết".

Chu Nhất Tiên bình thản nhìn Quỉ Lệ, miệng thoáng nét cười: "Sai rồi chàng trai trẻ ạ".

Quỉ Lệ sững sờ, đây là lần đầu tiên hắn nghe Chu Nhất Tiên gọi mình là chàng trai trẻ. Nhưng điều này không phải là chủ yếu, sau một lúc ngạc nhiên hắn nói: "Xin thỉnh giáo, tiền bối nói ta sai, vậy thì ta sai ở chỗ nào?"

Chu Nhất Tiên vẫn điềm đạm: "Ngươi cho rằng mình nghĩ không ra mình sống vì cái gì, tức là hạng không ra gì à? Theo ta thì ngược lại, ngươi đã biết nghĩ đến vấn đề này thì đó là chỗ hơn người của ngươi".

Quỉ Lệ ngạc nhiên hỏi: "Gì cơ?"

Chu Nhất Tiên vẫy tay: "Lại đây xem"

Quỉ Lệ bước đến bên lão, nhìn theo hướng tay lão chỉ, trong thành Hà Dương dưới ánh trăng vàng, những đốm lửa đèn không ngừng nhấp nháy trong không gian yên tĩnh.

Chu Nhất Tiên nhìn đám lửa đèn, ánh mắt lão thể hiện một tâm trạng đầy phức tạp, lát sau lão bình thản nói: "Ngươi đã thấy được những gì?"

Quỉ Lệ đáp: "Ánh đèn của vô số chúng sinh"

Chu Nhất Tiên gật đầu: "Phải, ánh đèn. Những đốm sáng ấy tựa như những con người đang sống trên thế gian này, hoặc là họ đắc chí, hoặc là họ không đắc chí, nhưng họ vẫn phải tiếp tục sống. Ngươi nghe đây, chẳng rõ trong đông đảo chúng sinh có không biết bao nhiêu người sống chỉ để mà sống, nhưng người băn khoăn vắt óc để suy nghĩ về vấn đề sống để làm gì như ngươi thì vạn người không có lấy một"

Và cuối cùng, dành cho bạn, vẫn là câu hỏi: sống để làm gì?

Chuyện hợp – tan

Cuộc đời vốn có hợp, có tan. Ai cũng hiểu điều đó, nhưng mấy ai chấp nhận được điều đó. Dĩ nhiên thôi, ai cũng mưu cầu hạnh phúc, có ai mong muốn đổ vỡ bao giờ, nhưng tiếc thay cuộc đời không có gì là vĩnh cữu, cũng như không có gì là vô tận, tất cả chỉ tồn tại trong một thời gian nào đó, bước tiếp đến của nó là điều không thể tránh khỏi, dẫu rằng ta có muốn hay không. Cho nên cuộc đời vẫn cứ hợp, rồi tan, tan rồi hợp như những cánh bèo trên mặt sông vậy. Đến, rồi đi để cho người khách lạ thoáng chút ngẩn ngơ khi một chiều nào, hoa bèo dập dờn tím cả một khúc sông, để rồi hôm sau chỉ còn là con nước lớn, những cánh bèo tan tác, chẳng biết về đâu. Có lẽ một nơi nào đó chúng lại hợp, và rồi lại tan cho hết một kiếp… bèo.

Nhưng chúng chỉ là bèo, nên chẳng cảm giác nhiều.

Con người thì thật là phiền phức, ai ban cho con người cái trí khôn, cái khác loài vật và sinh vật khác ở chỗ biết suy nghĩ để mà chi. Suy nghĩ cho nhiều để thắc mắc sao đời có Hợp lại phải có Tan để làm chi? Con người thắc mắc nhiều nên họ chẳng chấp nhận bao giờ. Không chấp nhận nên không bao giờ buông bỏ, để cuộc đời họ mãi bị cái vòng lẩn quẩn của suy nghĩ trói buộc, đến chết vẫn còn chưa hiểu tại sao mình không buông bỏ được.

Có bao giờ ta dám từ bỏ một niềm đam mê mình đã từng theo đuổi để quay lại một con đường cỏ phủ, gai dại sẵn sàng cào xước chân để đi tìm lại chính bản thân mình?

Có bao giờ ta từ bỏ một nỗi si mê, một tình yêu tuyệt vời để bước về một phía tĩnh lặng, mà ở nơi đó, ta có thể lắng nghe được bản thân mình thật rõ. Nơi đó, ta nghe được từng tiếng đập của trái tim mình, từng tiếng rạo rực của cơ thể mình; từng thớ thịt, từng sợi thần kinh đều đang hòa nhập vào hơi thở của vũ trụ, đang đập cùng nhịp đập của đất trời?

Ta có dám thốt lên lời chia tay với những gì đã theo mình từ thuở bé, sẵn sàng chia sẻ buồn vui, là chỗ dựa tinh thần cho ta khi gặp trắc trở trong cuộc sống? Ta có dám chấp nhận rằng nó cũng chỉ là một vật vô tri mà thôi?

Ta có dám thốt lên lời chia tay với một người yêu thương ta nhất đời, người sẽ sẵn sàng chia sẻ buồn vui trong cuộc sống, là điểm tựa để ta tiếp tục bước tiếp trên đường đời đầy chông gai này?

Liệu ta có dám nói lời chia tay với công việc ổn định mà hiện giờ mình đang có để đi về một chốn ít tranh giành, nơi mà con người thật sự là con người với nhau?

Nếu ta dám làm tất cả những điều đó thì nhiều người sẽ bảo rằng ta bị ĐIÊN: ta có chấp nhận điều này không? Ta có dám rũ bỏ cái tôi của mình để mặc mọi lời đánh giá của thế gian hay không? Ta có dám từ bỏ cái tôi của mình để sẵn sàng mỉm cười, chấp nhận với tất cả những lời dè bỉu, chê bai của người khác?

Nếu ta dám làm tới đây: Ta đã không còn là người nữa rồi mà là Thánh rồi đấy.

Thành ra, tôi cứ mãi là người phàm trần: Một phàm phu tục tử của thế gian vẫn chưa dám thốt lên lời chia tay với một cái gì cả.

Thành thử tôi cứ mãi ngồi đây để tiếp tục tìm riêng cho mình một chốn an bình.

Nhưng cho dù đi hết bao nhiêu chặng Hợp – Tan, Tan - Hợp, tôi cũng chưa chắc tìm ra chốn an bình đó, bởi vì biển vẫn luôn có sóng, mà tôi thì lại chưa chịu thốt lên lời chia tay với biển.

Mâu thuẫn quá nhỉ?

Nhưng con người sinh ra đã tự mâu thuẫn khi cất tiếng khóc – tiếng chào đầu tiên khi đến với thế giới tràn ngập ánh sáng, đa dạng và phong phú hơn là cái bóng tối om trong bụng mẹ rồi.

NHỮNG SAI LẦM CẦN TRÁNH KHI KHỞI SỰ KINH DOANH

Những sai lầm cần tránh khi khởi sự kinh doanh

Sau khi tìm hiểu khá kỹ các doanh nghiệp cả thành công lẫn thất bại, tác giả bài viết này đã nhận ra những sai lầm phổ biến dẫn tới sự tiêu vong của những người lần đầu dấn thân vào thương trường.

Sau khi tìm hiểu khá kỹ các doanh nghiệp cả thành công lẫn thất bại, các chuyên gia kinh tế đã nhận ra sai lầm phổ biến dẫn tới sự tiêu vong của những người lần đầu dấn thân vào thương trường. 

Sai lầm số 1:  Ý tưởng Không rõ ràng nên dễ bị nhụt chí trước các tác động


Bạn phải có ý tưởng rất rõ ràng, cụ thể về việc tại sao bạn muốn khởi sự kinh doanh, tại sao bạn muốn theo đuổi giấc mơ này. Nếu không, bạn dễ dàng bị kéo lùi bởi các lý do bào chữa cho việc vì sao không tiếp tục. Bạn sẽ muốn từ bỏ mọi thứ trước khi gặt hái thành công.

Hình dung của bạn về việc kinh doanh phải luôn nóng bỏng trong tâm trí và đau đáu trong lòng. Chỉ như vậy, bạn mới có đủ dũng cảm để vượt qua những khó khăn khi bắt đầu khởi nghiệp.

Sai lầm số 2:  Nghĩ rằng các ngân hàng sẽ cho bạn vay tiền

Vì tỉ lệ thành công với các doanh nghiệp non trẻ rất thấp nên không nhiều ngân hàng sẵn lòng cho vay vốn. 
Một số ngân hàng lại chỉ cho các loại hình kinh doanh chuyên biệt vay vốn. Do đó, cách duy nhất bạn có thể huy động tiền là thế chấp nhà cửa hoặc các tài sản có giá trị khác. Tuy nhiên, nếu việc kinh doanh thất bại, ngân hàng sẽ tịch thu những thứ này.

Bạn cũng có thể trông chờ vào nguồn tài chính ở các khoản tiết kiệm cá nhân, sử dụng thẻ tín dụng hay bán đi các tài sản.

Bạn cần ước tính số tiền mình phải có là bao nhiêu để bắt đầu kinh doanh và nhớ tính thêm các khoản chi tiêu cá nhân khác trong thời gian suốt 3 năm tiếp theo. Có thể bạn sẽ phải mất chừng ấy thời gian để việc kinh doanh bắt đầu có lãi. Sau đó, hãy bổ sung thêm 50% nữa vào con số ấy, vì mọi việc hiếm khi diễn ra theo đúng kế hoạch đã định.

Chẳng hạn, khi mở một phòng khám y tế cấp cứu, bạn có thể bị đình lại hoạt động trong 2 tháng để chờ chính quyền xét duyệt. Trong khi đó, các nhân viên đều đã nghỉ việc chỗ cũ để tới làm cho bạn. Họ vẫn cần phải được trả lương trong hai tháng này ngay cả khi phòng khám chưa thu được đồng nào.

Sai lầm số 3: Cho rằng khách hàng sẽ tự tìm đến mình

Vì lý do nào đó, rất nhiều doanh nhân mới lập nghiệp quên mất thực tiễn rất quan trọng: để thành công, bạn phải có khả năng bán được những thứ mình cung cấp, bất kể đó là sản phẩm hay dịch vụ gì.

Những khách hàng tiềm năng vốn dĩ đã có thói quen mua sắm và đã chọn được những nhà cung cấp dịch vụ quen thuộc. Bạn phải làm cách nào đó để kéo họ ra khỏi những vùng an toàn,thuyết phục họ phải thay đổi, đáp ứng vượt mức kỳ vọng để họ tiếp tục trở lại với bạn.

Vì thế, hãy dành thời gian thật nhiều để xác định rõ nhóm khách hàng lý tưởng của bạn là ai và quyết định sẽ bán gì cho họ.

Người ta thường mua hàng vì 2 lý do: tránh được lo lắng và thu về niềm vui. Nếu bạn tìm ra nỗi lo lắng của khách hàng và giải quyết được nó, bạn sẽ giành được họ.

Chẳng hạn, nếu bạn định gia nhập thị trường chăm sóc da, hiển nhiên, không phải “bất cứ ai có da” đều là khách hàng của bạn. Bạn chỉ nên tìm kiếm những người ở độ tuổi trên 45, đó là những khách hàng rất quan tâm lo lắng tới các nếp nhăn và mong muốn có được vẻ ngoài trẻ trung, tươi tắn hơn. Hãy tìm tới họ và giúp họ giải tỏa lo lắng đó.

Sai lầm số 4: Bắt đầu kinh doanh mà không có chiến lược thoát khỏi nó


Hình dung ra cách rút khỏi công ty ngay khi nó còn chưa thành lập có vẻ như ý tưởng khá lạ lùng. Song, việc bắt đầu tư duy từ điểm kết thúc lại rất quan trọng. Theo đó, những quyết định bạn đưa ra nhằm phát triển doanh nghiệp sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư muốn mua lại nó.

Rất nhiều doanh nhân mới khởi nghiệp không hề nghĩ tới việc họ sẽ thu hồi vốn và thời gian đã đổ vào doanh nghiệp như thế nào sau khi rời bỏ. Họ chỉ nhận ra mọi thứ khi đã tới hồi kết của vấn đề.
Nếu bạn cho rằng, bạn có thể dễ dàng bán đi cơ sở kinh doanh của mình bất cứ lúc nào thì bạn đã nhầm. Chỉ  10% doanh nghiệp muốn chuyển nhượng có thể bán được.

Sai lầm số 5: Không có được sự ủng hộ từ gia đình, vợ/chồng hoặc đối tác

Những người thân sẽ có tác động theo nhiều cách khác nhau tới bạn khi khởi sự kinh doanh. Vì thế, bạn cần sự ủng hộ ban đầu và liên tục của họ về sau.

Dù thế nào thì vẫn có khả năng xảy ra chuyện căng thẳng liên quan tới số tiền mà bạn đã đổ vào việc kinh doanh. Đôi khi, những chuyến đi chơi là không thể. Và bạn cũng sẽ không thể ngừng làm việc sau 5h chiều hoặc rảnh rỗi vào 2 ngày cuối tuần như một viên chức bình thường.

Khởi sự kinh doanh luôn đòi hỏi bạn một tâm thế và nếp sống bận rộn, linh hoạt, ít nhất là giai đoạn đầu. Do đó, những người thân càng ủng hộ bạn thì khả năng thành công trong việc kinh doanh càng cao, đồng thời đời sống riêng tư của bạn cũng ít chịu sức ép hơn.

Sai lầm số 6: Địa điểm kinh doanh không hợp ngành nghề

Nghiên cứu thị trường khu vực chưa hợp với ngành nghề kinh doanh của mình, như khu vực dân cư thưa thớt, mức sống, nhu cầu của người dân chưa cao; Phương hướng, phong thủy cửa hàng cũng ảnh hưởng đến sự kinh doanh; Liên kết, đối tác, nhân sự chưa xem xét kỹ...




VÔ DUYÊN! VÔ LIÊM SỈ!

(Chửi lũ Giặc cỏ)

“Tôi không thích Đảng Cộng sản Việt Nam”! Vô duyên! Ai cần chúng bay thích! Chúng bay là lũ giặc cỏ phá hoại bình yên của đất nước, cho nên chúng bay là kẻ thù của đất nước, của nhân dân.! Giặc cỏ chúng bay không thích thì có khác gì giặc xâm lăng, giặc bán nước không thích.! Chỉ có đánh giập đầu các loại giặc, giữ gìn đất nước chứ ai cần lũ giặc chúng bay thích hay không thích!

VÔ DUYÊN

Lũ giặc xâm lăng thì đã bị tống cổ khỏi đất nước, còn lũ giặc cỏ chúng bay?

Theo lẽ đời thường, chúng bay không thích thì hãy cắn răng, nín thở lấy hết liêm sỉ mà trả lại tất cả những gì liên quan đến Đảng Cộng sản, Chính quyền Cộng sản đi. Chúng bay có liêm sỉ không?

Chúng bay hãy trả lại Độc lập, Hòa bình, Thống nhất cho Đảng, Chính quyền Cộng sản Việt Nam đi! Chúng bay gọi lính Pháp, lính Mỹ, Polpot, bành trướng Bắc Kinh và bom đạn trở lại bắn giết, tàn phá đất nước này đi! Nhân dân Việt Nam sẽ cắt cổ chúng bay, đập dập đầu chúng bay!

Đường nào cũ, cầu nào cũ chúng bay hãy đi, chớ đi đường lớn, cầu mới. Đường lớn, cầu mới là Đảng, Chính quyền CSVN xây đấy. Đừng dùng điện, nước Chính quyền Cộng sản và Nhân dân Việt Nam làm ra đấy.

Chúng bay đóng thuế được bao nhiêu, để Chính quyền Cộng sản trả lại hết cho chúng bay cút xéo khỏi đất nước Cộng sản này!
Không dám hả? Nhục nhã thế? Hãy cút xéo khỏi đất nước này cho đến khi nào hết Cộng sản, nhá!

Ra nước ngoài như Cù Béo, Đéo cày mà ở, ăn bám vào cái đất nước Cộng sản mà chúng bay không thích, thì không biết nhục hả? 
Nhục! Nhục! Nhục!
Cút xéo ! Cút!

Hoàng Trường

Bàn về sự trưởng thành

Con người nếu không trưởng thành thì thật kinh khủng, nó không khác nào cây không ra trái. Trong Kinh Thánh, chúa Jê-su có nói với các môn đệ rằng nếu cây không ra trái, người ta sẽ chặt nó đi, và ném nó vào lửa?

Tại sao phải chặt cây và ném nó vào lửa? Vì nó vô ích và vô sinh, vô nghĩa, không tạo ra gì hết, nó lớn lên mà không trưởng thành, nó to xác mà không khác gì hạt giống, nên phải bị chặt để lấy chỗ trồng một mầm cây mới.

Nhưng đó là cái cây. Còn con người thì không thể bị chặt. Đó là đặc ân lớn nhất dành cho con người. Vì con người là cứu cánh tự thân, con người là cứu cánh của con người, không giống các loại động thực vật, phải làm thức ăn cho nhau và lẫn nhau, con người không phải là thức ăn cho loài nào cả. Con người được đặc ân duy nhất đó đứng trên muôn loài. Nhưng cái đặc ân đó cũng là cách tố cáo con người nhiều nhất, vì Kinh Thánh có câu: “Kẻ nào được cho nhiều thì cũng bị đòi lại nhiều”, nghĩa là: bất cứ ai được hưởng thụ nhiều thì đều phải cống hiến ngang bằng với điều ấy. Đó cũng là cuộc dằn vặt lớn nhất của con người. Bởi vì so sánh như con lợn chẳng hạn, nó không có cứu cánh tự thân, nó được nuôi và giết thịt để phục vụ bữa ăn cho con người. Vì thế, nó không cần thiết phải dày vò “nó sống để làm gì?”. Cũng chính vì đặc ân có cứu cánh tự thân, tức chỉ phục vụ cho bản thân mình cũng như đồng loại mà chỉ mình con người có cuộc trăn trở dày vò duy nhất dẫn đến tự sát. Tự sát vì câu hỏi chính yếu: “Ta sinh ra để làm gì? Ta đã làm được cái gì?”

Ta đã làm được cái gì? Câu hỏi đó là bằng chứng của một sự trưởng thành, giống như cái cây đã lớn lên, đơm hoa và kết trái, đó là lúc nó trưởng thành. Và con người khi thấy mình đã làm được điều gì có ý nghĩa - tức là đã trưởng thành.

Trưởng thành - đó chắc hẳn là hành trình của lý trí, bởi vì chỉ có lý trí mới có thể nhận biết sự tiến bộ- tiến lên từng bước của mình. Ở đây chúng ta cần lưu ý: chúng ta đang bàn đến sự trưởng thành có cứu cánh, giống như cây lớn ra được trái, chứ không bàn đến thứ trưởng thành theo chiều thời gian, giống như một kẻ đần độn tồng ngồng, có lớn mà chẳng có khôn.

Trái với lí trí, thì xúc cảm cũng như tình cảm không có tiến bộ. Một con cá chuối “một con cá chuối đắm đuối vì con”, chúng ta không coi đó là tiến bộ. Một con kăng – gu – ru bế ẵm chăm sóc con bền bỉ trong túi ngực, cũng không được coi là tiến bộ. Giống vậy một gia đình hay một xã hội sống không có lí trí và công lý, “cha nói oan, quan nói hiếp, chồng có nghiệp nói thừa”, cũng không thể được coi là đã trưởng thành và tiến bộ.

Gần gũi với chúng ta nhất, để dễ hiểu, chúng ta thử xem vài trường hợp các đấng “cha mẹ” của dân tộc Trung Hoa trong lịch sử và đã trở nên quá quen thuộc trong các bộ phim Trung Quốc được chiếu gần đây để thấy cái “tầm vóc” trưởng thành của dân tộc họ một thời.

- Hòa Đại Nhân, một đại quan của nhà Thanh vừa ngồi bô vừa tiếp các quan lại ở địa phương lên. Khi ăn theo lối “cơm ôm” vừa ăn vừa có người đút như như trẻ con nhiều tuổi. Thử hỏi tầm vóc một đại quan như vậy cá nhân ông ta và nhân dân lựa chọn ông có trưởng thành không?

- Từ Hy Thái Hậu là mẫu quốc thiên hạ, nhìn thấy hai đứa nô tỳ chải đầu giống mình, liền lệnh “lôi ra chém”. Một mẫu quốc mà ghen tị và không bao dung nổi hai đứa nô tỳ đẳng cấp cách mình một trời một vực… vậy quốc mẫu có trưởng thành hơn nô tì? (xem phim “Tể tướng Lưu gù”)

- Vua chúa, quan lại Tần, ngay cả khi đi dạo cũng có một đám nô tỳ theo sau hầu hạ, mất tự nhiên đến nỗi không có thể có những chia sẻ tình tứ. Khi người ta không dám đổi tình yêu lấy quyền uy có kẻ hầu người hạ theo sau, thì đã trưởng thành chưa?

- Viên Thế Khải là Tổng thống của chế độ Đại nghị, đã bãi bỏ việc cúi rạp mình, bắt tay các quan đại thần, nhưng vẫn giữ thói uy quyền khi đi ỉa vẫn bắt một kẻ hầu đứng túc trực bên cạnh, và vẫn tiếp các quan đại thần ngay bên WC (việc này so với người phương Tây thì thấy, họ không bao giờ muốn khoe phô lúc bẩn thỉu, mà chỉ khoe phô lúc kiêu hãnh. Trái lại quan lại Tần thì muốn bày tỏ uy quyền ngay cả lúc đó, muốn bắt kẻ ở phải chịu sự thối tha của ta, như vậy mới oai).

Cuối cùng, Viên Thế Khải vẫn đi giật lùi về mặc cảm quan lại. Nửa đêm, y cùng vợ vùng dậy, mở chiếc hòm đựng trang phục của nhà vua và hoàng hậu ra, lén lút mặc như ăn trộm. Than ôi, tưởng là đã trưởng thành tiến bộ, nào ngờ vẫn thò ra cái đuôi khao khát quyền lực quân vương độc tài! (phim “Cộng hòa”).

Trong phim, “Người đàn ông Thượng Hải” có cảnh thế này: tập cuối của một bộ phim nhiều tập, người đàn ông tụ họp cùng gia đình bề thế của mình và ông đã trưng tiện một cái thật to. Sau đó một nô bộc chịu ơn còn ca tụng: “người ta phải có gì mới đánh được như thế”. Chao ơi, đó quả là thứ văn hóa gì đây, không thể chấp nhận được, đã thế lại còn trương lên để quảng bá bàn dân thiên hạ. Ta thử đặt câu hỏi thế này: nếu đánh rắm là điều tốt đẹp, vậy, liệu các thành viên gia đình nhà ông ta, vợ con cũng như nô bộc muốn đánh rắm có được không? Chắc chắn là không! Và có thể lại bị lôi ra xử trảm. Vậy thì vấn đề nằm ở chỗ nào? Đó cũng là cách biểu thị nền quân chủ tuyệt đối, ngay cả đến cái xấu xa bắt người khác phải ngửi, cũng chỉ có những ông chủ, vua chúa mới được quyền làm.

Lãnh tụ Tôn Trung Sơn có nói về sự trưởng thành của dân tộc Trung Quốc như sau: ở Trung Quốc chỉ có gia tộc và tông tộc mà không có quốc tộc. Dân số Trung Quốc bởi vậy chỉ là một bãi cát rời rạc bị phân hóa thành cá nhân và gia đình, không đủ giá trị công lý để liên kết toàn xã hội thành giá trị quốc gia. Những từ như “tự do”, “dân chủ”, “cộng hòa”, kể cả “cá nhân” là những từ Trung Quốc trước đây chưa từng có, bởi vì họ vẫn hằng sống như những thuộc hạ a dua, bị khuất phục tuyệt đối dưới ngai vàng của quân vương. Giống Từ Hy Thái Hậu một bà già lẩm cẩm thường nói: “thiên hạ của nhà Thanh”, thực ra là: thiên hạ của bà già lọ mọ.

Tôi nêu những dòng này không có chủ ý say sưa nhìn vào thói xấu của người Trung Quốc, bởi vì: “Chân mình những lấm bê bê/ cớ sao cầm đuốc mà rê chân người”. Nhưng tôi soi vào đó để thấy và tham chiếu: dân tộc họ dù mệnh danh là “thiên tử”, dù là một dân tộc già đời hạng nhất lịch sử, nhưng vẫn có những con người đặc biệt như Tôn Trung Sơn đã phản tỉnh và nhận ra cái thiểu năng, cái “vỡ lòng” cũng như tầm vóc trưởng thành của họ.

Giờ đến chuyện xứ ta. Trước tiên chúng ta hãy thử bàn với nhau về: thế nào là một người trưởng thành? Trưởng thành ư, chúng ta hãy tạm coi đó là những đứa trẻ đã lớn thành quý ông, quý bà. Người phương Tây biểu hiện nó qua ngôn ngữ, xưng hộ đối xử như: thưa ngài, thưa ông, thưa quý bà, hoặc có những lời chào như “xin chào niềm hân hạnh của tôi”…Tóm lại người ta dám hạ mình nâng người khác lên làm quý ông quý bà, để mình cũng được làm quý ông quý bà.

Ở ta thì sao? Có rất nhiều người đã học đại học hẳn hoi đến nhà người, một lời chào cũng không mở miệng, đến không ai biết về không ai hay, hình như họ cho rằng: chào người khác là sự hạ mình, lép vế, thua thiệt.

Tôi gặp rất nhiều tri thức xưng hô mày tao chí tớ, đã thế dùng cả trí nhân và sự càn quấy vào việc thay đổi cũng như đánh lấn đại từ nhân xưng… Tại sao những con người này không cúi được người để hạ mình xuống mong được tôn vinh cao hơn? Kinh Thánh có câu “Kẻ nào nâng lên sẽ bị hạ xuống, người nào hạ xuống sẽ được nâng lên.” Bởi vì người ta chưa có đủ tầm cao để trưởng thành để dám cúi xuống, mà vì thấy mình nhỏ loi choi nên họ không dám hạ mình để thấp hơn. Đúng lúc này, có lẽ chúng ta nên cùng ôn lại cái nhìn của thi sĩ Tản Đà dành cho dân tộc:

“Dân hai nhăm triệu ai người lớn
Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con”

Thử hỏi nước ta có bao nhiêu người ý thức về việc mình là quý ông, quý bà, cư xử đĩnh đạc, đường hoàng, làm người trưởng thành? Hay chúng ta vẫn sống bản năng tùy tiện, văn hóa quê mùa, hè phố, thích kiểu gì thì chiều kiểu ấy, không có một nguyên tắc ứng xử cao cấp nào? Chúng ta thử nhìn, người phương Tây, ngay cả trong các bộ phim họ giáo dục cả cách ăn, nết nói, cách ăn mặc quần áo, cách cầm thìa cầm dĩa…

Tầm vóc dân tộc ta trưởng thành ở mức nào? Chúng ta đã có rất nhiều thí sinh đi thi toán quốc tế, và một số ngành khác giật quán quân và đỉnh cao, nhưng hiện nay chúng ta vẫn loay hoay cải cách sách lớp một không xong? Công việc khó thế ư? Không quá khó nhưng chúng ta cố tình làm cách sình lầy để có cớ “đục nước béo cò”. Nói thì tiết kiệm là hàng đầu nhưng mà chi tiêu như nhiều lần làm đi làm lại từ đầu.

Một dân tộc trưởng thành là gì? Chúng ta đang chuẩn bị kỷ niệm 1000 năm Kinh đô văn hiến Thăng Long- Hà Nội. Một dân tộc chỉ là quốc gia khi nó có văn hiến. Văn hiến là gì? Văn là người, Hiến là hiến pháp. Các sắc tộc và dân tộc không phải là quốc gia nếu không lập hiến. Như vậy rõ ràng, các cộng đồng, sắc tộc nếu chưa tham dự vào lý trí phổ quát – tức công lý, thì chưa thể tiến bộ và trưởng thành trở nên quốc gia được. Trong những mái nhà, những làng xóm, những cộng đồng dù có thể mang rất nhiều tình cảm nhưng dứt khoát chưa thể trưởng thành bởi vì ở đó chưa chứa đựng sự chuyển mình của lý trí lập hiến.

Một triết gia Ấn Độ có nói: “Hân hạnh thay chúng ta được sinh ra làm trẻ con, nhưng kinh khủng thay nếu chúng ta mãi phải làm trẻ con”. Mãi mãi làm trẻ con, tức là không được lớn, không được phát triển, và không được trưởng thành.

Mà muốn trưởng thành người ta cần chuẩn bị từ nhỏ như nuôi nấng một mầm cây vậy. Đó cũng chính là ý nghĩa của hai từ “Văn hóa” và “Giáo dục”.

Đi học để làm gì? Để nhận biết chân lý khách quan. Đó là điều hiển nhiên toàn thế giới đã thừa nhận như một giá trị mặc định. Người Ấn Độ có câu: “Một mầm cây cứ ấp mãi gốc mẹ chẳng thể nào lớn được”. Đứa trẻ bứt khỏi váy mẹ đi học để được lớn lên. Nhưng khi đi học mở đầu nó đã phải dùng đại từ nhân xưng sai, làm sao học đúng? Đứa trẻ đi học rất cần khoảng cách xa hơn mẹ nó để bắt đầu nhận biết hiện thực khách quan, đằng này ngay cả đến trường, nó vẫn phải gần gũi “cô cô- con con” kéo dài đến cấp tiểu học, thì làm sao có thể tự tin và lớn lên? Khổng Tử có phương châm quý báu rằng:

1. Cách vật
2. Trí tri
3. Chính tâm
4. Thành ý
5. Tu thân
6. Tề gia
7. Trị quốc
8. Bình thiên hạ

Bốn câu trên là chuẩn bị cho nhận thức của bản thân. Muốn quan sát một vật trước hết cần lùi xa, thứ hai tìm hiểu, thứ ba phải xây dựng sự phán xét công bằng ngay trong tâm hồn, sau đó mới có thể thành ý niệm về sự vật đó. Sau khi “tu thân” xong mới có thể “tề gia, trị quốc và bình thiên hạ”

Vậy mà mở màn đi học, đứa trẻ của chúng ta vẫn vào cô, dùng đại từ nhân xưng thái quá thì sẽ làm sao?

Hầu hết những gì thuộc tình cảm thì ngược chiều với lý trí tức sự tiến bộ và mang tính vụ lợi cao. Khi chưa có pháp lý đủ mạnh để bảo vệ mọi người, người Trung Quốc thường có thói quen kết nghĩa anh em để cấu kết tụ bạ bảo vệ lẫn nhau. Chuyện kết nghĩa trong Tam Quốc Lưu – Quan- Trương là một thí dụ. Và Trình Giảo Kim khi kết nghĩa với bè đảng buôn lậu là một thí dụ, cấu kết nhau đến mức “không sinh cùng ngày, cùng tháng, cùng năm, nhưng nguyện chết cùng ngày, cùng tháng, cùng năm”. Kéo bè kết đảng cũng là cách phổ biến nhất của lũ thổ phỉ, lục lâm, phường trộm cướp, vì không có sức mạnh của lẽ phải nên chúng phải cấu kết tình cảm để tấn công người lương thiện và pháp lý. Trong gia đình, ngay cả những thành viên tình cảm mật thiết nhất, nếu không sống có lý với nhau thì tình cảm cũng đổ vỡ.

Ở ta hiện nay vẫn còn nhiều kiểu “một người làm quan cả họ được nhờ”, rủ rê, kéo họ hàng, đồng hương vào cơ quan, cứ chuẩn theo tình cảm cha chú, con cháu mà thực hành, vì thế sinh nhũng nhiễu và ách tắc.

Có một kiểu mẫu, câu chuyện viết rất điển hình và phổ biến rằng: chàng kia có bằng tiến sĩ và đã ngoại tứ tuần. Anh trình cái gì lên, cấp trên cũng lấy giọng cha chú bảo: “Cậu ngựa non háu đá, còn nhiều sơ hở lắm!”

Nhiều lần cấp trên mắc lỗi đều nói với nhân viên rằng: “Tôi mắc lỗi cũng như bố các cậu ở nhà, to tiếng mà làm gì?”. Qua nhiều lần như thế, vào buổi họp tổng kết của cơ quan, anh chàng bèn đứng lên phát biểu: “Tôi mong ở đây, các đồng chí lãnh đạo đừng coi chúng tôi như trẻ con- người lớn nữa; ngược lại chúng tôi cũng không nhìn các vị như như người lớn- trẻ con. Đấy, các vị xem ngay cuộc họp này, và nhiều cuộc họp trước nữa, nhiều vị về hưu không chịu về nghỉ để lớp trẻ làm việc, lại còn cứ lê lết đến đây ngồi ám người ta. Thử hỏi có phải các vị dù già, dù về hưu cũng như chưa trưởng thành. Các vị luôn luôn chưa tự thấy mình đã lớn lên, đã trưởng thành và đã nghỉ hưu. Như vậy có phải người lớn mà vẫn trẻ con không?”

Thế rồi anh chàng bị chuyển sang ngành khác. Gặp môi trường mới anh tiến vù vù, trở thành tổng công trình sư. Một hôm có vài cán bộ trẻ bên cơ quan cũ tìm đến gặp hỏi anh:

- Tại sao anh ở cơ quan cũ thì bị đổ tội ngang bướng, còn sang đây thì tiến nhanh như vậy?

- Có gì đâu, vì ở cơ quan cũ mình luôn luôn vẫn bị coi là con cháu. Sang đây, mình đứng thẳng lưng lên, đệ trình tài liệu với sếp “Thưa anh, tôi thấy ta nên làm thế này…” Mình làm việc như một công dân, một người trưởng thành, tự tin về bản thân, không cúi lom khom cóm róm như con cháu nữa, mình cứ chiểu theo lý mà làm, chiểu theo lý mà đồng ý hay bác bỏ, vì thế mà mình tiến bộ không phải nhanh mà như năng lực cũng như sự thật về bản thân mình.

- Anh dũng cảm thật? Anh có khuyên gì bọn em không?

- Chúng ta phải dám trưởng thành. Cá nhân trưởng thành mới có gia đình trưởng thành, và dân tộc trưởng thành. Sự trưởng thành đó chỉ có thể có nhờ tinh thần công lý và lập hiến. Một quốc gia mà không sống lập hiến chỉ là một bộ lạc bán khai.

Mà muốn lập hiến chúng ta buộc phải tiến bộ bằng cách chui khỏi mái nhà tình cảm để bước trên con đường công lý. Tôi nói thế có đúng không?

- Chẳng lẽ còn cách nghĩ tiến bộ nào khác hơn?

Mong rằng những câu chuyện lấy từ thực tế này có thể thay thế cho lời kết bài viết của tôi.

Phật pháp tu hành không khó

Đúng như tựa đề của bài pháp này, nên đức Phật dạy: “Pháp Ta không có thời gian, đến để mà thấy!”. Có nghĩa là Phật pháp không có dụng công tu tập như các pháp môn ngoại đạo, chỉ cần hiểu biết tính chất của các pháp thế gian là VÔ THƯỜNG, VÔ NGÃ thì người có trí liền BUÔNG XẢ sạch các pháp. Nhờ buông xả sạch các pháp thế gian, nên không có pháp nào làm ĐỘNG TÂM họ được.

Khi tâm buông xả sạch các pháp thế gian, thì tâm luông luôn ở trong trạng thái BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC, VÔ SỰ – một trạng thái giải thoát mà người tu sĩ Phật giáo nào cũng đều tha thiết muốn sống được với nó. Nhưng muốn sống với nó phải bằng cách nào đây?

Để trả lời câu hỏi này, thì chúng tôi xin quý vị hãy lắng nghe và suy tư cho chín chắn thì mới biết rõ: từ lâu mọi người đều hiểu không đúng chánh pháp của Phật, nên dụng công tu tập từ ngày này qua ngày khác mà kết quả chẳng có gì. Chính sự hiểu sai Phật pháp mà quý vị tốn rất nhiều công sức tu tập, nhưng xét lại chẳng có lợi ích gì cho bản thân, mà còn xa lìa Phật pháp, vì thế tu mãi mà không tìm thấy GIẢI THOÁT.

Có những người tu tập nhiều năm, gần như suốt cả cuộc đời, thế mà vừa nghe bạn đồng tu gõ cửa và nói rằng: “Con khuyên thầy đứng dậy đi đi!”; vừa nghe lời khuyên nhủ của bạn đồng tu, thay vì nói lời cảm ơn, nhưng ngược lại, thầy này nói: “Ngồi không được à?”. Nghe nói vậy, vị thầy đi kiểm tra liền bỏ đi.

Sau khi vị thầy đi kiểm tra quay lại, thì vị thầy kia ra giữa đường chặn lại và nói: “Thầy có nhìn thấy tôi ngủ gật bao giờ chưa? Nếu tôi ngủ gật, tôi sẽ rời khỏi Tu Viện ngay lập tức. Người ta đang ở trong định, mà thầy làm vậy là phá người ta, là xâm phạm nhân quyền. Tôi có thể ngồi 5 – 6 tiếng đồng hồ. Trưởng Lão cho phép tu trong 4 oai nghi. Thầy đi kiểm tra theo dõi tôi thế nào tôi biết hết”. Lúc bấy giờ, thầy đi kiểm tra nói: “Con thấy thầy mắt nhắm và gật”. Khi nói xong lời này, thấy mình không thể khuyên được vị thầy đó, nên thầy đi kiểm tra xá và nói: “Con xin sám hối thầy”. Khi đó, vị thầy kia mới đi vô thất.

Qua những sự đối đáp này, đã làm cho mọi người biết vị thầy đó tu hành không xả được tâm, mà ức chế tâm nên mới bộc phát cơn sân dữ dội như vậy. Thật đáng thương thay, bỏ hết cuộc đời để tu tập, mà giờ đây tâm tánh vẫn còn như người thế gian. Do thấy sự tu tập này, mà Thầy viết bức tâm thư gửi các con, để các con xét lại sự tu tập của mình, ngõ hầu sự tu tập của các con không còn sai lạc nữa.

Sự giải thoát của Phật pháp rất đơn giản, chỉ cần sống TỰ NHIÊN với tâm BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC và VÔ SỰ; sống mà không có sự tu tập gò bó thân tâm thì mới thấy sự giải thoát chân thật của đạo Phật. Còn ngược lại, dụng công tu tập làm gò bó thân tâm để tâm BẤT ĐỘNG, thì làm sao thấy sự GIẢI THOÁT. Phải không thưa quý vị?

Từ lâu mọi người hiểu sai Phật pháp, nên cố gắng tu tập, vì thế mà không có một vị sư, thầy nào làm chủ SINH, GIÀ, BỆNH, CHẾT như Phật.

Dù sử dụng trong bốn oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi mà tâm vẫn tự nhiên như người NHÀN DU, VÔ SỰ; đó là người đã BUÔNG XẢ sạch. Vì thế, họ không còn tu tập một pháp môn nào nữa cả…

Bởi vậy, người nào hiểu đúng Phật pháp là phải cảm nhận được tâm BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC và VÔ SỰ. Nhờ có cảm nhận được tâm như vậy, nên họ đã trở thành CON TÊ NGƯU MỘT SỪNG luôn luôn sống MỘT MÌNH.

Ngược lại, người nào không cảm nhận được tâm bất động, thanh thản, an lạc và vô sự, thì nên theo pháp NHƯ LÝ TÁC Ý để hằng ngày ngăn và diệt tất cả ác pháp, thì mới mong BUÔNG XẢ tất cả các pháp thế gian, nhưng phải bền chí trong một thời gian dài.

Khi sống được với tâm BẤT ĐỘNG, thì ngũ triền cái và thất kiết sử không làm sao tác động được, vì thế, không cần phải tu tập pháp môn ly dục, ly ác pháp mà tâm vẫn tự ly dục, ly ác pháp. Như vậy, chỉ cần sống với tâm bất động, thanh thản, an lạc và vô sự là tâm đã XẢ SẠCH. Hiểu như vậy mới thấy Phật pháp rất nhiệm mầu.

Đối với BỆNH TẬT và tất cả các ÁC PHÁP, khi gặp tâm bất động, thanh thản, an lạc và vô sự, nó đều lìa xa khỏi thân tâm ngay tức khắc. Như vậy, bệnh tật và tất cả các ác pháp không còn tác dụng vào thân tâm được nữa, đó là trạng thái Niết Bàn trong cuộc sống, chớ không phải đợi chết mới vào Niết Bàn. Vì thế, đức Phật dạy: “Pháp Ta không có thời gian, đến để mà thấy!”

Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây