Wednesday, July 22, 2015

HỌC CÁCH ĐỌC - PHẦN 1 - PHẦN 2 - PHẦN 3

Học cách đọc (Phần 1)

Hiện tại, quy trình của “học ngu” là đọc tài liệu, tóm lược và trình bày nội dung đã đọc cho các thành viên trong nhóm. Việc phải thuyết trình trước các bạn bắt buộc mình phải đảm bảo rằng mình nắm được những gì sẽ nói. Từ đó, vấn đề đặt ra là: làm sao để việc đọc đạt hiệu quả cao nhất (“hiệu quả” theo nghĩa người đọc hiểu tài liệu một cách rõ ràng, mạch lạc). Mình chiachuyên đề đọc thành nhiều phần bởi vì “đọc” ngó vậy thôi chứ không hề đơn giản. Học cách đọc quan trọng không kém học tiếng Việt, hai cái học ấy bổ sung cho nhau và mỗi ngày nhóm “học ngu” vẫn phải liên tục rèn luyện.

Hôm nay mình có cơ hội học hỏi cách đọc từ thầy P. Chỉ trong một buổi sáng ngắn ngủi, sử dụng một quyển sách minh họa, thầy P đã dạy mình một số điểm cốt lõi của việc đọc. Nay mình sẽ lần lượt chia sẻ lại với cả nhà các điểm ấy qua loạt bài về cách đọc.

Lưu ý khi đọc: phạm vi của bài viết đang bàn đến đọc sách, chưa bàn đến các dạng tài liệu khác. Mình cũng xin nhắc luôn là quyển sách đang được minh họa là sách triết học nên sẽ có một số điểm đặc thù chỉ dành cho thể loại sách này.

TRƯỚC KHI ĐỌC SÁCH

Đầu tiên, trước khi đọc sách, nhứt thiết phải biết mình sắp đọc cái gì. Tựa đề sách không chỉ là cái tên để phân biệt mà nó còn ẩn chứa tư duy của tác giả. Thầy có lấy ví dụ tên sách “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” (Trần Ngọc Thêm) để phân tích. Khi nói “tìm về” thì tác giả đã xem “bản sắc văn hóa” là một thực thể và nó có tồn tại. Giống như khi ta đi tìm một món đồ bị thất lạc trong nhà, ta biết nó ở đâu đó nên ta đi “tìm”. Từ đó ta sẽ phân ra nhà bếp, phòng khách, phòng ngủ, vv để “tìm” tương tự như cách tác giả đã chia ra các mảng văn hóa để phân tích, chứng minh. Ngoài ra tựa đề sách còn cho ta biết sách thuộc thể loại nào: tiểu thuyết, triết học, khoa học, tản văn,.. vv để lựa chọn cách đọc phù hợp.

Thứ hai, sau khi đọc tựa đề sách ta nên đọc lời nói đầu, lời chú giải dẫn nhập của người dịch hoặc mục lục của sách để biết cách tác giả khai triển ý tưởng. Nếu có thể thì vẽ lại sơ đồ “xương sống” của sách bằng cách dùng các từ khóa ngắn và các ký hiệu. Có sơ đồ trong tay ta sẽ không bị lạc trong lúc đọc. Đồng thời, ta cũng cần thiết phải tìm ra câu hỏi mà sách đang tìm cách giải đáp. Đó là nền tảng cho ý tưởng của tác giả khi viết sách. Đặc biệt những lúc bị “loạn”, chỉ cần nhớ lại mục đích của sách là gì, nhớ lại câu hỏi hoặc giả định của người viết, ta sẽ thấy lại con đường.

Thứ ba, ở mức độ cơ bản, đọc sách là để lấy thông tin. Do vậy đôi khi không nhất thiết phải đọc hết từng câu từng chữ mà có thể chỉ cần tìm ra những chỗ ta cần. Công cụ hỗ trợ cho việc đọc lúc này là bút chì, thước, bút highlight, giấy ghi chép. Bút và thước để gạch chân các ý, bút hgihlight đánh dấu những từ khóa, giấy để vẽ sơ đồ, vv. Đặc biệt, thầy P nhấn mạnh cần phải rút ra các từ khóa để vẽ nên sơ đồ. (Mình sẽ nói kỹ hơn ở các bài sau).

Cuối cùng, đọc sách không phải là hành động thụ động mà nó là một “hành trình leo núi” chủ động theo cách ví von của thầy P. Bấy lâu nay mình đọc sách với tâm thế của một độc giả bình thường, một người học hỏi nhưng thầy lại mở ra cho mình một hướng suy nghĩ mới: đọc sách như là người dạy – dạy chính mình. Thầy gợi ý có thể tưởng tượng mình đang là một người thầy cần phải giảng bài cho sinh viên. Do vậy phải đọc sách để lấy thông tin rồi sơ đồ hóa kiến thức. Nhìn vào các sơ đồ ấy, “người thầy” đó sẽ trình bày lại nội dung mình đã đọc. Tuy nhiên sẽ có khi “người thầy” cảm thấy “kỳ kỳ”, “rõ ràng mình hiểu phần đó rồi sao lại không thể nói ra?”; lúc đó ta biết mình thiếu từ vựng [của sách] hoặc cách diễn đạt còn yếu. Ta sẽ đọc lại sách một lần nữa, ghi chép bổ sung rồi lại giảng lại cho đến khi nào ta nắm vững nội dung, có thể tự dạy lại “bài” cho mình mới thôi. Hơn nữa, với tâm lý “đi dạy”, người đọc sẽ có trách nhiệm hơn với việc đọc của mình. Đó là lý do nhóm “học ngu” luôn có tiết mục thuyết trình mỗi khi đọc xong tài liệu.

Trên đây là những việc cơ bản nên làm trước khi đọc sách. Mình tâm đắc nhất là việc chuyển đổi tâm thế từ người đọc thành người dạy. Hướng suy nghĩ mới mẻ này làm mình cảm thấy việc đọc trở nên thú vị hơn. Thiệt ra thì dạo này mỗi lần đọc một cuốn sách hay mình luôn nghĩ “nếu trình bày lại cho người khác thì sao”, ý nghĩ đó phần nào giúp mình chuyên tâm đọc hơn. Tuy vậy để có thể “dạy” một cách trơn tru thì cần phải có các kỹ thuật khác hỗ trợ trong và sau lúc đọc mà mình xin hẹn ở các bài viết sau. .
#nhatkyhocngu

  https://www.facebook.com/photo.php?fbid=869949159726209&set=a.868961836491608.1073741968.100001333980465&type=1
Ảnh của Lục Phạm Quỳnh Nhi.


Học cách đọc (Phần 2)

Nối tiếp #2 bàn về những việc nên làm trước khi đọc [sách], hôm nay mình chia sẻ một số cách hỗ trợ việc đọc. Mình cũng xin lưu ý lại là phạm vi bài viết đang bàn đến đọc sách chứ không phải các dạng tài liệu khác. Quyển sách đang được minh họa là sách triết học nên sẽ có một số điểm đặc thù chỉ dành cho thể loại sách này. Bạn tự điều chỉnh cách đọc cho phù hợp với từng loại tài liệu nhé.

TRONG LÚC ĐỌC SÁCH

1. Trước hết, khi đã bắt đầu đọc thì nên chuyên tâm. Tính mình đôi khi dễ bị phân tâm nên có mấy bận thầy P phải nhắc mình đọc sách đi. Mình nghĩ nhiều người sẽ đồng ý kiến với mình rằng sự tập trung là quan trọng, không chỉ cho việc đọc mà còn nhiều việc khác nữa. Thế nên sẽ là dư thừa nếu tiếp tục bàn về sự tập trung ở đây. Mình chỉ muốn nói thêm là nếu bạn dễ bị mất tập trung như mình chẳng hạn thì nên tìm một góc yên tĩnh, đủ ánh sáng và không nên mở nhạc để đọc. Tất nhiên đó là kinh nghiệm của mình thôi nha.

2. Thứ hai, không phải sách nào phải cũng đọc từng câu từng chữ, phải dựa vào câu hỏi, mục đích, vấn đề đang được đặt ra để dò thông tin cần dùng. Sẽ thật tiện lợi nếu sách bạn đọc có các đề mục rõ ràng cho từng chương, từng phần bởi vì tiêu đề của các phần nhỏ thường sẽ ẩn chứa gợi ý để tìm thông tin. Mình thấy cách đọc này giống “Scan and Skim”, tuy nhiên vẫn phải luôn giữ tâm thế mình là “người dạy” lúc đọc để ta không dừng lại ở mức độ “tìm đáp án”.

3. Thứ ba, để hỗ trợ cho cách đọc đã nêu trên, bạn nên có bút chì, thước kẻ, bút highlight khi đọc sách. Những vật dụng này giúp chúng ta duy trì sự tập trung và đánh dấu những điểm quan trọng hỗ trợ cho việc trình bày sau này (nếu có). Mình để ý trong sách của thầy hay gạch/ đánh dấu những chỗ này nè:

- Khoanh tròn các từ “là”, “rằng”, “tức là”, “có nghĩa là”,…: sau các từ này thường là định nghĩa, khái niệm của các thuật ngữ. Một thói quen của người đọc là hay hiểu nghĩa thuật ngữ theo cách của mình mà không dùng góc nhìn của tác giả. Ví dụ từ “phản biện” rất hay được hiểu theo nghĩa cãi ngược lại, chê trách, phán xét. Tuy vậy, từ “phản biện” (tiếng Hy Lạp: criticos) có nghĩa đúng là biện biệt, làm cho rõ ràng các vấn đề cái gì đúng, cái gì sai. Phải chăng sự liên tưởng [không cần thiết] và thói quen đoán từ đã tạo ra sự khác biệt ghê gớm này?

- Khoanh tròn từ “tin rằng”, “cho là”, “tin”, “nghĩ rằng”: đây là các từ khóa gợi ý nền tảng mà tác giả đang sử dụng (hay còn gọi là “tiền giả định”). Bất kỳ một nội dung nào khi được viết đều có một nền tảng niềm tin, tìm ra được tiền giả định ta sẽ thực sự bước vào cuộc hội thoại với tác giả.

- Gạch hai gạch cho các ý quan trọng của đoạn văn/ chương. Đây thường là các luận điểm của tác giả. Nếu bài viết có nhiều luận điểm thì mình dễ gặp mấy từ khóa như “thứ nhất là”, “đầu tiên”, “thứ hai”, “kế đó”, “thứ đến”, “vậy”, “mặt khác”, “đồng thời”, “trái lại”,… Đây đồng thời cũng là các từ liên kết giúp nội dung mạch lạc. Nương theo mạch ý của tác giả cũng là một cách hay nếu như ta phải thuyết trình sau đó.

- Gạch chân các ý quan trọng hoặc highlight các từ mới (để tra từ điển). Mình thấy thầy mình gạch từ khóa là chủ yếu, nếu phía trước có các từ thuộc dạng khoanh tròn thì không cần phải gạch nhiều.

- Với các câu có nội dung phủ định hoặc bác bỏ thì có thể gạch chồng lên nội dung. Mình để ý thấy cách gạch này rất ấn tượng vì nhìn vô thì tự khắc sẽ liên tưởng đến điều gì đó bị “xóa” đi.

- Một số đoạn dài nhưng quan trọng thì dùng ngoặc hoặc đường kẻ dài để đánh dấu là nó quan trọng, thầy mình làm vậy đó.

4. Nếu có thể thì bạn chuẩn bị vài tờ giấy hoặc nếu sách còn chỗ thì vẽ thẳng lên đó những sơ đồ tóm lược nội dung bạn đã đọc. Nội dung tóm lược của từng chương, từng phần. Thầy dặn mình nên sơ đồ hóa nội dung, nhất là những nội dung quá dài, quá phức tạp. Dĩ nhiên là bạn dùng từ khóa thôi nha, tránh phải ghi chép quá nhiều cho sơ đồ.

5. Đối với một số sách có các cấu trúc câu phức tạp, chẳng hạn như sách triết học thì nên dùng dấu “/” để phân tách các thành phần của câu cho dễ hiểu. Tưởng tượng câu “Thất kinh nàng chửa biết là làm sao” (Truyện Kiều) mà bị phân tích sai cấu trúc thì sao nhỉ? *cười*

6. Câu văn tiếng Việt rất hay sử dụng các đại từ như “nó”, “đó”, “chúng nó”, “chúng”,… để thay thế cho chủ từ đã dùng trước đó. Tuy vậy với những đoạn có nhiều đối tượng thì đại từ lại trở nên dễ nhầm lẫn một chút. Mẹo ở đây là bạn có thể dùng bút chì ghi lại từ/ cụm từ chỉ đối tượng được thay thế ở kế bên.

7. Nếu có thể thì lúc đọc nên trang bị từ điển bên cạnh. Mình biết là ý tưởng tra từ điển tiếng Việt nghe rất ngộ nghĩnh cơ mà khi chưa làm chủ được tiếng mẹ đẻ thì nên nương vào những nguồn tài liệu sẵn có. Còn việc dùng từ điển nào thì mình sẽ chia sẻ ở một bài khác.

Trên đây là một số kỹ thuật hỗ trợ việc đọc sách (cụ thể trong trường hợp này là sách triết học). Ở bài sau mình sẽ chia sẻ những gì mình làm sau khi đọc. Khoảng thời gian đầu khi phải học lại cách đọc mình thấy khó chịu lắm. Mình nghĩ “đọc thôi mà, sao lại nhiều ‘trò’ quá vậy”. Hóa ra đến lúc cần phải trình bày hoặc đơn giản là kể lại cho bạn nghe về một quyển sách mình lại không tài nào nhớ được ý. Từ dạo luyện tập cách đọc chủ động này mình rèn được tính cẩn thận, sự tập trung và nhất là mỗi lần cần thuyết trình thì chỉ cần “liếc” lại trang sách, bao nhiêu ý tự nhiên nổi lên hết à.


 Học cách đọc (phần 3)

Sau khi đã thực hiện các quy trình trước và trong lúc đọc, bây giờ mình chia sẻ những gì ta có thể làm sau khi đọc. Mình nhắc lại một lần nữa là phạm vi của bài viết đang là sách, cụ thể là sách triết học. Tuy vậy bạn hoàn toàn có thể vận dụng linh hoạt các kỹ thuật đọc này theo từng loại tài liệu và cả khả năng, sở thích của mình nữa nhé.

SAU KHI ĐỌC SÁCH 

Giống như một câu chuyện cổ tích, có “khắc nhập” thì ta sẽ có “khắc xuất”. Sau khi đã đọc sách với tâm thế mình là người dạy, mình nghĩ ta có thể thử “xuất” bằng cách thuyết trình lại những gì đã “nhập”. Thông qua việc trình bày ta có thể kiểm tra mức độ “hiểu” của mình về nội dung đã đọc cũng như bộc lộ những điểm yếu về tư duy, cách dẫn dắt, cách dùng từ,… để khắc phục và hoàn thiện. Đặc biệt, các sơ đồ được vẽ trong lúc đọc là một trợ thủ đắc lực mỗi khi “xuất”. (Bạn xem lại ở #3 nha).

Thầy P gợi ý cho mình 3 giai đoạn của việc “xuất”, mình ghi lại hết ở đây nè:

1. Giai đoạn 1: Bạn gấp sách lại, nhìn vào sơ đồ (gồm các từ khóa và các ký hiệu thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố) và trình bày những gì bạn có thể khai triển được. Thường ở giai đoạn này chúng ta sẽ có cảm tưởng là mình hiểu nội dung nhưng “nó cứ sao sao”, mình muốn trình bày ra lắm cứ thấy khó khăn thế nào. Có thể bạn đang thiếu từ ngữ để diễn tả, hệ thống ý chưa mạch lạc hoặc một số chi tiết chưa rõ ràng.

Lúc này bạn đừng hoảng mà hãy bình tĩnh giở lại những phần còn thiếu sót. Quan trọng nhất là nhìn vào hệ thống từ vựng mà tác giả đang sử dụng để “mượn” những từ đó khi thuyết trình. Mình không nghĩ việc mượn từ của tác giả là một hành động bắt chước hay đạo văn bởi vì ta đang trình bày cho người nghe quan điểm của tác giả đó cơ mà. Đối với hệ thống ý chưa mạch lạc thì nhứt thiết phải xem lại các sơ đồ của mình đã chặt chẽ hay chưa. Lúc này bạn sẽ thấy sự lợi hại của việc gạch/ khoanh/ bôi lúc độc. Lắm lúc mình có cảm giác như chữ nhảy lên khỏi trang sách vậy.

2. Giai đoạn 2: Với những “đổ vỡ” của giai đoạn 1, sang đến bước này ta có thể trình bày nội dung trơn tru hơn một chút và bắt đầu “nhập” vào tác giả để trình bày. Dĩ nhiên là trong lúc đọc ta có những suy tưởng của riêng mình nhưng trước hết hãy làm rõ những luận điểm của tác giả, mình nghĩ đây là hành động thể hiện sự “tôn trọng”. Ta tôn trọng công sức người viết, tôn trọng thành quả “cày bừa” với các trang sách của mình, tôn trọng người nghe và tôn trọng tính khách quan của việc học. Có thể ta không đồng tình với tác giả nhưng trước khi tranh luận nhứt thiết phải hiểu ĐÚNG và trình bày ĐÚNG suy nghĩ của tác giả.

Tuy nhiên ở giai đoạn này có thể bạn vẫn còn gặp một số trở ngại về từ vựng, chi tiết chưa rõ ràng hoặc thiếu sự liên kết giữa các phần. Thế là ta [lại] giở sách ra và bổ sung vào các phần thiếu đó.

3. Giai đoạn 3: Lúc này ta đã có thể làm chủ kiến thức mình đã đọc và trình bày một cách lưu loát. Đồng thời với những suy tưởng khi đọc ta có thể “đối thoại” với tác giả bằng những luận điểm của mình. Có thể đến đây bạn đã thuộc bài nhưng vai trò của các sơ đồ vẫn rất quan trọng, nhất là khi ta lỡ quên một số chi tiết. Kinh nghiệm của mình là nên viết chữ to, rõ và không viết tắt trong sơ đồ. Thầy P có chia sẻ nếu được thì ta nên chuẩn bị một ít giấy để ghi chép, mình thì dùng sổ hoặc giấy note có keo dán.

Trên đây là các bước để trình bày nội dung quyển sách đã đọc. Con số “ba” thực ra có thể linh hoạt thay đổi tùy vào năng lực của mỗi cá nhân. Thầy cũng lưu ý mình là nên nói to để nghe được giọng mình khi nói đã lưu loát chưa, có thành thục từ ngữ chưa. Quan trọng hơn cả là phải liên tục rèn luyện để hình thành thói quen đọc sách chủ động.

Đến đây thì loạt bài về cách đọc sách cũng đã hoàn tất với những kỹ thuật cơ bản nhất. Đây cũng là những gì mình được học trong một buổi sáng cùng thầy P. Kết thúc khóa học ngắn hạn này, thầy chỉ dặn đi dặn lại mình là phải luyện tập bởi vì đa phần kiến thức ta sử dụng lấy từ việc đọc. Do vậy, song song với việc làm chủ tiếng Việt (thứ ngôn ngữ ta đang dùng để tư duy) thì đảm bảo cách “nhập” đúng cũng rất quan trọng. Xem ra hành trình “học ngu” vẫn còn rất dài…
#nhatkyhocngu

Kết cục thảm hại của hạm đội mạnh nhất Trung Quốc

Kết cục thảm hại của hạm đội mạnh nhất Trung Quốc.


Quan đại thần Lý Hồng Chương và Đô đốc Đinh Nhữ Xương, hai "trụ cột" của Hạm đội Bắc DươngQuan đại thần Lý Hồng Chương và Đô đốc Đinh Nhữ Xương, hai "trụ cột" của Hạm đội Bắc Dương

Hạm đội mạnh nhất Trung Quốc đã bị hải quân Nhật Bản hủy diệt trong trận Hoàng Hải.
Ở kỳ trước, chúng ta biết rằng đế quốc Nhật Bản cuối thế kỷ 19 đang vươn lên mạnh mẽ và khát khao xâm chiếm thuộc địa. Để thực hiện mộng xâm lược của mình, Nhật Bản phải đối mặt với hạm đội được cho là mạnh nhất châu Á thời bấy giờ của Trung Quốc. Thế nhưng, hạm đội đó đã bị mục ruỗng từ bên trong, và nó đã bị hủy diệt trong một trận hải chiến diễn ra trên biển Hoàng Hải.
Ngày 17/9/1894, trận hải chiến giữa 2 hạm đội hùng hậu của nhà Thanh và Nhật Bản diễn ra trên biển Hoàng Hải. Trận hải chiến này còn được gọi là trận sông Áp Lục vì nó xảy ra ở gần cửa sông Áp Lục đổ ra biển Hoàng Hải, nơi giáp ranh giữa Triều Tiên và Trung Quốc.
Trong trận chiến này, hầu hết các tàu chiến chủ lực của cả hai hạm đội đều được tung vào trận, và Hạm đội Nhật Bản mới được tái thiết của Đô đốc Sukeyuki Ito đã chặn đứng được cuộc đổ bộ của lục quân Trung Quốc dưới sự hỗ trợ của Hạm đội Bắc Dương dưới sự chỉ huy của Đô đốc Đinh Nhữ Xương.
Trước khi trận chiến xảy ra, Hạm đội Bắc Dương đã có những nỗ lực cuối cùng để sửa chữa lại các chiến hạm, đảm bảo khả năng chiến đấu cao nhất. Đô đốc Đinh Nhữ Xương nhận được sự cố vấn của một số sĩ quan hải quân nước ngoài giàu kinh nghiệm, chẳng hạn như viên đại tá người Đức von Hanneken hoặc một số sỹ quan người Anh đang là giảng viên tại Học viện Hải quân Uy Hải Vệ.
Trong khi đó, người Nhật rất tự tin vào khả năng của mình, nên không sử dụng cố vấn nước ngoài.
Phía Trung Quốc, Đô đốc Đinh Nhữ Xương chia hạm đội theo thế trận “nhạn bay hai cánh” với 2 hải đội chia thành hai cánh cung sẵn sàng nghênh địch. Trong thế trận này, hải đội thứ nhất tập trung chủ yếu những tàu xương sống của Hạm đội Bắc Dương gồm 2 thiết giáp hạm Định Viễn và Trấn Viễn nằm ở trung tâm đội hình chiến đấu. 
Bảo vệ cho các thiết giáp hạm này là các tuần dương hạm Dương Uy, Siêu Dũng, Bình Viễn, Tĩnh Viễn, Lai Viễn, Chí Viễn được trang bị nhiều loại pháo có cỡ nòng khác nhau. Đây là một lực lượng rất mạnh gồm tổng cộng có 14 tàu chiến, trong đó có hai tàu phóng lôi cỡ nhỏ. 



Tranh vẽ trận Hoàng Hải 1894.Tranh vẽ trận Hoàng Hải 1894.

Về phía Nhật Bản, Đô đốc Sukeyuki Ito cho hạm đội triển khai theo đội hình hai hàng dọc, trong đó tàu tuần dương Matsushima đóng vai trò là kỳ hạm ở trung tâm của đội hình.
Đi theo bảo vệ cho kỳ hạm Matsushima là 2 chiến hạm cỡ nhỏ Sei-kyo do thuyền trưởng người Anh John Wilson chỉ huy và pháo hạm Akagi. Tổng tham mưu trưởng Hải quân Nhật Bản, Đô đốc Kabayama Sukenori có mặt trên chiếc Sei-kyo. Lực lượng này tiến lên ở cánh trái đội hình. 
Lực lượng chính của Hạm đội Nhật Bản bao gồm các tuần dương hạm Chiyoda, Hashidate, Itsukushima, Fuso, còn chiếc Hiei được trang bị 9 khẩu pháo 152mm lùi xuống ở trung tâm đội hình.
Dẫn đầu đội hình tiến công của Nhật Bản ở cánh phải là một hải đội xung kích có tốc độ cao, bao gồm các tuần dương hạm Yoshino, Akitsushima, Takachiho và Naniwa. Đây là những tàu có hỏa lực mạnh và sức cơ động cao, là lực lượng then chốt quyết định trận đánh. Đội hình Hạm đội Nhật Bản như một chữ U lớn, hướng về phía Hạm đội Bắc Dương.
Bước vào trận đánh, Đô đốc Sukeyuki Ito biết rằng nếu đấu tay đôi với các thiết giáp hạm hiện đại có hỏa lực mạnh của hải quân nhà Thanh, quân Nhật sẽ gánh chịu thất bại nặng nề. Thế nên ông quyết định chọn cách sử dụng lực lượng xung kích với ưu thế về tốc độ cao để đánh vỗ mặt các tàu chiến cỡ nhỏ của Hạm đội Bắc Dương, sau đó áp sát phát huy tối đa sức mạnh hỏa lực để giải quyết trận đánh. 
Vì hạm đội Nhật tiến theo đội hình hai hàng dọc nên các khẩu pháo 305mm có tầm bắn xa 7,8km của thiết giáp hạm Định Viễn và Trấn Viễn gần như không thể bắn trúng tàu chiến Nhật Bản vì vướng những tàu nhỏ hơn ở phía trước.
Trong khi đó, từ cánh phải, hải đội xung kích của Nhật Bản đã bắt đầu khai hỏa, bắn các tàu chiến nhỏ hơn của đối phương. Trong khi hải đội xung kích lợi dụng ưu thế về tốc độ liên tục di chuyển để đánh vào bên sườn của Hạm đội Bắc Dương, hải đội chính của quân Nhật bất ngờ tiến vào đánh vỗ mặt, buộc quân Thanh phải chật vật chống đỡ trên cả hai phía. Loạt đạn đầu tiên của hải quân Nhật bắn vào kỳ hạm Định Viễn đã khiến Đô đốc Đinh Nhữ Xương bị thương.


Tàu chiến Nhật Bản tiến đến đánh vỗ mặt Hạm đội Bắc DươngTàu chiến Nhật Bản tiến đến đánh vỗ mặt Hạm đội Bắc Dương

Sau khi đã áp sát ở cự li đủ để phát huy tối đa hỏa lực hạm tàu, tàu chiến Nhật Bản liên tục di chuyển theo vòng tròn, quây Hạm đội Bắc Dương vào giữa để tiêu diệt. Hạm đội Bắc Dương đã rơi vào cái bẫy của người Nhật Bản.
Tuy nhiên, theo đánh giá sau này thì chiếc bẫy này không hẳn là không có cách phá vỡ. Nếu như Hạm đội Bắc Dương có chiến thuật đúng đắn để triển khai đội hình, đưa các thiết giáp hạm Định Viễn và Trấn Viễn lên tuyến đầu để khai hỏa trực tiếp vào hải đội xung kích của Nhật Bản, sử dụng ưu thế tầm bắn để ra đòn phủ đầu thì họ đã có thể giành được ưu thế, không đánh mất hoàn toàn quyền chủ động vào tay người Nhật Bản. 
Nhưng không rõ vì lí do gì mà những mệnh lệnh này đã không được đưa ra, dù cho các sĩ quan nước ngoài cố vấn cho Hạm đội Bắc Dương có mặt trong trận chiến cũng đã sớm nhận ra điều này. Có một số ý kiến cho rằng thuyền trưởng tàu Định Viễn đã hèn nhát, chống lại thượng lệnh của Đô đốc Đinh Nhữ Xương. 
Ngoài ra, nguyên nhân thất bại của Hạm đội Bắc Dương chủ yếu nằm ở trang bị quá tồi tệ do nạn tham nhũng hoành hành. Nhiều chiến hạm của Nhật đã bị trúng đạn pháo, thậm chí bị bắn trúng nhiều hơn tàu Trung Quốc. Nhưng những viên đạn pháo nhồi xi măng, mạt cưa thay cho thuốc súng hầu như chẳng gây thiệt hại gì cho quân Nhật. 


Tranh vẽ kỳ hạm Matsushima tấn công tàu chiến Hạm đội Bắc Dương.Tranh vẽ kỳ hạm Matsushima tấn công tàu chiến Hạm đội Bắc Dương.

Theo các tài liệu lịch sử, tuần dương hạm Bình Viễn đã bắn nhiều phát trúng vào tàu Matsushima của Nhật Bản, nhưng hầu như các quả đạn đã bị “rút ruột” nên không gây thiệt hại. Những khẩu pháo 305mm và 208mm bất lực trước hạm đội Nhật Bản, khiến các tàu Nhật thoải mái cơ động, chờ cho các tàu Trung Quốc bắn hết đạn để tiến vào áp sát ở cự li 2.700m, khai hỏa đáp trả.
Mục tiêu đầu tiên là 2 tuần dương hạm loại nhỏ Dương Uy và Siêu Dũng của Hạm đội Bắc Dương. Cả hai chiếc đều bốc cháy dữ dội ngay sau loạt đạn đầu. Các tàu Nhật Bản cơ động liên tục, bắn gãy cột cờ tín hiệu của kỳ hạm Định Viễn, khiến Hạm đội Bắc Dương mất khả năng chỉ huy thống nhất. Để đối phó lại, hạm đội Trung Quốc cũng chia thành ba cặp đôi tàu, để chiến đấu độc lập, chi viện cho nhau. 
Trận chiến kéo dài suốt cả ngày, và kết thúc với phần thắng thuộc về người Nhật Bản. Hạm đội Bắc Dương bị bắn chìm 5 tàu, bị thương 3 tàu, 850 thủy thủ thiệt mạng, 500 người bị thương. Trong khi đó, Hạm đội Nhật Bản chỉ bị hỏng 4 tàu, 190 thủy thủ thiệt mạng, 200 người bị thương. 
Trận Hải chiến Hoàng Hải đã mở đường cho sự vươn lên của Hạm đội Nhật Bản, sánh vai cùng hải quân các cường quốc châu Âu cũng như khẳng định vị trí siêu cường của Nhật Bản trên trường quốc tế. 
Về phần Hạm đội Bắc Dương, sau trận Hoàng Hải, lực lượng này còn đọ sức với Nhật Bản một lần nữa trong trận Uy Hải Vệ tháng 2/1985 và một lần nữa bị diệt gọn. Đội tàu phóng lôi của Nhật Bản đã đánh chìm kỳ hạm Định Viễn cùng 3 tàu lớn khác của Hạm đội Bắc Dương, 13 tàu phóng lôi còn sống sót cố chạy đến Yên Đài thì 6 chiếc bị tiêu diệt và 7 chiếc bị bắt giữ. Ngày 12/2/1895, Đô đốc Đinh Nhữ Xương và các tàu còn lại thuộc Hạm đội Bắc Dương đã đầu hàng quân Nhật vô điều kiện.


Đô đốc Đinh Nhữ Xương đầu hàng Đô đốc Nhật Bản Sukeyuki Ito sau trận Uy Hải VệĐô đốc Đinh Nhữ Xương đầu hàng Đô đốc Nhật Bản Sukeyuki Ito sau trận Uy Hải Vệ

Sau này, tờ Quân Giải phóng của quân đội Trung Quốc bình luận về trận hải chiến Hoàng Hải đã kêu gọi chỉ huy các đơn vị cần rút ra bài học từ chiến thắng năm 1894 của Nhật Bản trước nhà Thanh, một bài bình luận được coi là ám chỉ nạn tham nhũng lan tràn trong giới tướng lĩnh quân đội hiện nay.
Phân tích nguyên nhân thất bại của trận hải chiến này, Quân Giải phóng nhận định: “Hải quân Trung Quốc được trang bị các tàu chiến tiên tiến cùng vũ khí đã được sử dụng bởi các lực lượng hàng hải Minh Trị Nhật Bản, nhưng các thủy thủ và sĩ quan Trung Quốc đã chỉ biết chế giễu sỹ quan hướng dẫn người nước ngoài được trả lương cao, một sự tương phản nổi bật với thái độ học tập nghiêm túc và khiêm tốn của hải quân Nhật Bản.”
Các nhà phân tích cho nhận định bài bình luận trên của Quân Giải phóng nhằm ám chỉ tới một thực tế rằng quân đội Trung Quốc thời nhà Thanh phải đối mặt với nhiều thách thức tương tự quân đội Trung Quốc bây giờ, đó là nạn gia đình trị, bè phái và tham nhũng.
Ông Nghê Lạc Hùng, một nhà phân tích quân sự từ đại học Khoa học chính trị – luật Thượng Hải phân tích: “Vấn nạn tham nhũng hiện nay trong quân đội Trung Quốc thậm chí còn tồi tệ hơn hạm đội Bắc Dương thời nhà Thanh. Nếu hiện tượng mua bán quân hàm còn tiếp diễn, quân đội Trung Quốc chắc chắn sẽ bị Nhật Bản đánh bại một lần nữa nếu có xung đột quân sự giữa 2 nước".

Tàng Kinh Các

MỐI THÙ CỦA NHÀ TÂY SƠN VÀ VUA GIA LONG: CHUYỆN ĐỜI VAY TRẢ (Tàng Kinh Các)

MỐI THÙ CỦA NHÀ TÂY SƠN VÀ VUA GIA LONG: CHUYỆN ĐỜI VAY TRẢ


Bài viết này xin xem như một câu trả lời, sự thật lịch sử là một kinh nghiệm chung ở đời…

Đôi nét lịch sử
Sau 25 năm chiến đấu kiên trì và gian khổ, ngày mồng 3 tháng 5 năm Tân Dậu (13/6/1801) Nguyễn Vương (vua Gia Long) tái chiếm kinh đô cũ Phú Xuân, đuổi vua tôi Cảnh Thịnh chạy dài ra Bắc. Một năm sau, ngày mồng 2 tháng 5 năm Nhâm Tuất (1/6/1802), tuy chưa chính thức lên ngôi hoàng đế (1) nhưng theo lời đề nghị của bầy tôi,  vua ban hành niên hiệu Gia Long, mở ra một triều đại mới của nhà Nguyễn. Vào đầu thế kỷ XX, vua Khải Định đã chọn ngày này ( mồng 2 tháng Năm âm lịch) làm ngày quốc khánh của nước Đại Nam, đặt tên là ngày Hưng quốc khánh niệm. Những ai ở lứa tuổi trên 70 ở Trung kỳ, từng cắp sách đến trường có thể còn nhớ đôi chút về ngày này, nhất là ở Huế.  Đó là ngày mừng đất nước thống nhất. Niên hiệu Gia Long bao hàm trong ý nghĩa đó — vua muốn nói ông là người đã đi từ Gia Định thành tới Thăng Long thành để thống nhất đất nước. (Võ Hương-An, Thăng Long và Gia Long )
Ngay sau khi chiếm lại Phú Xuân và  trong khi vua Cảnh Thịnh của Tây Sơn đang còn làm chủ ở miền  Bắc thì Nguyễn Vương đã cho « Phá hủy mộ giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ, bổ săng, phơi thây, bêu đầu ở chợ » (Thực lục I, tr.473).
Sau khi chiếm được Bắc hà, bắt được  trọn gói vua tôi, anh em vua Cảnh Thịnh,  hoàn thành cuộc thống nhất đất nước từ Nam chí Bắc, vua Gia Long khải hoàn về kinh. Ngày giáp tuất  tháng 11 năm Gia Long thứ 1 (7 tháng 11 Nhâm Tuất, 1/12/1802) vua đem tù binh ra làm lễ hiến phù ở Thái Miếu. Hiến phù là lễ trình diện tù binh trước bàn thờ tổ tiên, và Thái Miếu là nơi thờ 9 đời chúa Nguyễn. Sau lễ,
« Sai Nguyễn Văn Khiêm là Đô thống chế dinh Túc trực, Nguyễn Đăng Hựu là Tham tri Hình bộ áp dẫn Nguyễn Quang Toản [vua Cảnh Thịnh] và em là Quang Duy, Quang Thiệu, Quang Bàn ra ngoài cửa thành, xử án lăng trì, cho 5 voi xé xác, đem hài cốt của Nguyễn Văn Nhạc và Nguyễn Văn Huệ giã nát rồi vất đi, còn xương đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản và mộc chủ [bài vị] của vợ chồng Huệ thì đều giam ở Nhà đồ Ngoại [Ngoại Đồ Gia, cơ quan chế tạo của triều đình, sau gọi là Võ Khố] (năm Minh Mệnh thứ 2 đổi giam vào ngục thất cấm cố mãi mãi). Còn đồ đảng là bọn Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng đều xử trị hết phép, bêu đầu cho mọi người biết. Xuống chiếu bố cáo trong ngoài. » (Thực lục I, tr.531)
Trong chiếu bố cáo cho toàn dân được rõ về lễ hiến phù ngày 7 háng 11 Nhâm tuất, có câu mở đầu : « Trẫm nghe, vì chín đời mà trả thù là nghĩa lớn kinh Xuân Thu … » và kết thúc bằng câu « Nhạc Huệ trời đã giết rồi, cũng đem phanh xác tan xương, để trả thù cho Miếu Xã, rửa hận cho thần nhân. » (Thực lục I, tr.532,533)
Theo tài liệu của Bissachère, trước khi nhận lãnh cái chết thảm khốc, anh em vua Cảnh Thịnh còn bị bắt phải chứng kiến cảnh lính tráng tiểu tiện vào sọt đựng hài cốt của cha (Nguyễn Huệ) và bác (Nguyện Nhạc) (theo hồi ký của Bissachère) trước khi hài cốt bị đem « giả nát rồi vất đi ».

Phẩm bình của lịch sử         
Tại miền Nam trước 1975, có hai bộ thông sử tiếng Việt thông dụng là Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim và Việt Sử Toàn Thư của Phạm Văn Sơn. Viết về vua Gia Long, cả hai bộ sử đều giống nhau ở một điểm: có phê phán sự hẹp lượng của vua Gia Long qua việc giết hại công thần (vụ án Nguyễn Văn Thành và vụ án Đặng Trần Thường), có kể rõ việc hành hình trả thù Tây Sơn nhưng hoàn toàn không bình luận, phê phán gì đến sự “quá tay” trong việc này. Tại sao?
Hoa Bằng, tác giả Quang Trung, Anh hùng dân tộc (Nxb Bốn Phương, Saigon, 1953) khi kết luận thiên biên khảo đầu tiên bằng tiếng Việt về đề tài này đã ngậm ngùi viết:
« Vậy mà Nã [Phá Luân, Napoléon I] được gởi nắm xương trong đền Invalides để cho người sau hoài niệm, viếng thăm ; còn Quang Trung : mả phải đào, xương phải tán, dòng dõi bị chu di, sự nghiệp liệt liệt oanh oanh gói tròn trong một chữ ‘Ngụy’ »
Nhà viết sử Trần Gia Phụng trong Nhà Tây Sơn (Nxb Non Nước, Toronto, 2005) cũng đã có lời bình phẩm nhẹ nhàng nhưng nghiêm khắc:
« Cuộc trả thù được vua Gia Long xem là ‘ nghĩa lớn Kinh Xuân Thu’ nhưng hành hạ di cốt địch thủ trước mắt con cái họ trái hẳn với đạo lý cổ truyền của dân tộc. » (tr.240)
Phê bình mạnh tay, mạnh mẽ hơn có Quách Giao :
Nhà Nguyễn đối với nhà Tây Sơn vô cùng khắc nghiệt. Quật mả Vua Thái Ðức, Vua Quang Trung, chém giết dòng họ, tướng tá nhà Tây Sơn đến thế, Nguyễn Phúc Ánh chưa cho là đủ, còn truyền đào mồ mả của cha ông hai nhà anh hùng áo vải và của những người đã theo nhà Tây Sơn và đã chết trước khi non sông đổi chủ.
Còn đối với Nhà Tây Sơn thì Nguyễn Phúc Ánh chém tất cả dòng họ, từ Vua Bửu Hưng [Cảnh Thịnh], cho tới một em bé mới sanh mà đã lọt vào ngục thất. Lại truyền đào mả Vua Thái Ðức và Vua Quang Trung, nghiền xương đổ xuống bể. Còn sọ thì đem xiềng nơi ngục thất trong Hoàng Cung để làm lọ đi tiểu.
Ðể nhổ cỏ cho sạch gốc, Nguyễn Phúc Ánh sức mọi nơi truy tầm những bà con gần xa của họ Nguyễn Tây Sơn, và những Tướng Tá của Tây Sơn còn trốn tránh nơi sơn dã.
Hai người con Vua Thái Ðức là Văn Ðức, Văn Lương và cháu nội, con Nguyễn Bảo, là Văn Ðẩu, nương náu nơi Mộ Ðiểu, Vùng An Khê. Vua tôi Nhà Nguyễn biết nhưng sợ người Thượng, không dám đến bắt. Mãi đến năm Minh Mạng thứ 12 (1832) thấy tình thế đã yên, ba chú cháu mới đem nhau về thăm quê cũ ở Kiên Mỹ. Bọn bất lương đi mật báo. Quân Nhà Nguyễn đến vây bắt giải về Phú Xuân giết chết.
…Ngót 150 năm, Nhà Nguyễn cố làm cho người người quên Nhà Tây Sơn. Những người yêu nước vẫn luôn nhớ đến Nhà Tây Sơn, ngọn bút yêu nước vẫn chép đi chép lại, vẫn tìm tòi trong nơi khuất tịch những tài liệu còn dấu cất, để viết về Nhà Tây Sơn.
Và tiếng Anh hùng Áo Vải, Anh Hùng Dân Tộc mãi còn vang, khi nhẹ nhàng, khi mạnh mẽ, trên đất nước Việt Nam, từ Nam chí Bắc.

Còn Nhà Nguyễn đã làm được gì?
Có người bảo rằng đã thống nhất Bắc Nam.
Ðó là quên rằng chính Nhà Tây Sơn đã thống nhất Bắc Nam, rồi Nguyễn Phúc Ánh đánh chiếm trên tay Ðông Ðịnh Vương và Cảnh Thịnh. Sau bao phen bể nổi dâu chìm Nhà Nguyễn còn để lại tiếng Rước voi, cõng rắn.
Trăm năm bia đá thời mòn
Nghìn năm bia miệng mãi còn trơ trơ.
Trong văn hóa phương Tây, đánh nhau là đánh nhau nhưng không có chuyện trả thù kẻ chiến bại một cách tàn nhẫn, nhất là đối với người đã chết, Do đó, khi bắt gặp hành động “dã man” này của vua Gia Long, Stanley Karnow, tác giả tiếng tăm bộ sử  VietNam, A History (Penguin Book, 1984) đã viết:
“Ông ta tỏ ra chẳng khoan dung chút nào đối với kẻ thù đã chiến bại, dù  đã chết hay còn sống. Binh sĩ của ông đã quật xương cốt của một cặp vợ chồng cầm đầu Tây Sơn đã chết [Nguyễn Huệ], tiểu tiện vào xương cốt đó trước sự chứng kiến của con cái họ và những người này sau đó tay chân bị trói vào 4 con voi và xé nát.” (p.65) (He showed no mercy to his beaten adversaries, dead or alive. His soldiers exhumed the bones of a deceased Tayson leader and his wife and urinated on them before the eyes of their son, whose limbs were then bound to four elephants and ripped apart.)
Nếu Nhà Tây Sơn không có Quang Trung Nguyễn Huệ với chiến thắng quân Thanh và quân Xiêm vang dội trong lịch sử thì hành động “vì 9 đời mà trả thù” của vua Gia Long chưa chắc đã bị búa rìu dư luận nhiều như đã xảy ra. Ngoài việc ghi chép khá rõ ràng của Quốc Sử Quán Nhà Nguyễn thì hồi ký sống động của giáo sĩ De la Bissachère về việc hành hình trả thù của vua Gia Long đối với anh em và vua tôi Cảnh Thịnh (2), đã gây tác động tâm lý không nhỏ trong giới sử học Đông Tây (Thực ra ông này không chứng kiến cuộc hành hình mà chỉ nghe ai đó kể lại). Thử đi vào mạng lưới toàn cầu, gõ mấy từ khóa như Gia Long, Tây Sơn, Nguyễn Huệ, thì tha hổ đọc công luận phẩm bình, đa số đều chê Gia Long về việc này. Điều này cũng dễ hiễu thôi vì hào quang chiến thắng quân Xiêm và quân Thanh của vua Quang Trung rực rỡ quá, đã che mất sự thật thê thảm ở bên trong. Thêm vào đó, với mấy chục năm lịch sử được viết dưới nhãn quan xã hội chủ nghĩa, triều Nguyễn do Gia Long khai sáng, đã bị miệt thị thậm tệ, đã ảnh hưởng không ít trên sự nhận thức của người đọc, nhất là giới trẻ. Mặc dầu ngày nay gió đã đổi chiều, đã bắt đầu có sự chuyển biến trong nhận thức về sự nghiệp của Nhà Nguyễn (3) nhưng không thiếu chi người vẫn tư duy trong nếp cũ.

Câu hỏi đặt ra
Các sách sử Việt Nam viết về hành vi “tàn ác” trả thù Tây Sơn của vua Gia Long đều lấy tài liệu từ các bộ chánh sử của Nhà Nguyễn (Đại Nam Thục lục đệ nhất kỷ, Đại Nam Liệt Truyện ), trước khi biết đến các chi tiết khác do nguồn sử liệu Tây phương cung cấp. Sử thần Nhà Nguyễn trong Quốc Sử Quán đã không giấu diếm gì cả, viết trắng chuyện này ra cho hậu thế cùng biết, người sau chỉ lặp lại, chỉ thêm lời bình phẩm nặng nể mà không có bớt.
Riêng người viết, trong niềm ngưỡng mộ chiến thắng oanh liệt hào hùng của vua Quang Trung trước quân Xiêm và quân Thanh xâm lăng, ban đầu thì cũng đồng ý với những bình phẩm chê trách hành động của vua Gia Long đối với Tây Sơn là thái quá, tàn nhẫn, nhưng sau đó, khi được biết những nguồn tin khác, không khỏi đắn đo tự hỏi và tìm lời giải đáp.
Vua Gia Long vốn không phải là con người hiếu sát (4)[1] .Ngay cả việc đối với họ Trịnh, hai bên đánh nhau ròng rã 45 năm trời, vậy mà khi đã lấy được nước (1802), vẫn đối xử tốt với con cháu họ Trịnh chứ đâu đến cạn tàu ráo máng như với Tây Sơn?
Sau khi làm chủ Bắc hà, vua “Sai chọn người dòng dõi họ Trịnh để giữ việc thờ cúng họ Trịnh. Trước là khi đại giá Bắc phạt, người họ Trịnh ai ai cũng sợ bị giết. Vua thấu rõ tâm tình, xuống chiếu dụ rằng: ‘Tiên đế ta với họ Trịnh vốn là nghĩa thông gia. Trung gian Nam Bắc chia đôi, dần nên ngăn cách, đó là việc đã qua của người trước, không nên nói nữa. Ngày nay, trong ngoài một nhà, nghĩ lại mối tình thích thuộc bao đời, thương người còn sống, nhớ người đã mất, nên lấy tình hậu mà đối xử. Vậy nên cùng báo cho nhau, họp chọn lấy một người trưởng họ, giữ việc thờ cúng để giữ tình nghĩa đời đời.” (Thực lục I, tr.508) Vậy là Trịnh Tư được giao lo việc thờ cúng, họ Trịnh được cấp 500 mẫu ruộng để lấy huê lợi cúng tế hàng năm, 247 người họ Trịnh được xét tha thuế dinh và miễn binh dao (đi lính và chịu sưu dịch).
Ai cũng biết La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp, được coi như một Gia Cát Lượng của vua Quang Trung, một cố vấn tối cao, được vua quan trên dưới đều kính nể (4 lần vua khẩn khoản mời ra giúp, cuối cùng nhận chức Viện trưởng Viện Sùng Chính năm 1790, giúp vua chấn chỉnh việc giáo dục, văn hóa, giúp vua chọn đất Nghệ An làm Phượng Hoàng trung đô…). Khi  Nguyễn Vương tái chiếm Phú Xuân, ông đang ở Huế giúp vua Cảnh Thịnh nhưng không chạy theo khi vua đào thoát (hay chạy theo không kịp?) và dường như không bị bị bắt mà chỉ quản thúc tại gia, dù phía Nguyễn Vương biết rõ lý lịch, sau đó Nguyễn Vương đã ra lệnh
“Thả xử sĩ ở Nghệ An là Nguyễn Thiếp về. Thiếp là người xã Nguyệt Áo huyện La Sơn, đậu Hương tiến đời Lê, làm quan huyện Thanh Chương, bỏ quan về nhà. Khi nhà Lê mất, theo lời mời của Nguyễn Quang Toản mà ở lại Phú Xuân. Tới nay vào yết kiến, xin trở về làng. Vua [Nguyễn Vương] dụ rằng ‘Khanh là người tuổi tác, đạo đức, rất được người ta trông cậy. Sau khi trở về núi nên khéo léo đào tạo lấy nhiều học trò để ra sức phò giúp thịnh triều, khỏi phụ tấm lòng rất mực mến lão kính hiền của ta.’ [người viết in đậm]. Bèn sai quan quân đưa về (Thực lục I, tr.445)
Lại năm 1803, phái đoàn do vua Cảnh Thịnh phái đi sứ Nhà Thanh (gồm Lê Đức Thận, Nguyễn Đăng Sở và Vũ Duy Nghi) bị trả về nước, bị quan Bắc thành bắt giải về Kinh, vua Gia Long tha hết cho về quê. Lại khi Bộ Hình tâu xin vua định đoạt số phận của người vợ lẻ Nguyễn Nhạc cùng 2 người em họ tên Đại và Vạn bị bắt thì vua nói: “Vợ lẻ Nhạc là một người đàn bà thôi. Bọn Đại tuy là thân đảng của giặc Nhạc mà không dự binh quyền, nay Nhạc chết rồi, giết đi thì có ích gì?” (Thực lục I, tr.544)
Những chứng dẫn nho nhỏ đó cho thấy vua Gia Long là con người phải chăng, tùy theo người, theo trường hợp mà có quyết định tha hay phạt , chứ không phải bạ đâu giết đó, thà giết lầm hơn bỏ sót. Vậy tại sao giết Tây Sơn chưa đủ, phải hành hạ mới hả, kể cả nắm xương khô. Thù chi mà dữ vậy?
Sự thật là đây
Về chuyện vua Gia Long trả thù Tây Sơn, nhà viết sử Trần Gia Phụng đã đi xa hơn các học giả đi trước khi lần đầu tiên ông phân tích chính xác rằng:
“Không kể cá nhân ông bị quân đội Tây Sơn truy đuổi nhiều lần suýt chết, vua Gia Long thâm thù nhà Tây Sơn vì ba việc chính: thứ nhất, năm 1777 Định Vương Nguyễn Phúc Thuần [chú ruột vua Gia Long], Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương [em chú bác ruột] và Nguyễn Phúc Đồng [anh ruột] bị quân Tây Sơn bắt giết ở Gia Định. Thứ nhì, hai người em [ruột] của Gia Long là Nguyễn Phúc Mân và Nguyễn Phúc Thiển bị chết về tay quân Tây Sơn năm 1783. Thứ ba, vua Quang Trung cho quật mộ của Nguyễn Phúc Côn (phụ thân của Gia Long), đem hài cốt đổ xuống sông năm 1790.” (Việt Sử Đại Cương, Tập 2, tr.445
Chừng đó nợ máu nghe đã nặng (5 người cật ruột), nhất là món nợ thứ 3, nhẹ vật chất mà nặng tâm linh và đạo đức, ít người biết. Nhưng kể vậy cũng chưa đủ.
Khi đọc câu mở đầu của chiếu bố cáo  lễ hiến phù: “ Trẫm nghe, vì chín đời mà trả thù là nghĩa lớn kinh Xuân Thu…” * (Thực lục I, tr.532) tôi không khỏi mỉm cười một mình với ý nghĩ : thiệt mấy ông đời xưa văn chương lớn lối quá, cái chi cũng lôi điển tích với sách vở ra, tô vẻ cho long trọng. Nhưng sau đó, khi đọc kỹ Thực lục mới biết mấy chữ vì 9 đời mà trả thù mang một ý nghĩa rất thực, rất cụ thể, bên cạnh màu sắc điển tích văn chương tô điểm.
* “Xuân Thu, Công Dương truyện: Trang công năm thứ 4 chép: Tề Tướng công giết nước Kỷ, vì ông tổ xa đời là Ai công mà phục thù, đời gọi là mối thù 9 đời.” Chú thích của dịch giả Thực lục I, tr.532.
Ngày 13/6/1801, Nguyễn Vương (vua Gia Long) tái chiếm kinh đô Phú Xuân, nơi ông đã vội vã ra đi khi mới 13 tuổi (ta), và ròng rã 27 năm mơ ước được trở về. Tuy đã làm chủ được Phú Xuân  nhưng lực lượng hùng hậu của Tây Sơn Cảnh Thịnh vẫn còn ở bên kia lũy Trường Dục (Quảng Bình), vậy mà đến đầu tháng 8 năm đó đã lo sửa sang lăng mộ tổ tiên và cấp tốc hoàn tất ngay trong tháng. Sao việc này lại làm gấp rút còn hơn cả công tác sửa sang thành trì, xây đồn đắp luỹ để phòng chống Tây Sơn?  Xin đọc kỹ đoạn ghi chép của Thực lục sau đây, có thể thấy được lý do thúc đẩy (những chữ in đậm là do người viết, chữ ghi giữa hai ngoặc đứng [x] là chú giải của người viết):
“Tháng 9, ngày Ất hợi [ 9/8/1801], sửa lại sơn lăng.
“Trước kia giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ tham bạo vô lễ, nghe nói chỗ đất phía sau lăng Kim Ngọc (tức lăng Trường Mậu) [lăng của chúa Ninh Nguyễn Phúc Thái] rất tốt, định đem hài cốt vợ táng ở đó. Hôm đào huyệt, bỗng có hai con cọp ở bụi rậm nhảy ra, gầm thét vồ cắn, quân giặc sợ chạy. Huệ ghét, không muốn chôn nữa. Sau Huệ đánh trận hay thua, người ta đều nói các lăng liệt thánh [các chúa Nguyễn] khí tốt nghi ngút, nghiệp đế tất dấy. Huệ bực tức, sai đồ đảng đào các lăng, mở lấy hài cốt quăng xuống vực. Lăng  Hoàng Khảo ở Cư Hóa [lăng Cơ Thánh của Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long] Huệ cũng sai Đô đốc Nguyễn Văn Ngũ đào vứt hài cốt xuống vực ở trước lăng. Nhà Ngũ ở xã Kim Long bỗng phát hỏa. Ngũ trông thấy ngọn lửa chạy về. Người xã Cư Hóa là Nguyễn Ngọc Huyên cùng với con là Ngọc Hồ, Ngọc Đoài ban đêm lặn xuống nước lấy vụng hài cốt ấy đem giấu một nơi. Đến nay, Huyên đem việc tâu lên. Vua thương xót vô cùng, thân đến xem chỗ ấy, thì vực đã bồi cát mấy chục trượng. Tức thì sai chọn ngày lành làm lễ cáo và an táng lại. Các lăng đều theo nền cũ mà xây cao lên. Ngày Kỷ hợi [1/11/1801], vua thân đến tế cáo, nghẹn ngào sa lệ, bầy tôi đều khóc cả. Sai đổi xã Cư Hóa làm xã Cư Chính, cho dân miễn dao dịch làm hộ lăng. Cho Huyên làm Cai đội (năm Minh Mệnh thứ 11[1830] phong An Ninh bá, lập đền thờ ở núi Cư Chính) con là Ngọc Hồ, Ngọc Đoài tòng quân ở Bình Định cũng được gọi về hậu thưởng cho.” (Thực lục I, tr.466)
Gạt ra ngoài những chi tiết hoa lá cành như hai con cọp trong bụi rậm nhảy ra, đang đào mả thì nhà cháy, v.v., đoạn sử ngắn ngủi do Thực lục ghi lại tiết lộ hai điều quan trọng mà ít người biết đến hoặc biết mà vì một lý do nào đó đã lơ đi hoặc chỉ phớt nhẹ nói qua
-Thứ nhất,  Quang Trung Nguyễn Huệ đã đào hết lăng tẩm của 8 đời chúa Nguyễn tại Thừa Thiên, lấy hài cốt ném xuống sông.
Việc này cọng với việc giết chết vị chúa thứ 9 là Định Vương Nguyễn Phúc Thuần tại Long Xuyên năm 1777 thì quả nhiên vua Gia Long tính sổ 9 đời không sai chậy chút nào. Vì vậy có thể nói được rằng chữ 9 đời có một ý nghĩa rất cụ thể.
Đây là 8 đời chúa Nguyễn:
1.Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558-1613);
2.Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635);
3.Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (1635-1648);
4.Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1648-1687)
 5.Chúa Ngãi Nguyễn Phúc Thái (1687-1691);
6.Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu (1691-1725);
7.Chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ (1725-1738);
8.Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765);
Về ông tổ Nguyễn Kim, có lẽ vì không biết đích xác mộ phần nẳm ở đâu trong cái bát ngát của núi Triệu Tường ở Thanh Hóa, nên vua Quang Trung đành phải cho qua mà không tình sổ.
Tám đời chúa Nguyễn này không có hận thù gì với anh em Tây Sơn, đã có công rất lớn đối với dân tộc và đất nước khi kế tục nhau mở nước về phương Nam, đến tận Cà Mau, Châu Đốc, cống hiến cho tổ quốc non một nửa nước, trài dài  từ Phú Yên trở vào Nam, với đất đai trù phú, nguồn lợi dồi dào, rộng hơn lãnh thổ nam tiến của các triều Lý, Trần,  Hồ và Hậu Lê cọng lại. Không có sự nghiệp này thì hậu thế ngày nay lấy chi để khoe  với thế giới rằng “nước ta hình cong như chữ S” với “rừng vàng biển bạc”?!
-Thứ hai: Phần mộ của ông Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long cũng bị quật lên và hài cốt ném xuống sông.
Ông Nguyễn Phúc Côn là con thứ hai của Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, mất năm 1765, khi con là Nguyễn Phúc Ánh đang còn bé. Khi vua Gia Long lên ngôi Hoàng đế (1806) mới truy tôn cha làm Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng Đế, chứ cho đến khi chết dưới tay quyền thần Trương Phúc Loan, ông chẳng làm vua làm chúa gì. Chỉ vì con ông là Nguyễn Phúc Ánh dám chống lại Tây Sơn mà ông đã không được ngủ yên, lâm vào cảnh con làm cha chịu!
Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả  cho biết thêm một chi tiết khác:
“Theo truyền thuyết, khi Tây Sơn khai quật hài cốt đức Hưng Tổ ném xuống sông thì một hôm Nguyễn Ngọc Huyên bỏ lưới bắt cá, sau ba lần đều thấy cái sọ nằm trong lưới. Huyên cho là sọ của một vị nào anh linh nên kiếm nơi an táng tử tế. Khi vua Gia Long lên ngôi, đi tìm lại hài cốt của thân phụ, nghe người làng tường thuật, ngài cho đòi Ngọc Huyên bảo chỉ chỗ. Khi đào được sọ lên, vua chích huyết ở tay mình cho giọt vào sọ, sọ liền hút những giọt huyết này (lối thử này cho biết mối liên hệ cốt nhục giữa hai người). (tr.193)
Thực lục có nói khi Nguyễn Ngọc Huyên chết thì được lập đền thờ và phong làm An Ninh bá. Ở thượng lưu sông Hương có một ngôi miếu, tục gọi là miếu Ông Chài, chính là miếu ông Huyên vậy.
Trong văn hóa Việt Nam, phận làm con cháu là phải lo gìn giữ mồ mả tiên tổ cha ông. Do đó chúng ta thông cảm với vua Gia Long chỉ trong 2 tháng sau khi tái chiếm Phú Xuân đã vội vã hoàn tất việc tu sửa lăng mộ bởi khi đã biết tình trạng lăng mộ bị phá tanh banh thê thảm như thế thì không một ai có thể chờ đợi được nữa.
Trong lịch sử Việt Nam, việc tranh giành quyền lực dẫn đến những hành động giết hại nhau tàn nhẫn không phải là hiếm. Điển hình, để cướp ngôi nhà Lý, Trần Thủ Độ không ngần ngại dồn Lý Huệ Tông vào chỗ chết, với ý đồ nhổ cỏ tận gốc, mặc dù Huệ Tông đã biết thân phận, bỏ ngai vàng, vào tu ở chùa Chân Giáo. Đã thế, Trần Thủ Độ còn bày mưu sập bẫy tôn thất Nhà Lý chôn sống trọn gói (may mà Hoàng tử Lý Long Tường nhanh chân thoát qua tị nạn ở Cao Ly, trở thành thuỷ tổ họ Lý của xứ Đại Hàn ngày nay). Nhưng có lẽ trong cuộc tranh chấp quyền lực chưa có ai trong lịch sử phải trả cái giá 5 mạng người ruột thịt và 9 ngôi mộ cha ông tiên tổ tanh banh với xương cốt không biết đâu tìm như trường hợp vua Gia Long trong khi đối đầu với Tây Sơn để phục hồi cơ nghiệp của ông cha đã tốn công xây dựng.
Ở đời, có vay thì có trả. Nợ nào cũng có tính lãi suất, chỉ có khác là nặng hay nhẹ, không hình thức này cũng hình thức khác. Nếu Quang Trung Nguyễn Huệ không tạo nhân ác thì có thể đã không gặp quả ác.  Hận thù luôn luôn vẫy gọi thù hận là chuyện thường của thế gian, huống chi lại có yếu tố tranh giành quyền lực trong đó, tham lam và sân hận hẳn phải bốc lên ngùn ngụt.
Phải chăng nên thử  tự đặt mình vào địa vị của  vua Gia Long để có nhiều thông cảm và có lời phẩm bình phải chăng hơn.
Một vài cảm nghĩ 
Là hậu thế, có lẽ không mấy ai vui khi biết sự thật của tấn thảm kịch Nguyễn Quang Trung và Nguyễn Gia Long. Cả hai, đối với chúng ta, đều có chỗ đáng tôn vinh lẫn chỗ bất cập. Riêng ngưởi viết, từ tấn thảm kịch lịch sử này, học hỏi được một đôi điều, xin gọi là chia sẻ.
1/Qua việc điện thư của bạn bè và thân hữu gởi đến tới tấp kèm chuyện “Một ngày lễ Vu lan sầu thảm” của Tịnh Thuỷ,tôi nhận ra rằng té ra loại “lịch sử tiểu thuyết” dễ đi vào lòng người hơn là chính sử khô khan. Đồng ý khi tiểu thuyết hóa lịch sử thì tha hồ cho trí tưởng tượng vẽ vời nhưng cái căn bản của nó xin đừng đổi trắng thay đen. Thực lục ghi rõ vụ hành hình vua tôi anh em Cảnh Thịnh diễn ra ngày giáp tuất tháng 11 năm Gia Long thứ 1 tức ngày 7 tháng 11 Nhâm Tuất, 1/12/1802. Làm chi có ngày Vu Lan trong đó? Có lẽ tác giả muốn gây ấn tượng cho ngưởi đọc về sự tàn ác khó dung tha của vua Gia Long nên mới lựa một ngày như thế. Tội nghiệp cho vua! Vua chỉ dự lễ hiến phù, không dự cuộc hành hình, chỉ sai quan thi hành, nên cuộc đối thoại tay đôi giữa vua và bà Bùi Thị Xuân cũng chỉ là cơ hội bày ra để mạt sát thoải mái. Tội nghiệp.
2/Việc cải táng mộ ông Nguyễn Phúc Côn có thể hiểu được, vì tìm được hài cốt và hài cốt này đã được vua Gia Long xác tín rằng đó là di cốt của người đã sinh thành ra ông. Nhưng với 8 chúa thì sao? Sử nói Các lăng đều theo nền cũ mà xây cao lên. Đồng ý là xây lên cao, làm cho to lớn đẹp đẽ hơn xưa, nhưng hài cốt không tìm thấy thì chôn cái gì trong đó? Chẳng lẽ chỉ là một ngôi mộ trống không? Một cái mả gió?

Trong một dịp về thăm Huế sau 7 năm “đi học làm người tốt” (!), tôi được biết sau năm 1975, do đói quá, người ta đã làm bậy. Việc đào trộm mồ mả lăng tẩm giới quyền quí đã xảy ra với ý đồ tìm vàng bạc châu báu tùy táng. Người bạn kể cho nghe (tôi chưa có cơ hội kiểm chứng) khi cụ Vương Hồng Sển, nhà sưu tập đồ cổ nổi tiếng của Miền Nam,  biết được kẻ gian đã kiếm được nữ trang trong lăng Hoàng Thái Hậu Từ Dũ (vợ vua Thiệu Trị, mẹ vua Tự Đức) và đem bán thì cụ đã kêu trời. Dưới cái nhìn cơm áo của kẻ trộm, đó là vàng, tính theo thời giá của chỉ và lượng. Dưới cái nhìn của cụ Vương, đó là đổ cổ vô giá của quốc gia! Nhưng đó không phải là chi tiết tôi quan tâm, vì bảo vật quốc gia người ta bán ra nước ngoài nhiều rồi. Chi tiết lý thú mà tôi nghe được đã giúp tôi hiểu biết thêm và lý giải thắc mắc nêu trên. Chi tiết đó là, bọn kẻ trộm, khi đào đến quan tài của một ông chúa nào đó đã không thấy hài cốt mà chỉ thấy hình người ta bằng gỗ! Điều này xác nhận giả thiết mà tôi đã nghĩ trong đầu nhưng không biết cách nào để kiểm chứng, ấy là tục chiêu hồn nạp táng.
“Chiêu hồn nạp táng là gì?
“Trong gia phả các họ rất chú trọng mục: Mộ táng ở đâu. Trong mục này có một số trường hợp ghi chú: “Chiêu hồn nạp táng”.
Đó là những ngôi mộ không có tử thi, hài cốt, mộ người chết trận, chết đuối hay do thú dữ vồ… không tìm được tử thi. Thân nhân làm hình nhân và làm lễ an táng theo như lễ an táng thông thường.
Được nghe các cụ kể lại rằng: chất liệu làm hình nhân, có địa phương dùng cây núc nác (còn gọi là sò đo thuyền, mộc hồ điệp, nam hoàng bá, bạch ngọc nhi). Núc nác là loại gỗ mềm và xốp, dễ tạo hình, chôn dưới đất lâu hoai, lại dễ kiếm vì mọc ở nhiều nơi. Có địa phương dùng bùn lấy ở giữa dòng sông, có địa phương dùng mùn đào ở giữa ngã tư đường cái.
Hình nhân được đẽo gọt hoặc nhào nặn thô sơ, có đầu mình chân tay là được (vì đa số không phải là nghệ nhân). Kích thước của hình nhân khoảng 30-40 cm chiều dài. Thi hài tượng trưng đó cũng được khâm liệm, đưa vào áo quan làm bằng gỗ vàng tâm, kích thước nhỏ bé, hoặc đưa vào tiểu sành. Trên hình nhân có phủ lên linh vị viết trên giấy kim tuyến, nội dung giống như linh vị đặt ở bàn thờ. Trước khi làm lễ an táng có mời thầy cúng làm bùa ấn phù phép để vong hồn nhập vào hình nhân.
Lễ an táng và các lễ các lễ khác cũng tiến hành như tang lễ thông thường.
2/ Hình như có một nhà tư tưởng nào đó đã nói: “Làm thầy thuốc lầm thì chết một người; làm thầy địa lý lầm thì giết một họ; làm chính trị lầm thì giết một nước, làm làm văn hóa lầm giết cả một đời.”
Dưới ảnh hưởng của môn phong thủy Trung Hoa, người Việt từ vua cho chí dân đều tin rằng âm phần tổ tiên có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh mệnh và tương lai của con cháu. Bởi vậy ai cũng mong muốn tìm cho được một huyệt mả tốt để được kết phát, để con cháu được hưởng phước vinh hoa phú quí dài lâu. Bởi vậy, để tận diệt kẻ thù không gì bằng triệt long mạch, phá huyệt mộ, đào mả cha ông nhà người ta lên. Làm thế thì chắc chắn con cháu không thể nào ngóc đầu lên được, lấy gì mà chống trả. Quang Trung Nguyễn Huệ, ngoài việc sử dụng binh lực đánh Nguyễn Vương chạy dài ra biển, trốn qua đến Xiêm La hai lần, vẫn không quên sữ dụng chiêu thức này để hỗ trợ. Và để cho chắc ăn, thà phá lầm hơn bỏ sót, đã không những quật mồ thân sinh vua Gia Long là huyết thống trực hệ mà còn quật mồ cả 8 đời chúa Nguyễn xa lắc. Thật là một sự tính toán chu đáo.
Tuy toan tính chu đáo như vậy nhưng Nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ chỉ tồn tại có 14 năm (1788-1802, 1788 là năm vua Quang Trung đăng quang trước khi ra Bắc phá quân Thanh), trong khi Nguyễn Vương, mặc dầu bị đánh trúng tử huyệt (theo quan niệm phong thủy) nhưng sau 25 năm bền bĩ chiến đấu nhọc nhằn, đã thống nhất đất nước, phục hưng được cơ nghiệp tổ tiên, lập ra triều đại mới, tồn tại 143 năm (1802-1945).
Vậy là thế nào? Chẳng lẽ phong thủy hoàn tòan là một thứ tin mê tín dị đoan? Không, không thể vì vậy mà kết luận phong thủy một cách hồ đổ như thế được. Cái nước Mỹ của khoa học kỹ thuật tiến bộ nhất thế giới này cũng đang chạy theo Feng Shui (Phong thủy) của nền văn minh cổ Trung Hoa, có thua chi Việt Nam xưa và nay đâu, có điều họ chú trọng đến dương cơ hơn âm phần. Như vậy phải có một yếu tố gì khác làm cho độc chiêu do vua Quang Trung phát ra đã không có hiệu quả. Tôi chợt nhớ đến chữ Đức trong câu ca dao
Người trồng cây hạnh người chơi,
Ta trồng cây đức để đời về sau
Trong 8 đời chúa Nguyễn, không thấy ông nào làm điều gì thất đức. Ông nào cũng lo làm cho dân giàu nước mạnh. Lịch sử cuộc nam tiến đi từ Phú Yên đến Cà Mau-Châu Đốc chứng minh điều đó. Hậu thế đã được thừa hưởng biết bao phúc lợi từ sự nghiệp nam tiến đó!
Có 3 ông chúa mang danh hiệu khác người: Chúa Sãi, chúa Hiền, chúa Ngãi. Nghe nôm na và thân tình biết mấy. Nếu cai trị mà không được dân thương mến và biết ơn  thì làm chi có những cách gọi kém vương giả nhưng giàu tình cảm như thế?
Có đến 4 ông chúa, ngoài tên và vương hiệu, lại tự xưng là đạo nhân, như Thiên Túng đạo nhân (chúa Minh Nguyễn Phúc Chu), Vân Tuyền đạo nhân (chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ) hay Từ Tế đạo nhân (Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát), Khánh Phủ đạo nhân (Định Vương Nguyễn Phúc Thuần). Đó cũng là một nét đặc biệt.
Nhiều ông chúa xây chùa (chúa Tiên lập chùa Thiên Mụ, Long Hưng, Bảo Châu, Kính Thiên; chúa Hiền lập chùa Túy Vân) hay  trùng tu chùa, đúc chuông, thỉnh sư giảng Pháp (chúa Minh).
 Có lẽ nhờ biết tu nhân tích đức mà Đức năng thắng số, Số bất cập đức nên  tai qua nạn khỏi, như câu tục ngữ mà ông bà xưa thường nói để dạy khôn cho con cháu: Trời hại mới lo, người hại như phấn nhồi. Đó là nói nôm na, cho có vẻ chính xác và minh triết hơn thì đấy chính là nhân quả nghiệp báo. Theo thiển ý, có lẽ hiểu theo cách này mới giải thích được chỗ bất cập của phong thuỷ.
Chú thích :
(1) Mãi đến mùa hạ năm 1806 (Bính dần) vua mới chánh thức làm lễ lên ngôi Hoàng đế tại điện Thái Hoà.
(2) Có thể xem: La Relation sur le Tonkin et la Cochinchine, hồi ký của Bissachère viết năm 1807 do Charles B. Maybon biên tập và xuất bản năm 1920, từ trang 118 đến trang 120
(3) Ngày 18 và 19/10/2008 tại Thanh Hóa có một cuộc hội thảo « Đánh giá lại chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn » được phóng viên ghi nhận là « một hội thảo lịch sử », có lẽ vì phải chuẩn bị tài liệu đến 20 năm và tỉnh Thanh Hóa đã tài trợ gần một tỉ đồng VN để tổ chức, Có hai nhận xét quan trọng được ghi nhận :
« Theo GS Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, cần có nhận thức mới về nhà Nguyễn trong lịch sử dân tộc trên tinh thần “công minh lịch sử”.
…………………….
« Tổng kết hội thảo, GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam khẳng định: Cuộc hội thảo lần này đã nhận được sự hưởng ứng rộng rãi không chỉ của giới khoa học mà còn của dư luận xã hội, chứng tỏ những nhận thức trước đây về vai trò của chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử dân tộc theo hướng phê phán và phủ định đã không còn thỏa đáng nữa »
Tài liệu tham khảo :
-Quốc Sử Quán , Đại Nam Thực Lục, I, bản dịch của Nguyễn Ngọc Tỉnh, Viện Sử Học, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2002
-Trần Gia Phụng, Nhà Tây Sơn, Nxb Non Nước, Toronto, Canada, 2005
-Stanley Karnow, VietNam, A History, Penguin Book, 1984
-Hoa Bằng, Quang Trung, Anh hùng dân tộc, Bốn Phương, Saigon, 1953
-Hội Đồng Trị Sự Nguyễn Phúc Tộc, Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả, Nxb Thuận Hòa, Huế, 1995
-Charls,B. Maybon, La Relation sur le Tonkin et la Cochinchine,http://www.archive.org/stream/larelationsurlet00labi#page/n1/mode/2up.
-Chiêu hồn nạp táng là gì ? http://www.kythu.net/Tang_le/Chieu-hon-nap-tang-la-gi/84.chtml
(4) Vua Gia Long có một thanh gươm mang tên Qui Y. Sử ghi rằng thanh gươm này có tính ưa giết người (hiếu sát), Tối hôm nào gươm tự động thóat ra khỏi vỏ thì hôm sau thế nào cũng có người phạm tội bị chém bằng thanh gươm đó. Vua Gia Long ghét tính hiếu sát của gươm bèn đem qui y cửa Phật và đặt tên là Qui Y (Quốc Triều Chánh Biên Toát Yếu)
[1] Vua Gia Long có một thanh gươm mang tên Qui Y. Sử ghi rằng thanh gươm này có tính ưa giết người (hiếu sát), Tối hôm nào gươm tự động thóat ra khỏi vỏ thì hôm sau thế nào cũng có người phạm tội bị chém bằng thanh gươm đó. Vua Gia Long ghét tính hiếu sát của gươm bèn đem qui y cửa Phật và đặt tên là Qui Y (Quốc Triếu Chánh Biên Toát Yếu)

 Tàng Kinh Các
https://www.facebook.com/notes/t%C3%A0ng-kinh-c%C3%A1c/m%E1%BB%91i-th%C3%B9-c%E1%BB%A7a-nh%C3%A0-t%C3%A2y-s%C6%A1n-v%C3%A0-vua-gia-long-chuy%E1%BB%87n-%C4%91%E1%BB%9Di-vay-tr%E1%BA%A3/850192645075008

CÁCH PHÂN BIỆT NGƯỜI CHÍNH, KẺ TÀ.

CÁCH PHÂN BIỆT NGƯỜI CHÍNH, KẺ TÀ.

Phân biệt thiện ác dĩ nhiên là điều không phải dễ dàng. Đối với những người khéo che giấu hay giỏi ngụy trang sự thật của bản thân thì lại càng khó phân biệt hơn. 

Cuộc sống luôn luôn bao gồm hai mặt thiện ác và chính tà lẫn lộn. Kỳ vọng về một mô hình hay đoàn thể lý tưởng, thuần thiện ở thế gian là điều không thể. Nên phải quan sát cuộc sống thật kỹ càng để phân biệt rõ người nào là thiện, kẻ nào là ác; việc gì là chính, việc gì là tà để rồi từ đó có ứng xử thích hợp.
Để phân biệt thiện ác, chính tà dĩ nhiên là điều không phải dễ dàng. Đối với những người khéo che giấu hay giỏi ngụy trang sự thật của bản thân thì lại càng khó phân biệt hơn. Dù vậy, nếu ta chịu khó quan sát các “tướng trạng” của họ thì cũng có thể nhận ra những dấu hiệu của chính tà. Bởi “tướng tự tâm sinh”, ngôn ngữ và hành vi của cá nhân luôn phản ánh bản chất thiện ác và chính tà của họ.

“Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Nếu có người ở trong nhóm tà thì có tướng trạng gì, có nhân duyên gì?
Các Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:
- Như Lai là vua của các pháp, là bậc Chí tôn của các pháp. Lành thay Thế Tôn! Nên thuyết nghĩa này cho các Tỳ-kheo. Chúng con nghe rồi sẽ vâng làm.
Thế Tôn dạy:
- Các Thầy khéo suy nghĩ. Ta sẽ vì các Thầy phân biệt nghĩa này.
Các Tỳ-kheo đáp:
- Xin vâng, Thế Tôn!
Các Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy. Thế Tôn dạy:
- Người ở nhóm tà sẽ do năm việc mà biết. Đã thấy năm việc thì biết người này ở nhóm tà. Năm việc này là gì? Đáng cười mà không cười, lúc đáng hoan hỷ mà không hoan hỷ, đáng khởi tâm từ mà không khởi tâm từ, làm ác mà không xấu hổ, nghe lời lành mà không để ý. Nên biết người này ở nhóm tà. Nếu có chúng sinh ở nhóm tà, nên dùng năm việc này mà nhận biết.
Lại nữa, có chúng sinh ở trong nhóm chính, có tướng trạng gì, có nhân duyên gì?
Các Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:
- Như Lai là vua các pháp, là bậc Chí tôn của các pháp. Cúi mong Thế Tôn hãy thuyết nghĩa này cho các Tỳ-kheo. Chúng con nghe xong sẽ vâng làm.
Thế Tôn dạy:
- Các Thầy khéo suy nghĩ! Ta sẽ vì các Thầy phân biệt nghĩa này.
Các Tỳ-kheo đáp:
- Xin vâng, Thế Tôn!
Các Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy. Thế Tôn bảo:
- Người ở nhóm chính, sẽ do năm việc mà biết. Đã thấy năm việc thì biết người này trụ ở nhóm chính. Năm việc này là gì? Đáng cười thì cười, đáng hoan hỷ thì hoan hỷ, đáng khởi tâm từ thì khởi tâm từ, đáng xấu hổ thì xấu hổ, nghe lời lành thì để ý. Nên biết người này đã ở nhóm chính, trụ ở nhóm chính. Như thế, các Tỳ-kheo, nên học điều này.
Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
(Kinh Tăng nhất A-hàm, tập II, phẩm Tà tư, VNCPHVN ấn hành, 1998, tr.357)
Lời bàn:
Lời Phật chỉ dạy thật rõ ràng: “Đáng cười mà không cười, lúc đáng hoan hỷ mà không hoan hỷ, đáng khởi tâm từ mà không khởi tâm từ, làm ác mà không xấu hổ, nghe lời lành mà không để ý. Nên biết người này ở nhóm tà”. Đây là năm tiêu chuẩn quan trọng để chúng ta thẩm định về một người là chính hay tà. Đó cũng là năm tiêu chuẩn để tự mình thẩm định chính mình.
Cuộc sống luôn biến động, thân tâm luôn vô thường, ranh giới giữa chính tà đôi khi lại rất nhạy cảm và mong manh. Dù lúc nào ta cũng nhân danh (hoặc tự nghĩ) mình là người của chính phái, là đại sứ của thiện lành nhưng thực tế thì không hẳn như vậy. Nên điều cần thiết là luôn lấy năm tiêu chuẩn của Thế Tôn để kiểm tra chính mình nhằm tự điều chỉnh và hoàn thiện lấy bản thân mình.
Ta là ai, chính hay tà, tự mình biết và chắc chắn mọi người đều biết. Nên cải tà quy chính, bỏ ác làm lành là việc cần thực thi trong đời sống của những người con Phật.



Tàng Kinh Các
https://www.facebook.com/TangKinhCac270693/photos/a.665280840232857.1073741885.577557259005216/854530587974547/?type=1
Ảnh của Tàng Kinh Các.

GIAI THOẠI VỀ CÔNG TỬ BẠC LIÊU TRẦN TRINH HUY

HẮC CÔNG TỬ TRẦN TRINH HUY - TRUYỀN KỲ "ĐẠI GIA" XỨ NAM KỲ.

“Về Bạc Liêu danh tiếng ôn lại giấc ngủ vàng son một thời để nhớ ngày đó xa rồi”

Vốn thành ngữ "Công tử Bạc Liêu" ra đời từ những năm đầu thế kỷ 20. Thời đó, thực dân Pháp đã ổn định về tổ chức của vùng đất thuộc địa Nam Kỳ. Do việc phân chia lại ruộng đất, đã làm nảy sinh rất nhiều đại điền chủ ở vùng đất này. Về sau, thành ngữ này chỉdùng để chỉ công tử Trần Trinh Huy vì chẳng công tử nào sánh kịp về khả năng tài chính và độ phóng túng đối với vị công tử này. Từ đó "Công tử Bạc Liêu" trở thành danh xưng riêng của Ba Huy, không một ai có thể tranh chấp.
Một vài giai thoại về độ chịu chơi của Hắc công tử trong thời điểm Pháp đô hộ và tình cảnh kinh tế nghèo nàn chung của đất nước thời bấy giờ.
Thú chơi xe: Nói về thú chơi xe thời bấy giờ, Công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy khiến nhiều người phải kinh ngạc trước những gì ông thể hiện. Bởi trong mắt họ, hình ảnh một người đi vào đồn điền bằng xe hơi là hình ảnh họ chưa từng thấy trước đó. Khi đi đòi nợ các tỉnh, ông Huy dùng chiếc Ford Vedette. Đây là loại sedan 6 cửa sổ ra đời vào năm 1948. Còn khi đi chơi, Công tử Bạc Liêu xài xe cực sang, đó là chiếc Peugeot thể thao, sản xuất năm 1922. Loại xe này cả miền Nam khi ấy chỉ có 2 chiếc, một chiếc của ông Huy còn chiếc kia là của vua Bảo Đại.
Người Việt Nam đầu tiên sở hữu máy bay: Một sự kiện chấn động cả nước khi đó là Ba Huy đi thăm ruộng bằng máy bay. Và lúc ấy cả Việt Nam cũng chỉ có 2 chiếc là của Công tử Bạc Liêu và của vua Bảo Đại.Nếu không tính Vua Bảo Đại được trang bị máy bay riêng từ tiền ngân khố quốc gia lúc ấy, thì Công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy là người Việt Nam đầu tiên có máy bay riêng. Một lần bay qua thăm điền Rạch Giá, Công tử Bạc Liêu hứng chí tranh lái với phi công Pháp, bay ra biển Hà Tiên chơi, cứ bay mải miết cho đến khi kim báo xăng không còn nhiên liệu, buộc lòng Ba Huy phải đáp khẩn cấp. Xuống đất, Ba Huy hoảng hốt biết mình đã bay lọt sang tận nước Xiêm. Trần Trinh Huy bị Nhà nước Xiêm bắt giữ và phạt 200 ngàn giạ lúa. Ông Hội đồng Trạch phải chở một đoàn ghe chở lúa thật dài qua tận Xiêm để chuộc quý tử về. Ông là người Việt Nam đầu tiên sở hữu máy bay tư nhân và sân bay tư nhân.
Thuê người Pháp làm công:Ba Huy còn thuê một người Pháp làm công cho mình. Đó là ông Henri, chồng bà Tư Nhớt, một người trong gia tộc Trần Trinh. Ông này làm quản lý, điều hành gia sản cho ông Hội đồng Trạch, dưới quyền ba Huy. Theo hợp đồng, quản lý được hưỏng 10% trên tổng số lợi tức thu được hàng năm. Chính vì vậy ông Henri mới bỏ "mẫu quốc" qua làm mướn cho bên vợ, mãi đến tháng 4 năm 1975 mới về nước.
Thú mê võ: Công tử Bạc Liêu rất mê nghề võ. Vào nửa đầu thế kỷ 20, học võ là một cái mốt với nhận thức: Học võ để nâng cao cái khí phách thượng võ của kẻ anh hào. Ba Huy không học võ Tây hay võ Ta mà học võ Xiêm. Ông ta đã cất công qua Xiêm mướn một ông thầy thượng hạng về dạy cho mình.
Thú vui thường ngày: Ba Huy sinh hoạt cực kỳ sang trọng và xa hoa. Ra đường là đóng bộ veston, thứ hàng đắt tiền nhất thời đó. Thói quen của Ba Huy là ăn sáng kiểu Tây, trưa ăn cơm Tàu, chiều ăn cơm Tây. Mỗi lần từ Bạc Liêu đi Sài Gòn là ông ta ngồi trên chiếc xe cáu cạnh, có tài xế lái. Khi lên Sài Gòn ít khi Công tử Bạc Liêu ở ngôi biệt thự của Trần gia mà vào một trong những khách sạn nổi tiếng sang trọng ở Sài Gòn. Có khi hứng chí đi dạo mát Ba Huy thuê cả chục chiếc xe kéo, ông ta ngồi một chiếc, những chiếc còn lại chở những món đồ như mũ, cây "can"...
Công tử Bạc Liêu là một người luôn xê dịch và rất ham vui, những cuộc ăn chơi nổ trời diễn ra, Trần Trinh Huy lặn ngụp trong những bàn tiệc với rượu sâm banh. Mỗi chủ nhật ông đều đi nghỉ cuối tuần ở Vũng Tàu, Đà Lạt hoặc về Cần Thơ. Ba Huy cũng là một kẻ mê cờ bạc, có những khi ông đánh một cây bài 30.000 đồng, trong khi lúa chỉ 1,7 đồng một giạ, lương của Thống đốc Nam Kỳ chưa tới 3.000 đồng một tháng.
Giao tranh với Bạch Công Tử:
Bạch công tử là Lê Công Phước hay còn gọi là George Phước, con trai của Đốc phủ Lê Công Sủng, người ở làng Điều Hòa, tỉnh Mỹ Tho. Phước cũng là một tay chơi nổi tiếng khi đó, da trắng nên được gọi Bạch công tử để phân biệt với Ba Huy. Cùng nổi tiếng ăn chơi, Bạch công tử và Hắc công tử trở thành kỳ phùng địch thủ.
Tại Paris, cả Hắc công tử và Bạch công tử đều nổi tiếng không chỉ trong giới du học sinh người Việt, mà ngay cả người Việt định cư tại Pháp và dân Pháp cũng biết tiếng. Nếu như Hắc công tử nổi tiếng trong các vũ trường, thì Bạch công tử hay la cà trong các nhà hát nổi tiếng, tất nhiên cả hai đều là khách hàng quen thuộc của các nhà hàng sang trọng, nổi tiếng ở Paris. Nếu như Hắc công tử sống như vợ chồng với một cô gái Pháp chính hiệu (có nguồn tin cho rằng họ có với nhau một người con), thì Bạch công tử lại cặp kè với một cô gái Nga có dòng dõi Sa Hoàng, có mái tóc vàng ánh, cặp mắt màu xanh lơ, đẹp như hoa hậu.
Thi chinh phục người đẹp: Ở Nam kỳ, vào các thập niên 1920 và 1930, có một người đàn bà nổi tiếng về sắc đẹp, thường được phong cho danh hiệu “Hoa hậu Đông Dương” mặc dù trên thực tế chưa có cuộc thi Hoa hậu Đông Dương nào được tổ chức tới lúc đó. Bà tên là Trần Ngọc Trà (không rõ năm sinh), là con thứ ba trong gia đình, lại quê ở Trà Vinh, nên người ta gọi bà cô cô Ba Trà. Cô Ba Trà đẹp nổi tiếng trong giai đoạn Hắc công tử và Bạch công tử thi nhau ăn chơi, vì vậy không lạ gì khi cả hai ông cùng ném tiền vào để chinh phục “Hoa hậu Đông Dương” này.
Cô Ba Trà thực sự là một bà hoàng không ngai làm các ông phủ, ông huyện, các công tử, thầy thông, thầy ký đều nhìn cô thán phục, thèm thuồng... Các công tử ăn chơi nổi tiếng thời đó như Hắc công tử, Bạch công tử...đều xem việc chinh phục cô Ba Trà là mục tiêu, là uy tín, danh dự của mình, vì vậy mà ai cũng tranh nhau phá của cha mẹ để lại để cung phụng cho cô. Chuyện kể rằng, không cần cô Ba Trà mở lời, hễ Bạch công tử nghe nói Hắc công tử tặng cô Ba Trà món đồ gì quý, ông hỏi giá và tìm mua cho kỳ được món quà đắt hơn để tặng. Đến lượt Hắc công tử cũng làm tương tự, vì vậy mà cô Ba Trà sở hữu không biết bao nhiêu quà tặng quý giá của hai ông, từ túi xánh tay, quần áo hàng hiệu, dây chuyền, nhẫn hột xoàn, nhà cửa, xe cộ…
Có nhiều giai thoại kể về cuộc thi đốt tiền nấu đậu xanh giữa Hắc Công Tử và Bạch Công Tử. Chuyện kể hai người thi nhau đốt tiền để nấu chín một kg đậu xanh, ai nấu chín trước thì thắng. Không rõ hai người đã đốt bao nhiêu nhưng kết quả Bạch Công Tử thắng.
Người Việt chúng ta cũng rất chịu chơi đấy chứ. Nhưng không biết ông này có đốt tiền nấu trứng không mà giờ người ta ca hoài câu "Nghe danh công tử Bạc Liêu đốt tiền nấu trứng tỏ ra mình giàu" nhỉ?
P/s: có hình ảnh chiếc giường của Hắc công tử bây giờ đang được trả giá 7 tỷ.
Chỉ là chỗ để ngả lưng thôi mà,có cần đắt vậy không?



Tàng Kinh Các
https://www.facebook.com/TangKinhCac270693/photos/a.856827977744808.1073741912.577557259005216/856828444411428/?type=1&permPage=1
Ảnh của Tàng Kinh Các.

ĐỪNG DẠI DỘT TỰ ĐƯA MÌNH VÀO THẾ ĐỐI ĐẦU VỚI MỘT DÂN TỘC.

Ngược về lịch sử cận đại của dân tộc Campuchia, chúng ta thấy những trang dài đau thương dưới sự chiếm đóng của các thế lực nước ngoài. Tới nửa cuối thế kỷ XX, đất nước này một lần nữa trải qua nỗi đau diệt chủng. Điều đáng buồn cho họ, đó là lần này, kẻ gây ra cái chết của hàng triệu người Campuchia chính là một người Khmer- Polpot.


Polpot đã không thể thực hiện ý định của mình, nếu không có sự hỗ trợ điên cuồng của Trung Quốc, của Mỹ mà không thèm đếm xỉa đến công lý hay sinh mạng của những người Campuchia khốn khổ đang chết trong các trại tập trung và trên các cánh đồng vì kiệt sức.

Phải, chính chúng ta đã cứu sống và hồi sinh họ bằng sự kiên quyết và nhân từ, trong sự bao vây của Mỹ, của Trung Quốc, những “kẻ mạnh, kẻ giàu” luôn rao giảng về đạo đức, nhân quyền và tự do. Chính chúng đã viện trợ cho Polpot để đánh VN tới người Khmer cuối cùng, phục hồi lực lượng Kher đỏ tại Biên giới Thái Lan và giữ ghế cho Polpot tại Liên Hiệp Quốc để chúng thẳng tay giết hại nhân dân láng giêngf và chính đồng bào của chúng.



Thêm một lần đánh đổi lấy hòa bình, hàng chục nghìn người Việt Nam nữa vĩnh viễn nằm lại trên đất lạ.

Bọn bành trướng, bọn đế quốc đã mở tiệc ăn mừng trên xương máu của 2 dân tộc như thế đó. Tới ngày nay, khi cái gọi là “tòa án Liên Hiệp Quốc” được mở ở đất nước Chùa tháp để xét xử bè lũ diệt chủng, chúng hợp sức trì hoãn các phiên tòa và để cho kẻ thủ ác không sống dài, sống dai mà không phải đền tội. Cũng nhờ điều đó mà chúng che giấu được sự dính líu bẩn thỉu của mình với hàng triệu sinh mạng nhân dân hai nước.

Khi quân đội Nhân dân Việt Nam rút đi, mở đường cho sự tổng tuyển cử trên toàn Campuchia, chúng ta đã giúp đỡ được một người có cảm tình với Việt Nam lên nắm chính quyền, để đảm bảo cho hòa bình ở Campuchia và hy vọng đẩy chiến tranh không về đây lần nữa.

Nhưng mọi việc không hề đơn giản như vậy, Tổng tuyển cử trên toàn đất nước Campuchia đã mở đường cho một số thành phần chống đối Việt Nam- Có mặt trong liên minh với Polpot dọc biên giới Thái Lan trước kia sở hữu ghế trong Quốc hội, đứng ra lập các Đảng phái và tấn công vào chính quyền Hunsen.

Đây là lý do mà chúng ta có thể thấy các tuyên bố “ủng hộ Trung Quốc trong vấn đề biển Đông” và “Việt Nam cướp đất Campuchia” dày đặc trong các trang báo, sản phẩm truyền thông của các Đảng dối lập.

Một mặt, chúng muốn cô lập Việt Nam và gây căng thẳng giữa hai nước nhằm tạo điều kiện để phương Tây dụ dỗ VN khi VN bị cô lập và “cần che chở”.

Một mặt muốn lợi dụng vấn đề lãnh thổ để tấn công vào Hunsen- Người có cảm tình với Việt Nam để hạ bệ ông ta, đúng như giọng điệu “Cộng Sản Việt Nam bán đảo cho Trung Quốc” của mấy thằng đầu bò chống cộng.

Nhiều người suy nghĩ đơn giản rằng, chúng có các phát ngôn “ủng hộ Trung Quốc” là chúng chỉ có quan hệ với Trung Quốc, thực ra chúng chính là các quân bài mà CIA sử dụng trong việc cô lập và tấn công các chính quyền “ngứa mắt” ở Đông Nam Á.

Hãy hỏi tại sao, những phần tử quấy phá dọc biên giới đó tránh nhắc đến biên giới đang tranh chấp với Thái Lan- Đồng minh Mỹ- Đối thủ của Trung Quốc- nơi có các di sản của người Khmer còn sót lại- nơi mâu thuẫn đã bùng nổ thành xung đột vũ trang mà VN là một trong các bên có ơn giàn xếp giảm thiểu căng thẳng.

Tại sao lại là biên giới với Việt Nam- nơi mâu thuẫn thấp hơn nhiều thì mọi việc sẽ sáng tỏ. Hay việc liên minh các Đảng đối lập ủng hộ Sam Rainsy tại sao lại phải sang Mỹ để xin lỗi khi thất bại trong bầu cử thì sẽ hiểu ai đang tài trợ cho hoạt động chống Việt Nam của chúng.

Tại sao hoạt động của chúng luôn được các đài truyền thông phương Tây bám sát và hô hào ủng hộ nhiệt tình?

Tại sao lại là thời điểm này, ngay sau chuyến thăm của TBT Nguyễn Phú Trọng tới Mỹ, tại sao họ lại muốn cô lập chúng ta khi ta có những thiện chí cởi mở hơn, phải chăng họ muốn cô lập chúng ta để kéo chúng ta vào vòng tay của chúng để rồi mặc cả trên lưng chúng ta lần nữa khi được giá?

Đừng bao giờ đánh giá các sự kiện chính trị bằng tuyên bố!

Còn Hunsen, nguyên nhân nào khiến ông ta im lặng? Thực ra ông ta là một kẻ rất khôn ngoan. Quân đội Cam bây giờ về kinh nghiệm chiến đấu, thậm chí một số mặt trang bị còn lâu mới bằng được Polpot khi xưa.

Chính mắt ông ta đã ở phía Việt Nam, kinh ngạc thấy Việt Nam đập nát sự kháng cự của Khmer Đỏ chỉ trong 2 tuần nên không dại gì mà đụng vào Việt Nam lần nữa.

Nhưng cũng ý thức được vị trí của mình, Hunsen “đu dây điện” giữa các cường quốc và láng giêng nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích quốc gia và giữ gìn nền hòa bình quốc gia cho Campuchia.

Ông ta đã tranh thủ được kha khá viện trợ từ Mỹ, Trung, Việt bởi không ai muốn thiếu phần của mình ở đất nước này, đối với Việt Nam, “phần” đó là nguy cơ xung đột quá khứ phải được lùi xa.

Động thái yêu cầu Liên Hiệp Quốc đưa các chứng minh về lãnh thổ của Cam với Việt Nam để chứng minh quan điểm chung giữa hai chính phủ về đường biên giới là chính nghĩa.

Sau khi có va chạm tại biên giới với Long An, không lặp lại sai lầm lần thứ 2, Campuchia đã điều quân đội ra đảm bảo trật tự, nhưng không can thiệp trực tiếp, như vậy, hai nước hoàn toàn có thể coi đó là sự xích mích xô xát giữa người dân hai bên biên giới mang tính dân sự thuần túy, càng có cớ để đẩy nhanh quá trình phân giới cắm mốc, mang lại cái lợi ổn định lâu dài cho Campuchia và cho dân tộc ân nhân của đất nước.

Cho đến lúc này hàng năm, ông ta vẫn cử các cán bộ quân đội sang học tập ở Việt Nam, điều đó chứng minh rằng, đây vẫn là một người mà chúng ta có thể tin tưởng để duy trì sự ổn định cho cả hai bên.

Về phía Việt Nam sau sự việc này, đã thấy một số người Việt thiếu kiên nhẫn và nói giọng “nước lớn”, “bàn chuyện chiến tranh” để “trừng phạt sự vô ơn của Cam”.

Đó là một hành động ngu ngốc, chỉ khiến hai bên thêm sôi sục, và người đầu tiên bị hại đó chính là đồng bào của các bạn- những người Việt đang sinh sống tại Campuchia- đối tượng dễ tổn thương và bị công kích nhất.

Hãy hướng sự bực tức của mình vào đúng đối thủ, là các phần tử chống VN đang hoành hành tại Cam và được khuyến khích bởi không chỉ Trung Quốc.

Chính chúng ta, trước hết, cần nhìn nhận Campuchia là một đất nước khá đồng nhất về văn hóa, dân tộc. Đế quốc Khmer từng là đất nước rộng lớn và có ảnh hưởng lớn lao trong khu vực.

Nhắc điều đó để hiểu rằng, họ cũng giống như chúng ta, cũng có lòng tự tôn, tự hào về quá khứ và nguồn gốc của mình. Họ cũng giống chúng ta trong những năm dưới ách đô hộ của Thực dân phương Tây. Trong quá khứ, chúng ta có ơn với họ, nhưng không được giở giọng miệt thị, coi thường, dọa dẫm dùng vũ lực với họ.

Cách hành xử như vậy, vô tình làm chúng ta giống với Trung Quốc hơn, đó là đe dọa nước nhỏ yếu hơn, dùng giọng điệu của kẻ "bề trên" để miệt thị và đe nẹt "kẻ dưới". Đó là thứ mà chúng ta nhất quyết phải tránh để tồn tại trong hòa bình, chúng ta có quyền tự vệ chứ không có quyền đe dọa. Đe dọa một quốc gia, chỉ tạo sự đồng thuận chống đối của những người cùng nền văn hóa và là nguy cơ với kẻ đe dọa.

Trong quá khứ, chính quyền Mỹ đã mang đội quân viễn chinh của mình chống lại dân tộc Việt Nam và họ đã thất bại.

Người Trung Quốc hàng ngàn năm mang các đội quân phong kiến của mình chống lại dân tộc Việt Nam và cũng thất bại.

Polpot chống lại sức mạnh của dân tộc Việt Nam và cũng xuống mồ cùng chế độ Khmer đỏ đáng nguyền rủa của hắn, nhưng khi đưa quân vào Campuchia, Việt nam chỉ xác định kẻ thù là Khmer đỏ chứ không phải dân tộc Khmer.


Đừng dại dột tự đưa mình vào thế đối đầu với một dân tộc, điều này cần phải tuyệt đối tránh ở cả 2 phía!
Nguồn: VJ NNNGBPĐ