Wednesday, August 5, 2015

Bàn về 'ai hưởng lợi, ai thiệt hại' của chiến tranh thế giới thứ 2

Công lao lớn nhất đánh bại phát-xít Đức, giải phóng châu Âu thuộc về Liên Xô. Nhưng Mỹ lại là kẻ “đục nước béo cò”, ngồi giữa hưởng lợi lớn nhất.Thế chiến II là thảm kịch lớn nhất trong lịch sử nhân loại khiến hơn 80% cư dân trên địa cầu bị ảnh hưởng vì cuộc chiến tranh này

Dân châu Âu không nắm rõ lịch sử Thế chiến II
Thế chiến II là thảm kịch lớn nhất trong lịch sử nhân loại khiến hơn 80% cư dân trên địa cầu bị ảnh hưởng vì cuộc chiến tranh này. Số thương vong chung trong Thế chiến II đã vượt quá 60 triệu người. Đây là cuộc xung đột đầu tiên và duy nhất trong lịch sử thế giới có sử dụng vũ khí hạt nhân.
Tháng 8 năm 1945, máy bay ném bom Mỹ theo lệnh Tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman đã thả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật Bản. Con số nạn nhân, bao gồm cả những nạn nhân bị thiệt hại vì bức xạ trực tiếp trong vụ đánh bom và ảnh hưởng lâu dài sau đó, vẫn chưa thể tính đếm.
Đóng góp cơ bản để đánh bại nước Đức phát-xít là chiến công của quân đội Xô-viết, giải phóng khoảng 50% lãnh thổ các quốc gia châu Âu hiện đại, đồng thời so với các đồng minh, quân đội Liên Xô cũng phải gánh chịu tổn thất vô cùng lớn về sinh mạng con người.
Tuy nhiên, một thực tế đáng buồn đã xảy ra ở châu Âu. Một nghiên cứu tiến hành tại Anh, Pháp và Đức, do hãng Anh ICM tiến hành trong khuôn khổ đề án "Sputnik - Quan điểm" đã cho thấy rằng không phải toàn thể công dân của các quốc gia này có hình dung đúng đắn về Thế chiến II.
Trong cuộc điều tra xã hội học có 3.000 người tham gia, thuộc độ tuổi và giới tính khác nhau, sinh sống ở những khu vực khác nhau của các nước tham gia Thế chiến II.
Tùy thuộc vào quốc gia nơi tiến hành điều tra, từ 19 đến 24% cư dân các nước tham dự khảo sát đã không thể trả lời câu hỏi: Ai đóng vai trò then chốt trong công cuộc giải phóng châu Âu hồi Thế chiến II? 
Siêu pháo 4 tầng, cỡ nòng 80cm Schwerer Gustav của Đức
Siêu pháo 4 tầng, cỡ nòng 80cm Schwerer Gustav của Đức
Chẳng hạn, bình quân chỉ có 13% toàn bộ các đối tượng dự khảo sát công nhận vai trò chủ chốt của Hồng quân Liên Xô trong việc giải phóng châu Âu. Trong đó, số người trả lời như vậy ở Đức là 17%, cao hơn so với hầu hết các nước khác. Trong khi đó, ở Pháp có 8%, ở Anh là 13%.
Cư dân Pháp và Đức - theo thứ tự 61% và 52% - cho rằng, vai trò quan trọng nhất trong việc giải cứu châu lục là nhờ vào quân đội Hoa Kỳ.
Ở Anh chỉ có 16% số người được hỏi đề cao vai trò của Mỹ và có tới 46% người dân nước này tham gia cuộc khảo sát tin chắc rằng, giữ vai trò chủ chốt trong các trận đánh của Thế chiến II là thuộc về quân đội của Vương quốc Anh.
Mỹ: Kẻ thực dụng được hưởng lợi
Có nhiều đánh giá khác nhau nhưng tựu chúng đều thống nhất ở một điểm, Hồng quân đã giải phóng gần 50% lãnh thổ các nước châu Âu hiện nay, chưa tính phần châu Âu của nước Nga.
Tính tổng cộng dân số của các nước châu Âu được Hồng quân giải phóng vào thời điểm đó là hơn 120 triệu người trong 16 quốc gia độc lập. Ngoài ra, Hồng quân Liên Xô còn tham gia cùng với các nước đồng minh giải phóng thêm 6 nước nữa.
Để lập được chiến công đó, quân đội và nhân dân xô-viết cũng gánh chịu tổn thất lớn về sinh mạng và của cải so với các nước đồng minh. Hơn 20 triệu người dân Liên Xô đã ngã xuống cho “Ngày chiến thắng phát xít 9-5”, đất nước bị thiệt hại nặng nề về kinh tế.
Trong khi đó, Mỹ ung dung ngồi nhìn một mình Liên bang Xô viết chống lại sức mạnh của nước Đức phát xít nhằm để 2 bên đánh nhau đến sức cùng lực kiệt, mãi đến khi cuộc chiến gần tàn Mỹ mới vội vã ném 2 quả bom nguyên tử xuống Nhật và mở mặt trận thứ 2 ở châu Âu để tranh công với Liên Xô.
Xe tăng T-34 của Liên Xô trong Thế chiến thứ 2
Xe tăng T-34 của Liên Xô trong Thế chiến thứ 2
Khi đó, quân Đức đã bị hồng quân Liên Xô đánh thiệt hại nặng nề khiến nhiệm vụ của Mỹ trở nên quá dễ dàng. Sự thực dụng đến tàn nhẫn của Mỹ khiến họ hầu như không bị thiệt hại gì trong thế chiến II nhưng lại được tung hô như người hùng và từ đó trở thành một cường quốc trên thế giới.
Trong một cuốn sách của mình, chính trị gia người Mỹ Zbigniew Brzezinski từng khẳng định, công lao lớn nhất trong chiến thắng nước Đức, giải phóng nhân loại khỏi ách phát xít phải thuộc về Liên bang Xô-viết của Stalin, là đối thủ ghê gớm của Hitler.
Ông Brzezinski đã phải cảm khái thốt lên: "Thật nghịch lý là sự thất bại của phát-xít Đức lại nâng cao vị thế quốc tế của Hoa Kỳ, mặc dù nước Mỹ không hề đóng vai trò quyết định trong chiến thắng quân sự đối với chủ nghĩa phát-xít”.
Tại cuộc họp của ban tổ chức lễ "Chiến thắng", thảo luận về việc chuẩn bị các hoạt động kỷ niệm 70 năm Chiến thắng phát xít Đức vào ngày 9 tháng 5 tới, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã từng tuyên bố, những lời nói dối trá về Thế chiến II đã lên đến mức chưa từng thấy.
Sự thiếu trung thực của truyền thông Âu-Mỹ về cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại được sử dụng cho các mục đích chính trị, nhằm âm mưu xuyên tạc lịch sử, hạ thấp vai trò của Nga với tư cách người kế tục những chiến công lẫy lừng và truyền thống quý báu của Liên bang Xô viết.
Tổng thống Nga Putin nói: "Đôi khi không thể nào uốn lưỡi để nhắc lại tất cả những kết luận vô liêm sỉ và những biện luận hoàn toàn sai sự thật ấy. Mục tiêu của họ là rất rõ ràng là làm suy yếu sự hùng mạnh và uy tín của nước Nga hiện đại, phủ nhận tình trạng của Nga với tư cách là quốc gia chiến thắng”.

LÀM CHỦ CẢM XÚC, CHẾ NGỰ SỰ TỨC GIẬN

LÀM CHỦ CẢM XÚC, CHẾ NGỰ SỰ TỨC GIẬN 

Nếu không rèn luyện được kỹ năng làm chủ cảm xúc, con người dễ đối mặt nhiều hơn với những thất bại. Để giải thoát mình khỏi thói quen giận dữ điều trước tiên là cần hiểu rõ tác hại của nó. Khi nhận thức được tác hại cơn giận dữ, cần biết chủ động kìm chế cảm xúc của mình bằng những cách thích hợp, hướng suy nghĩ của mình theo cách tích cực và tự chịu trách nhiệm. Điều tệ hại nhất là để cho người khác điều khiển cảm xúc và hành động của mình.

Nhận biết được sự chuẩn bị bọc phát cơn tức giận của mình là bước đầu tiên trong việc đề phòng và kiềm chế cảm xúc tiêu cực đó giúp tránh phản ứng vội vàng. Mỗi phản ứng của con người là một sự lựa chọn, cần dành đủ thời gian đợi cho màn sương cảm xúc tiêu cực bọc phát tan hết để có thể thấy được toàn cảnh, giúp cho lý trí kịp vào cuộc để lựa chọn cách ứng xử thích hợp, trước khi cảm xúc cướp mất quyền lựa chọn đó. Tác giả chính của Tuyên ngôn độc lập (1716) và là Tổng thống Mỹ (1801-1809) Thomas Jefferson có lời khuyên: “Khi tức giận, hãy đếm đến mười trước khi phát ngôn; còn trong trường hợp rất tức giận, hãy đếm đến một trăm“.

Cần đặt mình vào vị trí của người khác để có cái nhìn khách quan hơn, tích cực hơn, từ đó kiềm chế cảm xúc và hành động của bản thân và cả của đối phương. Dù trong bất kì tình huống nào cũng cần bình tĩnh, linh hoạt để tìm phương án xử lý tối ưu nhất. Phật Thích Ca dạy rằng: “ Oán không diệt được oán, tình thương mới diệt được nó“.

Để cho cơn giận bọc phát dưới bất kỳ hình thức nào cũng đều có hại. Lãnh đạo một công ty Nhật Bản nhận thấy nhân viên trong công ty thường hay nỗi giận và muốn khắc phục tác hại của nó bằng cách tạo điều kiện để cơn giận bọc phát tại một nơi vô hại. Họ xây một „Căn phòng trút giận“, để mổi khi có ai cảm thấy giân dữ thì có thể đến đó trút cơn giận cho hả, bằng cách quát tháo, đập phá. Thế nhưng ngược với mong muốn, tình hình nóng giận trong công ty càng trở nên trầm trọng hơn. Ngược lại, để giải quyết vấn đề trên hãng Kodak cho xây „Phòng khôi hài“, còn Công ty Digital Equipment thì phát động chương trình „Hãy biết cười“ và kết quả đạt được là làm tăng năng suất 15%. Điều đó cho thấy chỉ có thể dập tắt cơn giận bằng những biểu hiện tích cực như pha trò, kể chuyện vui, hài hước, nói nhỏ nhẹ, hay tạm tránh đi chỗ khác để làm giảm không khí căng thẳng.

Chuyện kể, một hôm đức phật Thích Ca đến một làng nọ và bị nhiều người trong làng chửi mắng, sỉ chục thậm tệ, nhưng người vẫn tỏ ra bình thản. Có người hỏi: vì sao trong tình cảnh như vậy mà ông không tức giận? Đức Phật trả lời: “Nếu những gì các ngươi muốn chỉ là xem thái độ của ta, thì các người đã đến quá trễ rồi. Nếu là 10 năm trước thì có lẽ ta sẽ phản ứng lại. Còn 10 năm trở lại đây thì ta đã không còn bị kẻ khác điều khiển nữa rồi. Ta không còn là nô lệ mà là chủ nhân của chính ta. Ta có thể làm những gì mình muốn, chứ không hành động dựa trên cảm xúc".

Cherie Carter-Scott chỉ ra: “Tức giận chỉ làm cho bạn nhỏ nhen hơn. Còn tha thứ lại thúc đẩy bạn phát triển hơn cả chính bạn trước kia”. Khoan dung, bỏ qua lầm lỗi và thiếu sót của người khác, giúp trút được gánh nặng tinh thần và tự giải thoát mình khỏi những tác hại mà cơn giận có thể gây ra.

Khi để sự phẫn nộ bủa vây tâm trí, ta sẽ không đủ tỉnh táo để ứng xử một cách đúng mực, và đó cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự đổ vỡ của nhiều mối quan hệ ngoài xã hội và trong gia đình.

http://www.tam-sang.com/?q=node%2F352

Sự khủng hoảng về đường lối cứu nước Việt Nam cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20


Sự khủng hoảng về đường lối cứu nước Việt Nam cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20

Người sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, nguồn gốc nông dân, nên trong Người đã sẵn có một lòng yêu nước nồng nàn. Lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan.

Người rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào ta vàđã bắt đầu có chí căm thù quân cướp nước và bọn tay sai bán nước.

Nguyễn ái Quốc sinh ra và lớn lên trong một địa phương mà nhân dân đã bao đời phấn đấu gian khổ chống những điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên và có truyền thống đấu tranh anh dũng chống ngoại xâm. Nghệ Tĩnh là một trong những lá cờ đầu của phong trào chống thực dân Pháp xâm lược. Hưởng ứng phong trào Văn - thân, một số sĩ phu yêu nước ở Nghệ - An, như Trần Tấn (Thanh Chương), Đặng Như Mai (NamĐàn) v.v.. đã tập hợp nghĩa quân và tiến hành khởi nghĩa. Phong trào Cần Vương do Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phát động. Phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu ở Trung Bộ; phong trào Đông Kinh - nghĩa thục, cuộc khởi nghĩa chiến tranh du kích của nông dân do cụ Hoàng Hoa Thám lãnh đạo ở Bắc bộ; phong trào chống thuế của nông dân ở trung bộ đã có ảnh hưởng sâu sắc đến Nguyễn ái Quốc , nhất là trong thời gian người học ở trường Quốc học - Huế (1905-1910). Do đó Người sớm đã có ý định đánh đuổi thực dân Pháp, năm 15 tuổi, Người đã tham gia công tác bí mật, làm liên lạc cho một nhà số nhà nho yêu nước lúc bấy giờ.

- Nguyên nhân thất bại của các phong trào yêu nước:


Những phong trào yêu nước trên lần lượt bị thất bại vì không có đường lối đúng đắn. Các nhà lãnh đạo những phong trào ấy đều không phân biệt thực dân Pháp với giai cấp công nhân và nhân dân lao động Pháp; chưa nhận rõ được nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là phải đánh đổ đế quốc Pháp, giành lại độc lập và đánh đổ giai cấp địa chủ phong kiến, mang lại ruộng đất cho dân cày; chưa nhận rõ lực lượng đông đảo nhất trong nhân dân là nông dân v.v…


Cách mạng Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng một cách sâu sắc vềđường lối cứu nước thực chất là thiếu một giai cấp tiên tiến lãnh đạo.


Phong trào Cần Vương bị thất bại vì giai cấp địa chủ phong kiến đã thối nát, phần lớn đã đầu hàng thực dân Pháp, lại áp bức bóc lột nhân dân một cách thậm tệ. Cho nên ngọn cờ Cần Vương không thể tập hợp được quần chúng nhân dân, chủ yếu là nông dân.


Cuộc khởi nghĩa của nông dân do cụ Hoàng Hoa Thám lãnh đạo bị thất bại vì không cóđường lối, chính sách rõ ràng, không tổ chức được quần chúng đôngd dảo, cách đánh chưa tốt, vũ khí lại thiếu thốn….


Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu cải cách, không chủ trương đánh đổ thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai.


Cụ Phan Bội Châu dựa vào Nhật để đánh đuổi thực dân Pháp, chẳng khác gì "đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau".


Nguyễn ái Quốc rất khâm phục các cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh,nhưng không nhất trí với con đường mà các cụ đã chọn. Người không theo phái Đông du sang Nhật mà hướng sang các nước phương Tây, nơi có tư tưởng tự do, dân quyền, dân chủ và có khoa học kĩ thuật hiện đại. Người đã kể lại "Vào trạc tuổi 13, lần đầu tiên tôi đã nghe những từ Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái… Thế là tôi muốn làm quen với văn minh Pháp, tìm xem những gì ẩn dấu đằng sau những từ ấy". Đồng thời Người nhận thấy chế độ giáo dục của thực dân Pháp chỉ đào tạo những bọn làm tay sai cho bọn thống trị và ở đâu nhân dân cũng bị áp bức bóc lột, đồng bào cũng bị đọa đầy, khổ nhục, điều đó càng thôi thúc Người đi sang các nước Âu tây để xem nhân dân các nước ấy làm như thế nào mà trở nên độc lập, hùng cường, rồi sẽ trở về "giúp đỡ đồng bào" đánh đuổi thực dân Pháp ý định ấy của Người đã mở rộng một phương hướng mới cho sự nghiệp cứu nước của nhân dân ta.

Sự khủng hoảng về đường lối cứu nước Việt Nam cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20
http://www.tailieuontap.com/2012/10/su-khung-hoang-ve-uong-loi-cuu-nuoc.html
Sự khủng hoảng về đường lối cứu nước Việt Nam cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20
http://www.123kienthuc.com/2014/07/su-khung-hoang-ve-uong-loi-cuu-nuoc.html

NHỮNG MÀN KỊCH CỦ RÍCH CỦA ĐÁM RẬN!

Rạch mặt ăn vạ như Chí Phèo, giả vờ tuyên bố “tuyệt thực” như những nhà tu hành đạo, vu khống, xuyên tạc, ăn không nói có, bám đít dân oan, thọc gậy bánh xe. Bấy lâu nay cái vòng luẩn quẩn ấy được ‘lũ rận”dùng đi dùng lại để chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Một số thì tỏ ra bản lĩnh anh hùng rơm công khai công khai chống cộng sản, một số thì lai những anh hùng núp dưới danh nghĩa "nhà hoạt động dân chủ", hoặc "nhà phản biện chính trị xã hội", tất thảy, chúng đều quẩn quanh với những chiêu trò cũ rích, đến phát chán.


Dựng màn kịch ăn vạ để lên án Công an đánh người của Nguyễn Chí Tuyến

Những vở kịch mà người xem đã biết trước tất cả thì còn gì là hấp dẫn, là thu hút nữa, xin thưa những nhà “rận chủ” với nghề tay trái là “đạo diễn” kiêm luôn cả “diễn viên”. 

Thật khó hiểu tại sao có những người không biết xấu hổ, ngày qua ngày làm những việc chẳng ai quan tâm, chẳng giúp ích gì cho xã hội. Một nhà hát kịch với những cái tên đình đám nổi tiếng trên giới Democracybiz như Cù Huy Hà Vũ, Lê Công Định, Dương Thu hương, Trần Huỳnh Duy Thức,.. mới đầu cũng gây ra nhiều ấn tượng khó quên với khán giả, tên tuổi họ bay cao bay xa ra tầm cỡ châu lục và thế giới. Nhưng trèo cao thì ngã đau, ngày xưa tung hoành bao nhiêu thì giờ cay đắng bấy nhiêu. 

Các cụ dạy không sai “tre già măng mọc”, gần đây lại nổi lên những “diễn viên” mới cũng tên tuổi không kém các thế hệ đàn anh đàn chị, hoặc sự quay lại nghiệp diễn của những cái tên đã từng một thời thất sủng như Tạ Phong Tần, Nguyễn Xuân Diện, Lê Quốc Quân,...Nhưng thời thế không còn như trước, sự nhàm chán, lặp đi lặp lại trong các vở kịch của chúng như con dao đâm lại chính bọn chúng. "Khán giả" Việt Nam thì ngao ngán, chẳng buồn xem, rồi chằng thèm quan tâm, và đến giờ chẵng còn để ý vì họ còn nhiều công việc có ích hơn là “kích chuột” để xem những vở diễn quá vớ vẩn, giả dối của những người tự mình mệnh danh là những nhà dân chủ. Trong thế giới kinh doanh như vậy là thua lỗ rồi, còn đâu tiền để mà ăn tiêu, mà hoạt động. Sực nhớ ra còn những "khán giả" nước ngoài, đúng hơn là những khán giả phải nói là phát cuồng vì chúng, sẵn sàng chi tiền để chúng “diễn”. Với bọn rận, tiền giờ là tiên là phật là sức bật để tiếp tục nghiệp “diễn” không chuyên của mình. Phải diễn thì bọn bên ngoài mới có cớ để chọc ngoáy được chứ. Đôi bên cùng có lợi mà, tội gì mà không hợp tác, không thì lại bị mang tiếng ngu cả đời, sao ngẩng mặt lên được.

Không có chính kiến, bọn rận sống sót chỉ nhờ vào những nước cờ ‘vồ” nhạt nhẽo. Chúng soi mói chi ly từng sự kiện, chờ ta hành động vô ý để “vồ” lấy như những kẻ “chết đuối vớ được cọc”, bắt đầu sau đó là những chiêu trò quen thuộc, không phải nói ra ai cung biết. 

Thậm chí chúng còn chủ động giăng bẫy để có cơ hội tung ra những hàng động cũ rích. Mỗi lần như thế chắc bọn chúng phải vui như “mèo thấy mỡ”. Đúng là mù quáng, và tội nghiệp, mỗi lần vồ được miếng mỡ, vui bao nhiêu thì cũng cay đắng bấy nhiêu. Có tên rận nào nhận ra mình thực chất là một con cờ chú không phải cái mác anh hùng như bọn bên ngoài vẫn tung hô chúng. 

Và càng đau đớn hơn khi trong bàn cờ chính trị của bọn thù địch, chúng chỉ là những con tốt thí mạng, những bia đỡ đạn, những con người quay lưng với dân tộc. Một con tốt được tung hô, trở nên ảo tưởng về sức mạnh của mình, và rồi cứ thế xông lên như con thiêu thân mà không cần gì phải nghĩ, không biết mình là ai. Sự thất bại như đã được dự báo trước.Thất bại vì ngu ngốc, vì ảo tưởng và vì những thứ bịa đặt mà bọn chúng tự nghĩ ra.

Sống như một con tốt bị giật giây thì có còn đáng sống nữa hay không? Hãy tỉnh ngộ, cống hiến cho quốc gia dân tộc thay vì đam mê những danh lợi hão huyền để trở thành quân cờ trong tay kẻ khác.

Phong Linh

Khi Tôi Đúng Không Một Ai Nhớ? - Khi Tôi Sai Chẳng Một Ai Quên?


Khi Tôi Đúng Không Một Ai Nhớ? - Khi Tôi Sai Chẳng Một Ai Quên?

Mỗi con người chúng ta,khi sinh ra đã khác nhau.Từ hình dáng đến tính cách của mỗi người,điều đó cũng không ngạc nhiên gì khi điểm mạnh của mỗi người lại khác nhau,thế nhưng vì cái tôi, ta lại luôn so sánh yếu điểm của người khác với điểm mạnh của mình?Và cho rằng họ kém hơn? Liệu điều đó có công bằng chăng? Con người không ai hoàn hảo cả,mỗi người đều có điểm mạnh riêng của mình.Cái khó là tìm ra nó,chứ không phải là ta không có và tự trách bản thân mình kém cỏi,rồi đưa ra so sánh với người khác với điểm mạnh của họ.Người học không giỏi thì bạn lại nói người đó kém thông minh và dốt nát chăng?Biết đâu ngoài xã hội bạn ấy tháo vát hơn ,khỏe mạnh hơn và ứng sử tốt hơn?................

P/s : Đừng mất niềm tin vào bản thân mình,đừng trách móc người khác hay rằn vặt họ khi người ta không làm vừa ý bạn,hãy chân thành chỉ rõ cho người ta thấy họ đã sai gì nên sửa gì và làm sao để làm tốt hơn?Hãy sống vị tha hơn,hãy tìm điểm mạnh của bản thân mình và những người xung quanh mình!...Và nên nhớ....Cái khó là chúng ta không tìm ra nó, chứ không phải là chúng ta không có!........

Nguồn: Bí Ẩn Vũ Trụ

https://www.facebook.com/tamlinhvakhoahocbian/photos/a.331540073682040.1073741828.331511990351515/453737124795667/?type=1

Khi trưởng thành, bạn đã nhận ra: Máu lửa thôi chưa đủ, nhiều khi ta cần dừng lại, nhìn lại những gì ta đã làm và học từ những sai lầm của chính ta!
Nếu bạn đang có nhiều "lửa" trong người, vậy thì bạn hãy cứ máu lửa tiếp đi, tuổi trẻ mà.
Còn nếu bạn đang trải qua những thất bại tạm thời, thì đó là dịp tốt để bạn sửa sang lại bản thân.
Bạn thấy đấy, với một cái nhìn cởi mở và tích cực,điều gì xảy ra cũng có lý do của nó, và bạn cần nhận ra lý do trong trường hợp này là gì.
.....
Nếu được- bạn thành công.
Còn không- bạn học hỏi!

-----------------------------------------------
Có một người hỏi thiền sư?

- Đại sư, bạn gái tôi tuy có một số ưu điểm, nhưng những khuyết điểm của cô ấy làm tôi rất khó chụi. Làm cách nào để cô ấy chỉ co ưu điểm mà không có khuyết điểm bây giờ? 

- Thiền sư cười đáp: Phương pháp rất đơn giản, nhưng mà nếu muốn ta bày cho thí chủ, thì thí chủ trước tiên hãy xuống núi tìm cho ta tờ giấy chỉ có mặt phải, không có mặt trái về đây.

- Người kia trầm ngâm một lát rồi hạ sơn, rất nhanh sau đó anh ta trở lại và đưa cho thiền sư một ....... tờ báo Nhân Dân. 


- Từ đó thiền sư độn nhập không môn, không vấn thế sự nữa.

---------------------------------------------------------------

Phải vào Đại học – Lối mòn tư duy người Việt


Ở Việt Nam, khi con cái đỗ đại học, gia đình thường mở tiệc lớn ăn mừng, coi đó là một sự kiện đáng tự hào. Cũng vào mỗi mùa thi, người ta lại nghe tin nhiều sỹ tử bị rơi vào trầm cảm, tự kỷ, bỏ nhà ra đi hay dại dột tìm đến cái chết chỉ vì… trượt đại học. Áp lực từ nhiều phía khiến việc trượt đại học trở thành “cú sốc đầu đời” với không ít bạn trẻ, họ trở nên bối rối, hoang mang trước ngưỡng cửa cuộc đời.

Đối với những nền giáo dục tiên tiến nhất thế giới, đại học chỉ là một trong số các lựa chọn, và chính phủ luôn khuyến khích những hướng đi mới. Thế nhưng ở Việt Nam, đại học vẫn còn được tung hô và trở thành áp lực nặng nề cho người trẻ và chính gia đình của họ. Phải chăng, đó là hệ lụy của lối tư duy cũ kỹ và có phần cực đoan của người Việt – bằng mọi giá phải vào đại học???


Theo Th.S Vũ Chí Thành, Giám đốc FPT Polytechnic Hà Nội: “Có một nghịch lý đang tồn tại ở thị trường lao động nước ta, là trong khi nhiều doanh nghiệp đang khát nhân sự, khó khăn khi muốn tuyển nhân sự phù hợp, thì hàng năm, có hàng vạn sinh viên ra trường không xin được việc làm.”
Nếu coi đại học là tấm vé thông hành cho tương lai, thì đối với những cử nhân, thạc sĩ đang thất nghiệp, tương lai của họ sẽ đi về đâu?
Doanh nghiệp không đánh giá cao bằng cấp
 Sự thật là hầu hết các doanh nghiệp đều không coi trọng yếu tố bằng cấp khi tuyển dụng.
Do đó, hàng trăm nghìn sinh viên dù tốt nghiệp với bằng cử nhân, thạc sỹ nhưng nếu thiếu kỹ năng, kinh nghiệm thì vẫn bị các doanh nghiệp từ chối.
Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Phó TGĐ Công ty CP cung cấp giải pháp và dịch vụ công nghệ cao Việt Nam cho biết, tại doanh nghiệp của bà không có sự phân biệt về đầu vào giữa lao động là học viên các trường nghề và cử nhân đại học
Đại diện FPT Software, bà Tạ Thị Kim Ngân (HR Manager) cũng khẳng định: “Doanh nghiệp không quan trọng bằng cấp nhưng quan trọng năng lực cá nhân”.
Đối với công ty Appota, ông Đỗ Tuấn Anh (CEO & Founder) thẳng thắn xếp loại: “Bằng cấp chỉ là tiêu chí thứ 5, xếp sau các tiêu chí kinh nghiệm thực chiến về chuyên môn, khả năng thích nghi, khả năng tự học hỏi và khả năng làm việc nhóm. Do vậy, khi phỏng vấn bằng cấp không ảnh hưởng nhiều tới cuộc trao đổi”.
Đây là sự “lệch pha” đáng tiếc, cho thấy việc đào tạo và sử dụng lao động đang tách rời nhau. Các trường đại học chưa có sự liên hệ, gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp, dẫn đến tình trạng đào tạo ra nhiều nhưng về chất lượng thì không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp.
Hàng ngàn sinh viên thất nghiệp-chất lượng đào tạo hay định hướng sai lệch của bộ giáo dục và đào tạo
Thực tế cho thấy, nhiều sinh viên tốt nghiệp loại khá, giỏi tại những trường đại học có tiếng trong nước nhưng khi xin việc làm lại bị các doanh nghiệp trong và ngoài nước từ chối vì năng lực chuyên môn còn thấp.
Tỷ lệ sinh viên ra trường nhưng không tìm được việc làm ngày càng tăng. Theo khảo sát có khoảng 26,2% cử nhân đại học ra trường nhưng không có việc làm. Bên cạnh đó, 70,8% cử nhân ra trường lại làm những công việc trái ngành nghề được đào tạo, chỉ có khoảng 19% cử nhân làm đúng ngành nghề được đào tạo. Điều đó cho thấy việc định hướng nghề nghiệp, giáo dục đại học hiện nay có nhiều điểm bất hợp lý.
Tại sao sinh viên ra trường thất nghiệp?
Sinh viên ngày nay đang thiếu đi nhiều kỹ năng và có lối sống nhanh, thực dụng. Cả nước có khoảng 63% sinh viên thất nghiệp vì thiếu kỹ năng. Thực tế cho thấy, nhiều sinh viên tốt nghiệp loại khá, giỏi tại những trường đại học có tiếng trong nước nhưng khi xin việc làm lại bị các doanh nghiệp trong và ngoài nước từ chối vì năng lực chuyên môn còn thấp. Qua khảo sát tại những hội chợ việc làm một vài năm gần đây, các đơn vị tuyển dụng cũng chỉ chọn cho mình 5-10 sinh viên trong khoảng 1.000 sinh viên ứng tuyển. Có thể lý giải rằng số lượng sinh viên ra trường mỗi năm quá nhiều.
Theo thống kê hiện nay có đến hơn 500 trường cao đẳng và đại học. Ngoài ra còn rất nhiều những trường ngoài quốc lập, dân lập, tư thục chưa thực sự có chất lượng. Tại những trường tư thục, theo đánh giá của nhiều cán bộ nghiên cứu về giáo dục thì chỉ có khỏang 1-2 sinh viên đạt chất lượng đại học trong 10 sinh viên. Có nhiều trường đại học không có thí sinh tham gia dự thi, nên đã chọn phương án tuyển sinh ồ ạt khiến chất lượng đào tạo rất kém. Điều tiếp theo do thực tế thị trường lao động ở nước ta khá khó khăn cộng với việc tỷ lệ người thất nghiệp nhiều dẫn đến những người có bằng cấp cũng gặp khó khăn theo. Ngay cả chính những sinh viên ra trường cũng thiếu đi sự chủ động, kinh nghiệm làm việc và kỹ năng về chuyên môn. Hầu hết trong trường đại học hiện nay sinh viên không được rèn luyện, tu dưỡng đúng cách. Sinh viên ngày nay có phần ì trệ, thiếu sự phấn đấu và thiếu cả lý tưởng sống.
Theo như một nghiên cứu của Giáo sư Phạm Minh Hạc, nguyên Bộ trưởng Bộ GD&ĐT thì hiện nay cũng chỉ có khoảng 20-30% sinh viên tham gia vào các hoạt động xã hội như công tác Đoàn, thanh niên, từ thiện… Nhiều sinh viên khi tốt nghiệp ra trường không muốn đi công tác tại những tỉnh thành xa. Điều đó dẫn đến thực trạng có hàng trăm, hàng nghìn cử nhân nhưng nhiều cử nhân lại làm những công việc lao động giản đơn, lao động trái ngành nghề mình đã học… Trong khi ở các tỉnh khác thì lại thiếu trầm trọng những lao động trí óc… Thêm một thực trạng đáng buồn nữa khi nhiều người lao động lại không thỏa mãn với những công việc mình đã làm, dường như tất cả chỉ muốn thay đổi, và tìm kiếm cơ hội làm giàu.
Giáo dục đại học đang sai hướng
Theo Tiến sĩ Lê Đông Phương, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Giáo dục và Nghề nghiệp, Viện Giáo dục Việt Nam thì giáo dục đại học ở nước ta phát triển quá nhanh. Chưa đầy 20 năm, nước ta đã có đến 400 trường đại học. Số lượng bùng nổ, nhưng chất lượng lại tỉ lệ nghịch với số lượng. Bên cạnh đó việc phân bố ngành học và địa bàn đào tạo cũng bất hợp lý. Có đến quá nửa các trường đại học, cao đẳng tập trung tại 2 thành phố lớn là Hà Nội và TP.HCM. Ngoài ra, học sinh, sinh viên theo học những ngành về kinh tế, quản trị kinh doanh lại, tài chính, ngân hàng… tăng đột biến. Còn các ngành khoa học khác thì lại thiếu số lượng theo học. TS Lê Đông Phương cũng cho rằng giảng viên trong các trường đại học hiện nay đã thiếu, nhưng về năng lực cũng không cao. Việc cần làm hiện nay là tháo gỡ từng nút thắt trong sự rối loạn của giáo dục.
Những biện pháp cần thiết cần được thực hiện để có thể tạo nên một xã hội học tập tốt hơn mà ở đó mọi thành phần trong xã hội đều có thể chủ động theo học. Tiến sĩ Lê Đông Phương cho rằng chúng ta nên học tập mô hình đào tạo rất phổ biến tại các quốc gia phát triển như Anh, Mỹ, Australia… Có người học đại học tập trung, theo thời gian nhất định sẽ ra trường, nhưng cũng có người sẽ học rải rác từng bộ môn theo hình thức tín chỉ. Họ sẽ ra trường, đi làm, và họ cảm thấy cần thêm kiến thức gì, họ sẽ tiếp tục học tiếp.
Cần bước chuyển biến của nền giáo dục
Vấn đề định hướng cho sinh viên ngày nay cũng là một việc làm quan trọng. Không có định hướng rõ ràng và đúng đắn, nhiều sinh viên có thể sẽ bị lạc hướng. Từ đó số sinh viên đó sẽ không cố gắng, phấn đấu cho lĩnh vực mình đang theo đuổi. Nhưng trên thực tế, định hướng nghề nghiệp hiện nay lại theo xu thế của thời đại, không ai thích học những ngành nghề nông nghiệp, họ đổ xô vào kinh tế hay quản trị kinh doanh. Họ cũng chẳng chú tâm vào những ngành nghề sản xuất. Tiến sĩ Lê Đông Phương cho biết trước mỗi mùa tuyển sinh, nhiều thí sinh luôn gặp phải áp lực với những lựa chọn về ngành học. Vấn đề ở đây chính là sự áp đặt của những thế hệ đi trước với con em mình. Bố mẹ luôn mong những điều tốt đẹp cho con em mình nhưng chỉ có bản thân mới thực sự biết mình muốn gì và cần gì. Chính tư duy “cha mẹ chỉ đâu con đánh đó” đã khiến một bộ phận thanh niên đi lệch hướng. Họ có thể tỏa sáng hay ít ra cũng có thể trở thành một người giỏi, có năng lực và đóng góp nhiều điều có ích cho xã hội nếu được làm đúng ngành nghề và phát huy được năng lực. Chính thế hệ trẻ sẽ phải tự tìm lối đi mà mình mong muốn.
Câu chuyện cải cách giáo dục, đặc biệt là ở bậc giáo dục đại học, đang là một vấn đề lớn, đòi hỏi có cả một lộ trình. Song đối với mỗi sinh viên cũng cần chủ động hơn thay vì ngồi than vãn thì họ cần nạp thêm cho mình những kiến thức để có ích cho bản thân và công việc. Có như vậy, khi cơ hội đến chúng ta sẽ không bỏ lỡ. Ngoài ra, các cử nhân mới ra trường nên thử sức ở những môi trường khắc nghiệt, đó sẽ là cơ hội để họ được học hỏi, bổ sung kinh nghiệm và kiến thức cho mình. Sai lầm của những người trẻ thường là để thời gian trôi đi một cách vô nghĩa. Mỗi công việc sẽ đem đến những hiểu biết, kỹ năng chuyên môn nhất định. Đó cũng chính là thông điệp của nhiều nhà tuyển dụng muốn gửi đến những người trẻ tuổi trong công cuộc thực hiện ước mơ, tự khẳng định và thay đổi cuộc đời của mình.

Ảnh của Tâm linh và khoa học bí ẩn _ Spiritual and mystery scientific.

TRẺ CON CÓ TỘI GÌ MÀ BẮT CHÚNG LÀM "DÂN OAN"?

Trẻ em như búp trên cành,

Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan!

Trẻ em là mầm non của xã hội, là tương lai của đất nước, do đó vai trò của giáo dục, định hướng nhân cách đối với trẻ em có vai trò đạc biệt quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay. 




Lợi dụng trẻ em để thực hiện các mưu đồ chính trị 

Trong vấn đề hình thành nhân cách cho trẻ có vai trò vô cùng quan trọng của gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó gia đình đóng vai trò là nền móng trong việc hình thành nhân cách đạo đức cho trẻ hiện nay. Thế nhưng thực tế hiện nay, một số đối tượng hoạt động dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam đang bất chấp mọi thủ đoạn, trong đó có cả việc đưa trẻ em tham gia các vụ biểu tình, đóng vai dân oan, chống Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN ở Việt Nam. 

Xin nhắc lại vai trò giáo dục của gia đình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hình thành nhân cách cho trẻ, thế nhưng việc bắt những đứa trẻ ngây thơ, chưa vướng bận bụi trần, đang tuổi ăn, tuổi học, đang lúc đến trường phải bỏ học để ăn bờ, ngủ bụi, lê la tại vườn hoa Lý Thái Tổ và một số khu vực trung tâm của Tp. Hà Nội để phục vụ nhu cầu chính trị của người thân, đây là hành động bỉ ổi, vô liêm sỉ cần phải lên án và chấm dứt. 

Những kẻ đang đóng vai “dân oan” hiện nay là những kẻ đang hoạt động kinh doanh dân chủ vì tiền (chỉ cần tham gia đóng vai dân oan biểu tình là ngay lập tức được trả công từ 300 đến 700 nghìn VND) thế nên chúng tranh thủ lôi kéo thêm cả con cái mình để thêm phần xôm tụ. Nhìn những ánh mắt ngơ ngác, ngây thơ không hiểu chuyện gì đang xảy ra của những đứa trẻ lẫn trong đám dân oan giả hiệu mà người viết thấy đau lòng không tả. Thật khổ cho các em khi trở thành những trò đùa chính trị của chính những người sinh ra chúng!

Tương lai những đứa trẻ này sẽ đi đâu, về đâu, thật khó để trả lời! Chỉ biết thốt lên rằng “các em có tội gì mà những kẻ tán tận lương tâm nỡ hành xử với các em như vậy?

Khểnh

Tuesday, August 4, 2015

KHÁI NIỆM VỀ ''CHỦ NGHĨA XÃ HỘI''

Khái niệm ‘chủ nghĩa xã hội’
(socialism) qua Emile Durkheim
Nguyễn Thị Kim Quý
Sinh viên Tiến Sĩ ngành Giáo Dục Đại Học
Đại học Melbourne

Mở đầu
Nhắc tới chủ nghĩa xã hội người ta nghĩ ngay tới Karl Marx, vì học thuyết của ông đã trở thành một biểu tượng nền tảng cho hệ tư tưởng của nhiều nước trên thế giới trước thời Chiến Tranh Lạnh và một số quốc gia hiện nay. Trên thực tế có thể nói Karl Marx (và cộng sự đắc lực của ông là Friedrich Engels) là người đã phát triển một hệ thống tư tưởng khá đồ sộ về chủ nghĩa xã hội trong bộ Tư Bản, nhưng cần nhớ là ngay trước và sau khi Marx hoàn thiện lý thuyết này đã có vô số tác giả khác nhau cùng bàn về chủ nghĩa xã hội. Emile Durkheim, nhà xã hội học kinh điển người Pháp, là một trong số ấy.
Emile Durkheim là một trong 3 ‘nhà sáng lập’ ngành xã hội học cổ điển (cùng vời Karl Marx và Max Weber), một môn khoa học non trẻ mới xuất hiện từ thế kỉ 19. Marcel Mauss, nhà nhân học nổi tiếng (tác giả của ‘Luận về biếu tặng’/‘The Gift’), người ủng hộ chủ nghĩa xã hội, đồng thời là cháu họ của ông, nhận xét như sau về Durkheim trong tập bài giảng ông bàn về chủ nghĩa xã hội (Chủ nghĩa xã hội và Saint-Simon/ Socialism and Saint-Simon, những bài giảng được thực hiện năm 1895-1896, được in thành sách trong Durkheim, Emile. 1959[1895-1896]. Socialism and Saint-Simon. (trans., Sattler Charlotte). London: Routledge & Kegan Paul):
‘Durkheim hiểu khá rõ về chủ nghĩa xã hội qua những tác gia đã khai sinh ra nó, như Saint-Simon, Schaeffle, và Karl Marx- nhà tư tưởng mà một người bạn Phần Lan, tên Neiglick, đã khuyên ông đọc khi ông ở Leipzig. Trong suốt cuộc đời mình, Durkheim không hào hứng với việc gắn mình vào chủ nghĩa xã hội, vì ông thấy mình không phù hợp với một số đặc điểm của phong trào này: tính bạo lực, tính giai cấp mà chủ yếu là của giai cấp công nhân, cùng với giọng điệu chính trị của nó. Durkheim là người chống đối mạnh mẽ mọi hình thức chiến tranh, dù là đấu tranh giai cấp hay chiến tranh giữa các quốc gia’. (tr.2)
Trong phần giới thiệu cho lần tái bản những bài giảng về chủ nghĩa xã hội của Durkheim bằng tiếng Anh năm 1959, nhà xã hội học người Mĩ Alvin Gouldner cho rằng nhiều người sử dụng lý thuyết xã hội học hay tìm hiểu tư tưởng của Durkheim thường ít chú ý tới tập bài giảng này của ông về chủ nghĩa xã hội. Điều đặc biệt ở Durkheim là ở chỗ, không như những nhà bình luận hay phân tích chủ nghĩa xã hội khác, Durkheim không đi sâu vào nghiên cứu một hệ thống lý thuyết riêng nào (chẳng hạn, chỉ nghiên cứu về lý thuyết của Karl Marx), tức là, ông không tiếp cận chủ nghĩa xã hội như là một kết quả của khoa học, mà coi nó là một đối tượng của nghiên cứu. Chính vì thế, ông cất công tìm lại nguồn gốc của chủ thuyết này, vạch ra những điều kiện xã hội nào đã phát sinh ra nó, cũng như xu hướng hiện tại của nó. Định hướng này đã đưa ông về lại với toàn bộ công trình của Saint-Simon (Xanh Xi-mông), người mà Karl Marx coi là một nhà ‘chủ nghĩa xã hội không tưởng’. Khác Marx, Durkheim nhận xét như sau về tư tưởng của Saint-Simon:
Nó phức tạp vô cùng bởi nó hàm chứa phôi thai cho tất cả những dòng tư tưởng lớn của thế kỉ 19; cho phương pháp mà Augustin Thiery, học trò của Saint_Simon, và của tất cả những nhà sử học lớn sử dụng để khôi phục ngành khoa học lịch sử; cho triết học thực chứng mà Comte, một học trò khác của Saint-Simon đã phát triển thành hệ thống triết học mới mẻ ở thời đại của chúng ta; cho chủ nghĩa xã hội mà ở đó ta đã thấy những hình thái đặc trưng nhất của nó. (tr.122).
Bài viết này trình bày định nghĩa về chủ nghĩa xã hội của Durkheim thông qua việc tóm tắt cách tiếp cận của ông. Việc đi sâu phân tích quá trình Durkheim tìm hiểu tư tưởng của Saint-Simon và các học thuyết xã hội chủ nghĩa đương thời như một đối tượng của khoa học (và qua đó giúp ông phân biệt rõ ‘chủ nghĩa xã hội’ và ‘chủ nghĩa cộng sản’ là hai lý thuyết trái ngược nhau), cùng với những nhận định và kết luận của ông, vượt quá phạm vi bài viết này.
Hi vọng sau bài viết này sẽ có nhiều người quan tâm tới tư tưởng của Emile Durkheim về các vấn đề như xã hội dân sự, dân chủ, tôn giáo, sự phân chia lao động, v.v…Để thấy rằng, khi những vấn đề của thế kỉ 21 vẫn còn phải đặt ra những câu hỏi đã có từ cách đây gần 2 thế kỉ, thì có lẽ cần phải chiêm nghiệm lại tư tưởng của những người đã bắt đầu những câu hỏi đó.
Tóm tắt cách tiếp cận nghiên cứu chủ nghĩa xã hội của Emile Durkheim
Những nhà nghiên cứu thời Durkheim coi chủ nghĩa xã hội là hệ lý thuyết về bản chất và sự tiến hóa của xã hội nói chung, đặc biệt của xã hội đương thời. Với tư duy đó, họ sẽ phân tích một học thuyết chủ nghĩa xã hội cụ thể (như của Karl Marx chẳng hạn) bằng việc trừu tượng hóa nó khỏi thời gian, không gian và tương lai của lịch sử, bóc tách những khẳng định, lập luận, phương pháp, kết luận của học thuyết. Sau đó, người phân tích sẽ đánh giá xem học thuyết đó đúng hay sai, có phản ánh thực tại hay không.
Durkheim cho rằng làm như vậy là một việc dễ làm nhưng cũng rất rủi ro. Ông e ngại rằng làm như vậy đồng nghĩa với việc thực sự coi học thuyết này là một lý thuyết khoa học. Nói cách khác, những học thuyết chủ nghĩa xã hội lại không được Durkheim coi là một khoa học thực sự. Vì sao vậy?
Thứ nhất, theo Durkheim, một học thuyết khoa học chỉ nghiên cứu những gì đã và đang xảy ra. Trong khi đó, chủ nghĩa xã hội là học thuyết hoàn toàn hướng tới tương lai, là một đề cương tái tổ chức xã hội – cái xã hội vẫn còn nằm trong sự hình dung. Nói cách khác, đó là một ‘lý tưởng’. Tất nhiên, ở hình thức không tưởng nhất, các học thuyết này vẫn sử dụng những cứ liệu thực tế cho lập luận của mình. Nhưng Durkheim cho rằng các nhà xã hội chủ nghĩa, vì rất nôn nóng muốn tìm ra liều thuốc điều trị căn bệnh tập thể làm thống khổ quần chúng thời bấy giờ, đã ‘ép’ khoa học xã hội phục vụ học thuyết của mình, thay vì dựa vào khoa học để tìm ra căn nguyên của căn bệnh. Rất dễ thấy một khoảng cách quá lớn giữa những dữ liệu mà một học thuyết xã hội chủ nghĩa mượn từ khoa học và những kết luận thực tiễn mà nó rút ra, để rồi chính những kết luận thực tiễn ấy, thay vì những phát hiện nghiên cứu, lại trở thành trung tâm của học thuyết.
Thứ hai, Durkheim e ngại rằng, để tiên liệu xem những hiện tượng xã hội, như gia đình, tài sản, chính trị, luân lý, luật pháp hay kết cấu kinh tế của các dân tộc châu Âu ra sao đòi hỏi phải nghiên cứu những thể chế và tập tục này trong quá khứ, nghiên cứu cách mà nó thay đổi trong lịch sử, và nghiên cứu những điều kiện chính quyết định những biến đổi đó. Chỉ đến khi đó ta mới có thể đặt câu hỏi một cách lý tính rằng chúng sẽ cần phải ra sao trong điều kiện của xã hội hiện tại. Nhưng mỗi vấn đề này lại là một thế giới riêng, và giải pháp thì không thể nào có thể tìm thấy ngay lập tức được cho dù nhu cầu có là vậy chăng nữa. Những cơ sở chặt chẽ để rút ra kết luận về tương lai, nhất là ở một tầm vĩ mô như vậy, chưa được thiết lập ở điều kiện khoa học xã hội còn quá non trẻ như hồi thế kỉ 19. Durkheim nêu ví dụ về bộ Tư Bản của Marx: tác phẩm này mong muốn giải quyết vô số những vấn đề phức tạp, đòi hỏi sẽ cần rất nhiều số liệu thống kê, so sánh lịch sử, và mỗi câu hỏi có khi là cả một công trình. Tuy vậy, ngay cả thuyết giá trị của Marx cũng chỉ được trình bày trong một vài đoạn. Durkheim nhận xét rằng những dữ kiện và quan sát mà các lý thuyết gia này thu thập còn thiếu rất nhiều, nhưng các tác giả đó lại háo hức muốn đưa ra kết luận nhằm thiết lập một học thuyết đã được hình dung trước, thay vì một học thuyết là một kết quả của nghiên cứu. Trong khi đó, thái độ duy nhất mà khoa học cho phép khi đối diện những vấn đề này là sự dè dặt và hoài nghi. Ông kết luận: chủ nghĩa xã hội đã không bình tĩnh, hay cũng có thể nói nó không có đủ thời gian để bình tĩnh. Những học thuyết chủ nghĩa xã hội chưa đủ cấu thành khoa học mà
…nó là tiếng kêu đau khổ, đôi khi là sự giận dữ của những con người cảm nhận sâu sắc căn bệnh tập thể của xã hội. Chủ nghĩa xã hội đối với cái thực tế sinh ra nó cũng giống như những tiếng kêu của người bệnh đối với căn bệnh mà mình phải chịu đựng (tr.5)
Durkheim cũng có nhận xét tương tự đối với lý thuyết kinh tế tự do lúc bấy giờ, vốn là đối trọng với chủ nghĩa xã hội: khi các nhà kinh tế đòi hỏi môi trường kinh doanh tự do tuyệt đối, để mặc cho sự cạnh tranh diễn ra, và chống sự kiềm chế của nhà nước (qua thuế má hay độc quyền nhà nước dưới bất kì hình thức nào), thì những lập luận của họ cũng không dựa trên những quy luật mà khoa học tìm ra. Khoa học xã hội vẫn còn quá non trẻ để mang lại cơ sở cho những học thuyết thực hành mang tầm vóc lớn như vậy.
Tuy nhiên những học thuyết thực hành như vậy có sức sống mãnh liệt, và sự ảnh hưởng to lớn, bởi đặc điểm chung của chúng là sự nhiệt thành, sự khao khát muốn công lý hoàn hảo, sự thương cảm với tầng lớp lao động, và niềm cảm thông mơ hồ với tình trạng xã hội đương đại.
Vậy, nếu thấy rằng không nên tiếp cận chủ nghĩa xã hội khoa học bằng cách coi nó như một công thức khoa học, thì Durkheim sẽ làm thế nào? Hướng làm của Durkheim là: một mặt, không coi nhẹ việc tìm hiểu tư tưởng của các học thuyết (cũng giống như một bác sĩ khi chẩn đoán bệnh cũng cần hiểu những than phiền của bệnh nhân), nhưng thay vì chỉ nghiên cứu một hệ tư tưởng, một công trình riêng biệt, thì ông so sánh mọi lý thuyết liên quan tới chủ nghĩa xã hội. Mặt khác, quan trọng hơn, là ông nhìn ra xa hơn, xem nó có nguồn gốc từ đâu, những điều kiện xã hội nào đã phát sinh ra nó, và xem nó sẽ đi tới đâu. Lý do ông đưa ra là: để tìm ra căn nguyên căn bệnh tập thể xã hội đã dẫn tới chủ nghĩa xã hội, thì phải chắc chắn rằng cách chữa trị cho nguồn gốc của bệnh không thể dựa trên những học thuyết này. Tương tự, khi dễ dàng phủ nhận những học thuyết của Saint-Simon, Fourier, hay Karl Marx thì người ta chưa thấu hiểu được những điều kiện xã hội nào đã tạo ra chúng – mà những điều kiện đó vẫn là cái lý do cho sự tồn tại của chủ nghĩa xã hội. Chính cái nguyên nhân mới là cái cần phải làm sáng tỏ để hiểu được hậu quả của nó. Do đó cần tìm hiểu lịch sử của học thuyết này, thay vì chỉ thảo luận một cách hình thức.
Nhưng trước tiên, cần phải có sự thống nhất xem: chủ nghĩa xã hội là gì?
Định nghĩa ‘chủ nghĩa xã hội’ qua Durkheim
Durkheim bắt đầu thảo luận những định nghĩa thông thường về khái niệm này và chỉ ra những thiếu sót trong đó, sau đó đi tìm những dấu hiệu đặt trưng của chủ nghĩa xã hội bằng cách so sánh một cách cẩn trọng và khách quan nhất có thể những học thuyết khác nhau cùng nghiên cứu về những vấn đề xã hội.
Những thiếu sót trong những cách hiểu thông thường về khái niệm chủ nghĩa xã hội
Chủ nghĩa xã hội thường được hiểu là (1) sự phủ nhận hoàn toàn sự tư hữu; (2) sự phục tùng của cá nhân trước xã hội; (3) sự cải thiện tình trạng của giai cấp công nhân bằng cách mang lại công bằng hơn trong quan hệ sản xuất.
Nhưng với Durkheim, tất cả những điểm trên đều không thực sự nếu được bản chất của chủ nghĩa xã hội.
Quan niệm thứ nhất (chủ nghĩa xã hội là sự phủ nhận hoàn toàn sự tư hữu) không áp dụng được với bất kì học thuyết xã hội chủ nghĩa nào. Ví dụ trong học thuyết sở hữu tập thể của Karl Marx, mặc dù quyền sở hữu cá nhân về phương tiện sản xuất không được thừa nhận, học thuyết này vẫn công nhận quyền tuyệt đối của cá nhân đối với sản phẩm anh ta làm ra. Trong khi đó, trên thực tế, tình trạng nền kinh tế thời Durkheim cũng có những đặc trưng về giới hạn quyền tư hữu như vậy, chỉ khác về mức độ so với chủ nghĩa Marx mà thôi. Chẳng phải tất cả những gì thuộc về độc quyền của nhà nước, bao gồm bưu điện, đường sắt, sự sản xuất tiền tệ, v.v. đều là sự giới hạn đối với quyền tư hữu cá nhân? Vậy có thể nói rằng ở đâu có độc quyền nhà nước về bất cứ phương diện gì thì ở đó có chủ nghĩa xã hội? (liên hệ: chính vì thế mà Obama cũng bị coi là một nhà xã hội chủ nghĩa khi ông chủ trương phát triển hệ thống y tế công). Durkheim cho rằng nếu như vậy thì ở đâu và thời nào cũng có sự độc quyền của nhà nước. Không có một xã hội nào (cho tới thời điểm của Durkheim) mà không có sự độc quyền của nhà nước về một lĩnh vực công nào đó. Như thế, khái niệm này rất mơ hồ. Thậm chí, cách hiểu này còn đi tới một nghịch lý: Đó là vì, một trong những khẳng định của chủ nghĩa xã hội là sự từ bỏ quyền thừa kế. Khi bỏ quyền thừa kế, thì sự tư hữu bắt đầu từ một cá nhân và cũng kết thúc bởi chính cá nhân đó. Điều này cũng đồng nghĩa với việc yêu cầu tài sản mà cá nhân có được nhất thiết phải là công trình của riêng anh ta. Như thế thì, thay vì phủ nhận quyền tư hữu cá nhân, có thể suy ra rằng chủ nghĩa xã hội chính là sự khẳng định triệt để nhất thứ quyền này.
Quan niệm thông thường thứ hai coi chủ nghĩa xã hội là sự phục tùng , hi sinh của cá nhân đối với xã hội tập thể. Durkheim bác lại rằng, chưa từng có xã hội nào mà những mối quan tâm cá nhân lại đứng lên trên mục đích xã hội mà không gây nhiễu loạn xã hội. Mặt khác, không thể nào xác định được độ ‘phục tùng’ hay ‘hi sinh’ của cá nhân đối với xã hội. Điều này thậm chí còn gây ra hai hình dung trái ngược nhau về một xã hội xã hội chủ nghĩa: một đằng là một nhà nước toàn trị, nơi không thực sự có chỗ cho quyền của cá nhân; một đằng là một nhà nước ‘dân chủ’ kiểu vô chính phủ. Ví dụ, trong học thuyết của Marx, xã hội chủ nghĩa sẽ dẫn tới cái chết của nhà nước, vì nhà nước với hệ tư tưởng của nó là bảo vệ giai cấp thống trị. Khi xã hội được tổ chức lại theo cách Marx hình dung thì nó sẽ tự động điều chỉnh mà không cần có sự ràng buộc nào vì nhà nước đã chết.
Ở quan niệm thông thường thứ 3, chủ nghĩa xã hội được coi là sự cải thiện tình trạng của giai cấp công nhân bằng cách mang lại công bằng hơn trong quan hệ sản xuất. Nhưng Durkheim cho rằng xu hướng này không đủ để coi là đặc điểm của chủ nghĩa xã hội, bởi vì nó không chỉ có riêng ở học thuyết này. Chính các nhà kinh tế học cổ điển cũng mong muốn giảm thiểu những bất công trong xã hội, mặc dù họ tin rằng cách này chỉ có thể thực hiện bằng cách để cho cung và cầu tự động trung hòa nhau, còn mọi can thiệp của nhà nước đều vô ích. Như vậy, mục đích đem lại công bằng trong xã hội không chỉ có riêng nơi học thuyết chủ nghĩa xã hội. Mối quan hệ giữa nhà nước và các ngành công nghiệp lớn, những hoạt động kinh tế lớn mà tầm quan trọng của nó liên quan tới vận mệnh của cả quốc gia, như khoáng sản, đường sắt, ngân hàng, v.v… đều có mục tiêu nhằm bảo vệ lợi ích chung khỏi những ảnh hưởng cá nhân, chứ không phải chỉ nhằm để cải thiện số phận người công nhân.
Nếu cả 3 quan niệm thông thường này vẫn chưa nói lên cái gì là đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, thì có thể coi sự thống nhất về một khái niệm bằng cách lấy ‘trung bình hóa’ tất cả những cách hiểu khác nhau này, tức là cóp nhặt ở cách hiểu một ý rồi sau đó tổng hợp lại để có được một khái niệm mà ai cũng ‘thấy phần của mình trong đó’? Durkheim không đồng ý với cách làm ‘cào bằng’ như vậy đối với một khái niệm. Theo ông, cách làm đó sẽ vấp phải vô vàn khó khăn: chín người thì mười ý, mà quan niệm của mỗi người thì thường rất kinh nghiệm, ít tính logic và phương pháp. Kết quả là nếu đi theo cách này nhiều khi sẽ dẫn tới cách hiểu mâu thuẫn nhau như đã thấy, và tệ hơn là loại bỏ mất những định nghĩa có đặc điểm cơ bản nhất mà số đông không coi đó là ‘chủ nghĩa xã hội’.
Định nghĩa khái niệm ‘chủ nghĩa xã hội’ của Durkheim
Durkheim giải quyết vấn đề này giống như cách ông nghiên cứu về các hiện tượng khác trong công trình của mình (như nguồn gốc của gia đình, tài sản, giáo dục, sự tự tử, hay tôn giáo): (a) quan sát và so sánh những hiện tượng xã hội được thể hiện qua nhiều lăng kính khác nhau, nhiều lý thuyết gia khác nhau; (b)Nhóm những hiện tượng có chung đặc điểm. (c)Trong quá trình phân loại, nếu thấy ở các học thuyết có những đặc trưng riêng biệt khiến ta có thể liên hệ tới khái niệm chủ nghĩa xã hội, thì ta sẽ áp dụng cái đặc trưng đó vào khái niệm này. Lúc đó, mọi học thuyết xã hội chủ nghĩa sẽ được là những hệ thống có những đặc trưng này.
Trong quá trình quan sát, đối chiếu các học thuyết, Durkheim nhận thấy các lý thuyết xã hội luôn được chia ra làm hai phạm trù lớn. Một loại diễn đạt những gì đã và đang diễn ra. Loại thứ hai thì ngược lại: nhằm thay đổi cái nguyên trạng, nhằm đưa ra cải cách thay vì đưa ra những quy luật. Loại thứ hai là những học thuyết mang tính thực hành. Những hiểu biết cơ bản về chủ nghĩa xã hội giúp ông kết luận học thuyết ‘chủ nghĩa xã hội’ liên quan tới nhóm thứ hai.
Tiếp đó, ông nhận thấy trong những học thuyết thực hành gồm những ‘loài’ (species) nhỏ hơn. Có những cải cách liên quan tới giáo dục, tới quản trị, tới đời sống kinh tế. Có chủ nghĩa xã hội về giáo dục, về chính trị v..v…Tuy nhiên, các học thuyết về chủ nghĩa xã hội đều nhằm chỉ tình trạng kinh tế hiện thời và đòi hỏi nó phải thay đổi. Nhưng chưa thể coi đây là một đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, bởi vì các nhà kinh tế tự do cũng phản đối tình trạng hiện tại của nền kinh tế và đòi hỏi nó phải được phát triển tự do. Do vậy cần đi thêm một bước là tìm hiểu kĩ trong những học thuyết cải cách xã hội liên quan tới kinh tế xem có những quan niệm nào về cải cách kinh tế mang tính đặc trưng hơn nữa nơi chủ nghĩa xã hội hay không.
Theo ông, trong số các học thuyết về kinh tế, có một số đòi hỏi có sự liên kết giữa các hoạt động công nghiệp và thương mại với một cơ quan đầu não của xã hội. Ông nhận thấy tất cả mọi học thuyết xã hội chủ nghĩa đều có yếu tố này, dù chỉ khác nhau về mức độ. Một số học thuyết đòi hỏi sự liên kết giữa nhà nước và kinh tế là trực tiếp và toàn bộ. Một số khác thì hình dung rằng sự kết nối chỉ diễn ra ở một vài ngành kinh tế nhất định, và thông qua các trung gian có độ tự chủ nhất định như các nghiệp đoàn, các đoàn thể. Durkheim cho rằngnhững khác biệt này chỉ là thứ yếu. Do đó ông đi tới định nghĩa như sau về chủ nghĩa xã hội:
…chủ nghĩa xã hội là những học thuyết khẳng định cần phải có sự kết nối mọi hoạt động kinh tế, hoặc một vài trong số đó, mà ở xã hội hiện tại chúng đang rất phân tán, tới những trung tâm đầu não điều hành của xã hội (tr.13)
Durkheim không gọi là ‘nhà nước’ vì theo học thuyết của những tác giả nổi tiếng (như Marx), nhà nước như ta vẫn biết cuối cùng sẽ biến mất và không còn trở thành trung tâm của đời sống kinh tế. Chính vì thế thuật ngữ ‘nhà nước’ không được dùng mà thay vào đó là một cụm từ ‘cơ quan tư duy và điều hành của xã hội’.
Durkheim nhấn mạnh một vài lưu ý ở định nghĩa này. Thứ nhất, chủ nghĩa xã hội đòi hỏi tới ‘sự kết nối’ chứ không phải là ‘sự phục tùng’ của đời sống kinh tế với đời sống chính trị. Các nhà xã hội chủ nghĩa không hô hào nền kinh tế phải nằm trong tay nhà nước, mà phải liên lạc với nhà nước. Trái lại, nền kinh tế cũng tác động tới nhà nước như nhà nước tác động vào nó. Trong tư duy của họ, mối liên hệ này không có nghĩa là các lợi ích kinh tế và thương mại phải phục tùng các lợi ích chính trị, mà đúng ra là nâng tầm quan trọng của lợi ích kinh tế lên ngang hàng với lợi ích chính trị.
Thứ hai, những lý thuyết đề xướng phát triển các thể chế từ thiện (cả công lẫn tư) đều không được gọi là học thuyết xã hội chủ nghĩa – dù những người gọi nó là bạn hay thù của chủ nghĩa này. Tạo các quỹ công ích nhằm để giảm bớt tình trạng đói khổ của những người kém may mắn không làm giảm đi tình trạng phân tán của các hoạt động kinh tế, không có nghĩa là hòa nhập đời sống kinh tế vào đời sống cộng đồng. Chủ nghĩa xã hội thực chất là một trào lưu tái lập xã hội, trong khi sự từ thiện không nhằm mục đích như vậy. Từ thiện vẫn giữ xã hội nguyên trạng và chỉ làm giảm sự thống khổ gây ra do sự thiếu tổ chức xã hội gây nên.
Thứ ba, chủ nghĩa xã hội là khái niệm không liên quan gì tới đấu tranh giai cấp, hay những mục đích nhằm cải biến quan hệ kinh tế sao cho công bằng hơn và có lợi hơn cho giai cấp công nhân. Đây chỉ là xu hướng phái sinh từ nguyên lý của chủ nghĩa xã hội – tức là sự kết nối kinh tế với nhà nước.
Durkheim lý giải điều này bằng cách minh họa chủ nghĩa Marx: Marx cho rằng sự phục tùng của giai cấp công nhân và những bất công mà họ phải chịu là do họ phụ thuộc trực tiếp vào một nhóm người có quyền lực (‘nhà tư bản’), thay vì phụ thuộc vào xã hội nói chung. Công nhân không làm kinh tế trực tiếp với xã hội; họ không được xã hội trả công trực tiếp mà công lao của họ lại do các nhà tư bản định đoạt. Nhưng nhà tư bản chỉ là một cá nhân chỉ biết nghĩ tới bản thân thay vì lợi ích xã hội. Những dịch vụ mà anh ta mua và trả giá không phải thông qua giá trị xã hội của chúng mà bằng giá cả thấp nhất có thể. Trong tay anh ta có một vũ khí cho phép anh ta ép buộc những người khác phải sống bằng sức lao động của mình để bán cho anh ta sản phẩm có giá trị ít hơn giá trị đích thực của nó. Đó là tư bản của anh ta. Anh ta có thể sống thoải mái lâu dài trên tài sản tích lũy được, và anh ta chỉ tiêu dùng nó mà không phân chia cho những người lao động. Anh ta chỉ mua sức lao động của người khác khi anh ta muốn, trong khi đó những người công nhân thì không thể chờ được. Họ cần bán sức lao động của mình vì họ không còn phương tiện tồn tại nào khác. Do đó người công nhân phải chiều theo yêu cầu của ông chủ, và giảm nhu cầu của chính mình thấp hơn lẽ ra nó phải thế nếu những lợi ích chung được dùng để đo lường giá trị, và cuối cùng chính anh ta tự ép mình làm tổn thương mình.
Như vậy, theo tư tưởng chủ nghĩa xã hội, xã hội đương thời hiện có một bộ phận của đời sống kinh tế không được hòa nhập trực tiếp vào xã hội. Đó là giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân gồm những thành viên chưa thực sự là thành viên của xã hội. Họ tham gia vào đời sống cộng đồng bằng sự ép buộc và điều này đã ngăn không cho họ có tiếng nói trong xã hội và sự cung ứng dịch vụ của họ không nhận được giá trị xã hội đích thực của nó.
Vậy làm sao để cải thiện hay thay đổi tình trạng này? Nếu để một cá nhân hay một lực lượng riêng tư khác can thiệp vào cơ chế kinh tế sẽ không giải phóng được sự nô lệ mà người vô sản phải hứng chịu; nó chỉ là sự thay thế một loại này với một loại khác chứ không phải là trấn áp sự nô lệ mà người vô sản phải hứng chịu. Chủ nghĩa xã hội cho rằng cách duy nhất là làm trung hòa quyền lực của tư bản bằng một lực khác ngang bằng hoặc mạnh hơn có thể khiến hành động của kẻ đối trọng theo những lợi ích chung của xã hội. Vai trò điều hòa này phải là nhà nước, cần phải làm sao để nền kinh tế không nằm ngoài lãnh địa của nhà nước. Qua sự truyền thông liên tục, nhà nước cần phải biết những gì đang diễn ra và làm cho hoạt động của mình được biết đến.
Nếu đi xa hơn nữa, không chỉ xoa dịu mà chấm dứt ngay tình trạng xã hội này, thì cần phải dập tắt phương tiện của nhà tư bản khi anh ta ngáng đường giao thiệp giữa người công nhân và nhà nước. Điều này có nghĩa là giá trị lao động cần phải được đo lường trực tiếp bởi cộng đồng hoặc ít nhất một cơ quan đại diện cho cộng đồng. Khi đó, giai cấp tư bản sẽ biến mất, và nhà nước sẽ thực hiện những chức năng này và trở thành tâm điểm của đời sống kinh tế. Như vậy, sự cải thiện số mệnh giai cấp công nhân chỉ là một mục tiêu mà chủ nghĩa xã hội hướng tới khi đòi hỏi tổ chức nền kinh tế, và cũng như đấu tranh giai cấp là một trong những phương tiện mà sự tái thiết lập xã hội có thể dẫn tới, chỉ là một khía cạnh của sự phát triển lịch sử của chủ nghĩa xã hội.
Đối với Durkheim, chủ nghĩa xã hội không chỉ được hiểu đơn giản là vấn đề lương – tức là vấn đề của ‘cái dạ dày’. Trên hết nó là một khát vọng tái tổ chức cấu trúc xã hội bằng cách dịch chuyển hệ thống sản xuất vào trong tổng thể xã hội, đưa ra ngoài ánh sáng những bộ phận còn hoạt động tự phát và dùng lương tâm xã hội điều chỉnh nó. Có thể thấy khát vọng này không chỉ là của các tầng lớp nghèo khổ mà còn là khát vọng của cả nhà nước. Chính vì hoạt động kinh tế trở thành một yếu tố ngày càng quan trọng trong đời sống hàng ngày, nhà nước buộc phải điều chỉnh các hoạt động đó. Giống như tầng lớp lao động có xu hướng tiến tới gần nhà nước, nhà nước cũng đồng thời có xu hướng tiến gần tới họ, vì nhà nước luôn có xu hướng tăng cường sự ảnh hưởng của mình một cách sâu rộng hơn. Hai xu hướng này không dẫn tới hai hệ thống tư tưởng khác nhau, mà do điểm nhìn của nhà lý thuyết, nếu ông ta gần người công nhân hơn thì ta có chủ nghĩa xã hội của giai cấp công nhân (worker’s socialism), hay nếu ông ta chú ý hơn tới lợi ích chung của xã hội, thì ta có chủ nghĩa xã hội nhà nước (state socialism). Sự khác nhau chỉ là ở mức độ, bởi vì không có chủ nghĩa xã hội của giai cấp công nhân nào mà không đòi hỏi sự phát triển của nhà nước, và không có chủ nghĩa xã hội nhà nước nào lại hờ hững với đời sống công nhân.
Một lưu ý cuối cùng trong định nghĩa mà Durkheim đưa ra: mặc dù các học thuyết chủ nghĩa xã hội đều đề cập tới vấn đề kinh tế, hầu hết chúng còn đi xa hơn nữa và thảo luận về các lĩnh vực khác, như chính trị, gia đình, hôn nhân, đạo lý, văn học và nghệ thuật, v.v..Có thể hiểu được điều này, bởi vì hệ thống sản xuất có các mối quan hệ phức tạp của với các lĩnh vực khác, và khi tái cấu trúc nền kinh tế thì chắc chắn sẽ kéo theo sự thay đổi của các lĩnh vực khác. Các nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa háo hức muốn tìm hiểu các hậu quả của việc tái thiết này, đôi khi là cực đoan, và đã dẫn tới những kết luận vượt qua lĩnh vực kinh tế. Theo Durkheim, những cải cách riêng biệt này nhiều khi không hoàn toàn trùng khớp với toàn bộ một hệ thống, nhưng đều xuất phát từ cùng một khát vọng và do đó cần được tính đến trong định nghĩa về chủ nghĩa xã hội. Do đó, Durkheim thêm một phần nữa vào định nghĩa khái niệm ‘xã hội chủ nghĩa’ như sau:
‘ta vẫn gọi coi tư tưởng xã hội chủ nghĩa là những tư tưởng dù không trực tiếp liên quan tới trật tự kinh tế nhưng vẫn có quan hệ với trật tự này’ (tr.18)
Đôi lời kết
Bài viết này chỉ xin được kết luận bằng việc đưa ra định nghĩa về chủ nghĩa xã hội trong ‘giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học’ do Bộ Giáo dục và Đào tạo biên soạn, do nhà xuất bản chính trị quốc gia xuất bản năm 2004, hiện được dùng cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng hiện nay ở Việt Nam, qua đó người đọc tự so sánh với phân tích của Durkheim.
Định nghĩa chủ nghĩa xã hội (tr.13-14)
‘tư tưởng xã hội chủ nghĩa là một hệ thống những quan niệm về những nhu cầu hoạt động thực tiễn và những ước mơ của các giai cấp lao động, bị thống trị; về con đường, cách thức và phương pháp đấu tranh nhằm thực hiện một chế độ xã hội mà trong đó, tư liệu sản xuất là thuộc về toàn xã hội, không có áp bức và bóc lột, bất công, mọi người được bình đẳng về mọi mặt và đều có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc, văn minh’.
Những đặc điểm của chủ nghĩa xã hội (tr.14):
(a) Tư tưởng xã hội chủ nghĩa là các quan niệm về một chế độ xã hội mà mọi tư liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên, thuộc về toàn xã hội;
(b) Tư tưởng xã hội chủ nghĩa là tư tưởng về một chế độ xã hội mà ở đó ai cũng có việc làm và ai cũng lao động;
(c) Tư tưởng xã hội chủ nghĩa là những tư tưởng về một xã hội, trong đó mọi người đều bình đẳng, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Mọi người đều có điều kiện để lao động, cống hiến, hưởng thụ và phát triển toàn diện.
Tài liệu tham khảo
Durkheim, Emile. 1959[1895-1896]. Socialism and Saint-Simon. (trans., Sattler Charlotte). London: Routledge & Kegan Paul.
Bộ GD-ĐT. Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học (dành cho các trường đại học, cao đẳng). Hà Nội: NXB Chính Trị Quốc Gia, 2004.
Tác giả gửi choviet-studies ngày 5-9-2014