Friday, August 7, 2015

TỪ MỘT CÂU CHUYỆN NGỤ NGÔN

Có một câu chuyện ngụ ngôn "con cá và cần câu" về việc những con người có lòng tốt giúp đỡ người ăn xin không chỉ bữa ăn qua ngày mà còn cả cách kiếm con cá và duy trì cuộc sống, không phải chết đói nữa. Tuy nhiên do người ăn xin đó dù đã được giúp đỡ những với suy nghĩ cả cuộc đời mình sinh ra phải làm ăn xin nên ông ta an phận về ăn xin...


Từ câu chuyện trên tôi lại nghĩ về những nhà dân chủ, có những con người khi đã hiểu ra những gì mình làm là sai trái, họ quay trở lại xây dựng và phát triển quê hương. Tuy nhiên lại có những con người với ước vọng xa xôi rằng một ngày nào đó họ sẽ được làm tổng thống, thủ tướng... rồi tiền USD sẽ về túi. Hay đơn giản như việc đó là được rời bỏ quê hương sang xứ người.

Số phận thê thảm của Bùi Tín ở ngoại quốc

Các cụ xưa có câu con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo... Liệu rằng một đất nước với 4000 năm chiến tranh nhiều hơn hòa bình. Khi tiếng súng mới yên trên biên giới cách đây gần 40 năm, còn ngoài đảo xa đâu có một ngày bình yên.

Từ một đất nước nghèo nàn, bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh... Vươn lên với những thành tựu đáng nể, sau gần 30 năm đổi mới Nếu như tăng trưởng GDP bình quân thời kỳ 1986 - 1990 chỉ đạt 4,4%/năm thì bình quân thời kỳ 1991 - 2011 đạt 7,34%/năm. Đặc biệt, sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã duy trì tốc độ tăng trưởng cao, trong năm 2007, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,46% (là mức cao nhất trong vòng 11 năm trước đó). Do ảnh hưởng từ những biến động của nền kinh tế thế giới, tăng trưởng GDP trong giai đoạn 2011 - 2013 giảm xuống còn 5,6%. Ngoài ra, có thể nói thành tựu về tăng trưởng kinh tế được nhìn nhận một cách rõ ràng nhất là đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và ra khỏi danh sách các nước kém phát triển sau 30 năm đổi mới.

Đối với hoạt động xuất, nhập khẩu, từ năm 1986 đến nay, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng đều qua các năm. So với năm 1986 (kim ngạch xuất khẩu đạt 789,1 triệu USD) thì kim ngạch xuất khẩu năm 2013 tăng gấp khoảng 167 lần (132,2 tỷ USD). Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt trên thị trường 220 nước và vùng lãnh thổ, hầu hết các châu lục. Nước ta có vị thế ngày càng lớn trong xuất khẩu hàng hóa toàn cầu và được xếp vào nhóm 30 nền kinh tế xuất khẩu hàng hóa hàng đầu thế giới. Từ chỗ thường xuyên nhập siêu, Việt Nam đã chuyển sang cân bằng xuất, nhập khẩu, thậm chí là có xuất siêu. Năm 2012, Việt Nam đã xuất siêu 287 triệu USD, năm 2013 xuất siêu 9 triệu USD và 10 tháng đầu năm 2014 xuất siêu 1,9 tỷ USD.

Chỉ trong 40 năm với bước tiến như vậy, thì tôi tin rằng không lâu nữa Việt Nam sẽ phát triển và phồn vinh sánh vai với các nước Nhật, Hàn Quốc những nước mà chiến tranh đã lùi xa 70 năm, có đủ thơi gian để phát triển kinh tế, khôi phục cơ sở hạ tầng sau chiến tranh. Hay như nước Mỹ nếu không tính vụ phát xít Nhật tấn công Trân Châu Cảng thì họ cũng ít nhất 155 năm không có cuộc chiến tranh tàn phá nào cả.

Đừng có mơ ước vọng xa xôi, hay chung tay giúp sức xây dựng quê hương để phát triển, thay vì tiến hành các hoạt động phá hoại. Chiến tranh đã mang đến quá nhiều đau thương, đừng biến Việt Nam thành một Ukraine thứ hai nữa hỡi các nhà dân chủ.

Tâm Ngôn

8 ĐIỀU CẦN NHỚ KHI BẠN THẤY BẾ TẮC

8 ĐIỀU CẦN NHỚ KHI BẠN THẤY BẾ TẮC

1. Không ai khôn lớn mà chưa từng trải qua nỗi đau

Đôi khi cuộc sống đóng một cánh cửa lại vì đó là lúc để cho bạn tiến về phía trước. Và đó là một điều tốt bởi vì chúng ta thường sẽ không tiến lên trừ khi hoàn cảnh bắt buộc.
Vào những thời điểm khó khăn, hãy tự nhủ với lòng rằng luôn có một mục đích nào đó đằng sau sự đau khổ mà bạn phải chịu đựng. Hãy vượt lên những thứ làm bạn tổn thương nhưng đừng bao giờ quên những bài học mà nó mang lại.
Gặp khó khăn không có nghĩa là bạn đang thất bại.
Mỗi thành công lớn đều đòi hỏi những sự gian nan nhất định. Những điều tốt đẹp không bao giờ đến dễ dàng. Hãy luôn lạc quan và kiên trì.
Hãy nhớ rằng nỗi đau có hai loại: loại làm bạn tổn thương và loại khiến bạn thay đổi.
Thay vì kháng cự hai loại nỗi đau này, hãy chấp nhận chúng vì chúng đều khiến bạn trưởng thành hơn.

2. Tất cả mọi thứ trong cuộc sống chỉ là tạm thời

Trời mưa rồi cũng sẽ tạnh. Vết thương rồi cũng sẽ được chữa lành. Sau màn đêm tăm tối là ánh sáng của buổi bình minh. Chớ có tin rằng bóng đêm sẽ kéo dài mãi mãi. Không, không có gì kéo dài mãi mãi cả.
Vì vậy, hãy tận hưởng những điều tốt đẹp mà bạn đang có vì nó sẽ không kéo dài mãi mãi. Và cũng đừng lo lắng vì những chuyện không mong muốn vì chúng cũng không kéo dài mãi.
Cuộc sống không dễ dàng, bạn gặp phải nhiều rắc rối, nhưng không có nghĩa là bạn không thể cười. Mỗi khoảnh khắc đều mang lại cho bạn một khởi đầu mới và một kết thúc mới. Mỗi giây trôi qua bạn lại có một cơ hội mới. Bạn chỉ cần nắm bắt cơ hội đó và tận dụng nó.

3. Lo lắng và phàn nàn cũng không thay đổi được gì

Những người hay phàn nàn là những người ít được việc nhất.
Làm sao bạn có thể phàn nàn vì một việc gì đó khi mà bạn đã không làm gì để đạt được nó ?
Nếu bạn tin vào một điều gì đó, tiếp tục cố gắng. Đừng để bóng tối của quá khứ che phủ con đường tương lai của bạn.
Bạn có dành cả ngày hôm nay để than van về ngày hôm qua thì ngày mai của bạn cũng không khởi sắc được. Thay vào đó hãy bắt tay hành động.
Hãy để những gì bạn đã học được cải thiện cuộc sống của bạn.
Hãy nhớ rằng hạnh phúc thật sự bắt đầu đến khi bạn không còn phàn nàn về những vấn đề của mình và cảm thấy biết ơn vì những vấn đề khác mà bạn không gặp phải.

4. Vết sẹo của bạn là biểu tượng của sức mạnh

Đừng bao giờ xấu hổ về những vết sẹo cuộc đời đã để lại cho bạn. Một vết sẹo có nghĩa là nỗi đau qua đi và vết thương đã lành. Nó có nghĩa là bạn đã chinh phục nỗi đau, đã học được một bài học, lớn mạnh hơn, và tiến về phía trước.
Một vết sẹo là hình xăm của một chiến thắng đáng tự hào.
Bạn không thể làm cho những vết sẹo trong cuộc sống của bạn biến mất, nhưng bạn có thể thay đổi cách nhìn nhận chúng.
Hãy bắt đầu xem những vết sẹo của bạn như là một dấu hiệu của sức mạnh chứ không phải là dấu vết của những nỗi đau.
Ai đó từng nói: “ Vết thương là nơi mà ánh sáng xâm nhập vào bạn.”
Quả thật là vậy.
Trong đau khổ là nơi những linh hồn mạnh mẽ trỗi dậy; hãy nhìn vào những nhân vật quyền lực nhất thế giới mà xem, họ đều được hun đút nên từ những vết sẹo, cả thể chất lẫn tâm hồn.
Hãy để vết sẹo thay bạn nói rằng “ Tôi đã làm được! Tôi đã vượt qua và tôi có những vết sẹo để chứng minh điều đó! Và bây giờ tôi có cơ hội để phát triển mạnh mẽ hơn nữa.”

5. Mỗi cuộc đấu tranh nhỏ là một bước tiến

Trong cuộc sống, kiên nhẫn không phải là chờ đợi, đó là khả năng duy trì một thái độ tích cực trong khi theo đuổi giấc mơ của bạn.
Vì vậy, khi bạn quyết định cố gắng, hãy dành tất cả thời gian và đi hết con đường. Nếu bạn không làm được như vậy thì đừng nên bắt đầu. Bạn có thể mất đi sự ổn định và thoải mái trong một thời gian dài, thâm chí là “ ăn không ngon, ngủ không yên ”.
Bạn có thể phải hy sinh các mối quan hệ và tất cả những gì thân thuộc. Đôi khi bạn phải chấp nhận sự chế giễu từ người khác.
Và nhiều lúc bạn thật sự thất rất cô đơn. Nhưng cô đơn không hẳn là tồi tệ vì nó sẽ cho bạn không gian mà bạn cần.
Bạn chỉ cần kiểm tra độ quyết tâm của mình nữa mà thôi.
Nếu bạn muốn, bạn sẽ làm bằng được, mặc cho thất bại, phản kháng hay xung đột.
Bạn sẽ nhận ra rằng con đường của bạn được làm hoàn toàn từ những cuộc đấu tranh.
Và những cuộc đấu tranh đó hoàn toàn xứng đáng.
Vì vậy, một khi bạn đã quyết định cố gắng, hãy đi hết con đường. Từng bước bạn tiến lên sẽ mang lại cho bạn cảm xúc tuyệt vời không gì có thể tả được.

6. Bạn không cần phải để tâm đến tính tiêu cực của người khác

Khi xung quanh bạn tràn ngập sự tiêu cực, thì bạn hãy tỏ ra tích cực. Mỉm cười khi ai đó cố tình dìm bạn xuống.
Đây là một cách dễ dàng để bạn duy trì nhiệt huyết và tập trung. Hãy luôn là chính bạn dù cho có ai đó đối xử với bạn tồi tệ.
Đừng bao giờ để cho sự cay nghiệt của người khác thay đổi con người bạn.
Mọi người cư xử tệ với bạn không hẳn là do bạn không tốt, mà đó chỉ là do một số vấn đề từ chính họ mà thôi.
Quan trọng nhất, đừng bao giờ thay đổi chỉ để gây ấn tượng với một người cho rằng bạn không tốt. Hãy thay đổi khi bạn tin rằng sự thay đổi đó sẽ giúp bạn hoàn thiện và có một tương lai tươi sáng hơn.
Người ta vẫn sẽ xì xầm về bạn cho dù bạn đã làm tốt như thế nào.
Vì vậy, hãy nghĩ về bản thân trước khi nghĩ về những gì đang diễn ra trong đầu người khác. Nếu bạn tin tưởng vào điều gì đó, đừng ngại ngần để chiến đấu vì nó.
Bạn chỉ có một cuộc sống. Vì vậy, hãy làm những gì khiến bạn hạnh phúc và ở bên cạnh bất cứ ai làm cho bạn thường xuyên mỉm cười.

7. Chuyện gì cần đến sẽ đến

Thay vì khóc lóc và than vãn, bạn chọn cách mỉm cười và trân trọng cuộc sống – đó chính là sức mạnh thật sự.
Luôn có sự may mắn ẩn trong mỗi cuộc đấu tranh bạn phải đối mặt, nhưng bạn phải sẵn sàng mở rộng trái tim và tâm trí của bạn để thấy chúng. Bạn không thể cưỡng ép mọi việc. Chuyện gì cần đến rồi cũng sẽ đến.
Cuối cùng, yêu thương cuộc sống là tin vào trực giác của bạn, nắm bắt cơ hội, đánh mất rồi tìm thấy hạnh phúc, trân quý những kỷ niệm, và học hỏi thông qua kinh nghiệm. Đó là một cuộc hành trình dài. Bạn phải ngừng lo lắng, băn khoăn, nghi ngờ trong mỗi bước trên con đường đó.
Hãy tận hưởng cuộc sống đang mở ra trước mắt bạn.
Bạn có thể không đến được nơi mà bạn muốn, nhưng cuối cùng bạn sẽ chắc chắn đến được nơi mà bạn cần.

8. Điều tốt nhất bạn có thể làm là tiếp tục bước đi

Đừng ngần ngại nhận sự giúp đỡ từ ai đó.
Đừng ngần ngại yêu thêm một lần nữa.
Đừng để các vết nứt trong trái tim của bạn biến thành những mô sẹo cứng.
Hãy tìm thấy động lực để cười mỗi ngày và làm cho người khác mỉm cười theo.
Hãy nhớ rằng bạn không cần nhiều người trong cuộc sống, mà chỉ cần một vài người thật sự quan trọng với bạn mà thôi.
Hãy mạnh mẽ trong những lúc khó khăn.
Chấp nhận khi bạn sai và học hỏi từ nó. Luôn luôn nhìn lại và xem bạn đã trưởng thành được bao nhiêu, và tự hào về chính mình. Đừng thay đổi vì bất cứ ai, trừ khi bạn muốn thay đổi.
Cho đi nhiều hơn.
Hãy luôn là chính bạn. Tiếp tục phát triển. Tiếp tục bước về phía trước.

(Theo "Chuyện nhỏ - Bài học lớn")

NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN THẤT BẠI CỦA NHIỀU NGƯỜI

NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN THẤT BẠI CỦA NHIỀU NGƯỜI
Câu chuyện dưới đây sẽ mang lại cho bạn suy nghĩ như thế nào?
Thầy hỏi: “Nếu các trò lên núi chặt cây, vừa vặn trước mắt có hai gốc cây, một gốc cây to, một gốc cây nhỏ, các em sẽ chặt gốc nào?” Câu hỏi vừa ra, tất cả học sinh đều nói: “Tất nhiên là chặt gốc cây to rồi.”
Thầy cười cười, nói: “Gốc cây to kia chỉ là một gốc bạch dương bình thường, mà gốc cây nhỏ kia lại là một cây thông, bây giờ các em sẽ chặt cây nào?”
Chúng tôi nghĩ, cây thông tương đối trân quý, nên trả lời: “Tất nhiên sẽ chặt cây thông, bạch dương không được bao nhiêu tiền!”
Thầy mang theo nụ cười không đổi nhìn chúng tôi, hỏi: “Nếu gốc cây dương là thẳng tắp, mà cây thông lại uốn éo xiêu vẹo, các em sẽ chặt cây nào?”
Chúng tôi cảm thấy có chút nghi hoặc, liền nói: “Nếu là như vậy, hay là vẫn chặt cây dương. Cây thông cong queo ngoằn ngoèo, làm gì cũng không làm được!” Ánh mắt thầy lóe lên, chúng tôi đoán là thầy sẽ thêm điều kiện nữa, quả nhiên, thầy nói: “Cây dương tuy thẳng tắp, nhưng bởi đã lâu năm, nên phần giữa mục rỗng, lúc này, các em sẽ chặt gốc nào?” Tuy không hiểu nổi trong hồ lô của thầy bán thuốc gì, chúng tôi vẫn từ điều kiện của thầy mà suy nghĩ, nói: “Thế thì lại chặt cây thông, cây dương ở giữa đã mục rỗng, càng không thể dùng!” Sau đó thầy liền hỏi: “Thế nhưng dù cây thông ở giữa không mục rỗng, nhưng nó cong queo quá ghê gớm, bắt đầu chặt rất khó khăn, các em sẽ chặt gốc nào?” Chúng tôi dứt khoát không suy nghĩ kết luận của thầy là gì nữa, liền nói: “Vậy chặt cây dương. Đều không thể dùng như nhau, đương nhiên chọn cây dễ chặt!” Thầy không để chúng tôi thở, liền hỏi: “Thế nhưng trên cây dương có một tổ chim, mấy con chim non đang ở trong ổ, các em sẽ chặt gốc nào?” Cuối cùng, có người hỏi: “Thầy ơi! Rốt cuộc thầy muốn nói gì cho chúng em vậy? Hỏi những thứ đó làm gì vậy thầy?” Thầy thu hồi nụ cười, nói: “Các em vì sao không tự hỏi mình, rốt cuộc là chặt cây để làm gì? Tuy điều kiện của thầy thay đổi, nhưng yếu tố cuối cùng quyết định kết quả là động cơ ban đầu của các em. Nếu muốn lấy củi, các em liền chặt cây dương; muốn làm hàng mỹ nghệ, liền chặt cây thông. Các em tất nhiên sẽ không vô duyên vô cớ cầm theo búa lên núi chặt cây chứ?!” Một người, chỉ khi trong nội tâm đã có mục tiêu từ trước,thì lúc làm việc mới không bị đủ loại điều kiện và hiện tượng bên ngoài mê hoặc. Mục tiêu của bạn đã rõ ràng sao? Tư tưởng thông suốt, mới có thể kiên trì.

NHỮNG BÀI HỌC CẦN GHI NHỚ CẢ ĐỜI CHO DÙ BẠN CÓ GIỎI CỠ NÀO.

NHỮNG BÀI HỌC CẦN GHI NHỚ CẢ ĐỜI CHO DÙ BẠN CÓ GIỎI CỠ NÀO.
Bài học số 01
Hai con bồ câu trống và mái tha hạt thóc về đầy tổ, cả hai rất ư hạnh phúc. Gặp mùa khô hanh, hạt thóc ngót lại. Con trống thấy tổ vơi đi liền trách con mái ăn vụng. Con mái cãi lại liền bị con trống mổ chết. Mấy hôm sau mưa xuống, hạt thóc thấm nước và nở to ra. Bồ câu trống đau khổ mà ngẩn ngơ mà đau xót ngậm ngùi vì mình hại chết vợ mình. Bài học rút ra: “thịt” nhân viên một cách hồ đồ không làm bạn trông thông minh hơn. nhân viên, sếp, công ty, quyền lực
Bài học số 02
Một ông vua nọ do chán chuyện triều đình nên mua một con khỉ đem về. Con khỉ làm trò rất hay nên được vua sủng ái, đi đâu cũng mang theo, cho mặc quần áo, giao cả kiếm cho giữ. Một hôm, vua ra vườn thượng uyển ngủ. Có con ong bay đến đậu lên đầu vua. Khỉ muốn đuổi ong, lấy kiếm nhắm vào ong mà chém. Đức vua băng hà. Bài học rút ra: trao quyền cho những kẻ không có năng lực thì luôn phải cẩn thận và cảnh giác.
Bài học số 03
Quạ thấy chó ngậm khúc xương quá ngon, bèn đánh liều lao xuống mổ vào đầu chó. Bị bất ngờ, chó bỏ chạy để lại khúc xương. Quạ ngoạm lấy khúc xương nhưng nặng quá không tha nổi. Chó, sau khi hoàn hồn, thấy kẻ tấn công chỉ là con quạ nên quay lại táp một cú, quạ chết tươi. Bài học rút ra: đừng ghen ăn tức ở quá với những miếng mồi ngon của kẻ khác. Ghen tức vì người ta có miếng mồi ngon nhưng cũng phải biết nó phù hợp với mình không để mà bõ công chứ. Nếu không cũng sôi hỏng bỏng không cả thôi.
Bài học số 04
Ba con thú dữ là sói, gấu và cáo thay nhau ức hiếp đàn dê. Dê đầu đàn bèn nói với cả bầy: “Ta nên mời một trong ba gã sói, gấu hay cáo làm thủ lĩnh của chúng ta”. Cả đàn dê bất bình, nhưng ba “hung thần” nghe tin này rất mừng. Thế là chúng quay sang tranh giành nhau quyền lãnh đạo, cuối cùng cáo dùng bẫy hại chết được sói và gấu. Nhưng rồi một mình nó không còn ức hiếp đàn dê được nữa. Bài học rút ra: hãy thận trọng khi nghe tin bạn sắp được làm sếp. Không phải làm sếp là sung sướng đâu. Có thể đó cũng là cái bẫy để hãm hại chính bạn.
Bài học số 05
Một nhân viên bán hàng, một thư ký hành chính và một sếp quản lý cùng đi ăn trưa với nhau, họ bắt được một cây đèn cổ. Họ xoa tay vào đèn và thần đèn hiện lên. Thần đèn bảo: “Ta cho các con mỗi người một điều ước”. Tôi trước! Tôi trước! – Cô thư ký hành chính nhanh nhảu nói: Tôi muốn giàu sang phú quý và quên hết sự đời. Vút. Cô thư ký biến mất. Tôi! Tôi! anh nhân viên bán hàng nói: Tôi muốn ở Hawaii nằm dài trên bãi biển có nhân viên massage riêng, nguồn cung cấp Pina Coladas vô tận và với người tình trăm năm. Vút. Anh nhân viên bán hàng biến mất. Ok tới lượt anh. Thần đèn nói với ông quản lý. Ông quản lý nói: tôi muốn hai đứa ấy có mặt ở văn phòng làm việc ngay sau bữa trưa. Bài học xương máu: luôn luôn để sếp phát biểu trước. Đừng có mơ bạn vượt mặt nhé. nhân viên, sếp, công ty, quyền lực
Bài học số 06
Một con đại bàng đang đậu trên cây nghỉ ngơi, chẳng làm gì cả. Con thỏ nhìn thấy thế hỏi: Tôi có thể ngồi không và chẳng làm gì như anh được không? Ðại bàng trả lời: Được chứ, sao không. Thế là con thỏ ngồi xuống gốc cây nghỉ ngơi. Bỗng dưng một con cáo xuất hiện, vồ lấy con thỏ mà ăn thịt. Bài học xương máu: để được ngồi không mà chẳng cần làm gì, anh phải ngồi ở vị trí rất cao. Nếu không sớm muộn gì bạn cũng chỉ là miếng mồi ngon cho kẻ khác thôi
Bài học số 07
Một con gà tây trò chuyện với một con bò: “Giá mà tôi có thể bay lên ngọn cây kia thì thích quá, nhưng tôi không đủ sức”, gà tây thở dài. “Được rồi, tại sao bạn không nếm tý “chất thải” của tôi nhỉ? Nó có nhiều chất bổ lắm đấy”, bò trả lời . Gà tây mổ ăn chất thải của con bò và nó thấy quả là nó đã đủ sức bay lên cái cành thấp nhất. Ngày hôm sau, ăn thêm chút nữa, nó bay lên được cành thứ hai. Cuối cùng, sau đêm thứ tư, gà tây khoái chí lên tới được ngọn cây. Nó lập tức bị một nông dân phát hiện, anh này bắn nó rơi xuống đất. Bài học xương máu: sự ngu ngốc có thể đưa bạn lên đỉnh cao nhưng đừng tưởng bở, sớm hay muộn bạn cũng bị hạ gục thôi.
Bài học số 08
Một con chim nhỏ bay về phương Nam tránh rét. Trời lạnh quá con chim bị lanh cứng và rơi xuống một cánh đồng lớn. Trong lúc nó nằm đấy, người nông dân không để ý đã lấp bùn đất bẩn thỉu lên người chú chim nhỏ bé. Con chim nằm giữa đống bùn nhận ra rằng nó đang ấm dần. Ðống bùn bẩn đã ủ ấm cho nó. Nó nằm đấy thấy ấm áp và hạnh phúc, nó bắt đầu cất tiếng hót yêu đời. Một con mèo đi ngang, nghe tiếng chim hót liền tới thám thính. Lần theo âm thanh, con mèo phát hiện ra con chim nằm trong đống bùn bẩn, nó liền kéo con chim ra ăn thịt. Bài học xương máu: 1. không phải thằng nào hết bùn đất bẩn vào người mình cũng là kẻ thù của mình 2. không phải thằng nào kéo mình ra khỏi đống bùn đất bẩn cũng là bạn mình 3. và khi đang ngập ngụa trong đống bùn đất bẩn thì tốt nhất là ngậm cái mồm lại.
Bài học số 09
Một tu-sĩ nam ngỏ ý mời tu-sĩ nữ đi chung xe. Người nữ chui vào xe, ngồi bắt chéo chân để lộ 1 bên bắp chân. Người nam suýt nữa thì gây tai nạn. Sau khi điều chỉnh lại tay lái, người nam thò tay mò mẫm lên đùi người nữ. Nữ kêu: “Xin ngài, hãy nhớ điều răn 129″. Nam liền bỏ tay ra. Nhưng sau khi vào số, nam lại tiếp tục sờ soạng chân nữ. Một lần nữa nữ kêu: “Xin ngài, hãy nhớ điều răn 129″. Nam thẹn quá: “xin lỗi nữ, tôi trần tục quá”. Tới nơi, nữ thở dài và bỏ đi. Vừa tới nhà tu, nam vội chạy vào thư viện tra cứu ngay cái điều răn 129 ấy, thấy đề: “Hãy tiến lên, tìm kiếm, xa hơn nữa, con sẽ tìm thấy hào quang.” Bài học xương máu: Nếu anh không nắm rõ thông tin trong công việc của mình anh sẽ bỏ lỡ 1 cơ hội lớn.
Bài học số 10
Ông chồng đi tắm sau khi vợ vừa mới tắm xong, đúng lúc chuông cửa reo. Vợ vội quấn khăn tắm vào và chạy xuống mở cửa. Cửa mở thì ra là ông hàng xóm Bob. Chị vợ chưa kịp nói gì thì Bob bảo: tôi sẽ cho chị 800 đô nếu chị buông cái khăn tắm kia ra . Suy nghĩ 1 chút rồi chị vợ buông khăn tắm, đứng trần truồng trước mặt Bob. Sau vài giây ngắm nghía, Bob đưa 800 đô cho chị vợ rồi đi. Chị vợ quấn lại khăn tắm vào người rồi đi lên nhà. – Vào đến phòng tắm, chồng hỏi: Ai đấy em? – Vợ: ông Bob hàng xóm. – Chồng: Tốt. thế hắn có nói gì đến số tiền 800 đô hắn nợ anh không? Bài học xương máu: Nếu anh trao đổi thông tin với nhân viên của mình kịp thời thì anh đã có thể ngăn được sự “phơi bày” với những người ngoài nhân viên, sếp, công ty, quyền lực
Bài học số 11
Chàng yêu nàng từ thuở nàng mười lăm mười sáu tuổi. Cả hai lén lút đi lại, quan hệ, quậy gia đình, trốn nhà đi, dọa chết nếu không được chấp nhận. Nếu quan hệ ấy kéo dài một năm, được gọi là phạm pháp, dụ dỗ trẻ vị thành niên, có nguy cơ ra tòa thụ án. Nếu mối tình ấy kéo dài ba năm, được gọi là yêu trộm, tình yêu oan trái. Nếu mối tình kéo dài sáu bảy năm, sẽ được gọi là tình yêu đích thực, vượt núi trèo đèo qua bao khó khăn để yêu nhau. Kết luận: Bạn làm gì chả quan trọng, quan trọng là bạn làm được trong… bao lâu!
Bài học số 12
Một nàng cave, nếu ngủ với thợ thuyền hoặc lao động ngoại tỉnh, thì bị gọi là đối tượng xã hội. Nếu ngủ với đại gia lừng lẫy, thì được gọi là chân dài. Nếu ngủ với một ngôi sao sân cỏ hoặc màn bạc, sẽ được đàng hoàng lên báo kể chuyện “nghề nghiệp” và trưng ảnh hở da thịt giữa công chúng, không ai có ý định bắt nàng. Kết luận: Bạn làm gì chả quan trọng, quan trọng là bạn làm điều đó với ai, bạn kiếm được bao nhiêu tiền.
Bài học số 13
Phòng tắm công cộng bỗng dưng bị chập điện gây hỏa hoạn lớn, vô số chị em chạy túa ra đường mà không kịp mặc gì. Những nàng thông minh là người không lấy tay che thân thể, mà lấy tay che… mặt. Kết luận: Hãy quan tâm tới mấu chốt của mọi vấn đề. Đừngbao giờ nghĩ ngắn quá mà học cách nhìn xa trông rộng trong từng tình huống
Bài học số 14
Một nàng gái ế chạy tới đồn cảnh sát tố cáo: “Tôi đã cẩn thận để tiền trong áo lót, thế mà thằng cha đẹp trai đứng cạnh tôi ở trên xe bus đông đúc đã móc lấy mất tiền của tôi!”. Cảnh sát ngạc nhiên: “Tại sao nó có thể móc tiền được ở một vị trí “nhạy cảm” như thế, mà cô không phát hiện ra?” Cô nàng gái ế thút thít: “Ai ngờ được là nó chỉ muốn moi tiền?” Kết luận: Một nhà quản trị kinh doanh tài ba là người moi được tiền của khách hàng trong lúc đang khiến khách hàng sung sướng ngất ngây.
Bài học số 15
Nhân viên vệ sinh của công ty rất buồn phiền vì các quý ông thường lơ đãng khi vào nhà vệ sinh. Để giải quyết những vũng nước vàng khè dưới nền toilette, công ty dán lên tường, phía trên bệ xí nam một tờ giấy: “Không tiểu tới bô chứng tỏ bạn bị ngắn, tiểu ra ngoài bô chứng tỏ bạn bị… ủ rũ!”. Ngay từ ngày hôm sau, toilette nam sạch bóng và không còn quý ông nào lơ đãng nữa. Kết luận: Hãy chứng minh cho khách hàng thấy vấn đề một cách cụ thể, ấn tượng nhất khiến họ không bao giờ quên.
Bài học số 16
Bố mẹ nàng mở cuộc thi tuyển con rể. Chàng A nói, tài khoản có một triệu đô. Chàng B khoe, có biệt thự hai triệu đô. Bố mẹ nàng có vẻ ưng lắm. Chàng C nói, cháu chả có gì cả, thưa các bác. Cháu chỉ có mỗi một đứa con, hiện đang nằm trong bụng của con gái các bác! Kết luận: Muốn cạnh tranh với đối thủ, cần có tay trong!

BIỂU TÌNH, BẠO LOẠN & BÀI HỌC XƯƠNG MÁU

Ai muốn tự do, dân chủ? Tất cả mọi người trên thế giới đều muốn tự do, dân chủ và bình đẳng. Nhưng dân chủ và tự do dành cho ai? Không phải ai cũng được hưởng bầu tự do và dân chủ như mình muốn.


Các hội nhóm, tổ chức chống Việt Nam luôn kêu gọi người dân xuống đường tiến hành biểu tình, bạo loạn. Ảnh: internet

Biều tình, bạo loạn là cách con người vượt qua những rào cản để đến tự do và bình đẳng. Nhưng không phải khi nào sự lựa chọn của con người cũng đúng đắn. Đặc biệt là khi họ bị giật dây và “thế lực chống lưng” để đạt được mục đích của những người bên kia đại dương.

Mạn phép xin nhắc lại những bài học đã diễn ra ở các quốc gia trên thế giới để nhắc nhở người dân Việt Nam hay lựa chọn hành động đúng đắn.

Xin lấy Ucraina làm ví dụ. Cuộc bầu cử tổng thống định kỳ diễn ra ở Ukraine vào năm 2004. Hai ứng cử viên lọt vào vòng cuối là ông Viktor Yushchenko - đại diện cho các lợi ích phương Tây và miền trung đất nước và ông Viktor Yanukovych - người nhận được sự ủng hộ vô điều kiện của các vùng đông nam. Theo thăm dò dư luận, khi đó cơ hội của các ứng cử viên là xấp xỉ ngang nhau.

Ngày 21 tháng 11 năm 2004, Ủy ban Bầu cử Trung ương Ukraine công bố kết quả kiểm phiếu sơ bộ cuộc bầu cử tổng thống, phần thắng thuộc về ông Viktor Yanukovych - người vượt đối phương 3% số phiếu bầu. Bắt đầu từ đó, các đối thủ chính trị của ông Yanukovych đã công khai cáo buộc cuộc bầu cử “có gian lận”.

Giới bình luận quân sự đã chỉ ra rằng: Phương Tây đã giật dây cuộc “Cách mạng Cam” năm 2004 và hiện nay Ukraine đang lâm vào hỗn loạn, bần cùng và nội chiến.

Theo thống kê của UNHCR kể từ tháng 2 năm 2014 U-crai-na đã có 2,5 triệu người mất nhà ở, 1 triệu người phải bỏ chạy sang khu vực khác ở Ukraina,600.000 người phải bỏ chạy sang các nước: Nga, Belarus, Moldava, Balan, Hungary và Rumani, 2800 dân thường bị thiệt mạng, trong đó có 700 trẻ em và 60 người tàn tật. Ngoài ra, đồng Griwna mất 60% giá kể từ tháng 2 năm 2014, lạm phát phi mã, ở các cửa hàng nhân viên phải thay bảng giá nhiều lần trong ngày. lương bình quân hiện nay tại Ukraina chỉ ở mốc 3000 Griwna, tức là chưa tới 115 USD.

Hàng trăm người chết và hàng nghìn người bị thương, cùng với hàng tỷ USD thiệt hại kinh tế là một cái giá đã được trả. Người Ucraina vẫn đang chìm đắm trong sự điên cuồng, của kích động, của sợ hãi mà chưa hề nghĩ về tương lai mà mình sẽ phải gánh chịu. Nhiều thành phố, vùng lãnh thổ đã ngấp nghé ý định tuyên bố li khai, khơi mào cho sự chia rẽ không gì có thể hàn gắn trong nội bộ quốc gia này.

Người dân Ukraine không hưởng được bầu tự do, dân chủ bao nhiêu nhưng mùi máu và súng đạn thì họ thẩm hiểu hơn bao giờ hết.

Người dân Việt Nam muốn “tự do, dân chủ” thông qua biểu tình, bạo loạn hay mùi súng đạn??

Hoàng Trường

Wednesday, August 5, 2015

Tự do học thuật: Sinh lộ của một nền văn minh (''Câu chuyện giáo dục''Bài 32)

Câu chuyện giáo dục (Bài 32)
Tự do học thuật: Sinh lộ của một nền văn minh
"Tự do học thuật" ở phương Tây không phải là chuyện tình cờ, trái lại, có lịch sử rất lâu dài. Tuy trải qua nhiều thăng trầm, nó là một dòng chảy bất tận và bất diệt, như một cuộc đua tiếp sức. Những cá nhân kiệt xuất tiếp nối nhau mang ngọn lửa thiêng, soi đường sinh lộ cho cả một nền văn minh.
Hình tượng "học giả", như ta đã biết, được Kant sử dụng nhiều lần trong luận văn nổi tiếng "Khai minh là gì?" để nói đến việc sử dụng lý trí một cách công khai trong đời sống xã hội. Viên chức phải tuân lệnh trong công việc, xét từ vai trò xã hội nhất định. Nhưng đồng thời, "với tư cách học giả", họ còn có quyền công khai sử dụng ngòi bút, xét từ quan điểm công dân thế giới. Đó là cách nói khác về "tư cách người trí thức" theo nghĩa rộng, chỉ những ai được thụ hưởng nền giáo dục đại học và "có năng lực diễn đạt ý kiến dưới hình thức văn bản". Vì thế, môi trường đại học là nơi thể hiện quyền tự do này một cách tập trung và đậm đặc nhất. Với quan niệm ấy, Kant mở một chương mới cho tinh thần đại học hiện đại, sẽ được định chế hóa chỉ hơn một thập kỷ sau đó: sự ra đời của mô hình đại học Humbold (1810). Tuy nhiên, "tự do học thuật" ở phương Tây không phải là chuyện tình cờ, trái lại, có lịch sử rất lâu dài. Tuy trải qua nhiều thăng trầm, nó là một dòng chảy bất tận và bất diệt, như một cuộc đua tiếp sức. Những cá nhân kiệt xuất tiếp nối nhau mang ngọn lửa thiêng, soi đường sinh lộ cho cả một nền văn minh.
TỪ "TỰ DO TRƯỜNG PHÁI" ...
Với sự du nhập Kitô giáo như là tôn giáo chính thống vào các thế kỷ đầu công nguyên, phương Tây đứng trước thử thách chưa từng có trước sự xung đột giữa hai truyền thống lớn: truyền thống nhân bản, thế tục của Hy-La cổ đại và truyền thống tín ngưỡng siêu nhiên Do thái-Kitô giáo. Nhiều tín điều cơ bản có vẻ đi ngược, nếu không muốn nói là vượt khỏi trực quan và lý trí thông thường (sáng thế từ hư vô, Đức Mẹ đồng trinh, tam vị nhất thể v.v…), đòi phải được lý giải hợp tình hợp lý, thỏa mãn trí óc và con tim. Sớm nhìn nhận nhu cầu điều hòa ấy, và hơn thế, chấp nhận giải quyết nó một cách sòng phẳng là dấu son đầu tiên. Thế là, bên cạnh các tu viện, nhiều định chế học thuật độc lập ra đời. Ta không khỏi kinh ngạc nếu theo dõi kỹ chất lượng và cung cách tranh luận của thời kỳ này. Nhưng, được như vậy là nhờ đặc điểm chủ yếu của "tự do trường phái" (libertas scholastica) suốt thời trung cổ từ thế kỷ 12-15: đó là đặc quyền tự quản mang tính hiệp hội nghề nghiệp, gồm quyền thành lập, kết nạp và khai trừ thành viên, cũng như tự do bầu chọn người đại diện. Những quyền tự do này được bảo trợ bởi Giáo hoàng, và sau đó là bởi các ông vua. Sự thống nhất giữa chính trị và tôn giáo tất nhiên chưa mang lại những quyền tự do học thuật theo nghĩa ngày nay. Nhưng, các đại học không cảm thấy mình mất tự do, bởi chính chúng góp phần định hình sự thống nhất ấy.
... ĐẾN "TỰ DO KHOA HỌC"
Từ thế kỷ 17, bắt đầu cất lên nhiều tiếng nói đòi tự do tư tưởng, tiền thân của tự do khoa học ngày nay. Các tác giả như Spinoza, Putendorf, Collins hay Gundling đòi hỏi "tự do triết học" (libertas philosophandi), thoát khỏi sự khống chế của thần học, việc định chế hóa đầu tiên theo hướng này là đại học cải cách ở Halle (Đức) năm 1694. Tiếp theo, tự do nghiên cứu và giảng dạy trong tinh thần khai minh của thế kỷ Ánh sáng có cơ sở pháp lý vững chắc trong điều lệ của phân khoa triết, đại học Göttingen (Đức) năm 1737.
Trong "văn hóa sinh viên", nền tự do học thuật dành nhiều đặc quyền hợp pháp cho đời sống của sinh viên chính thức: ăn mặc tùy thích, để râu đủ kiểu, kể cả ăn chơi, đập phá, vượt khỏi các quy tắc luân lý thông thường! "Ôi, thời vàng son của đời sinh viên: tự do, tự do, tất cả là tự do!", một từ điển ghi nhận với nhiều tiếc nuối vào năm 1749.
Một cao điểm mới của khái niệm tự do trong sinh viên là thời kỳ Đại Cách mạng Pháp (1789). Lần đầu tiên có sự pha trộn, rồi hòa quyện giữa ý thức đặc quyền của tầng lớp ưu tú với ý thức tự do chính trị của quảng đại quần chúng cách mạng. Một ngọn lửa khai phóng bùng lên năm 1798 với tác phẩm cuối đời của Immanuel Kant: "Sự tranh chấp giữa các chuyên khoa".
NHƯ CÁI THANG CẦN HAI THANH CHỐNG
Vào thời Kant, đại học gồm ba chuyên khoa trụ cột: thần học, luật học và y học. Thần học lo chuyện "hạnh phúc vĩnh hằng" của kiếp người; luật học lo chuyện hạnh phúc dân sự của mọi thành viên xã hội; và y học lo hạnh phúc thể xác của mỗi người. Được gọi là ba chuyên khoa "cao cấp", vì được nhà nước bảo trợ và quản lý, dựa vào ba văn bản "thiên kinh địa nghĩa": Kinh thánh, Bộ luật quốc gia và Bộ Điều lệnh y học. Chính thống hóa ba bộ môn này, nhà nước thực thi quyền lực của mình.
Ở phía ngược lại là các chuyên khoa "cấp thấp" (!), trong ngôn ngữ của Kant, là "chuyên khoa triết học". Chuyên khoa này không thu hẹp trong môn triết theo nghĩa đen, mà bao gồm cả văn chương, khoa học và kinh tế. Chúng độc lập với lợi ích của nhà nước, mà chỉ dựa vào lý tính của con người. Chúng không nhất thiết đối lập với quyền lực nhà nước, trái lại, là phi quyền lực, một tiền thân sáng giá của quan niệm về tổ chức xã hội dân sự ngày nay. Chúng có bản tính khác với quyền lực, vì luôn thách thức "những ranh giới của quyền lực từ bên trong" (Derrida). Là bộ phận của đại học, nhưng chuyên khoa này bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống hàn lâm nhờ vào quyền sử dụng lý tính phê phán một cách công khai và vô điều kiện. Giữ một chỗ, đồng thời không giữ chỗ nào trong hệ thống đại học là nghịch lý đầy sức sống cho bản thân đại học.
Sự "tranh chấp giữa các chuyên khoa" không phải là xung đột kiểu chiến tranh mà là hợp pháp. Nếu các chuyên khoa "cao cấp" giữ cánh phải của chiếc thang tri thức để củng cố hệ thống, thì chuyên khoa "triết học" giữ cánh trái của chiếc thang như là trách vụ phản biện. Khi lý tính đưa ra phán đoán công khai, nó giữ cho chiếc thang vững chắc, an toàn. Có chiếc thang nào chỉ có đơn độc một thanh chắn? Chỗ độc đáo của Kant: chuyên khoa triết học không vỗ ngực sẽ mang lại chân lý. Nó chỉ yêu chân lý và, quan trọng hơn, tạo nên "điều kiện khả thể" cho việc đi tìm chân lý. Xin nghe Kant nói: "Trong đại học phải có một chuyên khoa giảng dạy độc lập với mệnh lệnh của nhà nước. Nó không ra lệnh, nhưng có quyền tự do phán đoán về tất cả những gì liên quan đến mối quan tâm khoa học là đi tìm chân lý".
Quả là một con đường dài và gian khổ từ cái chết của Socrates, từ tự do trường phái thời trung cổ đến tự do học thuật ngày nay, để nó được trịnh trọng ghi vào hiến pháp của các nước văn minh (chẳng hạn, đó là điều 5 trong Luật cơ bản của CHLB Đức).
Chiếc thang đã được bắt, và các thế hệ sau Kant sẽ tiếp tục leo lên từng nấc một. Không ít gian nan, nhưng dù sao đã có chỗ đặt chân. Đại học Humboldt - chỉ hơn một thập kỷ sau - như vừa nói, là thành tựu rực rỡ từ một lời di chúc.
(Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 23, 03.07.2014)



Tự do học thuật: Sinh lộ của một nền văn minh
GIÁO DỤC KHAI MINH (Bài 32) - Tự do học thuật: sinh lộ của một nền văn minh

GIÁO DỤC KHAI MINH (Bài 9) - Biết để làm – Hiểu để dạy

GIÁO DỤC KHAI MINH (Bài 9) - Biết để làm – Hiểu để dạy
Nhà Nghiên cứu Triết học Bùi Văn Nam Sơn
"Trung đạo vàng", như được trình bày trong số trước, là quan niệm duy thực của Aristoteles về việc giáo dục tình cảm và đạo đức, hay về nhân sinh quan nói chung. Đi tìm chỗ "chính trung" trong thái độ ứng xử, không nhắm đến các lý tưởng quá xa vời, không trở thành những nhà không tưởng về chính trị, đó là những "thông điệp" của vị thầy lão luyện.
Dù đồng ý hay phản bác, thông điệp duy thực ấy vẫn còn sức vang vọng, nhất là trên phương diện giáo dục :
1. Thật hệ trọng khi cần thừa nhận bài học từ kinh nghiệm rằng: con người có thể hành động sai trái, phản lý tính;
2. Thừa nhận có sự đa dạng của những điều tốt; chúng có thể mâu thuẫn và xung đột với nhau (giàu sang, danh vọng là tốt, nhưng có thể đi ngược lại đức vị tha và công bằng v.v…).
3. Ta không khỏi có lúc bị dẫn dắt hay bị buộc phải quyết định và làm những điều ta biết là không tốt. Chính ý thức về sự kết hợp bi đát này, hay, nói khác đi, ý thức về những xung đột không thể giải quyết được, cũng là nét đặc sắc và tinh tế trong cái nhìn duy thực của Aristoteles.
Tính đa dạng trong đời sống thực hành của con người sẽ song hành với tính đa nguyên trong đời sống lý thuyết khi nhận thức về thực tại, là hai hòn đá tảng cho tòa nhà triết học Aristoteles, nhất là cho triết thuyết giáo dục của ông.
BỐN XÁC TÍN CỦA THUYẾT DUY THỰC TRONG CÁI NHÌN NGÀY NAY
Ta đã biết bốn xác tín của thuyết duy thực: 1. ta đang sống trong thế giới có thực; 2. thế giới ấy độc lập với việc ta có "sử dụng" nó hay không; 3. ta có thể nhận thức về nó một cách vững chắc; và 4. nhận thức ấy là cơ sở đáng tin cậy trong việc định hướng hành động của ta.
Ngày nay, sau khi nhận ra vai trò to lớn của ngôn ngữ trong đời sống (chẳng hạn, trong lý thuyết "hành vi ngôn ngữ" của J. Searle), bốn xác tín nói trên trở nên chính xác hơn. Theo đó, 1. thế giới bên ngoài, tuy kỳ cùng chỉ có thể được hình dung một cách "nhân tạo" thông qua ngôn ngữ, nhưng không vì thế mà chỉ đơn thuần có tính chủ quan; 2. sự thật tương ứng với sự hình dung thích hợp (bằng ngôn ngữ) về thực tại ở trong đầu óc ta, có tính khách quan, không phụ thuộc vào thái độ hay tình cảm; 3. tính lô gíc và tính thuần lý là thước đo để đưa ra những phán đoán về thực tại; và 4. những thước đo trí tuệ ấy là cần thiết để nhận thức cũng như để kiểm tra nhận thức.
Giống như các triết thuyết khác, thuyết duy thực cũng có nhiều "phiên bản" khác nhau. Chẳng hạn, ta có thuyết duy thực cổ điển của Hy lạp cổ đại hay của những nhà duy thực hiện đại, rất phổ biến trong giới khoa học, vững tin rằng, với phương pháp nghiên cứu và dụng cụ quan sát ngày càng tinh vi, khoa học tự nhiên là phương tiện tốt nhất để nắm bắt và lý giải thực tại. Lại cũng có thuyết duy thực của những nhà thần học hay những nhà tôn giáo tin vào thế lực siêu nhiên sáng tạo hoặc chi phối thế giới thực tại. Nhưng mọi "phiên bản" hầu như đều thừa hưởng bộ khung khái niệm từ các đại công trình của Aristoteles nhằm mô tả và phân loại các cấp độ của thực tại. Nhìn chung, ông xứng danh là cha đẻ và người đặt nền móng cho khoa học hiện đại, từ khoa học tự nhiên đến khoa học xã hội và nhân văn.
Ta thử kể qua một số trong rất nhiều sơ đồ khái niệm mang tính phân loại của ông. Chúng mềm dẻo nhưng có giá trị định hướng rất lớn. Ta có bộ ba, chẳng hạn, trong thế giới sinh vật (trên bộ, dưới nước và trên không), ba ham muốn (danh dự, tiền tài, khoái lạc), ba động lực hành động (cái cao cả, cái hữu ích, cái dễ chịu); bộ tứ: bốn đức hạnh căn bản, bốn xúc cảm (sợ hãi, thèm muốn, lo âu, sung sướng), và quan trọng nhất là học thuyết về bốn nguyên nhân để giải thích thực tại, sẽ đề cập kỹ hơn ở sau; bộ năm: năm giác quan, năm hoạt động tinh thần (nghệ thuật, khoa học, sự khôn ngoan, sự minh triết, tinh thần).
Từ quan sát và phân loại của mình, Aristoteles đi đến nhận định về sự thăng tiến tự nhiên (sự phát triển ngày càng cao hơn) của vạn vật: từ vật vô tri (đất đá), lên thực vật, động vật và con người. Trong khi Platon quan tâm đến thế giới thuần túy của ý niệm, đến hình thức hoàn hảo của sự vật, đi từ những cái trừu tượng thuần túy đến hành động và tồn tại cụ thể, tức tiến hành theo kiểu diễn dịch, thì Aristoteles lại theo lối quy nạp, đi từ những quan sát đặc thù tiến lên cái phổ biến.
HỌC THUYẾT BỐN NGUYÊN NHÂN VÀ TINH THẦN GIÁO DỤC
Tuy nhiên, cảm tưởng về sự khác nhau nói trên mờ nhạt dần khi đi vào học thuyết nổi tiếng về bốn nguyên nhân của Aristoteles. Ông giải thích sự vật từ bốn loại nguyên nhân; 1. nguyên nhân vật chất hay chất liệu (vd: vật liệu xây dựng), 2. nguyên nhân hình thức (bản vẽ thiết kế), nguyên nhân tác động (chủ đầu tư, thợ xây dựng), và 4. nguyên nhân cứu cánh hay mục đích (có nhà ở).
Chất liệu khi chưa được hình thức hóa thì chưa phải là hiện thực mà chỉ mới là tiềm năng. Nhưng, chất liệu nào cũng mang theo mình “hạt mầm” (entelechie), nhờ đó, có thể được hình thức hóa qua nỗ lực bền bỉ để hướng đích. Ví dụ dễ hiểu trong thế giới vật chất: pho tượng ra đời từ khối đá hoa cương vô hình thể. Nhưng, nơi con người thì sao? Theo ông, thân xác là chất liệu, linh hồn là hình thức luôn vận động và tạo hình thể cho thân xác, trong khi tinh thần là năng lượng thuần túy phi vật chất và bất tử. Vậy, thật ra, ông không hoàn toàn "chia tay" với thầy của mình: giống như ý niệm nơi Platon, hình thức nơi Aristoteles vẫn là điều kiện khả thể cho sự hiện hữu. Nói cách khác, như thầy mình, thế giới quan của ông, đàng sau tính đa dạng, hầu như vẫn mang tính nhị nguyên (hai nguồn gốc).
Trong giáo dục, đây lại là một thuyết nhị nguyên tích cực. Giống như pho tượng tuyệt mỹ ẩn mình trong khối đá sù sì, đứa trẻ mang trong lòng nó vô vàn khả thể cho tương lai. Chính cái nhìn "nhị nguyên" trong giáo dục mở ra sự khác biệt giữa hiện thực (người trưởng thành, đã phát triển) và khả thể (đứa trẻ). Cái gì càng có nhiều “hình thức”, thì càng “hiện thực” hơn, tức, càng phát triển hơn. Đạt đến hình thức tối hậu thì hoàn hảo, không phát triển nữa, và ông xin dành nó cho... Thượng Đế bất biến (hiểu như hình thức và hiện thực thuần túy)! Còn lũ người bất toàn chúng ta - ít "thần thánh" hơn - chỉ tham gia đôi chút vào những hình thức thuần túy ấy thôi: đó là khi ta "tư duy", và thế là đã được hưởng những phút giây "thiên phúc" hiếm hoi rồi! Theo ông, chỉ ai "hiểu" được điều ấy mới có tư cách làm "thầy", và, không phải ngẫu nhiên, khi "giáo dục", trong nhiều ngôn ngữ Âu châu, có nghĩa đen là: tạo hình thể (formation/Bildung).



GIÁO DỤC KHAI MINH (Bài 9) - Biết để làm – Hiểu để dạy
(Nguồn: Người Đô Thị, 09/06/2014)