Monday, February 1, 2016

Xã hội đang có "bệnh", chân, thiện, mỹ bị đảo lộn

Xã hội đang có một lớp người muốn kiếm lợi ích cho bản thân nhưng lại không muốn lao động. Đó là thứ chủ nghĩa vị kỷ. Ở bất cứ xã hội nào, lợi ích cá nhân vẫn hối thúc con người ta đi chệch quy chuẩn của pháp luật. Do vậy, cần có sự minh bạch trong nhiều mối quan hệ xã hội, pháp luật mới lập lại được trật tự công bằng xã hội.

Tôi thấy có điều đáng báo động, vì khi người ta không còn coi trọng đến những con người thân phận nghèo, hoàn cảnh khó khăn, đáng thương thì người ta sẵn sàng hành xử ác với nhau nhằm tranh giành lợi ích cho bản thân. Và thực tế, ở đâu đó trong xã hội con người đã hành xử tùy tiện, cơ học với nhau. Đó là tiếng chuông cảnh tỉnh của con người trong mối quan hệ người với người, con người với xã hội. Họ đang sống cuộc đời phần con lấn át đi phần người.

Về mặt xã hội, con người tạo ra những xã hội phức tạp trong đó có những nhóm hỗ trợ nhau và đối nghịch nhau ở từng mức độ, có thể từ những cá nhân trong gia đình cho đến những quốc gia rộng lớn. Giao tiếp xã hội giữa con người và con người đã góp phần tạo nên những truyền thống, nghi thức, quy tắc đạo đức, giá trị, chuẩn mực xã hội, và cả luật pháp. Tất cả cùng nhau tạo nên những nền tảng của xã hội loài người. Và điều khác biệt với xã hội của các loài sinh vật khác là con người dùng những chuẩn mực về đạo đức, pháp luật mà đánh giá hay xem xét một cá nhân, một tập thể hay thậm chí một quốc gia nào đó là hợp pháp hay không. Đây là điểm khác biệt lớn nhất giữa một quần thể sinh vật và một quần thể người, tức là con người sống theo chuẩn mực đạo đức và luật pháp, còn sinh vật thì chủ yếu sống theo bản năng, thường thì mạnh hiếp yếu để tranh giành những thuận lợi và ưu thế về cho mình.

Thế nhưng, con người sẽ sống ra sao khi những giá trị về chuẩn mực xã hội, về đạo đức, về luật pháp bị đảo lộn? Khi đó, người ta hành động không theo những chuẩn mực mà họ đề ra, bất chấp thậm chí chà đạp đạo đức và luật pháp để hành xử. Một xã hội như vậy đã đẩy con người gần như trở về xã hội của các loài vật nghĩa là hành xử theo bản năng, ỷ vào “sức mạnh” của mình có để tranh giành, uy hiếp, đe dọa cá nhân khác, cũng là một xã hội bầy đàn nhưng hỗn loạn không trật tự, không kỷ cương với vô vàn những hành vi bầy đàn. Tâm lý bầy đàn khác với hành vi bầy đàn, vì hành vi bầy đàn chỉ dùng cho những nhóm động vật, trong khi đó “tâm lý” là một thứ đặc trưng riêng của loài người.

Tuy nhiên nói như thế cũng chưa thật đầy đủ. Con người là động vật thông minh nhất, có hệ thống tín hiệu thứ hai và khả năng tư duy trừu tượng nên khi “quay về” hay “thoái hóa” thì cũng không thể giống với bầy đàn trong động vật. Nó sẽ có cái gì đó “ma mãnh” hơn, “trí tuệ” hơn đủ cho thấy mức độ tàn khốc của nó. Những sinh vật khác thường có xu hướng bảo vệ bầy đàn trước sự tấn công của bầy đàn khác bằng đối kháng trực tiếp, nghĩa là, chúng thấy sự nguy hiểm thể hiện là chúng sẽ thể hiện thái độ.

Còn con người thì không đơn giản vậy. Sự tấn công của một tổ chức, một quốc gia khác lên an ninh, chủ quyền của mình đôi khi được lèo lái sang một nghĩa hoàn toàn ngược lại “bạn tốt” “láng giềng hữu nghị” và để an ủi những cá thể khác trong đàn, những con vật “đầu đàn” lại ru ngủ thậm chí quay ra dọa nạt, khủng bố “đồng môn” của mình. Chỉ có xã hội loài người mới có các thể chế chính trị. Chính trị là một cái gì đó rất khó hiểu, không phải một với một thì bằng hai, mà có khi bằng ba, bằng bốn hoặc thậm chí lại bằng không. Suy cho cùng, tại sao họ lại hành động không theo những chuẩn mực về đạo đức về luật pháp, tất cả đều xuất phát từ lòng tham.

Thế nào được gọi là tham? Tức là muốn có, muốn sở hữu, muốn được ảnh hưởng đến những cái những thứ không phải của mình, họ có được thường bằng cách chiếm đoạt, tranh cướp…Có lẽ nói không ngoa, lòng tham nó chỉ tồn tại ở con người với một biên độ, khoảng rộng/sâu khó đo lường. Tất cả các cuộc chiến tranh, nội chiến hay ngoại chiến đều xuất phát từ lòng tham của một hay một nhóm cá nhân nào đó có quyền lực và tầm ảnh hưởng. Để thuyết phục những cá thể khác trong đàn, họ thường vẽ ra những chủ thuyết xán lạn, đẹp đẽ rồi bằng cách này hay cách khác họ tuyên truyền một cách áp đặt thậm chí dùng bạo lực để các cá thể trong đàn phải nghe theo. Và thông thường, lòng tham là khởi nguồn của những khổ đau mà họ gieo rắc cho kẻ khác hay dân tộc khác thậm chí không loại trừ nó cũng là nỗi khổ đau cho chính bản thân họ cũng như dân tộc của họ.

Lòng tham khiến con người sống tàn bạo, bất chấp đạo lý và luật pháp, bất chấp dư luận công kích. Loài vật sống trong cộng đồng của chúng, thường thì chúng chỉ tranh giành đối tượng sinh dục trong mùa sinh sản, giành miếng ăn khi còn đói, còn khi no cơm ấm cật chúng hiền lành ngay cả thú dữ, chúng thường trở nên vô hại nếu không bị kích động. Con người thì…giàu đến bao nhiêu cũng không đủ, quyền lực đến bao nhiêu cũng không vừa, họ sẵn sàng hạ thủ đồng loại của mình ngay khi miếng ăn đã đầy mồm, quyền lực đã tối thượng và sống trong cảnh xa hoa về vật chất. Chính lòng tham này là nguồn gốc, là căn nguyên của mọi sai trái, bất công và tội lỗi ở xã hội con người.

Thế nhưng “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng, Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy: có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Không ai có thể xâm phạm, kẻ xâm phạm sẽ bị lên án và sẽ phải trả một giá đắt. Dù xã hội loài người không thiếu những ví dụ sinh động về kết cục cho những kẻ độc ác, tham lam đầy tham vọng, vì lòng tham của mình mà gieo rắc khổ đau cho người khác (Hitler, Polpot, Gaddafi, …) nhưng lòng tham lại có một sức quyến rũ chết người, khiến cho kẻ tham lam đó rất khó từ bỏ nếu không đủ bản lĩnh và tỉnh táo. Như Hitler chẳng hạn, khi còn sống ông ta cực kỳ tàn ác, ông ta đã có tham vọng nhân bản con người mang “”giống nòi Hitler” cho nước Đức và sẽ làm bá chủ thế giới. Thế nhưng rốt cục, ông ta chết và tất cả vợ con cùng chết theo và dĩ nhiên cái “giống nòi Hitler” đã không tồn tại.

Tự nhiên hôm nay đầu óc điên điên, tôi ngồi nghĩ vẩn vơ một chút về giá trị sống. Quanh đi quẩn lại vẫn mấy câu hỏi ngớ ngẩn “Ta là ai, Ta sống vì mục đích gì” ấy thôi. Nhưng rồi, tự nhiên tôi lại nhớ tới các cụ ngày xưa hay nhắc đến 3 cái giá trị quan trọng nhất (có phải thế không nhỉ?). Ấy là Chân – Thiện – Mỹ. Thiện và Mỹ thì dễ hiểu rồi: là người ai chẳng muốn vươn tới cái Tốt và cái Đẹp. Làm điều tốt cho người khác, biết cảm nhận cái đẹp… là những điều khiến ta cảm thấy tự hào, thanh thản, cảm thấy cuộc sống có ý nghĩa. Thiện và Mỹ luôn có một sức hút tự nhiên đối với con người.

Nhưng mà chữ Chân thì không hiểu lắm. Nghĩa của nó là cả đời chúng ta cần phấn đấu cho sự thật chăng? Sự thật gì? Sự thật của ai? Hay nó có nghĩa là ta cần sống trung thực với lòng mình? Hay là phải chân thật với người khác? Và cũng không hiểu tại sao nó lại quan trọng đến mức được Viết Hoa, được coi như một giá trị cốt lõi của cuộc sống. Cuối cùng, 3 cái đó có liên hệ như thế nào với nhau.

Ngày xưa đức Khổng Tử giảng về Đạo, có nói Đạo ở khắp mọi nơi, thì đệ tử có người hỏi, Đạo có ở trong những thứ bẩn thỉu không, thì Khổng Tử trả lời là có. Ngài còn giảng thêm, Đạo có ở trong thứ bẩn thỉu như *** chẳng hạn.

Tôi thấy ở bài giảng ấy nghĩa của chữ Chân. Chân là sự thật không thể chối cãi, ở khắp mọi nơi, dù bạn cho là đẹp hay là xấu (Mỹ), là tốt hay là tồi (Thiện).

Trong một cuốn phim chiếu có các sư chùa Thiếu Lâm tập võ, đấm vào bao cát. Một sư cấp thày đến dán một tờ giấy có chữ Phật lên bao cát, thì sư đang tập đấm không dám đấm nữa. Sư Thày mới nói, Phật là Không, nên có ngại gì mà không đấm vào bao cát có dán chữ Phật nữa? Thế rồi sư đệ mới dám tập đấm vào bao cát như cũ.

Trong khúc phim đó, tôi thấy chữ Không cũng là một cách nhìn vào Chân. Theo pháp lý nhà Phật, thì Chân là Không, và Không là Chân. Thiện và Mỹ cũng từ cái Không ấy mà có.

Chân – hiểu là thật, chân tu, chân chính – Chân thật. Thật với chính bản thân, với mọi người, với mục đích, với khát vọng, với cuộc sống. Khi nhìn nhận mọi vấn đề thì phải nhìn vào cốt lõi, vào bản chất – quý trọng sự thật mà bỏ qua những cái phù phiếm bề ngoài…… Rõ ràng nói thì vô cùng đơn giản – nhưng để trọn vẹn chữ được Chân chắc chẳng có mấy ai.

Chân là sự thật, riêng rẽ với nhận thức của Ta.Ví dụ, người yêu của mình thì mình thấy đẹp, thấy tốt, đến khi mình yêu người khác, thì thấy người yêu cũ không tốt, và lại xấu.

Đối với người ngoài không yêu 2 người này, thì người thứ nhất đẹp và tốt hơn người thứ hai. Cái nhận thức của Ta không đủ sức nhận thức được cái Chân.

Lý thuyết này giúp Ta hiểu rằng, nhận thức của ta là phiến diện, hẹp hòi, sai lạc. Nếu ai có phê bình ta, ta không nên phản ứng lại ngay, mà suy ngẫm, ắt tìm thấy vài phần đúng trong đó, hoặc đúng hoàn toàn trong đó. Hoặc vài năm sau, vài chục năm sau, ta mới thấy được cái non yếu của mình.

Trên đây là lý luận, và thực hành lý luận trên. Hiểu điều này thì rất dễ, nhưng thực tập thì khó. Ta càng thực tập nhiều, thì càng giỏi, ít nhất không phản ứng với lời phê bình hay ý nghĩ không giống ý nghĩ cúa mình. Có người giỏi đến mức, vừa nghe ý kiến phê bình đã cười vui vẻ và cám ơn thật tình, rồi áp dụng ngay. Tôi thấy những nhà kỹ thuật ví dụ như các thày giáo dạy Toán chẳng hạn, có thể làm được điều này. Những nhà chính trị khi nghe phê bình, bên ngoài có thể không phản đối, nhưng bên trong thì sai người đi hạ thủ kẻ phê bình mình.

Tôi đến với bạn bằng tình cảm thuần tuý, không vụ lợi tính toán … như thế chính là CHÂN – chân thành. Rộng ra có thể hiểu: Người với người nên lấy Chân làm trọng ….

Xã hội của chúng ta đang có “bệnh”, các giá trị đang bị đảo lộn. Đấy là sự rối loạn về giá trị, xuống cấp về đạo đức trong xã hội của chúng ta hiện nay. Tôi cho rằng xã hội phải minh bạch hơn nữa để giáo dục đúng – sai cho giới trẻ. Cần phải giáo dục kiến thức cơ bản về pháp luật đối với mọi công dân, các ứng xử trong xã hội để mọi người nắm được và ứng xử đúng pháp luật, phù hợp với xã hội. Vấn đề đặt ra là vừa giáo dục xã hội, vừa cần giáo dục chuẩn mực đạo đức.

Vậy hiện nay lệch chuẩn đạo đức xuất phát từ môi trường gia đình, xã hội hay nhà trường?

Điều này có lỗi ở cả ba mối quan hệ trên. Gia đình bố mẹ mải kiếm sống, giáo dục trong nhà trường chưa chú trọng đến “học lễ”, còn xã hội nhiều những chuyện xấu được phơi bày, miêu tả chi tiết đã phần nào tác động vào tâm lý của thanh thiếu niên. Tất cả điều này đã ngấm dần và ảnh hưởng đến suy nghĩ, hành động của giới trẻ. Và sự giành giật trong xã hội ở giới trẻ ngày càng nhiều hơn, vì đòi hỏi về vật chất, thỏa mãn nhu cầu của họ cao hơn và dường như không có giới hạn.

Vậy rõ ràng, cách hành xử của con người trong một xã hội có “bệnh” khiến con người ta không kiểm soát được bản thân?

Đúng, con người đang hành xử với nhau theo kiểu cơ học. Xã hội càng tiến về phía trước thì những luật lệ, đòi hỏi của thế giới mới càng khắt khe hơn. Sự phát triển đó, cần có sự bổ sung, kích hoạt của giá trị nhân văn, nhân bản…

Nhân cách nhìn từ miếng ăn

Trẻ em sẽ học được gì từ hình ảnh cha mẹ chen chân, giành giật nhau để có suất ăn miễn phí nếu không phải là lối suy nghĩ phải tranh giành, nhanh chân hơn kẻ khác mới có được cái tốt hơn cho mình?

Thích mua được món hời, được cho không khỏi mất tiền… là tâm lý bình thường của con người. Tuy nhiên, việc hàng ngàn người kiên nhẫn chầu chực nhiều giờ giữa trưa nắng chỉ để được nhận thức ăn nhanh miễn phí và những món đồ chơi được ban tổ chức một cửa hàng thức ăn nhanh ở TP HCM ném xuống vào trưa 24-3 hoặc việc giành giật áo mưa, giẫm đạp tranh cướp miếng sushi miễn phí… ở một vài nơi khác trước đây đều gây ra nhiều phản ứng tiêu cực trong dư luận.

Lòng tự trọng đâu rồi?

Lý do gì khiến nhiều người Việt cực nhọc chầu chực, chen lấn, giành giật như vậy? Vì đói? Vì đồ ăn ngon? Vì hiếu kỳ? Vì a dua, đua đòi? Hay trên tất cả chỉ vì lòng tham, “phát miễn phí, dại gì không lấy (!)”? Người có tuổi, thanh niên, người đi ô tô sang, người đang chở con nhỏ…, đủ mọi thành phần cùng tham gia, cùng hả hê với “thành quả” tranh giành được. Lẽ nào vì miếng ăn, món hàng miễn phí mà người ta dễ dàng chấp nhận đánh đổi lòng tự trọng, nhân phẩm, sự tự tôn… - những cái để tạo nên một CON NGƯỜI đúng nghĩa?

Ngay trên trang Báo Người Lao Động Điện tử, sau tin - ảnh “Hàng ngàn người đội nắng nhận thức ăn nhanh, giành giật đồ chơi”, đã có hàng trăm lượt bạn đọc gửi ý kiến bày tỏ sự búc xúc lẫn xấu hổ. “Dân mình bị cái tham vặt nó làm cho khổ! Không phải quá nghèo, quá đói hay quá thèm mà chỉ tại quá tham mà phải tự làm khổ mình, phải giành giật. Nhiều lúc cái mình nhận chẳng đáng là bao so với cái giá mà mình phải trả. Lòng tự trọng của mình đâu rồi?” - bạn đọc Dung Nguyen viết.

Bạn đọc Duy Tuấn chua chát: “Chờ đợi, chen lấn, phơi mặt giữa nắng, hít khói xe, cãi nhau..., chỉ để được miếng ăn thôi sao? Nhiều người cũng kiên nhẫn thật. Nếu làm việc mà được tinh thần chịu khó, chịu khổ như thế này thì dân ta chắc giàu to”.

Bàn về vấn đề trên, PGS-TS Huỳnh Văn Sơn, Phó Chủ tịch Hội Tâm lý học xã hội Việt Nam, phân tích rõ ràng một số người cần nhìn lại chính mình vì đó không phải là chuyện cá nhân mà còn là hình ảnh xã hội. “Những cá nhân gặp khó khăn có thể cảm thông khi họ là những người cần được giúp đỡ. Tuy nhiên, những người khác cần xem lại bởi những đua đòi, những hành vi thiếu kiểm soát đã vô tình cổ xúy cho những hành động quảng cáo thiếu nhân văn” - ông Sơn nói.

Do giáo dục mà nên

Cho rằng cái gốc vấn đề là giáo dục, TS Hoàng Kim Oanh, nguyên Phó Chủ nhiệm Khoa Giáo dục tiểu học Trường ĐH Sài Gòn, kể ngày bà còn bé, mỗi khi ai đem đến biếu tặng miếng ngon vật lạ gì, nếu cha chưa cho phép, dẫu có dỗ dành thế nào chị em bà không ai dám nhận, dám lấy ăn.

“Ba tôi luôn nhắc: “Miếng ăn là miếng tồi tàn”. “Miếng ăn” chỉ tạo được sự thỏa mãn nhất thời mà không để lại tác động dài lâu trong việc hoàn thiện tâm hồn. Hơn thế nữa, nó còn là đầu mối của bao tranh chấp, giành giật trong xã hội. “Miếng ăn” - vật chất rất cần cho cuộc sống nhưng nếu để bị trói buộc vào những cuộc tranh giành, chúng ta sẽ đánh mất đi những giá trị tinh thần. Nhớ những ngày trước giải phóng, trong xóm người ta rần rần kéo nhau lên kho gạo ở Bà Chiểu vác từng bao về nhà hoặc ra căn cứ hải quân Mỹ ở cầu Văn Thánh tải về bao nhiêu là đồ hộp mà quân đội Mỹ bỏ lại… nhưng nhà tôi thì tuyệt nhiên không. Ba tôi cấm. Mà chúng tôi cũng chẳng tơ tưởng… Kết quả, có người bị gạo đổ đè, có người trúng đạn nổ, chết…” - TS Hoàng Kim Oanh kể, đồng thời nói thêm đứa trẻ sẽ học được gì từ hình ảnh cha mẹ chen chân, giành giật nhau để có suất ăn miễn phí, nếu không phải hình thành trong vô thức lối suy nghĩ phải tranh giành, chen lấn, xô đẩy, nhanh chân hơn kẻ khác mới có được cái tốt hơn cho mình?

Của cho không bằng cách cho

Về cách thức tổ chức phát thức ăn, đồ chơi miễn phí của cửa hàng thức ăn nhanh này, nhiều bạn đọc cho rằng chỉ vì quảng cáo thương hiệu mà tặng quà cho khách hàng không khác gì bố thí, “quá kỳ cục”. “Cách làm này của ban tổ chức đã sỉ nhục người Việt Nam nói chung và người nghèo nói riêng. Sao không đem đến trung tâm hoặc thuê địa điểm rộng có đội ngũ phát quà để không ai phải chờ quá 3 phút?” - bạn đọc Khang viết.

“Của cho không bằng cách cho”, nếu muốn làm từ thiện hay chỉ lợi dụng sự kiện để quảng bá thì cũng cần lịch sự hơn, văn minh hơn.

Trong vòng tay của ngã

Ngồi buồn mà trách ông xanh
Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười.
Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.
Giữa trời, vách đá cheo leo
Ai mà chịu rét thời trèo với thông.[1]

Nguyễn Công Trứ ngán ngẫm kiếp người đến nỗi chỉ muốn làm cây thông vào kiếp sau. Cuộc đời con người đáng chán đến như vậy sao?

Bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật há không nói đời là bể khổ?

Trong Thánh kinh, khi trục xuất Adam và Eve ra khỏi thiên đường, Đức Chúa Trời chẳng phải đã phán rằng: “… Tu enfanteras dans la douleur…A la sueur de ton front, tu gagneras ton pain". (…Ngươi phải cực nhọc thật nhiều khi thai nghén, lúc sinh con…Ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời người mới kiếm được miếng ăn từ đất ra. Ngươi phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn).[2]

Mọi người ai cũng đồng ý, nếu đời không là khổ thì đứa trẻ sơ sinh đã không mở mắt chào đời bằng tiếng khóc oe oe. Người đàn bà mang nặng đẻ đau, đôi khi còn bỏ cả mạng sống và người đàn ông thì phải vất vả lao động để gánh vác gia đình, đôi khi đến hết cả cuộc đời, chưa kể còn gánh vác luôn cả nhà vợ, họ hàng thân thích, con cháu!

Hãy thử nhìn lại từ đầu khi con người cất tiếng khóc chào đời. Trong những năm tháng đầu đời thì chắc chắn đứa bé chẳng hiểu gì về mình và cuộc đời, có khóc chăng cũng chỉ là những phản ứng tự nhiên của các hiện tượng sinh vật lý, vì đói, vì khát, vì đau, vì nhức, vì nóng, vì lạnh… Rồi dần dà theo ngày tháng, nhờ vào các giác quan mà thấy và nhận ra hình ảnh, nghe được âm thanh, ngửi được mùi, biết được vị của thức ăn, có cảm giác dễ chịu khi được hôn, được vuốt ve âu yếm, và cái trí nhỏ bé cũng bắt đầu biết, nhận ra, phân biệt, tích lũy trong trí nhớ các sự vật chung quanh, những người chung quanh, người quen, người lạ, kèm những phản ứng không đồng đều, vui mừng, sợ hãi, thích thú, không thích thú, khó chịu, dễ chịu…

Đứa bé đã bắt đầu biết có mình và người khác quanh mình. Kêu tên nó thì nó nhận ra là nó. Nếu không kêu đúng tên nó thì nó cũng biết là không phải mình.

Chỉ cần một khoảng thời gian từ một năm tuổi cho đến hai tuổi trở đi là đứa bé con hoàn toàn nhận thức mình là ai, tên gì, trai hay gái, ai là cha mẹ mình, anh chị em mình, nhận biết các thứ đồ vật, cái này là gì, cái kia là gì, và biết giành giật với các chúng bạn, đồ chơi này là của tôi, tôi thích cái này, không được lấy đồ của tôi... Khái niệm “của tôi ” thật rõ rệt.

Trong cái đầu óc non nớt nhưng đã có đầy đủ mầm tư duy, gốc rễ của trí tuệ phát triển theo với thân hình, vóc dáng, theo thời gian.

Triết gia Descartes đã khẳng định: “Je pense donc je suis” (Tôi tư duy tức là tôi tồn tại).

Cũng nhờ cái tư duy này mà có sự nhận biết phân biệt tôi và người khác. Ý thức tôi hiện hữu với thế giới chung quanh tôi. Cái tôi liên quan, mật thiết gắn liền với xã hội.

Thời gian trôi qua, bên ngoài là cái tôi vật lý, sinh lý cao lớn dần thì bên trong, cái tôi tinh thần, tâm lý, tâm linh, là cốt lõi của ý thức cũng lớn theo. Tùy môi trường sinh sống, tùy sự hấp thụ giáo dục, tùy ảnh hưởng của xã hội, người chung quanh mà cái tôi này khác với cái tôi kia. Cho dù cùng sinh trong một môi trường, cùng hấp thụ một nền giáo dục, cùng chịu chung ảnh hưởng của một xã hội nhưng cái tôi nào cũng là một cá thể hoàn toàn khác biệt.

Từ những nhận thức hay ý thức đơn giản nhất, cái tôi bỗng thành hình thật vững chắc, với những nhận thức hay ý thức càng ngày càng phức tạp.

Cái tôi không chỉ là biết đi, biết ăn, biết nói, biết ngủ, biết thức… Cái tôi còn biết vui biết buồn, biết giận, biết hờn, nghĩa là đủ thứ hỷ nộ ái ố.

Nhà Phật thì tóm gọn vào ba tánh xấu căn bản tham, sân, si. Tham là lòng muốn, muốn sở hữu, muốn là của tôi, muốn thuộc về tôi, muốn chiếm đoạt, muốn có, muốn được, muốn thỏa mãn “ý muốn” của tôi. Từ cái muốn này mà không biết tự chủ thì gây ra vô số phiền toái, lầm lỗi, từ lỗi nhỏ có thể thành lỗi to, từ ăn cắp vặt có thể trở thành tướng cướp, giết người cướp của không gớm tay, vì muốn chiếm đoạt người mình yêu mà có thể không ngần ngại giết chết tình địch… Tai họa của tham không nhỏ.

Sân là lòng tức giận, không bằng lòng, không vừa ý, không thỏa mãn, không có, không được, không đúng như những gì cái tôi mong cầu, ao ước, chờ đợi thì sẽ nổi lên lòng tức tối, giận hờn, buồn phiền thậm chí mạnh mẽ hơn nữa thì trở thành thù ghét, oán hận. Từ đó cũng có thể tạo ra những mối thù “không đội trời chung”, đưa đến bạo lực, tàn phá, giết hại… Tai họa đem lại từ cái sân thành hận này cũng không nhỏ. Si là mê mờ, ngu si, không trí tuệ, tư duy sai, lệch lạc với đạo đức, lẽ phải, phép tắc hay luân lý. Và hậu quả của si cũng vô cùng nguy hiểm, có thể dẫn đến bạo lực, chết chóc. Chỉ cần suy nghĩ không đúng thì sẽ hành động không đúng và tất yếu là hậu quả cũng không đúng.

Nơi cái thân hình bé nhỏ chứa đựng một cái tôi bé nhỏ và đang lớn dần với thời gian, thì chuyện gì cũng có thể xảy ra. Thiện cũng như ác. Cho dù “Nhân chi sơ tánh bổn thiện”[3], nghĩa là bản tánh con người sinh ra vốn đã thiện. Nhưng vì “Tánh tương cận, tập tương viễn”[3] nên con người có thể không còn thiện nữa vì thói quen tật xấu làm cho xa rời cái bản tánh thiện của thuở ban đầu.

Điều này cho thấy ảnh hưởng của môi trường sinh sống, giáo dục và xã hội thật quan trọng.

Chúng ta đang ở vào thế kỷ thứ XXI và dường như mọi sự việc vận hành với một tốc độ thật nhanh, quá nhanh. Một đứa trẻ 10 tuổi cũng có điện thoại cầm tay, có IPad và lướt trên mạng tài tình hơn cả người lớn, tuyệt nhiên là vượt xa người…già, nếu người già không chịu hiện đại hóa kiến thức và đời sống.

Chúng trẻ này hiểu nhiều, hiểu sớm, hiểu nhanh và cũng từ đó, nảy sinh ra rất nhanh chóng ý thức về một cái tôi rất đồ sộ “tôi hiểu hết, tôi biết hết, tôi làm được hết”. Dạy dỗ một đứa trẻ thời đại này thật khó hơn xưa nhiều lắm.

Cái tôi sinh vật lý và cái tôi tinh thần, tâm lý đã thành hình và lớn lên rõ rệt, mang một khuôn mặt, một cái tên, một cá tính, một phong cách.

Từ cái ý thức đơn giản nhận biết có người khác và có mình, nảy sinh cái tham muốn: cái này là của tôi, cái này phải thuộc về tôi, tương tự như cái ý thức đem thức ăn về nuôi dưỡng tấm thân, ý thức của bản năng, của sinh tồn, sẽ xuất hiện cái ý thức Tôi là. Cho dù ý thức này đã có từ ban đầu nhưng nó rất tiềm tàng và chỉ rõ rệt dần dà với thời gian cùng với sự trưởng thành của cả hai phần tâm sinh lý.

Khi cái ý thức Tôi là bắt đầu hoạt động thì tất cả mọi chướng ngại, phiền toái dường như cũng bủa đến.

Như một giòng sông đang trôi chảy tự nhiên “đói ăn, mệt nghỉ”[4] bỗng bị chặn lại bởi muôn vàn con đê. Những con đê của định kiến, kiến chấp. Tôi là tôi. Tôi không là anh, không là chị. Tôi không thể làm như anh, không thể làm như chị, không chấp nhận như thế này, không chấp nhận như thế kia, việc đó phải là như thế này, không thể như thế kia… Nhiều vô tận không thể kể hết. Tất cả cũng bởi vì Tôi là. Tôi là như vậy, không thể khác.

Ý thức này chắc chắn như núi đá. Một sự tự tin mạnh mẽ không gì làm lay chuyển.

Cùng xuất hiện với ý thức Tôi là này là ý thức về các giá trị nơi bản thân. Tôi đẹp, tôi thông minh, tôi tài ba và cũng có thể ngược lại, tôi xấu xí, tôi ngu si, tôi không ra gì…Tùy theo đó mà cái tôi có thể trở thành tự cao, tự mãn hay tự ti mặc cảm. Cái tôi tự tôn hay cái tôi tự ti đều đem lại khổ đau và phiền toái cho chính bản thân.

Ý thức về tôi, sự hiện hữu của cái tôi, tôi là, dễ dàng kéo theo tính ích kỷ. Ít có suy nghĩ nào mà không quy về mình trước. Tôi phải ăn để nuôi cái thân của tôi trước, tôi phải làm để cho tôi đươc hưởng trước, thỏa mãn tôi trước, tôi muốn như thế này bởi vì lợi cho tôi trước, hại cho ai thì dường như tôi không cần biết đến... Vừa tự tôn mà vừa ích kỷ có thể không ngần ngại chà đạp kẻ khác, xem như hàng nô lệ, tôi tớ những kẻ không may, thấp kém hơn về tinh thần lẫn vật chất.

Từ cái tôi tự cao cũng dẫn đến sự tự ái. Mà tự ái có nghĩa là thương mình, cũng bắt nguồn từ cái tính ích kỷ. Vì thương mình, chỉ nghĩ đến mình trước nên dễ dàng thấy mọi chuyện dường như đều đụng chạm đến mình, đến cái tôi và cần được bảo vệ tối đa, như thế là có phản ứng ngay để tự vệ. Sự tự ái thường làm mù nhận thức phải trái, đúng sai, chỉ thấy một điều duy nhất là cái tôi đang bị tổn thương. Cái tôi đang bị chỉ trích, phê bình, đánh giá. Đó có thể là một mối đe dọa lớn cho tên tuổi, địa vị, gia tộc, nghề nghiệp… của tôi. Tôi có thể vùng lên gào thét như một con hổ.

Cái tôi tự cao này thì rất khó mà nhận lỗi, nhất là với những ai có địa vị cao hay danh tiếng, ngược lại cái tôi tự ti thì lại dễ nhận lỗi dù mình chẳng có lỗi gì!

Cái tôi tự tin thì dễ thành công, thành đạt. Cái tôi tự ti thì dễ nản chí, thụt lùi. Cái khó là giữ được mức trung dung, quân bình. Khổng Tử dạy đạo Trung dung, biết tiết chế, điều phục mình để giữ hòa khí ở đời. Phật cũng dạy Trung đạo, con đường tránh hai cực đoan, dù đích thực là nói đến hai cực đoan của người xuất gia: hoặc là buông theo dục lạc, hoặc là ép mình khổ hạnh. Cũng như tránh cực đoan chấp có chấp không. Nhưng rồi cụm từ Trung đạo này trở thành thông dụng, áp dụng cho người đời, được hiểu như là một thái độ sống dung hòa, hành động gì không thái quá, không cực đoan.

Khổng giáo xem trọng cái tôi có tình, có nghĩa, hợp với lẽ Trời: dân biết kính trọng, tuân thủ vua, quan, con cái hiếu thảo với cha mẹ, sống thuận hòa, vợ chồng, con cái, có trên có dưới, có trật tự, có luân thường đạo lý, xã hội có kỷ cương, con người biết sống hợp với thời thế, biết giữ gìn khí tiết, biết điều hòa âm dương…

Lão giáo chủ trương xem cái tôi như không có, không hiện hữu thì mới có thể đồng nhất với vũ trụ, như vũ trụ thì hòa nhập vào đạo. Cuộc sống mới thật sự là cuộc sống đúng nghĩa, không gì ngăn ngại làm khổ đau.

Phật giáo giúp con người thoát khổ bằng cách nhìn thẳng vào bản chất thật của cái tôi hay ngã là không thật, là vô thường, không thường còn mà biến chuyển, hợp rồi tan, tan rồi hợp tùy theo nhân duyên cả. Vì bản chất của cái tôi là không chắc thật, không thường hằng, bám vào thì chỉ có tự mình rước khổ. Rũ bỏ cái ngã này, trong Phật giáo, cũng là một trong những pháp môn tu tập để giải thoát.

Thiên Chúa giáo chẳng thường dạy: Nước Chúa dành cho những ai có lòng khiêm hạ và tinh thần nghèo khó ư?[4]

Ngã, chữ Hán, có nghĩa đơn giản là tôi, không gì khác hay phức tạp hơn cả. Song khi muốn đề cập đến những cái “bịnh” liên quan đến cái tôi thì chúng ta thấy thường chỉ dùng các từ Hán Việt như ngã chấp, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái. Và tự nhiên khi dùng đến chữ ngã thì chúng ta liên tưởng đến ngay những cái bệnh vấp phải của cái tôi.

Một cái tôi thuờng hằng, bất diệt, một cái tôi khổng lồ đồ sộ, một cái tôi hiện diện bất cứ ở đâu dù ở đó tôi không có mặt, không ai thấy tôi, dù tôi không thức, tôi ngủ, nhưng cái tôi không thể ngủ, cái vô thức của cái tôi vẫn làm cho tôi hiện hữu, không hề có gián đoạn. Trong mơ, đôi lúc tôi lại thấy tôi càng rõ hơn cả thức, lúc mở mắt to vào ban ngày. Thậm chí tôi cũng có thể vươn dài, với tới cái chẳng phải là tôi (le faux moi) được xem như tôi bởi cùng vui, cùng buồn, cùng lên xuống thăng trầm với cái tôi không thật này. Đó là trường hợp của những tín đồ “fan” ngưỡng mộ thần tượng của mình. Đó có thể là những tài tử xi-nê, ca sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ, văn sĩ, siêu mẫu, siêu nhân, anh hùng dân tộc, cầu thủ đá bóng, vô địch thể thao...

Chữ ngã nói lên được tất cả những đặc tính và hoạt động của cái tôi.

Bắt đầu từ đây chúng ta sẽ làm quen với ngã. Ngã có đủ khuôn mặt: trang nghiêm, lễ độ, trịnh trọng, khiêm cung, dịu dàng, hòa ái… cũng như vô phép tắc, kiêu căng, cuồng ngông, hài hước, châm biếm, thô tục, lỗ mãng… muôn hình vạn trạng, kể không thể hết.

Ngã có nhiều cách hiện diện. Có khi đường đường chính chính. Đưa cái mặt ra mà ai cũng thấy. Có khi không ra mặt mà ai cũng thấy!

Ngã đã có mặt tự khi con người được sinh ra song ngã không được nhắc đến nếu không phải là “con của Trời’’, nghĩa là vua, hoặc là đấng thay mặt Trời, thay mặt Thượng đế, như Chúa Giê Su, hoặc là các đấng tiên tri, các bậc đại hiền đại thánh như Phật, như Khổng, như Lão, hoặc các vị cứu tinh, anh hùng dân tộc.

Cái ngã của kẻ phàm phu tục tử, của thường dân thì không ai nói đến. Hạng này chỉ biết cúi đầu kính phục các bậc cao trọng hơn mình.

Qua lịch sử, văn học, nghệ thuật chúng ta khó kiếm ra dấu tích của phàm phu tục tử, dường như không có gì đáng nói. Được nhắc đến chỉ là những vị siêu nhân, siêu đẳng với các thành tích, lập công hay đức hạnh đáng tôn kính, đáng noi theo của các “Ngài”.

Từ thời cổ đại qua đến trung đại và rồi chỉ có thời hiện đại thì cái ngã của phàm phu tục tử mới bùng nổ, vùng lên như núi lửa phực cháy.

Trong văn chương, thi ca, hội họa, âm nhạc, hay kịch nghệ chúng ta đều nhận thấy sự bùng nổ của cái ngã phải trải qua rất nhiều giai đoạn. Và tất cả các phong trào hầu như đều dính líu, ảnh hưởng qua lại. Âm nhạc, hội họa, kịch nghệ đều dựa trên thi ca, văn chương để tìm cảm hứng. Thi sĩ người Đức, Geothe, đã cung cấp những vần thơ tuyệt diệu cho các bài Lied nổi tiếng của Schubert, Schumann, Brahms… Các thi sĩ, nhà viết lời cho nhạc kịch như Monteverdi, Metastasio, Boito đều viết lời cho Mozart, Scarlatti, Handel, Verdi… Những bản Préludes của Lizst đều có phụ đính thơ của Lamartine. Bản “ Prélude à L’après midi d’un faune” của Debussy thì dựa trên một bài thơ của Mallarmé.

Từ thời xa xưa nhất, hầu như từ Tây sang Đông, âm nhạc chỉ mang tính cách tôn giáo, phục vụ cho nhu cầu tôn giáo của con người, đó là loại nhạc Lễ, nhạc Phụng tự (liturgical), nhạc hỗ trợ cho các nghi lễ tôn giáo, nhà thờ, chùa chiền. Loại nhạc này được giữ gìn như một kho tàng quý giá. Trong dân gian thì chỉ có các bài hát rong, hát ru con, các điệu hò của các tác giả vô danh và chỉ được truyền miệng.

Trong âm nhạc Tây phương, cho đến thời cận đại, âm nhạc vẫn còn mang màu sắc tôn giáo mạnh mẽ, bởi một lẽ dễ hiểu là các nhà soạn nhạc phần đông sống được là nhờ vào sự bảo trợ tài chính của Giáo hội. Thử nghe nhạc của Bach, chúng ta thấy ngay tính chất tâm linh hiển hiện trong đó, ngược lại với Beethoven, mở đường cho dòng nhạc lãng mạn thì chúng ta cảm nhận ngay những cảm xúc riêng tư, cá nhân, sáng tạo đầy cá tính, được thể hiện một cách mạnh mẽ, tiếp đến là Schubert, Berlioz, qua đến Chopin được xem như là thượng đỉnh của dòng nhạc này. Qua nghệ thuật, nhờ nghệ thuật, cái ngã trở nên siêu việt. Cái đẹp của ngã là cái đẹp đáng yêu, đáng trân quý, bởi nó đã thăng hoa, trở thành mỹ, cùng đứng ngang hàng với chân và thiện.

Trong hội họa thì có quá nhiều trường phái từ Tân cổ điển cho đến Pop Art, phải trải qua nhiều giai đoạn mới thấy sự bùng nổ của ngã, làm nổi bật hoàn toàn cá tính riêng biệt của mình khởi đều từ trường phái Hậu Ấn Tượng với Van Gogh, rồi từ từ xuất hiện những khuôn mặt nổi bật như Picasso, Braque của trường phái Lập Thể và Dali với trường phái Dada. Lại tiếp tục với các truờng phái mang tính khiêu khích cao độ, tính đập phá, phủ định, đề cao chủ nghĩa hư vô, chống lại nghệ thuật, nghệ thuật phi nghệ thuật. Cái ngã càng ngày càng lớn mạnh.

Thử ngắm và so sánh La Joconde của Leonard de Vinci, thế kỷ thứ XVI với Weeping Woman của Picasso thế kỷ thứ XX, chúng ta nhận ra nàng Mona Lisa đích thực là nàng Mona Lisa mà Leonard de Vinci muốn cho chúng ta thấy, cái hồn, cái “tinh khí thần” của nàng tỏa rạng nơi bức tranh. Nhưng người đàn bà đang khóc của Picasso là người đàn bà của Picasso. Là cái ngã của Picasso hiện lên, ụp xuống nơi khuôn mặt người đàn bà được Picasso phác họa lại trong tranh. Ở đây đã biến mất cái tinh khí thần của người đàn bà, chỉ còn lại cái tinh khí thần của Picasso!

Có thể đó là lối nhìn chủ quan của người viết. Sẽ có người nói: cách vẽ của Picasso không phải là cách vẽ truyền thần. Không thể có sự so sánh. Đồng ý ở điểm này, nhưng ở đây điều mà người viết muốn đề cập đến là cái Ngã được hiển lộ rõ rệt qua nét độc đáo, cá tính riêng biệt, phong cách đặc thù của sự sáng tạo.

Cái ngã bắt đầu phát triển trong thơ ca lãng mạn là đề cao sự sáng tạo, tự do cá nhân, phá bỏ lề luật, ràng buộc với quy luật, hình thức. Phong trào Tượng trưng đi xa hơn nữa và quan niệm thi ca là giải phóng ngôn ngữ. Ngôn ngữ được sáng tạo hoàn toàn mới, xa lạ với ngôn ngữ thông thường. Cái ngã cũng không dừng ở đó, nó lôi kéo vào luôn cả mộng và thực. Vô hình và hữu hình. Tỉnh táo và Điên loạn. Phong trào Siêu thực ra đời.

Có thể nói, bằng mọi giá, qua mọi hình thức, con người cần bộc lộ, cần phơi bày. Hoan hô, đả đảo, biểu tình, chống đối, đồng tình, xuống đường, và… lên đường (xung phong, làm nghĩa vụ, đấu tranh hoặc từ bỏ, xa lánh…) cho đến cả việc tuyệt thực, tự thiêu, tự hủy.

Ở đây cái ngã có một lý tưởng, một mục đích, hướng thượng, hướng thiện. Sống trong xã hội, thao thức cùng xã hội.

Cái ngã cũng có thể chẳng có một mục đích gì gọi là cao thượng mà chỉ thấm đẫm nét trữ tình, như Hồ Dzếnh:

Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé
Tôi sẽ trách, cố nhiên, nhưng rất nhẹ
Nếu trót đi em hãy gắng quay về
Tình chỉ đẹp khi tình dang dở
Đời mất vui khi đã vẹn câu thề
Thơ viết đừng xong, thuyền trôi bến đỗ
Cho ngàn sau lơ lửng với ngàn xưa.[6]

Hay Nguyên Sa:

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Thơ của anh vẫn nguyên màu lụa trắng.[7]

Cái ngã của Hàn Mặc Tử thì đã hóa dại hóa khờ:

Người đi một nửa hồn tôi mất
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ.[8]

Xuân Diệu cũng là một nhà thơ trữ tình, song cái Ngã của ông lớn và ông cũng không che giấu, kênh kiệu:

Ta là một, là riêng, là thứ nhất
Không có chi bè bạn nỗi cùng ta.[9]

Kỳ lạ, vậy mà có lúc ông lại thấy mình thật nhỏ bé:

Tôi chỉ là cây kim bé nhỏ
Mà vạn vật là muôn đá nam châm![10]

Thế rồi cái ngã của ông lại huênh hoang qua hai câu thơ:

Tôi là con chim đến từ núi lạ
Ngứa cổ hót chơi.[11]

Cái ngã của Tản Đà thật phóng túng, ông lên tận cõi trời để bán thơ mình và được trời khen (hay tự khen):

Văn dài hơi tốt ran cùng mây
Trời nghe trời cũng lấy làm hay.[12]

Cái ngã của Hoàng Cầm thấm đượm tình cảm khắng khít giữa người, thú và thiên nhiên:

Ta con chim cu về gù rặng tre
Đưa nắng ấu thơ về sân đất trắng
Đưa mây lành những phương trời lạ
Về tụ nóc cây rơm
Ta con bê vàng lạc
dáng chiều xanh
Đi mãi tìm sim chẳng chín.[13]

Cái ngã của Thế Lữ thì thong dong lãng tử:

Tôi là người bộ hành phiêu lãng
Đường trần gian xuôi ngược để vui chơi.[14]

Mỗi người đều có thể tự tìm thấy cái ngã của mình. Cũng như uốn nắn cái ngã theo ý mình muốn.

Thời gian thì vô hình, không diện mạo và chỉ biểu hiện qua các sự vật hay sự việc[15] mà cái ngã thì có một diện mạo rõ rệt, có tên, có tuổi hẳn hòi, tuy vậy mà nó cũng khi ẩn, khi hiện, đó gọi là không thực, không chân tình, giả dối, trốn tránh, khuất lấp, giấu giếm sau những lời nói, nụ cười, ánh mắt, cử chỉ…Đôi lúc vì hoàn cảnh, vì thời thế, cái ngã phải được che giấu, dẹp qua một bên, nhắm mắt, bịt tai, ngậm miệng mới mong an toàn mạng sống!

Cụ Nguyễn Công Trứ muốn trở thành cây thông cũng chỉ vì ngán ngẫm cái ngã này. Nhưng suốt cuộc đời thăng trầm của cụ, cụ vẫn luôn đứng thẳng và vững chắc như cây thông rồi.

Biết sống với thời gian là điều khó, bởi vì con người chỉ có một thời gian hạn định, phí phạm nó rất uổng. Cũng thế, sống trong vòng tay của ngã cũng là điều vô cùng khó. Ngã mà siết chặt vòng tay thì con người…chết. Chết vì kiêu căng, ngạo mạn, khinh khi, ích kỷ, hoặc là quá tham sân si ngu muội, bị người chung quanh ghét bỏ, xa lánh, tự cô lập mình, chết trong cô đơn.

Nhưng vòng tay của ngã có thể rất êm ái dịu dàng, đong đưa như võng ban trưa dưới ánh mặt trời, ru ta giấc ngủ hiền hòa. Bởi ngã chính là… ta, không ai khác và ta đã làm chủ được ngã, điều phục được ngã. Ngã chỉ còn biết nghe lời ta!

Lê Khắc Thanh Hoài

Chú thích:

[1] Cây thông, Nguyễn Công Trứ.

[2] La Bible, Ancien Testament, Génèse 3 / Kinh Thánh Cựu ước, Sáng thế ký.

[3] Tam tự kinh.

[4] Cư trần lạc đạo, Trần Nhân Tông.

[5] Kinh Thánh, Bài giảng trên núi, Tám mối phúc,

[6] Ngập ngừng, Hồ Dzếnh.

[7] Áo lụa Hà Đông, Nguyên Sa.

[8] Những giọt lệ, Hàn Mặc Tử,

[9] Hy Mã Lạp Sơn, Xuân Diệu.

[10] Cảm xúc, Xuân Diệu,

[11] Lời thơ vào tập Gửi hương, Xuân Diệu.

[12] Hầu Trời, Tản Đà.

[13] Về với ta, Hoàng Cầm.

[14] Thế Lữ tên thật là Nguyễn Đình Lễ, và cũng là Thứ Lễ. Lấy biệt hiệu là Thế Lữ, từ Thứ Lễ nói lái. Có nghĩa là người khách phiêu du cõi trần thế.

[15] Tản mạn về thời gian, LKTH.

1001 Chuyện ăn

Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời...

Tiếng Việt mình rất phong phú và rất đa dạng. Một tiếng hay một câu nào đó cũng có thể hiểu theo nhiều nghĩa, theo nhiều cách khác nhau, tùy theo địa phương (Bắc, Trung hay Nam), tùy cách nói, lúc nói và cũng tùy theo giới nào nói nữa...


Nào là hiểu theo nghĩa trắng, nghĩa đen, nào là tiếng lóng, nói theo kiểu mật khẩu cho riêng một vài người hiểu mà thôi. Đôi khi còn nói lái nữa, chẳng hạn như, khi gặp nhau nếu có ai hỏi thăm thì mình nói mình cũng vũ như cẫn (vẫn như cũ), hoặc Tết nhứt thì chúc nhau mạnh sự lòi (mọi sự lành). Một số chữ hoặc một số tên như Thu, Lan, Đức, Paul, Cự, Bắc, Đại, Mao, Dủ, Cao, Hai, Hải, Thái, Lài, Môn, Tôn, Tốt, Công, v.v…chỉ cần thêm phía sau một hai chữ khác là cái tên đẹp đẽ ban đầu kia sẽ biến thành tục tĩu hết biết luôn!

Nói lái là sở trường của dân miền Nam. Càng trẻ thì càng tếu, thì nói lái càng dữ. Đàn ông con trai thường ưa nói lái hơn đàn bà con gái. Nói lái càng tục chừng nào thì càng đã miệng chừng nấy! Khả năng nói lái chịu ảnh hưởng rất nhiều của giáo dục gia đình, của tôn giáo, của môi trường sống, và cũng tùy thuộc một phần vào cá tánh của mỗi người nữa.

Dường như não của con người có khả năng chọn lọc (sélectif) những gì nó muốn hiểu thì hiểu, những gì nó muốn biết thì biết, và những gì nó muốn nhớ thì nhớ mà thôi, còn những gì nó không cần biết đến, thì nó lờ đi quên đi. Bởi vậy, trong cuộc sống hằng ngày thường xảy ra lắm chuyện ngộ nhận, hiểu lầm, có khi cười ra nước mắt... Ông nói gà, bà hiểu vịt, là chuyện có thể xảy ra, đây chưa kể trường hợp bà nói thế để thử lòng hay để gài bẫy ông, nếu mình mà trả lời lạng quạng là có chuyện đó!

Nói vậy mà không phải vậy, nội cái chữ ăn không thôi mà đôi khi cũng là đầu mối của nhiều thứ rắc rối trong cuộc đời, ăn đôi khi cũng không phải là ăn.

Ăn để sống, chớ không phải sống để ăn, đây là câu thường được các nhà đạo đức thiệt cũng như đạo đức giả phán ra để dạy đời thiên hạ. Trâu bò, chó mèo, gà vịt chim chóc gì cũng đều phải ăn cả. Ăn thức ăn gì? Người và heo ăn đủ thứ, ăn cái gì cũng được hay là còn gọi là loài ăn tạp (omnivorous). Ở VN ngày nay, con gì nhúc nhích thì người ta cũng ăn được hết kể cả con kiến, con dế, bò cạp, cào cào, châu chấu, chuột, rắn, v.v… Chó mèo hùm beo là loài ăn thịt (carnivorous), còn trâu bò dê cừu là loài ăn cỏ (herbivorous). Ăn không no được gọi là ăn đói, còn ngược lại là ăn no.

Ăn cũng biến thái theo thời gian và không gian. Thời ăn lông ở lỗ, người ta ăn những loại thức ăn ít cầu kỳ hơn ngày nay, và cách biến chế các món ăn cũng khác hơn và đơn giản hơn.

Đồ ăn mỗi nước mỗi khác. Cách nấu món ăn mỗi nhà cũng mỗi khác, và ít có bà nào chịu tiết lộ thật tình bửu bối làm món ăn của mình cho các bà khác biết, vậy có hỏi nhau cũng vô ích mà thôi, có ai nói thiệt đâu mà ham!

Bình thường thì có ba bữa ăn chính trong ngày, ăn sáng còn gọi là ăn điểm tâm hay ăn lót lòng, ăn lót dạ, kế đến là ăn trưa và chót là ăn chiều. Có người còn chơi luôn một bữa ăn tối, ăn khuya nữa! Cuối tuần mình muốn đổi gu, thì đi ăn cơm Tây, ăn cơm Tàu, ăn Dim Sum, còn làm biếng ở nhà thì ăn cơm tay cầm (nghĩa là cầm ổ bánh mì để ăn) hoặc có gì ăn nấy.

Ăn ngon hay ăn dở cũng tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: thức ăn ngon, lúc ăn ngon, chỗ ngồi ăn ngon và phải có người bạn tri kỷ cùng ăn mới ngon. Đói bụng thì ăn cái gì cũng ngon hết. Thỉnh thoảng, mình nổi hứng đi ăn cơm tiệm lạ miệng cũng thấy thích hơn là ăn cơm nhà hoài. Có cha còn bảnh hơn, ăn cơm nhà hoài ngán quá, lại tìm đủ cách để đi…ăn phở (ý nói là đi ăn vụng, mèo mỡ), bị bà nhà bắt buộc phải ăn cho đủ ba chén cơm nhà rồi mới thả ra cho đi ăn phở, thế thì kẹt quá xá vì còn bụng dạ đâu mà tính tới chuyện đớp phở nữa... Còn nếu bạn có ăn phở (thứ thiệt) thì sau khi đã xơi gần xong, hãy thử bỏ thêm chút cơm nguội (đã để trong tủ lạnh một ngày) và tiếp tục ăn tiếp xem sau, vì có nhiều người rất thích kiểu nầy.

Nếu phạm tội bị nhốt nằm khám ở Việt Nam, thì đành phải ăn cơm tù chán phèo và đói meo. Các thầy trong chùa có khi chỉ ăn ngọ hay ăn trưa mà thôi. Các nhà sư Thái Lan thuộc tiểu thừa, mỗi sáng phải ôm bình bát đi khất thực (xin ăn), đồ ăn mặn, đồ ăn chay hay ăn lạt các thầy đều hoan hỷ nhận hết... Ở trong chùa, sau lễ Phật thì cúng vong, mình ở lại ăn cơm chùa, khỏi phải trả đồng xu cắc bạc nào cả, nhưng mà cũng nên bỏ chút đỉnh tiền công đức tùy hỷ vào thùng cúng dường để chùa khỏi bị khánh tận sạt nghiệp khiến các thầy bị mất jobs hết!

Có người ăn bằng đũa, có người ăn bằng muỗng nĩa, nhưng cũng có người chỉ bóc thức ăn bằng tay như người Ấn độ vậy. Hình như họ chỉ sử dụng có tay mặt để bóc đồ ăn mà thôi, còn tay trái thì dành để rửa hay để chùi đ… Có người ăn lấy ăn để vì đói và cũng có người ăn no rồi mà vẫn phải ăn nữa để cho người khác được vui lòng. Có người ăn vì xã giao, rồi cũng còn có người ăn bằng con mắt, thí dụ như khi đọc được một quyển sách hay, người ta còn gọi đó là món ăn tinh-thần!

Về cá tánh, có người thì ba hoa chích chòe hay nổ dữ lắm, có người thì ba xạo, cương ẩu hết biết, ăn to nói lớn, bạo ăn bạo nói, không ngán sợ, không nể nang ai hết!

Lại có người bị ăn loi, ăn dao, ăn búa vì cà chớn quá hay đi giựt đào, hay đi gù vợ người khác! Còn có người hay ăn lạp xạp tối ngày để cho bớt sự buồn chán…

Con nít đẻ ra, tháng đầu tiên thì ăn đầy tháng, được tròn 12 tháng thì ăn thôi nôi, bắt cục sôi hay cây viết thì biết sau nầy nó sẽ làm nghề gì (không chắc lắm!), cùng lắm thì cũng được ăn queo phe (tiền trợ cấp xã hội) nếu sống tại Âu Mỹ. Thời buổi văn minh, mỗi năm trẻ em đều được ăn lễ sinh nhật của mình, lãnh ca đô cả đống, nghĩ lại tủi thân phận mình vì hồi nhỏ tui có bao giờ được ăn sinh nhật của tui lần nào đâu, chỉ có đi ăn đám giỗ, ăn đám ma hay ăn đám cưới của người khác không hà!

Theo phong tục VN, mỗi năm đều có nhiều ngày lễ cho người sống và cho cả người chết, thường thì những ngày lễ kỷ niệm nầy là những dịp để cùng nhau ăn nhậu cho thỏa thích. Truyền thống nầy rất hay, cũng là dịp mà anh em, bà con, họ hàng bạn bè gặp nhau một năm một lần để tâng bốc, tâm sự và có khi cũng để tuôn trút ra những chuyện gia đình luôn thể!

Mua nhà mới thì phải ăn khao, ăn mừng làm tiệc ăn tân gia cho nó le, trước để nhận quà sau là để khoe của với người ta cho nó xôm tụ. Sau đó, thì hai vợ chồng phải méo mặt ngày đêm ra sức kéo cày sạt gạch trong cả chục năm mới đủ tiền trả nợ thế chấp mọt ghê (mortgage)!

Theo văn chương Cầu Muối, thì ăn được xếp hàng đầu trong tứ khoái, đó là ăn, ngủ, ậy và ể…đây phải nói rõ là chuyện đớp hít ăn ngon, ăn sướng, ăn cho đã miệng mà thôi, tuy nói vậy chớ bốn cái tứ khoái nầy đều quan trọng như nhau và có thể thay đổi thứ tự tùy theo hoàn cảnh, theo tuổi tác và theo sức khỏe của mỗi người nữa... Hồi trẻ thì tứ khoái rất mạnh, càng về già nó càng giảm đi lần lần để rồi tịt ngòi luôn. Bốn cái đó có hanh thông thì mới sống được, chớ nếu có một cái bị trục trặc là có chuyện đó. Các nhà đạo đức thiệt cũng như đạo đức giả, các nhà ba phải và các tôn giáo lớn thường hay khuyên con người cần phải kềm chế (control) ăn, ngủ và ậy, còn lại món ể thì họ tha cho, không dám đá động gì đến nó hết vì đây là luật tạo hóa có vô thì phải có ra. Đối với các nhà sư Phật giáo và các linh mục Công giáo, nếu tu hành thật sự chính chắn thì họ cần phải giữ giới, không có quyền nghĩ tới cái vụ kia, phải cố gắng diệt dục để mau được đắc quả lên Thiên Đàng hay Niết Bàn gì đó.

Ai cũng phải ăn hết, con nít đẻ ra 6-7 tháng răng cỏ vừa chốm nhú ra là bắt đầu ăn rồi. Bạ gì ăn nấy. Nếu cháu thình lình yếu ăn thì chắc bị bệnh hoạn gì đó... Con người ta ăn suốt cuộc đời, đến già răng cỏ rụng hết, trồng hay gắn răng giả vô ăn tiếp. Đến khi ăn không nổi, hết muốn ăn nữa, nuốt không vô, thì con cháu chở tía vô giao cho nhà thương lo. Người ta đút ống vô bao tử để bôm thức ăn, đút ống vô lỗ mũi cho tía thở, đút ống vô chim cho tía đé, nhét vaseline vào lỗ đ.. cho trơn để tía ể cho dễ. Người tía toàn là dây nhợ và ống không hà, thấy tội lắm, tía càng ngày càng ốm nhom ốm nhách chỉ còn da bọc xương như bộ xương cách trí mà thôi. Ngày nầy qua ngày nọ, tía nằm đó thoi thóp, ngáp ngáp mà hồn tía ở tận đâu đâu. Tía ơi, ngoài kia vòng tử sinh Samsara đang chờ đón tía đó!

Ngày xửa, ngày xưa, có một thi sĩ bất cần đời, đã nói “thu ăn măng trúc, đông ăn giá, xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao, rượu đến gốc cây ta sẽ nhấp, nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”. Sống kiểu nầy sao giống đi vacation vậy cà. Nhưng đây là sống theo kiểu thiền, sống nhàn hạ, gần gũi với thiên nhiên, quả là hạnh phúc quá rồi, ganh đua làm chi cho khổ cho mệt, nhưng ngày nay thử hỏi có mấy ai thực hiện được như thế đâu!

Mỗi lần có họp hành gì, thì có người ăn nói rất là hay, giỏi chỉ trích, giỏi nói hơn giỏi làm, chắc là hội viên của tổ chức NATO (no action talk only) quá... Họ thuộc vào hàng giám đốc (đốc xúi người khác) hết chớ chẳng phải chơi đâu!

Hồi còn nhỏ mình thích chơi nhà chòi, nấu cơm ăn giả. Cũng có vài trò chơi mình chơi ăn thiệt, như đánh bài, đánh cờ chẳng hạn. Ăn thua không quan trọng, miễn sao được vui là đủ rồi. Có khi cũng chơi ăn gian, gây lộn, ăn thua đủ với nhau rồi cũng huề cả làng mà thôi. Ăn nhằm gì ba cái lẻ tẻ đó!

Có nhà có cửa vẫn hơn là ăn bờ ngủ bụi, ăn nhờ ở đậu, ăn dầm nằm dề nhà người khác bị chủ nhà chửi là thứ đồ ăn bòn, thứ đồ ăn hại... Kẻ ăn người ở trong nhà, được chủ giao cho đi chợ, thì có khi cũng ăn lời, kiếm chút đỉnh anh hai để ăn quà, ăn vặt…

Đi ăn cưới, thì lúc nào cũng bắt đầu bằng mấy món ăn chơi, sau đó rồi mới tới mấy món ăn thiệt, sao không thấy mấy món ăn giả đâu hết. Nhưng ngược lại, thì những lời đẩy đưa giả dối đầu môi chót lưỡi không thiếu gì. Lúc ăn, thì có người ăn nói tía lia, gắp xỉa lung tung lia lịa như ở nhà vậy. Cũng có người ăn nói rất bạt mạng bạo gan, nổ dữ lắm để bắt le, hay châm biếm, xỏ ngọt, ăn ốc nói mò, ăn có nói không, chê bai người nầy, kích bác người khác, móc lò người nọ, khoe mình, khoe của, khoe con, hình như chỉ có một mình họ là ngon lành, là chân lý còn tất cả người khác là đồ bỏ, là cỏ rác hết mà thôi! Người cùng bàn nếu yếu bóng vía, thì sân si sẽ sôi lên sùng sục, ăn hết ngon. Có người thì chẳng chịu thua chịu lép một ai, nên ăn miếng trả miếng khiến không khí trên bàn tiệc trở nên căng thẳng quá xá quà xa.

Ông già bà cả thường hay nói, ăn coi nồi ngồi coi hướng, không được ăn lấy ăn để, đó là muốn dạy chúng ta khi ngồi vào bàn ăn, phải đàng hoàng dòm trước ngó sau cho đúng phong cách của người lịch sự, biết kính trên, nhường dưới... Miếng ăn là miếng tồi tàn, ý muốn nói cũng đừng vì một miếng ăn mà phải bán rẻ nhân phẩm của mình.

Trong nhiều gia đình cũng vì giành ăn mà anh em phải xích mích nhau, kiểu chị ăn cá em mút xương, chị ăn kẹo em mút cây, v.v…xảy ra không thiếu gì, có khi máu sân si nổi lên dám nói lẫy là: nè, lấy đi, ăn dọng gì ăn đi! Lại có gia đình thì đời cha ăn mặn đời con khát nước, thì cũng đúng với quy luật thường tình của tạo hóa mà thôi, giống như là câu giận cá chém thớt hay cha làm con chịu vậy!.

Nhà ăn tập thể là nơi công nhân xí nghiệp vào đó để dùng bữa. Ham ăn hốt uống là chỉ những hạng người du thủ du thực chỉ biết có ăn mà thôi, ngoài ra các thứ khác đều không quan trọng. Ăn cỗ thì đi trước còn lội nước thì đi sau, khôn thấy mẹ! Có người ăn ở bất nhơn thất đức, nhưng ngược lại cũng có người ăn hành ở liền (ăn hiền ở lành)...Ăn đồng chia cho đủ để tránh gây gổ với nhau.

Ở thôn quê, người ta ăn nói mộc mạc như ăn dằn bụng ba hột cơm rồi hãy ra đồng mần việc! Còn mấy bà già trầu thì hay rủa mấy cậu thanh niên...“bộ tụi bây ăn phải đồ dơ của ai hay sao mà ngu quá vậy”... Hèn chi, đời mới có lắm kẻ ngu như thế nầy! Nói vậy, thì đàn ông con trai Tây Mẽo và VN ở thời đại văn minh bi giờ đều ngu hết hay sao vậy cà?

Ngày nay, càng ngày càng có nhiều giới trẻ, thường từ bỏ nông thôn ruộng vườn vừa cực nhọc mà lại cũng vừa lâu ăn huê lợi được, hoặc không có công ăn việc làm vững chắc,. họ mu lên thành thị để sống khỏe hơn, dễ kiếm việc làm, có khi làm ăn công, làm gì cũng được, có làm có ăn, có ít ăn ít có nhiều ăn nhiều, mà lại mỗi đêm còn có em út bia ôm, cà phê ôm, karaoké ôm nầy nọ, cho đời thêm hương chẳng thua gì các đại gia, sướng lắm.

Có đói bụng thì ăn lai rai vài cái bánh tráng mè dằn bụng cho chắc ăn, chờ cơm chín rồi mới ngồi vô bàn. Sau những ngày mần việc mệt nhọc, cuối tuần bọn nình ông hay tụ họp ăn nhậu với nhau, nhưng họ hổng thích có nình bà con nít xía vô ăn vã phá mồi.

Tại các xứ Tây xứ Mẽo, đi làm thêm ngoài giờ quy định thì được ăn tiền phụ trội, tiền súp (supplémentaire), hay tiền ô quờ thêm (overtime), một giờ tính bằng một giờ rưỡi, hoặc bằng hai giờ. Khi bị mất việc, thì được ăn tiền thất nghiệp, về hưu thì ăn tiền hưu trí đến lúc già thì ăn tiền già, không có việc làm thì mình có quyền ăn tiền xã hội. Nếu bạn là công chức, nếu lỡ chết thình lình, thì bà xã được ăn tiền tử (death benefit), rồi còn ăn tiền bảo hiểm nhân thọ nữa cũng đủ để vợ con trang trải chi phí tang lễ, hay hỏa táng, bạn khỏi phải lo lắng thắc mắc làm chi, cứ yên tâm nhắm mắt mà...đi đi để người ta còn có thì giờ tái giá!

Trên bàn ăn, nên ăn miếng nhỏ, ăn nhỏ nhẹ, ăn xong rồi hãy nói, xỉa răng phải che để khỏi văng tùm lum làm mất thẩm mỹ thấy ghê quá chừng! Đi ăn buffet, nên lấy vừa đủ ăn, ăn cho nó lỗ chỉ khổ cho cái bụng mình, ăn hết mới đi lấy nữa, lấy nhiều ăn không hết bỏ tội chết đi!

Ở xứ mình, thời nào cũng có tệ nạn con ông cháu cha cocc, ăn hối lộ, lớn ăn theo lớn, nhỏ ăn theo nhỏ. Hồi trước 75 cũng như bây giờ, có những tai to mặt lớn là hạm ăn tiền viện trợ, ăn phân bón, ăn thuốc trừ sâu, ăn xi măng, ăn thiếc, ăn sắt... Làm việc gì cũng bị bọn họ ăn bòn, ăn bớt, ăn hớt khiến dân tình thấp cổ bé miệng rất ư là khốn khổ. Ngày xưa hay ngày nay cũng thế, tệ nạn ăn hối lộ, ăn đút, ăn chẹt, ăn lót quá ư là phổ biến, muốn được việc thì phải biết đút lót cho họ ăn chút đỉnh, đúng nghĩa kẻ cơm người cháo chớ có gì là lạ đâu. Nạn bè phái, ăn chặn của công, ăn tiền mãi lộ, ăn rút tiền viện trợ, tiền cứu trợ nầy nọ…là chuyện rất phổ biến như ăn cơm bữa vậy. Ăn là một tệ nạn hệ thống hóa từ trên xuống dưới. Thực là ngồi mát ăn bát vàng, khỏe ru bà rù!

Mấy năm gần đây, trong nước cũng như ở hải ngoại đã bộc phát ra dịch quyên góp tiền từ thiện một cách ồ ạt vô tư lạ thường. Phải chăng cái dịch vụ kinh doanh từ thiện (charity business) nầy là một lối kiếm ăn mới mẻ đầy tính tâm lý sáng tạo?... Thiệt giả vàng thau lẫn lộn, ai muốn làm thì cứ làm, ai thấy mình cần phải cho thì cứ việc cho, không ai ép buộc ai hết, tùy hỷ mà... Ai cũng ăn cánh được hết, họ hợp thành phe cánh ăn chia với nhau để kiếm lợi. Ai cũng có thể nhân danh từ thiện nhảy ra làm ăn được hết. Họ khai thác triệt để lòng hảo tâm của Việt kiều tị nạn ở hải ngoại, nhất là làm cho họ có mặc cảm tội lỗi, lương tâm cắn rứt nếu hổng chịu giúp chút đỉnh cho đồng bào khốn khổ lầm than bên nhà. Mạnh ai nấy quyên nấy góp, rất hăng hái, hồ hởi phấn khởi…Vui lắm, vừa xem văn nghệ, vừa đớp hít lại vừa nhảy nhót mà hổng tới một bò...“Trước mua vui sau làm nghĩa” hoặc “Miếng khi đói bằng gói khi no” hay “Của tuy tơ tóc nghĩa so ngàn trùng”, v.v...Ai dám nói dân tị nạn mình không giàu lòng nhân ái đâu?

Chuyện tranh ăn đôi lúc cũng không thể tránh khỏi. Ăn không được thì phá cho hôi, cho bỏ ghét, chẳng khác gì trâu cột ghét trâu ăn. Phe nầy tổ chức thì phe kia cũng bắt chước làm theo. Ai cũng giành độc quyền thương người tàn tật khốn khổ bên nhà. Đúng là thương người như thể thương thân... Nhưng ở đời, hễ dính tới tiền bạc thì rắc rối lắm, dễ bị thiên hạ nghi kỵ hiểu lầm nầy nọ. Chuyện nói xấu chụp mũ qua lại cũng thỉnh thoảng khó tránh khỏi. Lâu lâu, cũng có xì ra một vài vụ làm ăn lem nhem, nhưng mà rồi những người có lòng nhân ái thật sự, đều lại nghĩ đại khái là: “thây kệ, có ít còn hơn không”, hoặc là “người ta ăn thì còn, mình ăn thì mất”, hoặc “gieo nhân nào gặt quả nấy” hay “tụi nó làm bậy tội ráng chịu” đúng theo tinh thần của Thiên Chúa giáo hay Phật Giáo, có nghĩa là làm phước thì sẽ gặp phước, làm lành sẽ gặp lành, v.v…, nên rồi đâu cũng lại vào đó mà thôi!

Trong nước, thì vợ công nhân viên biên chế (bên nầy Tây Mẽo gọi là permanent) thì ăn theo chồng. Những kẻ ăn trên ngồi trước lúc nào cũng hưởng nhiều quyền lợi và bổng lộc vì biết nguyên tắc ăn chia cho cấp trên cấp dưới, vui vẻ cả làng! Cũng có một hạng người háo danh, ăn cơm nhà đi lo chuyện bao đồng của thiên hạ, lăng xăng lạch xạch chạy tới chạy lui cho ra vẻ ta đây... Cũng có người bợ đít, ăn bã mía mong kiếm chút cháo! Hoặc cũng có người ăn không có mà mắng mỏ nghe hơi nhiều, cũng là thường tình thôi!

Làm chuyện gì thì cũng bị họ đòi ăn tiền trà nước, ăn tiền đầu tiền đít, ăn hai đầu, có khi gọt mình sát ván mà còn nói toàn là ơn với nghĩa không hà! Lúc đi vượt biên thì bị đòi ăn toàn cây, mà phải là cây ba số 9 (vàng Kim Thành) mới được. Có khi tiền họ đã lấy đủ nhưng ăn trớt không thèm giúp đỡ, hoặc có khi họ còn bỏ rơi mình ở lại một cách không kèn không trống nữa. Đúng là quân bất lương, cái đồ ăn cướp!

Sau 75, họ chủ trương chính sách ăn no mặc ấm, ăn chắc mặc bền trước, rồi sau nầy mới có thể nói đến chính sách ăn ngon mặc đẹp, ăn sung mặc sướng được! Trong thời buổi khó khăn đó, lo cái ăn cái mặc cũng đã hụt hơi rồi còn sức đâu mà làm những chuyện gì khác, lại có người bị xuống dốc đâm thất chí, ăn nói lảm nhảm hoặc đổi tánh trở thành ít ăn ít nói, lầm lầm lì lì suốt ngày suốt tháng để…suy nghĩ về thế sự thăng trầm hoặc về tình đời thay trắng đổi đen, nhưng có người cũng biết an phận thủ thuờng, nín thở qua sông, chờ thời…Trong đời sống hằng ngày, đa số dân chúng VN phải chịu cảnh ăn dặm, ăn độn khoai mì, bo bo để cầm hơi đỡ đói, và cong lưng đạp xe đạp xe máy suốt ngày, nắng cũng như mưa. Nhờ cái môn thể thao exercise bắt buộc và bất đắc dĩ nầy mà rất tốt cho sức khỏe, nên ít ai bị béo phì như tụi Tây tụi Mẽo bên nầy!

Ông bà mình có nói, khéo ăn thì no khéo co thì ấm, thật đúng quá mà…Ai ăn ngay nói thẳng dễ sinh mích lòng, dễ bị thiên hạ ganh ghét và có khi còn bị trù ẻo nữa. Ăn nói tráo trở lật lộng là nói thế nầy mà lại làm thế kia! Còn tệ nạn COCC, con ông cháu cha thời nào cũng vậy, thừa của ăn dư của để, ăn trên ngồi trước, ăn không ngồi rồi, ăn xổi (ăn ngay không để lâu) ở thì, ăn báo chế độ, sướng thấy mẹ. Thời trước cũng như thời nầy, con cái của họ được cho đi ăn học nước ngoài, đi du học ào ào bên Tây bên Mỹ, tiền bạc hổng phải là vấn đề đối với họ. Cửa hàng ăn uống mọc lên khắp phố phường, sáng trưa chiều tối đều đầy nhóc người ngồi ăn nhậu, ăn tục nói phét, kẻ mạnh ăn hiếp kẻ yếu...Trong cảnh khốn cùng cũng còn có người thức thời nhiều sáng tạo, nhảy ra làm ăn, trước thử làm chơi, sau thành ăn thiệt, người khác thấy vậy cũng nhào vô ăn có, nhưng đâu phải là dễ gì...Phàm làm việc gì cũng phải có ăn chịu cả. Dân kinh tế mới ùn ùn kéo về ăn bám, ăn gửi, ăn vạ thành phố, gây cảnh xô bồ hỗn độn mất an ninh trật tự khắp nơi.

Tệ nạn ăn trộm, ăn cắp, ăn cướp diễn ra hà rầm bất kể ngày đêm, nhất là trong các xóm bình dân lao động có nhiều ngõ ngách ăn luồn ăn thông với nhau. Gái ăn sương, ăn đêm, chị em ta, chị tình hay gà móng đỏ ăn vận, ăn mặc diêm dúa, tụ tập nơi các quán ăn quán nhậu, quán cà phê mời mọc khách tìm của lạ. Bỏ cơm nhà ăn cơm chợ đổi món đỡ ngán, ăn phở, ăn bánh trả tiền đổi bữa... Dù trời nắng gắt bạn vẫn phải nhớ trùm áo mưa đàng hoàng nghe bạn, nếu không dám bị bể ống khói bất tử hay mầm Sida ăn mòn, ăn lần tâm can tì phế thận ắt phải ăn đất (chết) thôi, chừng đó có ăn năn thì cũng đã muộn rồi! Có bạn có chút máu văn nghệ thì trốn vợ nhà, chạy tìm bò lạc chở đi.. ăn chè khoái hơn. Đúng là hảo ngọt. Bà nhà mà biết được thì kể như bị ăn đòn. Ông dám ăn vụng thì bà cũng dám nhảy rào trả đũa, ông ăn chả thì bà ăn nem, huề cả làng!

Tình hình như thế mà cũng có người nhờ tiền chôm chỉa, nên họ dám ăn xài phung phí, ăn chơi phè phỡn, họ chỉ biết ăn sung mặc sướng chớ đâu bao giờ chiụ ăn cực ăn khổ đâu. Có lẽ họ thấm nhuần câu tháng giêng là tháng ăn chơi, và theo họ thì trong năm chỉ có 12 tháng giêng để cho dễ tính dễ nhớ mà thôi. Ngược lại, cũng có người nghèo tận xác đi, mì gói, mì Ramen, mì hành, mì hai cua, mì Kung Fu, mì ăn liền làm chuẩn, giúp họ ăn qua ngày cầm hơi đỡ dạ!

Chùa chiền thì bị bọn ăn xin ăn mày vây kín suốt ngày. Đi chùa lễ Phật mà cũng có người chưa tỉnh vẫn còn mê, còn chấp ngã ăn nói khó nghe, mở miệng ra là Mô Phật nhưng hễ ai nói đụng tới cái ngã của mình thì cái sân si ùn ùn sụt sụt nổi lên. Đôi khi họ lại hay nói xấu người nầy, dèm pha chê bai kẻ khác, hơn thua nhau từng tiếng một, nói bóng nói gió, nói móc lò móc họng, nói cao nói thấp, quên cả Bát Chánh Đạo ở tận đâu đâu...Người ta nói thà ăn mặn nói ngay, còn hơn là ăn chay mà nói dối!

Chợ búa thì ê hề món ăn, có thứ ăn sống, ăn chín, có thứ ăn nóng, ăn lạnh, có thứ ăn khô, có thứ ăn ướt. Hủ tiếu thì có người thích xào khô, nhưng cũng có người thích xào ướt, thường thì xào khô trước rồi xào ướt sau mới đúng điệu là biết...nghệ thuật ăn. Ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều, ăn tối không sợ thiếu món nào cả! Hàng quán mất vệ sinh khiến khách hàng có khi ăn nhầm thức ăn bẩn nên bị ngộ độc thực phẩm ngã bệnh cả lũ. Vậy, ăn uống phải cho cẩn thận kỹ lưỡng để khỏi bị chết oan vì bệnh tòng khẩu nhập! Có mấy người quen mới đi du lịch VN về, nói bên đó ăn từ sáng tới khuya, đâu đâu cũng thấy ăn bất kể giờ giấc, thật đúng là Sài-gòn Ăn.

Có người cũng nghĩ là trong đời, ăn uống là ba cái chuyện lẻ tẻ, ăn nhằm gì mà phải bận tâm. Trong gia đình cũng có những người ăn uống rất khó khăn, rất kén ăn, chọn món nầy chê món nọ, đòi hỏi đủ điều, chê bai, hạch sách vợ con đủ thứ, tưởng mình là vua trong nhà. Nếu chẳng may ngã bệnh, lên máu, tiểu đường, sợ chết quá mới nghe lời bác sĩ, ép mình miễn cưỡng ăn kiêng... Cũng có cha sao hay quá xá cỡ, vì có thể bắt nạt vợ nhà làm việc thấy bà, còn mình thì phè phỡn ăn no ngủ kỹ, số sướng thật, có lẽ cha nội nầy đẻ bọc điều hay vì nhờ kiếp trước khéo tu nên được hưởng quả kiếp nầy chăng? (nói rõ hổng phải tui đâu)... Có người thường có lộc ăn, bạn bè lôi kéo đi ăn nhậu suốt ngày hoặc được biếu xén đủ thứ món ngon vật lạ, có lẽ nhờ số tử vi có sao Lộc tồn, Thiên Trù, Hóa Lộc, Tấu Thư chiếu mệnh... Có cha thì phớt tỉnh ăn glê, không quan tâm đến thế sự thăng trầm, ăn sao cũng được, ăn ít ăn nhiều cũng vậy thôi, hổng khen ngon mà cũng hổng chê dở, chán thấy mồ tổ, có lẽ anh ta đang tu thiền hoặc đang bị bệnh trầm cảm gì đó chăng?... Cũng có cha tánh cẩu thả, ăn ở bầy hầy, ăn trây ăn trét, khiến bà chị bực mình vì phải dọn dẹp trối chết, mệt thấy mồ tổ, sanh đổ quạu, cáu có điện xẹt bất tử cũng dễ hiểu mà thôi!

Trong thảm cảnh vượt biên, rất nhiều đồng bào mình đã từng nếm qua rồi, ăn dụm để dành, được ăn cả ngã về không, năm ăn năm thua, có bao nhiêu tiền vàng đều chụm vô hết cũng chỉ vì hai chữ tự do là vô giá (freedom is priceless)... Có người thì tìm cách bán nhà bán cửa về quê cạnh sông cạnh biển ăn gửi nằm nhờ, ăn chực nằm chờ, ăn gió nằm sương nhà bà con để chờ có dịp là vọt liền lập tức. Nếu lỡ đi không lọt thì phải ủ tờ (ở tù), bị nhốt ở chấp pháp, bắt lao động thấy bà, nếu khéo chạy chọt đút lót thì được thả mau, còn xui hơn thì đôi ba năm nằm ấp, rồi cũng được thả về, nhưng phải làm tờ tự kiểm nay đã ăn năn hối cải, tui xin chừa, tởn lắm rồi. Được tạm tha trả về nguyên quán làm ăn, ăn tằn tiện, gom góp tiền bạc chờ ít lâu có cơ hội là lại…vọt nữa! Đúng là bắt cóc bỏ dĩa…

Hồi hợp, lo âu mất ăn mất ngủ hổng kể xiết trong thời gian chuẩn bị nằm chờ ở nhà, thật là trần ai lai khổ, ngậm bồ hòn nuốt đắng, nín thở qua sông...

Ngoài biển, thì hải tặc Thái Lan muốn ăn tươi nuốt sống mình, nhảy qua ghe kiếm ăn, mã tấu súng ống dao búa đầy người, hãi hùng lắm bạn ơi, thiếu điều muốn…tè tại chỗ. Mà đâu phải chỉ có một lần đâu, thằng nầy đi thì báo cho thằng khác đến ăn hàng tiếp. Các bà các cô khiếp quá phải lấy dầu lấy mỡ lấy cả đồ dơ, thoa trét khắp mình mẩy cho tụi nó ghê nó tởm mà tha cho. Cầu Trời, khẩn Phật, cầu Chúa, cầu xin Cô Cậu, xin người khuất mày khuất mặt hãy thương xót, phù hộ che chở cho tui tai qua nạn khỏi, ai giúp cũng welcome hết, nguyện khi thoát nạn sẽ xuống tóc ngay lập tức, ban ngày ăn chay ăn lạt, còn tối lại len lén lai rai mì thịt, mì hành cho đỡ xót ruột khó ngủ. Lần chuỗi niệm Phật một tháng không sót một ngày. Xin hứa danh dự mà!

Có người không may mắn thì làm mồi cho cá mập ăn mất xác hoặc đi chầu Hà Bá Diêm Vương.

Người ở nhà thì tự hỏi, không biết ăn cái giải gì mà bọn họ phải liều mạng trốn đi như vậy kìa? Rồi cuộc đời thay đổi đổi thay, tới được bến bờ tự do, nhiều người bắt đầu lột xác cho hợp với phong cách của miền đất hứa, có người cũng đi quá đà…Luân thường đạo lý Đông phương đảo lộn nhường chỗ cho tự do cá nhân và giá trị kim tiền vật chất của xã hội Tây phương. Hai ba chục năm sau, có người còn quên luôn lời hứa buổi ban đầu, thề thốt nầy nọ, cũng như không nhớ vì sao ngày xưa mình phải cực khổ liều thân liều mạng trốn đi tị nạn bên Tây bên Mẽo! Ôi, đời là một chuỗi đổi thay không ngừng, tình đời thay trắng đổi đen biết đâu mà rờ.

Tại Canada, phần đông những người làm việc trong hãng xưởng đều ăn lương giờ và được phát check mỗi tuần vào ngày thứ năm. Nghe nói có người vừa ăn tiền xã hội và cũng vừa ăn lận làm chui ăn gọn, lãnh tiền mặt xú táp (sous table) khỏe ru bà rù! Có người ăn trắng mặt trơn không biết tiền của từ đâu mà họ sống phủ phê quá, ăn không ngồi rồi, nhàn rỗi đi ngồi lê đôi mách chuyện của thằng cha nầy con mẹ kia.

Cũng tại Bắc Mỹ nầy, cũng có một số người xâm mình bất chấp luật pháp, mua nhà mới để trồng cỏ (cần sa) dưới hầm nhà (basement). Vốn một lời mười. Họ đi du lịch VN hà rầm, xài tiền như nước, cho nên bên nhà gọi những người nầy là Việt Cỏ. Họ đi du lịch như đi chợ, chớ đâu có phải cực khổ kéo cày kiếm ăn như bọn mình đâu. Ham chưa! Nói vậy chớ láng cháng bọn họ cũng bị đồng bọn hay băng đảng khác thanh toán cho ăn kẹo đồng như chơi vì ăn chia không điệu hoặc vì tranh ăn hoặc muốn ăn thua đủ với nhau! Băng đảng xã hội đen gây khốn đốn khắp nơi, họ thường cắt máu ăn thề trung thành sống chết có nhau, bao che lẫn nhau vì ăn cây nào thì phải rào cây nấy mà lỵ, v.v…

Trai gái thời bi giờ thì ăn ở trước cho sướng đã, thử cho biết mùi đời coi có hợp gu, ăn rơ, ăn ý với nhau hay không, sau đó mới tính tới chuyện cưới hỏi cho vừa lòng mẹ cha! Chuyện làm mai làm mối ăn đầu heo dường như hiếm thấy xảy ra ở cái thời buổi nầy! Chuyện ăn hỏi là khuya rồi. Mà theo giới trẻ thì hổng cưới hỏi thì cũng hổng có sao, chả có chết thằng Tây nào mà còn đỡ rắc rối sau nầy, đúng với câu mà nhiều kẻ phải gió thường nói “Cưới hỏi là nguyên nhân của ly dị. Nếu hổng có cưới thì làm gì có ly dị được!”

Khác với bọn trẻ ngày nay, tụi mình ngày xưa hễ lấy ai là để ăn đời ở kiếp với nhau mà dù có muốn bỏ cũng hổng dám, chớ có phải đâu vui thì ở còn buồn thì bye bye.

Nhưng chuyện vợ bé vợ mọn, bà lớn bà nhỏ cũng rất phổ biến như ăn cơm bữa. Vợ một vợ hai, hai vợ đều là vợ cả. Nghĩ cho cùng thì đàn ông ngày trước sao gan quá Trời quá đất. Đâu phải ai cũng ăn trơn mặc trắng hết đâu... Mà cũng tại xã hội hồi đó chấp nhận trai năm thê bảy thiếp chớ biết sao bi giờ...chắc muốn bắt chước đạo Hồi giáo quá... Rồi lại cũng khắc khẩu, cũng xực nhau hà rầm, đấm bàn, đá ghế, vừa văng tiếng Đức vừa phang chén phang dĩa bay vèo vèo thấy mà phát sợ, khiến con cái khóc thé lên náo loạn rùm cả xóm... Rồi cũng mầy mầy tao tao, ông ông bà bà, thằng thằng con con, đồ nầy đồ kia cho đỡ tức... Rồi sau đó thì bà ngồi khóc xụt xịt ở nhà bếp, còn ông tịnh khẩu phì phà điếu thuốc 555 ở nhà trên... Rồi chờ sóng lặng gió êm, họ kéo nhau…lên giường múa lân làm lành với nhau. Sáng ra nhìn mặt tủm tỉm cười mí nhau. Xí!

Con cái bên nầy cũng khó dạy ghê, cậu ấm cô chiêu là vua con trong nhà mà, ăn xài thả cửa, ăn bận phủ phê theo mốt theo miết. Đầu nhuộm xanh nhuộm đỏ như chim két xổ lồng. Tụi nó rất chì, dám xỏ mũi xỏ môi xỏ lưỡi xỏ rún xỏ tai, xâm ngực xâm đít, xâm vai xâm bụng tùm lum, thấy mà phát sợ dễ tè. Lỡ có gì thì có bố mẹ lo. Cuối tuần thì dẫn bạn bè, tụ năm tụ bảy, về nhà cha mẹ ăn rỗi, làm sạch trơn tủ lạnh khiến mom méo mày méo mặt. Không lo ăn học đàng hoàng, không biết ăn năn hối cải, tối ngày ăn chơi, lêu lỏng, cà nhỏng khắp nơi, hay cãi bướng, ăn nói thì cộc lốc phang ngang bửa củi, toi toi, moi moi, you you, me me, Cool, v.v...! không biết lễ phép chút nào hết. Cha mẹ nào dám cho tụi nó ăn bộp tay hay cho chúng ăn roi vào đít đâu, lỡ chúng gọi 911 kêu phú lích tới thì rắc rối lắm! Kể như mất con luôn. Lỗi cũng tại tía má quá cưng chiều con, không biết dạy chúng mà thôi. Ai biểu ham vui khi trời vừa tối, thì đừng có than. Đẻ nó ra thì phải ráng chịu cho quen.

Tuy nói vậy chớ phần đông con cái người VN tị nạn ở bên nầy rất chăm chỉ học hành, siêng năng nổi tiếng, rất thành công trong học vấn, ăn nên làm ra hết, làm Tây Mẽo phải lé mắt thán phục ganh tị quá đỗi. Cũng có đứa kiếm việc làm hoài mà không có, kiếm ăn không được bèn đành phải ăn bám ở nhà cha mẹ chớ biết sao bây giờ. Nó là con mình mà, nó còn ở với mình là mình có phước lắm đó, chớ nên than vắn than dài làm chi, nếu là Tây thì cha mẹ nhắc khéo biểu đứa nhỏ ra riêng, nhưng thường thì thằng nhỏ hay con nhỏ cũng tự động đi mướn apt ở riêng cho nó được tự do, để bố mẹ khỏi nầy nọ nực lắm. Cuối tuần, kẹt tiền đói quá thì vọt về cầu cứu với mom!

Trong đời sống gia đình, ăn chung hay ăn riêng cũng tùy…, đôi khi bà nhà lại nổi chứng mặt mày chù ụ biếng ăn bất tử, đó là báo hiệu điều bất lành. Vậy bạn hãy lén mở tủ lạnh coi cái bánh bao, ổ bánh mì mua ở phố tàu còn có đó hay không? Bạn hãy tự kiểm lại mình coi có làm gì cho bả hờn bả giận hay không? Ráng năn nỉ, quỳ hai gối chống hai tay chịu lỗi tưới hột sen, hứa lèo hứa cuội đại đi, thề bán sống bán chết đi, hổng có sao đâu, bà chị cảm động quá, chỉ chờ có bấy nhiêu thôi, rồi bảo đảm bả sẽ lại ngồi bàn với bạn đó, vui vẻ cả làng, rồi khi biển đã lặng sóng đã yên thì tịch tình tang đưa em vào mộng! Bảo đảm đàn bà rất tình cảm, hổng có giận lâu đâu mà sợ. Ông bà mình thường nói là ngọt mật chết ruồi mà lỵ!

Còn có chị kia, hổng thấy chồng đâu cả, nhưng bụng chị càng ngày càng phình to ra như trái ballon, không biết chị đã ăn nằm với ai vậy cà? Có lẽ quen ăn không quen nhịn mà lại quên uống thuốc, tính lộn ngày hay tại thằng chả gấp quá hổng kịp trùm áo mưa nên vướng phải cái bầu ráng mà chịu! Đúng là mình có 1001 chuyện tò mò, hay dòm ngó chuyện của người khác quá xá trời rồi đó nghen!

Con nít nhỏ thấy người lớn đang ăn mà đứng nhìn lom lom cái miệng, bộ muốn ăn chực hay sao? Thức ăn vụng rơi rớt mà lượm lên ăn thì gọi là ăn mót. Hồi trước lúc còn ở bên nhà, tui thường nghe người lớn chế ngạo những đứa nhỏ nào vừa khóc rồi lại vừa cười ngay sau đó, là “lêu lêu mắc cở vừa khóc vừa cười ăn mười cục cứt”.

Bên này, đi ăn cưới, trước tiên là phải nhớ bỏ bao thơ tiền vào thùng, rồi ký sổ lưu niệm, sau đó thì xề qua chụp ảnh với cô dâu chú rể. Đôi trẻ chụp hình rất ăn ảnh như đôi tài tử Hongkong vậy, chả bì với hai bác như hai cây tre già xế bóng!

Các vợ chồng già, con cái đã lớn đều đi hết rồi, buồn chán thấy mẹ nên lâu lâu bày đặt ăn mừng kỷ niệm 25 năm ngày cưới, ngày sinh nhật, rồi mừng ngày về hưu, lễ thượng thọ, lễ vàng (noce d’or), lễ bạc (noce d’argent) rồi lại lễ mừng vào xuân, vào hạ, vào thu, vào đông, thậm chí còn có cặp tổ chức tiệc cưới của mình lại cho vui, hâm nóng lại tình già mà có người còn gọi là hấp hôn (chớ không phải hấp hối) hay tune up gì đó...

Mục đích chính của ba cái vụ vừa kể là để các bạn già tụi mình có dịp gặp lại nhau ăn nhậu, đấu láo, nói chuyện tào lao đẩy đưa, hát cho nhau nghe, rồi ôm nhau nhảy nhót cho nó giãn gân giãn cốt để quên là mình già! Các bà thì được dịp công khai ăn diện, ăn bận coi cũng mướt mắt lắm, đeo toàn đồ giả, đi tới đi lui ẹo qua ẹo lại thấy ứa gan...Có bà, bận áo hở lưng, hở cổ, có bà hở ngực, có bà thì cũn ca cũn cỡn thật là hết xẩy còn hơn con gái đôi mươi nữa, rồi lại còn ỏn a ỏn ẻn chầm chậm bước lên sân khấu cất giọng oanh già hát bản tình ca “Anh cho em mùa xuân”, xem cũng rất ư là ăn khách...Bên dưới thì từng cặp ôm nhau xà nẹo, ẹo tới ẹo lui, dìu bước lả lướt xập xa xập xình trong nhịp điệu tango...Còn ở các bàn thì thiên hạ cứ tự nhiên vừa ăn vừa nói chuyện rần rần rào rào như cái chợ vậy. Vui lắm các bạn ơi! Có chị có giọng rất ăn micro, ăn nói ngọt ngào truyền cảm, nên thường được mời làm em xi (MC)... Mấy anh chị ca sĩ nghiệp dư, đã bỏ nhiều công phu luyện tập, nhưng đôi lúc cũng bị tổ trát, hát không ăn khớp hay ăn nhịp với nhau, làm cho thầy đờn lắc đầu xụ mặt buồn xo tiu nghỉu…Chắc lần sau, nhớ mua heo quay và hột vịt lộn để cúng tổ cho cẩn thận trước khi ra quân. Tuy nhiên theo thời gian, dám có nhiều anh chị hát ăn đứt ca sĩ thứ thiệt lắm đó nghen!. Có người nếu có dịp về Việt Nam, họ không bỏ lỡ cơ hội thuê làm CD để khi trở qua sẽ gởi biếu bạn bè cho tụi nó lé con mắt chơi... Có người xấu miệng gọi các anh các chị ca sĩ mới nầy là “ca sĩ cậu mợ”, ca sĩ sous sol, hay ca sĩ hạng B, hạng C, v.v...

Nhưng có lẽ nhờ có máu văn nghệ, nên các anh các chị, trong đó thỉnh thoảng cũng có cả vợ chồng tác giả, nói chung tuy đa số đã xấp xỉ trên dưới 6 -7 bó rồi, đã là ông nội ông ngoại, bà nội bà ngoại hết rồi, mà hãy còn rất gân, còn chịu chơi, còn yêu đời hết cỡ, vậy là cũng tốt cho sức khỏe lắm lắm rồi, phải không nhỉ?... Có người ngứa con mắt, ăn nói ba hoa chí choè, bói mò bói móc, xỏ ngọt cho rằng tuổi của các bà chị toàn là tuổi...ngọ ráo trọi! Ô hô, ai tai! Cũng tốt thôi, ăn thua, ăn nhằm gì ba cái râu ria đó! Ngựa ăn cỏ, phi đường xa, không biết mệt! Thịt ngựa lại mềm, ngon, bổ, ít cholesterol, chỉ có dân điệu nghệ sành ăn mới biết thưởng thức, nhất là dân bên Âu châu... Còn bọn nhỏ ít có đứa nào dám nhào vô ăn có party cùng với tía má và các chú các bác hết.

Cuộc chơi nào cũng vậy, cũng có mặt trái mặt phải của nó hết, không biết luật ăn chịu thì phải...chịu ăn cay nuốt đắng hoặc chịu đấm ăn xôi cho được việc, hay phải biết ăn ý, khéo ăn khéo nói sao đó, v.v... rồi mới có ngày “vinh quang”, để được đứng dưới...ánh đèn màu sân khấu, để được nghe tiếng vỗ tay của thiên hạ, để được có cái cảm giác...quá đã, quá phê, quá hạnh phúc, như là đang lâng lâng trên mây vậy?.

Dù sao thì sinh hoạt giải trí kiểu ăn chơi nầy, không hẳn là một sinh hoạt giải trí...kiểu ăn hại hay vô bổ! Vậy, hãy tiến lên bác tài ơi, đừng sang số de (nhưng nhớ coi chừng thắng có ăn hay không nhé)!

Cũng có những ngày Chúa Nhật, cả nhóm rủ nhau đi câu cá cho vui. Ra đến sông, ngồi chờ cả buổi, vừa mỏi lưng, vừa bị muỗi cắn thấy mồ, nhưng cá chỉ ăn bóng mà không có con nào chịu ăn mồi gì cả! Nghĩ lại ông bà mình rất chu đáo trong việc dạy con dạy cái, nào là cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư. Nào là ăn cây nào rào cây nấy, uống nước nhớ nguồn, ăn trái nhớ kẻ trồng cây, ăn chắc mặc bền, khéo ăn thì no, khéo co thì ấm, ăn ít no dai ăn nhiều tức bụng, v.v…

Có người biết trọng lễ nghĩa, có trước có sau, nhưng cũng có những hạng người ăn cháo đá bát, ăn bớt, ăn hớt tiền công quỹ, ăn hối lộ công khai. Ăn chĩa là những ai không chịu xắp hàng như mọi người mà lại nhào vô ngang hông để giành đồ ăn. Ai ăn khỏe quá thì được gọi là ăn rỗi hay ăn như Tạ Hầu Đôn. Còn ăn yếu quá thì gọi là ăn như mèo liếm vậy. Qua bên nầy gần 30 năm rồi, mà tui vẫn thỉnh thoảng khoái ăn sang (sáng ăn khoai). Hình như củ khoai lang và củ khoai mì nó gợi lại trong tui những gì thân thương nhứt của quê hương. Khoai tây đối với tui không là gì cả!

Người ta thường nói đàn bà con gái thường ưa ăn hàng, ăn quà, ăn vặt hơn đàn ông con trai, không biết có đúng không? Nếu không phải thì thôi, xin các chị đừng bắt lỗi tui tội nghiệp.

Các cô thiếu nữ choai choai có khi bị ám ảnh bởi hình ảnh quá ư là đẹp đẽ tươi mát của các siêu sao, người mẫu đăng trong các tạp chí nên thường mơ tưởng, ước muốn được đẹp và giống như họ. Từ ý tưởng nầy, các em bèn cố gắng nhịn ăn, hoặc ăn qua loa rau cải carotte, celéri để được ốm. Có em, sau khi ăn xong còn lén bố mẹ thò tay móc họng cho ói thức ăn ra. Thế là sau năm ba tháng, em trở nên ốm nhom ốm nhách thấy phát sợ, má hóp, vai rút lòi xương sườn xương sống... Bác sĩ nói đây là một loại bệnh tinh thần hay là bệnh chán ăn (anorexia). Chữa trị căn bệnh nầy đâu phải dễ.

Nghĩ cũng buồn năm phút, có người thì gia đình quá nghèo khó mà lại có quá nhiều miệng ăn nên phải chịu cảnh thiếu ăn, ăn bữa no bữa đói, bữa có bữa không. Ngược lại, kẻ khác thì quá dư thừa đồ ăn, ăn vô rồi lại móc ra khiến cha mẹ lo rầu phát khùng phát điên luôn.

Khi lãnh lương, phải biết làm kế hoạch ăn tiêu trong tháng cho chắc ăn để khỏi bị thiếu hụt bất tử!

Trong các kỳ bầu cử, những ứng cử viên hay ăn miếng trả miếng rất sôi nổi, nhưng xét cho cùng mấy cha, mấy mẹ đều nói phét hết, hứa lèo hứa cuội cho dân chúng ăn bánh vẽ để giành ghế tổng thống mà làm cha làm mẹ thiên hạ. Có ăn thì có chịu, có khi lên voi thì có ngày ắt phải xuống chó mà thôi, có gì lạ đâu. Không biết ai ăn ai, ai thắng ai đây? Chờ xem!

Mua nhà mua xe thì bị người dẫn mối ăn lời, ăn tiền cò (commission), ăn tiền đầu tiền đít, ăn huê hồng 5-7%, đâu đâu cũng áp dụng nguyên tắc đầu tiên là tiền đâu.

Vợ chồng son, ít thời giờ, nên ăn cơm tháng cho nó tiện. Lỡ thiếu tiền thì năn nỉ họ cho mình ăn chịu ít ngày, chớ không nên ăn quỵt của người ta. Còn em út, bồi bếp nhà hàng thì ăn tiền bo tiền tip.

Cờ bạc là bác thằng bần, đánh lớn thua lớn, đánh nhỏ thua nhỏ, đánh đâu thua đó, lỡ cháy túi thì có bọn cho vay ăn lời cắt cổ (1 ăn 10)!...Có người cũng ăn đậm tiền bạc, nhưng rồi cũng đâu vào đấy, muốn đánh để gỡ gạc lại, nhưng không biết có...ăn nổi nữa hay không đây?

À, còn cái nầy nữa, các bạn nào có đi du lịch Thái Lan, nhớ tìm tiệm cơm đút ăn một lần cho biết với người ta. Nhà hàng được ngăn ra làm nhiều phòng nhỏ riêng biệt, vô đó sẽ có em đút cho ăn, sướng lắm. Món nầy chắc là phe nình ông khoái lắm nhưng kẹt một cái là không tiện cho mấy bà đi theo, biết mần sao bi giờ?

Đàn ông Việt nam thường hay nói: ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật là ba cái ước mơ của họ trên đời này. Tui thấy nó không được đúng cho lắm... Ăn cơm Tàu, tui ăn hoài, món nào cũng như món nấy, toàn là mỡ dầu, bột ngọt không hà, vừa ngán mà lại cũng vừa sợ cholesterol thấy mồ tổ!... Nhà Tây, thì tui cũng đang ở từ lâu, sướng thì sướng thiệt, vì nhiều tiện nghi và rộng rãi, nhưng phải ăn ở giữ gìn cho sạch sẽ ngăn nắp trong ngoài, thứ bảy chúa nhật hai vợ chồng lu bu hì hục hút bụi, lau chùi, quét dọn trước sau trên dưới trong ngoài cũng mệt hết hơi. Thế là mất mẹ nó hết cái weekend rồi còn đâu. Nhớ lại hồi nhỏ, tui chỉ biết có ngủ ghế bố không hà, sáng ra xếp lại cái rụp dựng vô vách tường khỏe ru bà rù... Còn cái món lấy vợ Nhật, thì tui bù trất chịu thua thôi, hổng hiểu các em Nhật Bổn có khác các em VN ở chỗ nào nữa không mà sao thiên hạ có vẻ chiếu cố đến thế. Nhưng nghĩ cho cùng, lúc đầu thì dù Ta dù Tây, dù Tàu hay dù Nhật, em nào cũng ngọt ngào dễ thương hết, có phải vậy hông các bạn nình ông phe ta. Tối lửa tắt đèn thì nhà ngói cũng như nhà lá mà thôi. Riêng tui chủ trương không gì hơn cây nhà lá vườn, đồ sơn không hơn đồ nhà, thà ăn cơm nhà vẫn hơn là ăn cơm tiệm cho đúng với câu: “Ta dìa ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” hay “Chim quyên ăn trái nhãn lồng, thia thia quen chậu vợ chồng quen hơi”!

Ôi, tiếng Việt thật là vô cùng thâm thúy bao la và súc tích biết bao!

Tui vẫn còn nhớ câu “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời...” trong một bài hát do ca sĩ Anh Ngọc hát từ lâu lắm rồi... Dù ở đâu cũng vậy, mình ráng giữ gìn tiếng mẹ đẻ của mình!

Tiếng Việt còn thì dân Việt còn, nhưng đôi lúc tiếng Việt mình cũng phức tạp lắm. Khen cũng có thể là chê, là xỏ ngọt, nói vậy mà hiểu khác, nói vậy mà không phải vậy, nói xuôi phải hiểu ngược, nói có phải hiểu là không. Y ngữ bất y nghĩa. Nói xuôi nói lái, còn hiểu theo nghĩa trắng nghĩa đen gì cũng được hết.

Đó các bạn thấy không, tiếng Việt mình là thế đó, nó rất huyền diệu, phong phú ghê hồn chưa, ai muốn nói sao thì cứ nói, còn ai muốn hiểu sao thì cứ hiểu.

No hay problemo./.

Nguyễn Thượng Chánh & Nguyễn Ngọc Lan

Thương quá đời nhau

Mùa dưa đầu năm nay gặp lũ bất ngờ, nhiều gia đình ở Quảng Nam trắng tay. Nhiều nơi, những thanh niên không quen biết, những nhóm người vô danh đột nhiên xuất hiện và kêu gọi mọi người chia nhau, mua dưa như một cách để cứu nạn cho nông dân. Cuộc sống vẫn còn giới thiệu những điều quý báu và lay động lòng người trước nghịch cảnh lắm khi chán chê.

Nhìn hình ảnh những người gia miền Trung ôm lấy trái dưa, ngậm ngùi, rồi lại thấy những thanh niên căng biểu ngữ kêu gọi mua dưa giúp mà thương. Giá dưa lại xuống tận 1000 đồng / kg thì cả ruộng dưa nếu có bán được, e cũng chưa đủ đóng được tiền vay của ngân hàng. Mẹ già nhìn đăm đăm vào ruộng, mênh mông buồn.

Hóa ra, người Việt vẫn gượng lại để giữ một tấm lòng cho nhau, dù có lúc ai nấy đều lặng người trước cảnh giành giật miếng ăn, cướp giật của rơi của người gặp nạn. Nơi Hà Nội từng có ngày hoa bị giành giật, tranh nhau và giẫm đạp, thì cũng có một ngày người người hẹn nhau để giữ lấy từng gốc cây. Sài Gòn sầm uất chốn vui chơi ngày đêm, nhưng không thiếu quán ăn miễn phí, hay giá chỉ 2000 đồng cho kẻ khó hơn mình.

Từ khoảng 5-7 năm nay, phong trào kêu gọi mua hàng hóa để giúp người dân nghèo bắt đầu xuất hiện nhiều hơn. Lúc thì dưa, lúc thì hoa tết, có lúc là rau cải. Người Việt có thói quen mua không để dùng, mà mua như một động thái chia sẻ sinh tồn. Như anh bạn của tôi vẫn hay mua một vài tờ vé số, nhưng chẳng bao giờ dò. Mục đích mua chỉ là gửi một niềm lạc quan cho người khó khăn hơn mình. Thương nhau mới làm được như vậy, vì đôi khi cần dè sẻn, mua một ly nước cho mình, nhiều người vẫn phân vân.

Cách đây không lâu, một người quen trên facebook tranh luận với tôi, nói rằng trên thực tế, người Việt không thể có tình đồng bào. Nếu dự trên khoa học, câu chuyện trăm trứng nở trăm con và nguồn gốc chuẩn tộc thuần túy, thì rõ ràng “đồng bào” là điều dường như vô nghĩa. Nhưng “đồng bào” – tên gọi và ý nghĩa duy nhất mà người Việt có trên thế giới đã là một sự kết dính tinh thần, thương lấy đời nhau qua năm tháng. Tình thương của người Việt ít màng lý luận, vì vậy ít ai chất vấn vì sao lịch sử người Việt hay song hành với huyền thoại chứ không là ghi chép cụ thể. Dù biết nỏ thần của An Dương Vương hay phép lạ của Thánh Gióng là điều bất khả. Và có lẽ trong thói quen của tình thương đó, người dân Việt cũng ít khi nào tự hỏi Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã tận lực như thế nào để chuyện mất mùa hay trì trệ trong nông nghiệp là chuyện thường ngày bấp bênh trên đất nước này, khác với các quốc Châu Á hôm nay?

Trong cái ghi chép của người xưa, người Việt mình hay cười. Bài “Xét tật mình” của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, đăng trên Đông Dương Tạp Chí năm 1913, nói người Việt “Hay cũng hì, mà dở cũng hì, quấy cũng hì, phải cũng hì. Nhăn răng hì một tiếng, mọi việc hết nghiêm trang. Có kẻ bảo cười hết cả, cũng là một cách của người hiền”. Quả thật người Việt rất hiền. Nghe tin đường xa lộ mới xây bị hư hại, lộ cốt bằng tre, bằng ván ép… rồi im lặng và cười. Nghe vaccine chữa bệnh trẻ con chích vào chết ngay, lại vẫn được hô hào sử dụng, cũng đành im lặng và cười. Nghe lấp sông Đồng Nai sẽ đẩy hàng triệu người vào nghèo khó, im lặng thở dài và cười. Nghe khai thác bauxite thất bại nợ nần đến con cháu đời sau, cũng chỉ im lặng rồi cười.

Người Việt thương mình, như thương một giai cấp của mình trước chuyện thế gian quá tầm tay. Mua hàng cho dân nghèo, góp tiền, góp của cho từ thiện là những chuyện mà đâu đâu trên đất Việt cũng thấy. Tiền người Việt giúp nhau, nhiều không kể xiết – không có một ngân quỹ chính sách nào có thể sánh bằng. Thường nhau, giúp nhau từ nhà ra ngõ, từ trăm cây số đến hàng ngàn dặm. Tiền kiều hối gửi về Việt Nam năm ngoái hơn 11 tỷ USD, bằng giấc mơ phát triển của cả nhiều quốc gia trên thế giới.

Người Việt thương nhau mà thở dài, nhiều người nói mình có ra sức giúp cả đời cũng không xuể. Các quan chức bị tố tham nhũng, chỉ nhận chức chưa quá nửa đời người đã dinh thự đền đài, con cháu trở thành một giai cấp khác, thụ hưởng trên nụ cười và tiếng thở dài của dân mình. Người Việt thương nhau, ngó tượng đài trăm tỷ, vinh danh cho bộ mặt một chính quyền địa phương mà hàng ngàn gia đình đói ăn trong ngày khánh thành. Người Việt nhìn ra biển, thấy cá mà thương ngư dân trong trùng vây khốn khó dở khóc dở cười.

Nhìn ngó mọi nơi, và im lặng trước những điều quá tầm tay. Người Việt quay về với nhau. Chia nhau khốn khó. Cười, thương quá đời nhau.

Nguồn: Blog Tuấn Khanh