Friday, March 4, 2016

Đời người được đo bằng tư tưởng và hành động

Thời gian sẽ làm cho nếp nhăn trên mi mắt bạn hằn sâu thêm, thời gian sẽ làm cho tuổi đời của bạn chất thành ngọn núi cao, nhưng đời người không phải được đo bằng hai thứ đó.

Ralph Waldo Emerson, nhà thơ, triết gia Mỹ (1803-1882) là người hiểu rõ giá trị của một đời người hơn ai hết. Ông cho rằng “Đời người được đo bằng tư tưởng và hành động chứ không phải bằng thời gian”.

Cái lý của ông làm cho những người có mái tóc bạc bối rối khi họ thường hay thốt ra câu nói “Tôi đã chừng ấy tuổi rồi nên tôi biết cả”, hoặc là “Áo mặc sao qua khỏi đầu”, hoặc là “Người nhỏ thì biết gì mà nói, cứ đứng dựa cột mà nghe đi”, hay là “Việc đó cứ để cho người lớn làm, đồ hỉ mũi chưa sạch”.

Mỗi người đều có một quan niệm sống riêng cho mình. Emerson đánh giá một con người qua quan niệm sống của họ, qua tư tưởng của họ và cụ thể hơn nữa là qua hành động của họ chứ không phải qua những lời hoa mỹ của họ.

Ai cũng có thể nói mình là người hay, giỏi và hơn người khác. Ai cũng cố bảo vệ cái tôi của mình vì cho rằng cái tôi của mình có thể đáng giá một cân bạc.Tuy nhiên, tự mình khen mình có một tư tưởng thuộc hạng top và muốn ai cũng phải theo mình thì chưa đủ, phải chờ xem cái hành động của anh có đi cùng với tư tưởng của anh hay không.

Tư tưởng lớn, tư tưởng vĩ đại nhưng hành động của anh chỉ đáng xếp hạng tầm thường thì giá trị của anh cũng chỉ ở mức tầm thường. Để biến tư tưởng lớn, vĩ đại đó thành sự thật, anh cần phải trả giá rất nhiều, không phải một ngày hai ngày, mà có khi là cả một cuộc đời.

Mỗi người đều là một triết gia của chính mình, lựa chọn quan điểm sống là lựa chọn riêng của mình, tư tưởng đó có bị trùng lắp với tư tưởng của một người nào khác hay không đều không quan trọng, điều quan trọng là sự trùng lắp ấy có mang đến cho bạn một kết quả như ý hay không, và tư tưởng ấy được bao nhiêu người đón nhận và bị bao nhiêu người phê phán.

Quy luật đúng đắn nhất vẫn là quy luật tuân theo số đông, nếu số đông ủng hộ tư tưởng của bạn thì bạn hoàn toàn tự tin để bắt tay vào hành động. Kết quả của hành động có thể sẽ không được mãn nguyện trong một thời điểm nào đó, nhưng sự nhiệt huyết và cống hiến của bạn để xây dựng cái nền móng ấy luôn được mọi người trân trọng và hoan nghênh.

Không thể đánh giá một con người qua dáng vẽ bề ngoài, vì dáng vẽ bề ngoài không thể phản ảnh được tư tưởng của người ấy. Đó là một điều đơn giản trong cuộc sống mà nhiều người cố tình hoặc vô tình bỏ qua.

Giá trị của một người, hiểu biết của một người cũng không nằm ở tuổi đời của họ, vì có biết bao người đầu bạc vẫn sống một cuộc sống không tư tưởng, hoặc họ chỉ mượn tạm tư tưởng của người nào khác để sống mà vẫn chưa hiểu hết được cái tư tưởng vay mượn đó có làm cho mình trở nên bừng sáng, hay là vẫn cứ lu mờ theo năm tháng, để đến khi nhận dạng ra hình hài của nó rồi thì mọi thứ đã muộn màng...

Nguồn: pclamdong.evnspc.vn

Thursday, March 3, 2016

Sự ô trọc ở Việt Nam lan cả vào nhà chùa

Ở Việt Nam, trừ những người chính thức theo một tôn giáo nào đó như Phật Giáo, Công Giáo, Tin Lành, Cao đài, Hòa Hảo, Hồi Giáo,… phần đông người dân vẫn tự cho mình là những người không có tín ngưỡng, trong bản khai lý lịch phần tôn giáo họ cũng thường trả lời “Không,” mặc dù mỗi năm cũng có vài lần đi đến các địa điểm tôn giáo như nhà thờ, chùa…

Song nếu xét trên tổng thể thì số người có khuynh hướng nghiêng về Phật Giáo vẫn chiếm đa số. Nghĩa là đầu năm, ngày rằm Tháng Giêng, Tháng Tư, Tháng Bảy đều có đi chùa, cúng bái, thỉnh thoảng ăn chay niệm Phật.

Ngay trong đám đông những người siêng năng đi chùa, thì số người thực sự vì nhu cầu tôn giáo, thực sự am hiểu những tư tưởng triết học sâu sắc, cao đẹp của Phật Giáo chắc chắn sẽ ít hơn số người vì những lý do thực dụng như cầu an, cầu may…

Thậm chí, không hiếm kẻ ăn ở ác, làm giàu bằng những con đường bất chính hoặc trên đường hoạn lộ tay dính máu người, cũng thường tìm đến cửa chùa như một hình thức sám hối, hoặc chí ít, để lương tâm được tạm yên ổn.

Xã hội ngày càng bất ổn, kinh tế khủng hoảng, tội phạm gia tăng thì số người tìm đến đình, chùa cúng bái ngày càng nhiều. Tôn giáo bị biến tướng thành đủ kiểu mê tín dị đoan.

Xã hội ngày càng trở nên ô trọc, cái ô trọc ngoài đời khiến người tu hành cũng khó mà tĩnh tâm tu cho được. Không thiếu những cảnh tượng khó coi như ngay trước cửa một ngôi chùa, mọc lên những quán bán thịt cầy, cảnh nấu nướng ăn nhậu nhem nhuốc diễn ra ngay đó, hoặc quán karaoke, thậm chí quán café chiếu phim sex (“Quán café gần chùa chiếu phim sex giữa ban ngày,” Tâm Ðiểm). Có khi bên ngoài cửa chùa, ban đêm là các cô gái ăn sương đứng đợi khách, v.v…

Sự sa sút, xuống cấp về mọi mặt của xã hội Việt Nam hiện tại, dường như cũng ảnh hưởng ít nhiều đến cửa chùa và một số người tu hành. Ðôi khi chúng ta lại phải đọc, xem, nghe thấy những thông tin về sự lố lăng, trần tục của những người tưởng như đã thoát khỏi hỉ nộ ái ố tham sân si của cuộc đời.

Một số người đã xuất gia tu hành nhưng vẫn rất tự nhiên tham gia những hoạt động của người đời. Khi thì một nhà sư, thật ra mới là chú tiểu, đang tu học ở chùa Huỳnh Kim (Gò Vấp, Sài Gòn) ham vui đi theo trang điểm cho các người đẹp thi Hoa Hậu Việt Nam 2012, và còn chụp hình chung với các người đẹp. Trước sức ép của dư luận chú tiểu đã phải quyết định cởi áo về đời để được làm công việc mình yêu thích.

Khi thì một ni cô đang tu ở một ngôi chùa ở Quảng Ninh, đi thi Việt Nam Idol 2012. Khi thì một số ni cô hóa trang mặc quân phục lên sân khấu tham gia một chương trình văn nghệ tại chùa Pháp Hải, huyện Bình Chánh, Sài Gòn, ngay trong mùa an cư kiết hạ. (“Xung quanh vụ việc “Ni cô mặc quân phục biểu diễn nghệ,” báo Giác Ngộ).

Trên mạng còn lan truyền một video clip của một nhà sư đứng trước đám đông hát nhạc chế tâm sự về đời sống của những người đi tu, chế từ bài “Ðời tôi cô đơn” thành “Ðời tôi đi tu nên tôi đây phải ăn chay, đời tôi đi tu nên tôi đây phải cạo đầu, đời tôi đu tu nên tôi đây mặc áo nâu, tôi không mặc áo màu và cằm tôi không để râu…”!

Không chỉ xuề xòa, thiếu đi sự nghiêm cẩn, oai nghi, một số nhà sư còn có những hành vi rất không phù hợp với người đã tu hành.

Khi Ðại Ðức Thích Tâm Mẫn thực hiện hành trình “nhất bộ nhất bái” xuyên Việt trong 4 năm (từ 2009-2013), hàng chục đệ tử, các tiểu sư thầy đi theo “tháp tùng” đã có những hành vi khiến người dân nhiều lúc… ngỡ ngàng. Như phi thân tung chưởng, ném mũ cối, thổi còi dẹp đường, làm ác tắc giao thông, thậm chí xô xát với người dân hiếu kỳ đổ ra đường xem (“Bất ngờ với cảnh tiểu sư thầy ném mũ cối trên phố,” Dân Trí).

Một trong những scandal ầm ỹ của ca sĩ họ Ðàm trong thời gian qua là vụ hôn tay một nhà sư và hôn môi nhà sư khác trong một chương trình ca nhạc từ thiện. Trong khi ca sĩ họ Ðàm chỉ bị phạt 5 triệu thì cả hai nhà sư đã bị các chư tăng phạt “biệt chúng,” không cho ra khỏi phòng tiếp xúc với người bên ngoài, trong thời gian 3 tháng.

Không những thế, nhà sư nhận nụ hôn môi của ca sĩ họ Ðàm đã bị dằn vặt nội tâm nặng nề đến độ muốn tìm quên trong giấc ngủ, may có người phát hiện đưa đi cấp cứu, sau đó nhà sư đã trả tam y tỳ kheo và bình bát lại cho nhà chùa, xin hoàn tục. Dù sao nhà sư này cũng có lòng tự trọng hơn rất nhiều người thường, quan chức, làm sai nhưng cương quyết không từ bỏ chức vụ, từ bỏ những đặc quyền đặc lợi đang có!

Ðáng buồn hơn, một số nhà sư đã không vượt qua được những ham muốn tầm thường, trần tục, phạm vào giới luật của đạo Phật và luật pháp của xã hội.

Một nhà sư vay mượn tiền tỷ của nhiều phật tử, cầm sổ đỏ của nhà chùa, gây thiệt hại tổng cộng hơn 3 tỷ đồng, cuối cùng bị trục xuất khỏi nhà chùa sau hơn 50 năm tu hành tại đây (“Trục xuất sư thầy nợ hơn 3 tỷ đồng của phật tử,” báo Người Ðưa Tin).

Một vị sư trụ trì chùa Chàng Sơn, Thạch Thất, Hà Nội, đánh người, dời tượng cổ, thay tượng Phật cổ bằng bức tượng giống mình (“Phẫn nộ vụ sư đánh người, đúc mình làm tượng thờ ở Hà Nội,” Ðời Sống và Pháp Luật).

Kinh hoàng hơn, một nhà sư còn giết bạn gái rồi giấu xác trong khuôn viên chùa, yểm bùa, trồng cây lên để phi tang (“Nhà tu hành sát hại người tình giấu xác,” VietNamNet)…

Xã hội đến hồi suy đồi, mạt vận đến mức hiệu trưởng mua dâm học trò, thầy giáo cưỡng bức học trò, công an, điều tra viên dùng nhục hình tra tấn để bức cung người vô tội thành có tội, bác sĩ làm chết người xong vứt xác nạn nhân xuống sông, nay đến nhà sư bồ bịch, giết người!

Một số nhà sư thì tham gia chính trị, trở thành chính khách, đại biểu Quốc Hội, kể cả được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh… Thật ra chuyện người tu hành tham gia chính trị không có gì đáng phê phán, trái lại là khác, nhưng ở Việt Nam, chúng ta biết, nhà nước cộng sản luôn luôn muốn kiềm chế, kiểm soát, “chính trị hóa” tôn giáo. Do đó những người tu hành một khi đã tham gia vào bộ máy của đảng và nhà nước cộng sản, cũng khó mà giữ nguyên sự khách quan, độc lập trong quan điểm, chính kiến, khó mà cất lời nói thật, nếu như muốn đường quan lộ được êm ả!

Hãy nghe những lời phát biểu của một trong những vị tu hành nay là đại biểu Quốc hội, Thượng tọa Thích Thanh Quyết, trả lời phỏng vấn báo Công An Nhân Dân về tình hình trật tự trị an, nhân quyền của VN:

“Tôi đã đi nhiều nước, kể cả những nước lớn trong và ngoài khu vực châu Á, tôi thấy tình hình an ninh, chính trị ở ta rất ổn định, an toàn. Rõ ràng, đời sống kinh tế, vật chất của ta còn những khó khăn nhưng an ninh quốc gia đảm bảo, chính trị ổn định, ngay người nước ngoài đến Việt Nam cũng vậy, họ rất yên tâm, không phải lo ngại việc này, việc kia…

… Trên thực tế, chính những kẻ tung ra các luận điệu bịa đặt, vu khống đó mới vi phạm dân chủ, nhân quyền nhất. Cái dân chủ, nhân quyền của Việt Nam phù hợp hoàn cảnh văn hóa, lễ nghi tôn giáo của người Việt Nam, họ không hiểu được hoặc cố tình không hiểu rồi cứ nhìn từ góc nọ sang góc kia.” Vị hòa thượng này còn gọi công an là “đồng chí” và hết lời khen ngợi ngành công an!

(“Ðại biểu Quốc Hội – Thượng Tọa Thích Thanh Quyết: Vật chất tuy còn những khó khăn, nhưng an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo,” báo CAND.)

Không biết, giữa sự suy đồi về mặt tinh thần, không nhìn thấy sự thật, khen ngợi một chế độ luôn luôn đứng trên luật pháp, có “thành tích” đàn áp tôn giáo, vi phạm nhân quyền trầm trọng, với sự suy đồi trong hành động, vi phạm những giới luật, vi phạm pháp luật của xã hội, điều nào đáng buồn hơn?

Tin rằng những hiện tượng trên chỉ là số ít, là những người tu chưa trót, làm ảnh hưởng đến uy tín, đạo đức, phẩm hạnh của những bậc chân tu thật sự, vẫn chiếm đa số, trong môi trường Phật Giáo Việt Nam.

Song Chi

Thi hoa hậu - một trò chơi lỗi mode và lạc hậu

VN ta có hàng loạt các "bình hoa di động" sau khi đã giành giải hoa hậu thì công việc của các cô chỉ là đi dự sự kiện, uốn éo, cười tạo dáng v..v thế là cũng được lên báo chí, tivi truyền hình quan tâm sát sao từng chút một. Có lẽ nghề hoa hậu đi dự sự kiện là nghề vớ vẩn và vô ích nhất trên thế giới này.

Cô gái trong ảnh tên Olivia Jordan và nếu như không nói ngay ra ở đây rằng cô ấy là hoa hậu của Mỹ năm 2015 thì có lẽ đảm bảo chẳng ai biết cô gái này là ai. Tất nhiên không phải chỉ riêng các bạn đọc là người VN không biết thân thế của cô gái này, mà thậm chí cả người dân Mỹ có khi cũng không biết luôn.

Vì sao vậy? Vì rất đơn giản tuy mang danh là hoa hậu Mỹ thế nhưng giống như bao nhiêu Miss World, hay Miss Universe, Miss Earth nọ kia cô hoàn toàn bị truyền thông và dân chúng ở các nước phát triển lãng quên và không chú ý tới. Và thậm chí nói cho đúng ra ở các nước phát triển thì hoa hậu còn chả được báo chí dư luận quan tâm tới bằng những ca sĩ, diễn viên hạng làng nhàng tầm chung. Nếu ở nước ngoài, mình đố các bạn kể tên ra được cô hoa hậu ở quốc gia hiện tại nơi các bạn đang sinh sống đấy?

Tất nhiên điều này hoàn toàn trái ngược ở VN ta khi cả đất nước sốt sình sịch với tất cả cuộc thi hoa hậu, một hoa hậu đã giành giải thì tần suất xuất hiện trên báo chí, truyền thông gấp vạn lần mọi diễn viên, ca sĩ nổi tiếng nhất. Để hiểu sự trái ngược giữa thế giới hiện đại và VN của chúng ta về chuyện hoa hậu. Có lẽ chúng ta phải làm rõ đôi điều về tư duy của xã hội hiện đại về người phụ nữ:

1. Ở các nước phát triển do có sự tôn trọng phụ nữ cộng với phong trào nữ quyền lên cao. Bởi vậy họ quan niệm "vẻ đẹp của phụ nữ nằm trong con mắt kẻ si tình". Do đó, việc định giá, chấm điểm vẻ đẹp của phụ nữ rồi lập ra 1 cuộc thi là điều không bình thường, và không có gì hay ho hay đáng để ca ngợi. Bởi làm thế không khác gì vô hình chung biến những người phụ nữ không đạt tiêu chuẩn "đẹp" trở thành xấu xí. Thi thố nhan sắc phụ nữ chỉ phù hợp với 1 xã hội kém phát triển, kém văn minh khi coi phụ nữ như 1 món hàng để định giá và chấm điểm. Như Venezuela trùm hoa hậu thế giới, thì bây giờ giấy chùi đít còn không có mà dùng.

2. Cũng bởi phong trào nữ quyền cho nên xã hội hiện đại quan niệm phụ nữ cũng như đàn ông, giá trị của họ thông qua việc họ làm và cống hiến cho xã hội chứ không phải chỉ vì nhan sắc. Có nhan sắc không mà không làm gì ra hồn thì cũng là vô ích và vô dụng, bởi vậy, trai xinh, gái đẹp ở các nước phát triển họ không phí thời gian, và phí công sức để đi thi hoa hậu thi Miss nọ kia.

Mà thay vào đó họ sẽ trở thành diễn viên, người mẫu, MC v....v - nếu họ có tài thật sự sẽ trở thành siêu sao nổi tiếng tài sắc vẹn toàn khiến cả thế giới hâm mộ (Nicole Kidman chả hạn) bằng không sẽ bị gọi là bình hoa di động và chìm nghỉm trong showbiz chả ai quan tâm và đoái hoài. Tóm lại nhan sắc chỉ là 1 trong những yếu tố giúp sự nghiệp thành công mà thôi chứ không phải yếu tố quyết định.

Chứ không như VN ta có hàng loạt các "bình hoa di động" sau khi đã giành giải hoa hậu thì công việc của các cô chỉ là đi dự sự kiện, uốn éo, cười tạo dáng v..v thế là cũng được lên báo chí, tivi truyền hình quan tâm sát sao từng chút một. Có lẽ nghề hoa hậu đi dự sự kiện là nghề vớ vẩn và vô ích nhất trên thế giới này. Rồi sau đó chỉ có chờ các đại gia, thiếu gia đến rước đi mà thôi. Ở VN thi hoa hậu cái gì chứ? Sao không nói toẹt luôn cho nhanh là thi tuyển hàng, tuyển vợ cho đại gia?

Vì chính 2 lí do quan trọng trên và bị thất sủng ở các nước phát triển mà từ lâu nay các cuộc thì Miss World, Miss Universe đã phải chuyển hướng sang các nước kém phát triển dân trí thấp như VN để quảng cáo và kiếm tiền. Ai không tin có thể lên Google search với từ khóa Miss Universe 2015 để thấy các phương tiện truyền thống đại chúng của thế giới thờ ơ và lạnh nhạt ra sao với sự kiện này.

Chỉ có mỗi VN là thi nhau xông vào vote lấy vote để lấy số đông nhằm đem lại "niềm tự hào dân tộc" thôi. Gớm mà vote lấy số đông thì chắc thằng Tàu nó phải toàn hoa hậu thế giới ấy chứ, VN tuổi gì? Nói thật ra VN có vô địch Miss Universe thì thế giới họ cũng không quan tâm bằng 1 giải Nobel của người VN, hay 1 tập đoàn công ty VN tầm cỡ như SamSung, Sony của Nhật Bản, HQ đâu - đó mới là những giá trị đích thực làm nên bộ mặt quốc gia chứ không phải là hoa hậu và người đẹp.

Vì cái tâm lý trọng sắc hơn trọng tài như vậy mà giờ đây VN mới đẻ ra 1 loạt các thế hệ hot girl, hoa hậu không cần làm gì mà vẫn ra tiền. Bảo sao thanh thiếu niên không lo học hành phấn đấu thành người tài giỏi chi lo chăm chăm đi làm đẹp nhằm kiếm cái danh hoa hậu với chả hotgirl nhằm nhảy vào showbiz nằm ngửa, nằm nghiêng để tiến thân cho nhanh. Văn hóa xã hội này hỏng cũng là hệ quả của những cuộc thi hoa hậu mà thôi.

Tóm lại thi hoa hậu là một trò chơi lỗi mode du nhập từ phương Tây (văn hóa VN làm gì có thi hoa hậu). Thế giới văn minh đã dần lãng quên và cho nó vào dĩ vãng, chỉ có mỗi người VN là vẫn đội cái cuộc thi này lên đầu và sùng bái nó như thánh thần vậy. 

Đâu là VĂN HOÁ TÂm LINH và đâu là HỦ TỤC nên loại bỏ?

Trước kia, khi mới hoà bình, dân miền Bắc VN tuy nghèo nhưng không hèn, không tham lam, rất biết điều, biết yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Nhà cửa không bao giờ phải khoá, thôn xóm thanh bình. Việc cúng bái đều bị chính quyền dẹp bỏ vì cho là "mê tín, dị đoan". Các lễ hội truyền thống cấp làng xã cũng bị dẹp bỏ, chỉ lưu lại một số những lễ hội có dính đến truyền thống chống giặc ngoại xâm, bảo vệ bờ cõi, nhưng không làm lớn và loè loẹt như bây giờ. Đình chùa miếu mạo phần lớn bị phá bỏ, còn một số ít dính tới di tích lịch sử hoặc truyền thuyết về tâm linh mới được giữ lại, nhưng cũng bị trưng dụng vào việc đời thường hay là đóng cửa, chỉ mở vào những ngày rằm, mùng một hay lễ tết.

Sau 40 năm đảng trị, mọi thái cực cuộc sống hoàn toàn thay đổi. Chính quyền cần tiền và nghĩ rằng càng nhiều lễ hội và càng "lạ", sẽ càng thu hút khách du lịch, nhưng trên thực tế hoàn toàn ngược lại. Những người đến từ thế giới văn minh có thể tò mò vì những cánh rừng hoang sơ Châu Phi, có thể lạ lẫm vì những lễ hội tâm linh loè loẹt (mê muội) Châu Á, hay cảm thương cuộc sống nghèo nàn lạc hậu của những bộ tộc còn sót lại trong các nước chưa phát triển....

Nhưng họ sẽ cực kỳ dị ứng với sự dã man, tàn bạo đối với súc vật. Không ai không biết rằng: Chính trò đấu tố trong CCRĐ xưa đã giết chết tình làng nghĩa xóm, tập cho người ta tính dối trá, tàn bạo, tráo trở. Những lễ hội như "Đâm trâu", "Chém lợn" kích thích tính hung đồ, khát máu và làm trơ lì cảm xúc của dân chúng trước nỗi đau (bước đầu là con vật, rồi sau sẽ là con người). Nếu không nghe khuyến cáo mà thay đổi ngay những "hủ tục", VN sẽ tự đánh mất mình vì sự ghê tởm cho những trò dã man, kích thích thú tính trong con người phát triển. Đã đến lúc, nhà cầm quyền nên biết cái gì cần phải làm, trừ phi họ không muốn xã hội bình an, đất nước phát triển và là điểm nên đến của những du khác bốn phương.

Lễ hội chém lợn, đâm trâu ‘trái luật’

Từ năm 2000, dân làng Ném Thượng (tên cũ là Niệm Thượng), tỉnh Bắc Ninh đã khôi phục một lễ hội gọi là “lễ hội chém lợn” được tổ chức vào mùng 6 tháng Giêng âm lịch. Tại lễ hội này, những đao thủ được dân làng chọn ra chém những con lợn khỏe mạnh ra làm đôi trước đám đông, trong đó có cả trẻ em. Sau đó những người dự lễ lấy tiền nhúng vào máu lợn tung tóe trên mặt đất để cầu may. Theo dân làng, lễ hội là để tưởng niệm tướng quân Đoàn Thượng, thời Lý, đánh giặc ngoại xâm bị thua trận, chạy về vùng này và phải chém lợn rừng để nuôi quân.

Thế nhưng từ ba năm nay Tổ chức bảo vệ động vật châu Á (Animals Asia) đã phản đối quyết liệt lễ hội này khi gửi Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch Thông báo theo đó “việc chém những con lợn còn đang sống khỏe mạnh là một lối đối xử tàn ác đối với động vật, nó làm trơ lì cảm xúc của người xem khi chứng kiến cách thức động vật bị đối xử dã man, đặc biệt là đối với trẻ em, đối tượng có tâm lý chưa hoàn thiện ổn định và dễ bị ảnh hưởng.” Quan điểm này ngay lập tức vấp phải phản ứng quyết liệt không kém của những người đại diện cho dân làng Ném Thượng và một số quan chức và nhà nghiên cứu văn hóa dân gian. Đại để lập luận của những người này như sau.

Thứ nhất, lễ hội tôn vinh một viên tướng chống ngoại xâm nên việc bỏ lễ hội sẽ tác động tiêu cực đến lòng yêu nước của người dân Việt Nam hiện nay.

Thứ hai, lễ hội không dã man. Bà Đại biểu Quốc Hội Trần Thị Quốc Khánh phát biểu: “việc giết mổ không gây đau đớn cho động vật thì rõ ràng đâm trâu một nhát vào tim, chặt phăng thủ cấp lợn sẽ dẫn tới cái chết nhanh chóng hơn hẳn so với đưa chúng vào phòng hơi ngạt như phương Tây”.

Thứ ba, phải tôn trọng tín ngưỡng. Giáo sư Trần Lâm Biền cho rằng: “Máu đỏ trong tín ngưỡng nguyên thuỷ là biểu trưng cho sự sống, sinh khí. Vì thế, người dân làng Ném Thượng thực hiện nghi thức chém lợn để máu đỏ chảy ra sân đình nơi thờ Lý thành hoàng, là nhằm gợi ý với bậc thánh thần hãy mang sinh khí, sự phát triển đến nơi đây. Phong tục này là để cầu may cho mọi người, nó vượt qua cả khái niệm dã man hãy không dã man. Văn hoá nếu chỉ nhìn hình thức có thể tưởng là dã man nhưng đằng sau lại là tính nhân đạo mênh mông”.

Thứ tư, bỏ lễ hội là ảnh hưởng đến truyền thống văn hóa, làm nghèo văn hóa. Tiến sĩ dân tộc học, Đại biểu Quốc Hội Trần Hữu Sơn cho rằng: “Nếu cái nào cũng phải thay đổi theo cuộc sống mới thì còn đâu ra các phong tục và sẽ làm nghèo văn hoá.” Đại biểu Quốc Hội Trần Thị Quốc Khánh có cùng quan điểm: “Nếu cái gì ta cũng thay thế thì dần dà chúng ta sẽ giữ lại được điều gì? Đồng bào Tây Nguyên thay vì đâm trâu thì đua trâu và nhân dân Bắc Ninh thay vì chém lợn sẽ vật nhau với lợn chăng?”

Thứ năm, đó là lễ hội riêng, chuyện nội bộ của người dân làng Ném Thượng, người ngoài không có quyền can thiệp. Tiến sĩ Ngô Đức Thịnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn Văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, khẳng định: “Không thể yêu cầu ban hành một luật lệ nào để áp vào việc tổ chức lễ hội truyền thống, để ngăn cấm người dân tổ chức lễ hội, quyền tiến hành các văn hóa truyền thống tâm linh là phụ thuộc vào suy nghĩ của người dân trong xóm, phường, làng xã đó”.

‘Lý lẽ thuyết phục?’

Tác giả bất đồng với GS Trần Lâm Biền khi ông cho rằng ‘Văn hoá nếu chỉ nhìn hình thức có thể tưởng là dã man nhưng đằng sau lại là tính nhân đạo mênh mông’.

Vậy “cái lý” của những người bảo vệ “lễ hội chém lợn” có thuyết phục?

Theo Đại Việt sử lược và Đại Việt sử ký toàn thư, nhân lúc lòng dân chán Nhà Lý, khoảng năm 1207 Đoàn Thượng nổi dậy và đã nhiều lần bị đánh bại. Năm 1228, Đoàn Thượng bị sứ quân Nguyễn Nộn giết chết.

Như vậy, việc Đoàn Thượng thua trận, dạt về khu vực Ném Thượng hiện nay và phải săn lợn rừng để nuôi quân là có cơ sở. Ngược lại, thuyết Đoàn Thượng chống ngoại xâm là hoàn toàn bịa đặt vì đã không có “giặc ngoại xâm” nào, cụ thể là không có giặc nào đến từ nước Tống (Trung Quốc ngày nay) trong suốt thời gian Đoàn Thượng dấy binh. Nói cách khác, các cuộc chiến mà Đoàn Thượng tham gia đều là nội chiến giữa những người Việt.

Quan điểm coi việc chém lợn cũng như đâm trâu là việc giết mổ gia súc để làm thực phẩm và do đó không dã man là đánh tráo khái niệm. Thực vậy, việc giết gia súc như vậy là để mua vui cho đám đông, đúng như cái tên “lễ hội”.

Trên thực tế, không có trường hợp nào là lợn bị “chặt phăng thủ cấp” tức bằng một nhát đao hay trâu bị “đâm một nhát vào tim” để chết nhanh chóng cả. Ngược lại là đằng khác, nhất là trong lễ đâm trâu, cái chết của con vật được kéo dài để người xem “thưởng thức”. Thực tình chỉ riêng những từ ngữ mà bà Đại biểu Quốc Hội Khánh dùng để mô tả cách giết chết các con vật đã đủ làm người nghe ghê rợn. Việc mua vui bằng cảnh giết chóc chỉ có thể là dã man, là tàn bạo.

Lấy tín ngưỡng để biện hộ cũng không thuyết phục. Bảo “lễ hội chém lợn” là để lấy máu cầu may vì máu đỏ là “biểu trưng cho sự sống, sinh khí” thì “sự sống, sinh khí” đâu chưa thấy mà đã thấy cái chết rình rập con người bởi chính tính hiếu sát mà lễ hội gieo mầm và kích động nơi người xem trong đó có trẻ nhỏ, vì suy cho cùng máu người cũng đỏ! Tóm lại, lễ hội chém lợn là man rợ, là thú tính, là ở cực kia của “tính nhân đạo mênh mông” như lời lẽ của Giáo sư Trần Lâm Biền.

Còn nói bỏ “lễ hội chém lợn” là làm nghèo văn hóa thì đó là tư duy số học chứ không phải tư duy văn hóa. Văn hóa là “gạn đục khơi trong”, những gì tôn vinh và phát huy nhân tính, quyền con người hay mỹ tục thì được giữ lại, ngược lại là hủ tục phải bỏ. Nói cách khác, văn hóa song hành với các giá trị nhân văn. Bởi “lễ hội chém lợn” đồng nhất với hiếu sát, tức phản nhân văn thì việc loại bỏ nó chỉ có thể là đúng quy trình đào thải của văn hóa, của văn minh nhân loại.

‘Không còn chỗ đứng’

Di sản văn hóa Việt Nam được sử dụng nhằm mục đích phát huy giá trị di sản văn hóa vì lợi ích của toàn xã hội”. “Lễ hội chém lợn” và “đâm trâu” reo rắc tính hiếu sát hay kích động bạo lực rõ ràng đi ngược lại lợi ích của toàn xã hội và vì vậy là hủ tục, theo tác giả.

Quan điểm “lễ hội chém lợn là lễ hội riêng, chuyện nội bộ của người dân làng Ném Thượng, người ngoài không có quyền can thiệp” cũng sai nốt. Cần khẳng định ngay rằng lễ hội nói riêng, văn hóa nói chung không phải là một phạm trù “kín cổng cao tường”, chủ thể lễ hội không chỉ là những người đã tạo ra nó mà còn là những người chia sẻ nó. Trên thực tế “lễ hội chém lợn” chưa bao giờ được giới hạn trong khuôn khổ làng Ném Thượng, nếu không muốn nói được tổ chức nhằm thu hút người ngoài làng bao gồm cả người nước ngoài đến xem.

Do đó ý kiến phản đối lễ hội, nếu có, là sản phẩm tự nhiên của lễ hội hay sản phẩm nội sinh, tuyệt nhiên không phải là một sự can thiệp. Còn chính quyền địa phương hay chính phủ có ý kiến về lễ hội thì đó là thực thi chức năng quản lý xã hội miễn là ý kiến này phải dựa trên luật pháp và phù hợp với lợi ích chính đáng của toàn thể xã hội. Tóm lại, lối nghĩ “Phép vua thua lệ làng” không có chỗ đứng trong một xã hội hiện đại cai trị bởi luật pháp.

Cuối cùng, về quan điểm “lễ hội chém lợn” không vi phạm pháp luật thì người viết bài này khẳng định lễ hội này vi phạm Luật Di sản văn hóa (LDSVH).

Trước hết, theo Khoản 1 Điều 4 LDSVH lễ hội là di sản văn hóa phi vật thể, tức thuộc diện điều chỉnh của Luật này.

Tiếp đó, Khoản 1 Điều 12 LDSVH quy định: “Di sản văn hóa Việt Nam được sử dụng nhằm mục đích phát huy giá trị di sản văn hóa vì lợi ích của toàn xã hội”. Như vậy, “lễ hội chém lợn” và “đâm trâu” reo rắc tính hiếu sát hay kích động bạo lực rõ ràng đi ngược lại lợi ích của toàn xã hội và vì vậy là hủ tục.

Do đó, căn cứ Điều 25 LDSVH theo đó “Nhà nước bài trừ các hủ tục và chống các biểu hiện tiêu cực, thương mại hóa trong tổ chức và hoạt động lễ hội”, chính quyền tỉnh Bắc Ninh cần khẩn trương ra quyết định cấm việc tổ chức “lễ hội chém lợn”. Tương tự như vậy, chính quyền địa phương những nơi “lễ hội đâm trâu” diễn ra cần thuyết phục người dân từ bỏ tổ chức lễ hội đẫm máu, kích động bạo lực này bởi trong mọi trường hợp biện pháp hành chính chỉ nên là giải pháp cuối cùng.

Mặc dù “lễ hội chém lợn” cần bị loại bỏ nhưng không vì thế mà ta quay lưng với lịch sử của dân làng Ném Thượng. Như trên đã nói, tên cũ của làng Ném Thượng là Niệm Thượng và theo tôi, “Niệm Thượng” hẳn là cái tên mà người dân đặt ra để tưởng niệm tướng quân Đoàn Thượng, người có công khai khẩn vùng đất này cho dù ông đến đây là để lánh quan quân nhà Lý. Trên cơ sở này tôi đề nghị dân làng Ném Thượng tổ chức “Lễ hội Niệm Thượng” vẫn vào mồng 6 Tết nhằm tôn vinh công lao của tiền nhân trong hình thành xứ sở.

Hà Nguyễn

Wednesday, March 2, 2016

Một kiếp người

Ông già Sáu phải đi rồi. Nơi ông đến là nhà dưỡng lão của tỉnh. Buổi sáng trời âm u càng não lòng cảnh chia ly.

Lối xóm buồn, già Sáu đau lòng tưởng chết được. Chỉ người nhà già là vui mừng vì đã trút được gánh nặng. Có tiếng thở dài đâu đây. Chị Út bán xôi đưa già một gói thiệt lớn: “Ông Sáu ăn đi, chừng nào con đi bán ngang qua đó, con ghé thăm ông!”.

Thằng Minh gà nhét vô túi già mấy tờ giấy bạc: “Ông Sáu để dành mua bánh ăn. Ông đi, tụi con buồn quá! Phải chi con có tiền, con đem ông về nhà nuôi luôn!”. Già Sáu rưng rưng nước mắt. Con bé Thư đứng trước rào réo theo: “Ông cố đi chừng nào về? Ông cố đừng đi luôn nghe!”. Bà Sáu đong đưa võng, giọng chanh chua: “Đi đâu đi cho khuất, lải nhải hoài! Con Thư muốn đi theo thì đi luôn!”. Bé Thư sợ sệt quay lại. Mắt nó ngấn nước.

Già Sáu lên xe lôi. Chiếc xe lọc cọc trên đường. Già quay lại nhìn lần cuối nơi chốn mình đã sống bao năm. Đó là cái chòi lá cất trong vườn nhà. Nó ở sát góc đất, cách xa căn nhà lớn. Từ ngày biết già mang bịnh lao, cả nhà bắt già phải ở riêng (dù lúc còn ở nhà lớn, già cũng chỉ được ngủ ở cái chái để củi). Người ta nói: “Nuôi con nhờ lúc tuổi già”, vậy mà khi mang bịnh, lại trong tuổi đời bóng xế, cả nhà đều xa lánh già.

Bà Sáu là người đàn bà nanh nọc. Người chồng trước chết, bà có đứa con trai. Gặp ông Sáu, bà có thêm đứa con gái. Mấy năm cuộc sống khó khăn, ông Sáu phải lặn lội theo đám con buôn xuôi Nam ngược Bắc kiếm tiền. Đàn ông ra ngoài trên những chuyến đi dài ngày, không khỏi cảnh “cơm quán canh chợ”.

Chuyện tới tai, bà Sáu đùng đùng cơn giận. Bà cấm đứa con gái từ đây không được nhận cha. Mấy lượt về nhà, ông không được ai đón tiếp. Buồn bã, ông lại bỏ đi. Lần này, đằng đẵng 8 năm. Đứa con gái sống bên cạnh người mẹ dữ dằn lại được rót vào tai bao điều tệ bạc về cha mình, nên cũng chẳng chút tình máu mủ với ông.

Hay tin con gái lấy chồng, ông bỏ hết công việc kiếm tiền, trở về cho kịp ngày vui. Ông được vào nhà không phải vì vợ và con nghĩ lại, thương ông. Ông đem về nhiều tiền làm của hồi môn cho con gái và muốn được ở lại trong nhà. Lập tức tiền của ông được nhận.

Ngày cưới, ông cũng được uống ly trà của con rể và sau đó, ông được sống giống như một người làm vườn với những công việc nặng nhọc suốt ngày. Biết vợ là người đàn bà độc ác, tham lam, nhưng nghĩ mình cũng có lỗi, ông lặng lẽ làm việc nhà để sống gần con.
Hơn 20 năm, người đàn ông rắn rỏi thời nào, bây giờ đã trở thành một ông lão hom hem với căn bịnh lao phổi trong người. Dù được các cơ sở y tế điều trị hẳn hoi, dù già vẫn tuân thủ mọi điều được chỉ dẫn từ cán bộ y tế, già vẫn phải dọn ra sống riêng ngoài vườn trong cái chòi lá chỉ kê được cái giường cá nhân và một chỗ nấu ăn. Già thui thủi sống (nếu đó còn được gọi là cuộc sống).

Cháu ngoại có chồng, già được làm ông cố. Già thương cháu, nhưng không được đến gần. Ai cũng sợ già lây bịnh (dù xác định của ngành y tế, già đã hết bịnh từ lâu). Khi bà Sáu đi vắng, già tranh thủ chơi với bé Thư, làm cho nó mấy thứ đồ chơi từ cây lá trong vườn.

Một đứa con gái, hai đứa cháu ngoại và một đứa cháu cố là tất cả hạnh phúc cuối đời già. Nhưng xem ra, chỉ có bé Thư thật sự thương mến già. Còn đứa con và hai đứa cháu chỉ cư xử với già bằng thứ tình cảm giả tạm.

*

Thu Cúc đang thao thao kể về chuyến du lịch ở thành phố Đà Lạt. Nhân chỉ nghe bằng một nửa sự chú ý. Một nửa kia, anh cứ ngóng theo ông lão bán vé số vừa quen trong lần đi ủy lạo nhà dưỡng lão của tỉnh. Vốn là sinh viên khoa Du lịch, Nhân lại là thành viên Ban Chấp hành Đoàn trường, anh rất tích cực trong mọi công tác xã hội.

Thu Cúc là cô bạn gái cùng khoa, nhưng sau Nhân hai lớp. Nhân chưa biết nhiều về gia đình Thu Cúc, chỉ biết nhà Thu Cúc khá hơn mình. Gia đình Nhân nghèo. Anh phải làm thêm nhiều việc để có tiền lo cho việc học.

Đúng lúc ông lão băng qua đường, một chiếc xe gắn máy trờ tới quẹt phải. Ông lão ngã xuống. Nhân bỏ mặc Thu Cúc, chạy đi. Thu Cúc giận dỗi: “Làm gì gấp gáp dữ vậy! Ngày nào không có tai nạn. Đi mà không nói với mình một tiếng!”.

Thu Cúc về nhà với tâm trạng hằn học. Nhân đưa ông lão vào bịnh viện kiểm tra. Cũng may chỉ trầy xước nhẹ. “Bữa nay về nghỉ thôi ông Sáu, con đi trả vé giúp ông. Mà thôi! Con sẽ về trường nhờ bạn bè mua giúp. Chiều, con tới thăm ông rồi đưa tiền luôn”. Già Sáu - ông lão đúng là già Sáu - cười móm mém: “Cháu tốt bụng quá! Phải chi ông cũng có được một đứa cháu như vầy thì thiệt là có phước!”.

Nhân vừa nhẩm đếm mấy tờ vé số, vừa cười: “Thì con đã là cháu của ông rồi! Con không còn ông nội ông ngoại, con kêu ông là ông ngoại luôn nghe! Mà ông cực khổ đi bán vé số làm chi! Ở đây, ông vẫn được ăn no mặc ấm mà!”. Già Sáu lại cười móm mém cái miệng chẳng còn răng, đó là điều bí mật mà ngay cả Nhân, già cũng chưa hề chia sẻ.

*

Mới đó mà già Sáu đã vào nhà dưỡng lão được 2 năm. 2 năm với nỗi nhớ nhà, nhớ con, nhớ cháu. Già sống bằng những hột cơm nhân nghĩa của người đời, bằng tấm lòng trắc ẩn của chàng trai tốt bụng mà già đã coi nó như cháu ruột của mình. Già Sáu chưa bao giờ cho mọi người biết về những người thân của mình. Già sợ miệng đời nguyền rủa họ.

Một tuần nay, già bịnh nặng. Người ta đưa già nhập viện. Gia đình cũng được thông báo nhưng không ai tới thăm. Nhân vừa tốt nghiệp xong. Niềm vui không trọn vì tin già Sáu bịnh. Nhân lăng xăng suốt ngày ở bịnh viện. Thu Cúc nhắn anh tới nhà để mở tiệc mừng, Nhân không tới vì bịnh già Sáu đã nặng lắm rồi!

Sáng nay, già thều thào tâm sự với Nhân: “Ông nhớ đứa cháu cố lắm! Nó rất thương ông mà bà ngoại với mẹ nó cứ sợ ông lây bịnh. Bây giờ, ông chỉ muốn gặp nó một lần. Ông sắp đi rồi, không gặp nó làm sao ông đi được!”. Rồi ông lặng lẽ khóc. Nhân nghe nghẹn tức: “Ông nói địa chỉ đi! Con đi tìm giúp ông. Con không tin lại có loại người táng tận lương tâm, tới cha, tới ông mình cũng không nhìn”.

Nhân đứng tần ngần với tờ giấy ghi địa chỉ nhà mà già Sáu đã đọc cho anh. Thu Cúc từ trong nhà bước ra, sững sờ: “Trời đất! Anh tới sao không điện trước cho em? Sao bữa tiệc mừng anh không tới dự?”. Nhân mở mắt nhìn cô bạn gái của mình. Con bé Thư từ trong nhà chạy ra: “Dì Ba ơi! Con nhớ ông cố quá! Cho con đi thăm ông cố nghe!”.

Nhân nhìn con bé với đôi mắt to tròn và gương mặt đẹp như thiên thần, anh lắp bắp: “Ông Sáu đang ở nhà dưỡng lão… có phải là… ông ngoại của em không?”. Mặt của Thu Cúc bỗng trắng bệch như vừa vớt từ dưới nước lên. Cô nàng chưa hiểu vì sao Nhân lại biết điều bí mật này.

Nhân nói bằng giọng trầm trầm mà nghe như uất nghẹn, mắt không nhìn Thu Cúc: “Ông Sáu sắp chết rồi! Ông chỉ mong được gặp con cháu của mình để khi ra đi, lòng không đau xót nữa!”.

Nhìn đứa cháu ngoại dắt đứa cháu cố trong tay, già Sáu dường như có thêm sức mạnh. Già thì thào: “Bé Thư… bé Thư nhớ… ông cố… hông? Ông cố… thương… con lắm! Còn… Thu Cúc… nữa. Con… ráng… xong đại học. Ông ngoại… không… sống được tới ngày con lấy chồng. Ông ngoại có… số tiền… dành dụm… cho con”. Già Sáu run run lôi xấp tiền ông cất trong áo gối.

Nhân bật khóc. Anh biết đây là những đồng tiền ông kiếm được mỗi ngày từ việc bán vé số. Anh nhìn Thu Cúc và bỗng thấy cô nàng xa lạ quá trong mắt anh. Già Sáu đang chìm sâu vào giấc ngủ. Già đã trả xong phần nợ của mình. Cuộc đời này, già không còn lưu luyến nữa.

Truyện ngắn Ngô Nguyên

Linh hồn

Có khi nào đấy, bạn sẽ phải đấu vật với cuộc truy tìm ý nghĩa của đời sống, mặc cho bản thân đang bị rán như nem trên chiếc chảo của bao nhiêu nỗi khổ?

Bạn lặp lại câu hỏi của bao nhiêu triết gia, nhưng vì là người bình thường nên không thể lý giải được điều gì sáng suốt, đơn giản hơn họ. Bạn cũng đôi khi chia nhầm thời quá khứ động từ "sống", hoặc hào phóng chia nó ở thì tương lai. Có gì đâu. Cuộc sống vẫn bắt bạn phải ngạc nhiên từng ngày, vẫn phải tự vấn mà không có lời đáp.

Mở tivi ra xem, thấy một người giấu mặt chia tiền cho những người nghèo ở New York. Ở một nước giàu bậc nhất vẫn có những người chầu chực xem xếp hàng để sung sướng hân hoan nhận ít tiền, và biết ơn người cho tiền vì đã cứu họ qua được vài ngày trong thời khốn khó, thì cớ gì ở một nước nghèo, một người bình thường như bạn vẫn có thể chi tiêu vung tay có một lần mua sắm?

Bạn biết thêm tên gọi của một nỗi xúc động trong cơn khủng hoảng toàn cầu. Nhưng cũng có thể, bạn là số đông trong các hành khách chuyến tàu nọ thản nhiên nhìn cậu bé 13 tuổi bị bỏ rơi ở ga lẻ giữa đêm khuya, mà không hề nghĩ đến việc gom ít tiền giúp cậu, hay có mặt trong số hành khách đi trên những chuyến xe mà tài xế lạnh lùng từ chối cho cậu bé đi nhờ chỉ vì tiền túi đã bị móc sạch. Liệu bạn có rùng mình vì sự dửng dưng có thật ấy?

Đâu đó, ở mọi nơi đều diễn ra những chuyện tương tự, mà mỗi khi nghe bản tin thời sự, bạn lại thấy mình như già đi trước tuổi và thế giới này bất an, hỗn loạn làm sao! Điều gì khiến cho mọi người xung quanh bạn quay cuồng vì tiền, vì cái lợi trước mắt, mà hoàn toàn vô cảm với những số phận cần được chia sẻ? Bạn tự hỏi liệu bài học Yoga hay những cuốn sách tâm linh có giúp mình nhìn mọi thứ một cách bình thản và từ tâm? Hay một vài ý tưởng lóe sáng, bạn cảm tưởng sách mang lại cho bạn những khoảnh khắc ngộ ra rất nhanh, và rồi, tất cả lại tối tăm trở lại?

Những cảm giác đó, may mắn thay, vẫn tồn tại để bạn gắng giữ linh hồn mình, không bán nó cho những dục vọng tầm thường khác. Bạn cố giữ mình, vì tin rằng nhờ những câu hỏi hàng ngày mà bạn thức tỉnh để sống tốt hơn. Còn tin hay không là tùy vào những người chẳng bao giờ buồn đặt ra những câu hỏi về ý nghĩa của sự tồn tại. Họ vẫn sống, vẫn kiếm tiền rất giỏi, vẫn bất an, trách móc cuộc sống vì những điều chưa thỏa mãn, và vẫn tiêu phí món quà mà Thượng đế ban cho mỗi người có một lần. 

Linh hồn, cái phần quý giá ấy có thể sống sót qua hàng thế kỷ, vượt qua những cuộc khủng hoảng tinh thần, chỉ để được đặt đúng chỗ, để cứu chuộc và phục sinh...

Minh Thi

Tuesday, March 1, 2016

Vạn Vật Hữu Linh - Thần cây đa, ma cây gạo..

Thời còn mông muội, con người sợ và tin vào nhiều thứ, khiến nảy sinh tín ngưỡng "Vạn Vật Hữu Linh", "Đa Thần Giáo".

Khi săn thú để kiếm ăn, người ta tin có thần linh ngự trong muôn thú, sợ thần linh trách phạt, nên chỉ dám săn vừa đủ để ăn. Khi đốn cây để làm nhà, người ta tin có thần linh ngự trong cây cỏ, sợ thần linh trách phạt, nên chỉ dám đốn vừa đủ để dùng... Điều đó, vô hình trung, đã giữ được sự cân bằng sinh thái cho tự nhiên; ngoài ra, một cách sâu xa, cũng giữ được sự cân bằng tâm lý cho con người...

Xã hội ngày càng phát triển theo quy luật, nhận thức của con người cũng ngày càng phát triển theo trình tự. Khi không còn mông muội tin vào "thần linh" ngự khắp đó đây nữa, thì đồng thời con người lại phát triển ý thức Khoa Học - có ý thức bảo vệ sự cân bằng sinh thái cho tự nhiên, sự cân bằng tâm lý cho con người - nên biết đặt ra các giới hạn và quy chuẩn trong việc khai thác và chế ngự thiên nhiên.

Ngày nay, với sức mạnh công nghệ, con người có thể "tận diệt" thiên nhiên. Nhưng, bằng ý thức, con người biết đặt ra "Sách Đỏ" để giới hạn việc đánh bắt sinh vật, biết đặt ra các quy chuẩn về mắt lưới trong việc đánh bắt cá, về cỡ bẫy trong việc săn thú; biết nghiên cứu về sự thay đổi môi trường sinh thái trong khai thác và tái tạo rừng, trong khai thác quặng mỏ và quá trình hoàn thổ, trong quy hoạch thủy điện và sự tác động ở hạ nguồn... vv...

Nhưng ở các nước kém phát triển - như Việt Nam - khi nền văn minh cơ khí ập đến một cách cưỡng bách, mà văn minh tinh thần không thể theo kịp, thậm chí còn bị hủy hoại, thì con người vừa không còn bị giới hạn bởi tín ngưỡng "Vạn Vật Hữu Linh", vừa không được hướng dẫn bởi ý thức Khoa Học, nên việc khai thác trở nên bừa bãi vô tội vạ... Người Việt bắt thú non, chim con, thậm chí cả bào thai thú, trứng chim...; dùng ghe cào, xung điện, chất nổ để đánh bắt cá; xây dựng thủy điện tràn lan; chặt phá rừng để bán gỗ thô, đào xới quặng mỏ để bán quặng thô, khoan hút dầu mỏ để bán dầu thô... vv...

Từ khi cái chủ nghĩa "vô thần" và "phản khoa học" xâm lược Việt Nam, người Việt mất hết sự cân bằng tâm lý !!!

Bao nhiêu "rừng vàng biển bạc" cho đủ với sự tàn phá này... !?... !?... !?...
*****

"Thần cây đa, ma cây gạo"...

Dân Việt thờ rất nhiều, theo tín ngưỡng "Vạn Vật Hữu Linh", "Đa Thần".

Nhưng tựu chung, người ta thờ thường là bởi người ta "Sợ", "Sợ" thần, "Sợ" ma... Đến khi có đạo Phật thì họ cũng thờ do "Sợ" Phật, chứ không hẳn vì "Kính" Phật, hay nói đúng hơn là "Kính" giáo lý đạo Phật. Đến khi có đạo Chúa thì họ cũng thờ do "Sợ" Chúa, chứ không hẳn vì "Kính" Chúa, hay nói đúng hơn là "Kính" giáo lý đạo Chúa...

Cứ coi như thần, ma, Phật, Chúa... có quyền năng ban phúc giáng họa thì người ta thờ cũng phải, nhưng như con cọp, chỉ đem lại tai họa vào cái thời mà người ta còn phải sống lẫn trong thiên nhiên, người ta cũng thờ. Trong khi đối với những giống vật hiền lành vô hại như con nai, con thỏ, hay những giống vật nuôi có ích như trâu, bò, gà, chó, heo... thì người ta không thờ, nếu có chăng thì cũng rất mờ nhạt.

Bởi vậy cho nên, đối với thần, ma, Phật, Chúa... người Việt mới ít dùng từ "Kính Trọng", "Kính" đi đôi với "Trọng", "Trọng" bởi vì "Kính", "Kính" cho nên "Trọng"... Nếu "Kính Trọng" thì người Việt đã tự giác làm điều tốt đẹp, lương thiện, cao thượng...; tự giác không làm điều xấu xa, độc ác, hèn hạ... dù thần, ma, Phật, Chúa... có mặt để "chứng giám" hay không.

Đối với thần, ma, Phật, Chúa... người Việt thường dùng từ "Kính Sợ", "Kính" đi đôi với "Sợ", "Sợ" bởi phải "Kính", "Kính" vì phải "Sợ"... nên người Việt mới lén lút làm nhiều điều xấu xa, độc ác, hèn hạ... rồi "hối lộ" thần, ma, Phật, Chúa..., "hối lộ" trong mọi lúc, ở mọi nơi, bằng mọi thứ... để "xin xỏ" nhiều đến vậy... Hóa ra, cái lòng "Kính" ấy giống như "Khinh", cho rằng thần, ma, Phật, Chúa... chẳng biết gì, cứ "hối lộ" cho nhiều là "xin xỏ" được hết... Cho nên "Kính Sợ" mà như là "Khinh Sợ", có nhiều thứ người Việt "Khinh" nhưng vẫn "Sợ", như những bọn quan tham, lại nhũng, côn đồ, du đảng...

Đối với bọn quan tham, lại nhũng, người Việt mặc dù sau lưng rất "Khinh", chẳng lời nào nói hết, nhưng trước mặt thì rất "Sợ", và phải làm ra vẻ rất "Kính".

Mà bọn quan tham, lại nhũng cũng vậy, đối với dân thì chúng viết trong hiến pháp ra vẻ rất "Kính", rất "Sợ", nào là "đại diện trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức, nhân dân lao động và cả dân tộc"; nào là "gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân"; nào là "của dân - do dân - vì dân"; nào là "dân biết - dân bàn - dân làm - dân kiểm tra"... vv... và... vv..., mà kỳ thực là rất "Khinh", chẳng lời nào nói hết.

Cả xã hội Việt Nam đều "sống trong dối trá" như vậy, từ thần quyền cho đến thế quyền, từ thế quyền cho đến thần quyền...

Lộn xà ngầu... !!!...

Dân Việt, những người chủ thật sự của đất nước, cần phải làm gì để cho bọn quan tham, lại nhũng trở thành những "công bộc", biết "Kính Trọng" "Công Dân"... !?... !?... !?...