Friday, December 23, 2016

Thị dân hay tiểu nông?

Chuẩn là chuẩn nào?

Có hai thí dụ cho thấy thành phố của chúng ta đang ngổn ngang thế nào khi muốn đánh giá cái chuẩn về văn hóa, đạo đức, quan niệm xã hội. X. kể lần nọ đi xe ôm, anh với người lái chuyện rất vui về vùng quê cậu ấy, nơi X. sơ tán hồi chiến tranh, được người nọ cho quả bầu nhà kia gọi đi ăn giỗ. Đang râm ran thì “kít”, “có con bé người xóm cháu đang đi bộ kia, cho nó lên đi cùng nhé”. X. không chịu, vì đã trả tiền để chỉ đi một mình. Cậu lái hậm hực: “Thế mà chú cứ kể như thương cái làng cháu lắm”. Là người cả nghĩ, X. bần thần mất ít lâu.

Chuyện sau thì được đăng báo hẳn hoi, trên một tờ thiên về văn hóa. Tác giả đứng chờ đèn xanh ngã tư, một cô gái đến từng xe phát tờ rơi quảng cáo, có người xem rồi buông, có người giữ lại. Những người không thèm liếc qua đã vứt ngay bị phê phán: sao mà tàn nhẫn, làm đau lòng cô gái kia – chắc chắn ở quê ra – đang phải phơi ra giữa nắng bụi để kiếm sống.

Sẽ có nhiều thái độ, phẩm bình khác nhau quanh những ứng xử này, tựu trung có thể chia đôi ra. Loại “thiên về tình” bênh vực kẻ nghèo khốn, những thân phận xe ôm đứng đường, trách móc đám vô cảm vô tình ỉa đái vào cả nông thôn, cái gốc của đất nước. Xứ này những ông thượng thư xưa tiến sĩ nay ai không có vệt bùn dính ở bắp chân đây? Loại “có lý tính” bảo sao phải trả tiền cả chỉ để ngồi nửa mông, còn cô gái phát tờ rơi phải biết mình đang xả rác ra thành phố chứ.

Nghĩa là hai “quan điểm” đều có chỗ xuất phát khác nhau. Những khập khễnh ấy nhiều như bụi bậm trong thành phố, khiến cứ dấm dứt, bực bội, nhùng nhằng vô kể. Và khi được “nâng tầm” lên, lại có những câu khác hệ trọng hơn: Người nghèo đáng được bênh vực hơn chứ, thành phố này chỉ có “người tỉnh” được ở thôi à, thử một ngày không có ô sin giúp việc, thợ nông nhàn ra xây cất có nháo lên ngay không… Đường phố, nhà cửa lộn xộn là do chính quyền quản lý kém, cớ đâu cứ nhè “người quê” mà trách móc. Và nhìn vào những chỗ vinh hiển mà xem, toàn thị người quê đấy chứ!

Sang “phía kia”, là nhận xét người nhập cư nhiều quá làm Hà Nội bị nông thôn hóa, “người gốc” đang rúm ró, chả còn vai trò gì trong đời sống xã hội sất. Dường như nhìn vào thủ đô mà hội đồng nhân thành phố Đà Nẵng - nơi đang được coi là có môi trường sống dễ chịu nhất nước - ra nghị quyết hạn chế nhập cư, muốn sống ở đây phải có những giá trị, phẩm chất nào đó. Đà Nẵng bạo tay lắm, cấp tiền cấp đất kéo nhân tài về khiến Huế bên kia đèo Hải Vân sót ruột, nhưng tiến sĩ thạc sĩ phải thứ thiệt, chứ thứ được “phổ cập” bằng tiền và luận văn cắt dán thì nghỉ cho khỏe. Cái quyết tâm rất rắn kia rồi phải đình thực thi, vì “vi phạm quyền tự do cư trú”. Còn trên mạng, nó bị “ném đá” tơi bời vì “thiếu tình người”.

Mới đây trên tivi, ông nghị Dương Trung Quốc bảo đã ở thành phố thì phải theo chuẩn đô thị. Kỉ cương trước hết. Dây nhợ tình nghĩa xét sau. Cái điều đó thật hiển nhiên thời Pháp thuộc, khi những “min đơ min toa” như trong truyện Vũ Trọng Phụng rất ít, cả khu phố vẫn sạch sẽ nghiêm trang. Thế mà giờ này, giời ạ, lại phải đem ra bàn.

Mà bàn trên ti vi, trong tòa thị chính, các hội nghị là một chuyện, ngoài kia dân kiếm sống vẫn cuồn cuộn đổ về. Đất đai ở quê có giữ được người đâu.

Ngôi làng vĩ đại

Châu thổ sông Hồng có “đặc sản” làng. Làng chắc chắn có trước nước. Quốc gia quốc hiệu nhiều lần vong, làng vẫn tồn tại. Các đời vua nối nhau sinh ra, vắn vài chục, dài nhất vài trăm năm rồi ngủm cả, dù người ta dạy dân cái câu “trung quân” vằng vặc. Nhưng làng vẫn trơ trơ vững. Lũ lụt tràn qua, dịch bệnh có lúc xóa trắng một vùng, ngoại xâm trôi cả triều đình…, bao can qua làng lại hồi sinh, khôi phục, phương trưởng. Ai đó nhận xét vì cuộc sống gắn chặt với đất nên nông dân là lực lượng kiên cường nhất khi giặc giã đến, nhờ đó quốc gia – đất nước tồn tại được.

Làng độc lập muôn năm. Vua ngự trên cao tít tắp, đặt “phép nước” chủ yếu để thu thuế, rồi vẫn thua phép làng. Đấy là một trật tự tưởng như lỏng lẻo mà nghiêm ngặt, thít mỗi thành viên chặt không thể tưởng, lại mềm mại bao dung trong cái vòng gia trưởng cũng thật là. Ông bà nào thằng con nào sinh ra cũng đã là con của một gia đình, thuộc về một họ tộc, phe giáp, lớn lên học chữ thầy nọ học nghề trùm kia. Và ắt phải là người làng ấy tổng ấy. Ngần ấy quan hệ đeo người ta đến lúc chết, con lại vác tiếp. Là đơn vị khép kín, làng có tôn ty nghiêm ngặt, như chánh phó lý tiên chỉ chỉ trong bấy nhiêu họ to, còn trương tuần bảo nông “phân” cho họ nhỏ.

Trót sinh ra là con mõ thì an phận con mình cháu chắt mình dao thớt hầu người suốt đời. Lại phân theo nội với ngoại tịch, kẻ đến sau phải vài đời mới được tính là người làng, dù trước đó đóng chả sót khoản nào và cũng chả kém danh giá; một đặc điểm khép kín, bài ngoại lai. Dù đỗ đạt bắc bậc, “nhân thân” người đi xa khi về làng vẫn phải đọ theo “vai”, “tính” sai cả gia đình phải chịu tiếng nhà tôm đội cứt lên đầu. Chuyện nữa, là rủ nhau “chém bỏ mẹ đứa đến tán gái làng mình”, “ta về ta tắm ao ta” chứ lỵ!

“Triều đình trọng tước, hương đảng trọng xỉ”. Thôn hương trọng người có tuổi, răng mọc trước. Đâu như thời Pháp thuộc đã có viên toàn quyền thay hội đồng kỳ mục bằng hội đồng tộc biểu, gồm các vị già lão, có uy tín đại diện từng họ lớn, được sáu năm lại khôi phục như cũ. Đây có thể là hình ảnh một thứ như hội đồng nhân dân hôm nay, với “chức năng” chính là ra đình ăn cỗ và biểu quyết việc làng theo ý chánh tổng, lý trưởng, những người điều hành trực tiếp. Các cụ cao tuổi, những ông “hội đồng gật” ấy, dù quyền bính chả đến đâu, cũng là một lực lượng, tạo nên một sức ép lên đám cầm triện, kiểu “cháu tao mới chết sao bắt chồng nó đi phu phen này”. Giữa những áp lực kiểu đó, liệu có thể hình dung rằng trật tự làng nghiêm ngặt, khép kín, dẫn đến trì trệ, nhưng hiếm khi sự ác độc quá đáng diễn ra được? Có một mức độ dân chủ đấy!

Trong tôn ty ấy, dĩ nhiên cá nhân, một khái niệm của đô thị, không thể hình thành được. Mỗi cá tính đều bị chẹt từ trứng nước thì sao mọc mũi sủi tăm lên. Giáo sư Trần Quốc Vượng có một “ức thuyết” về Chu Văn An rất chi rùng rợn. Ông này có bố người Trung Hoa đến lấy vợ làng Quang Liệt, tức đã là “ngoại tịch”. Gốc Trung Hoa nên “chân Nho”, nhà người xử thật đúng phép đúng đạo, đòi vua chém bẩy quan tham đã đành, mà học trò lừng lẫy cỡ Phạm Sư Mạnh đến chúc tết cũng chỉ cho ngồi dưới hỏi han chốc nhát.

Thói “bắc bậc” ấy về làng làng ghét cho, đâu như đang võng giá nghênh ngang có “đứa” ngồi bờ ruộng quay đít lại. Nhiều lần thế, nhà người giận, ném nghiên mực lên trời rồi bỏ lên Chí Linh mở trường, thề rằng làng này từ nay đứt mạch khoa bảng. Hình dung tiếp chuyện của giáo sư Trần sẽ nghiệt ngã nữa, nhưng nó gợi ra rằng làng vừa bài ngoại vừa không cho phép tồn tại tính cá nhân. Cộng đồng, với những nền nếp, trật tự từ bao đời mới là trên hết. Nhân văn, bao dung đấy nhưng cũng cay nghiệt không tưởng. Những ả đốn đời gọt gáy bôi vôi, những thằng trộm cắp bị đày ra trại, những kẻ chưa bị đuổi đi nhưng sống giữa điều tiếng thị phi…, thật khổ sở vô cùng tận. Không được coi là thành viên cộng đồng, còn gì khốn nạn cho bằng

Với hàng nghìn năm tồn tại, làng hình thành nên truyền thống vững chắc, dẻo dai. Mỗi con người sinh ra ở đây đều bị áp khuôn từ trong trứng. Lớn lên, họ cũng có xu hướng vươn ra ngoài – thi cử hoặc đi buôn chẳng hạn, khá giả thường dựng sẵn nếp nhà ở quê, có tuổi về dưỡng nhàn. Nhưng “phú quý (mới) quy cố hương”, cũng có người sợ mất mật lệ làng, những đồng đình đồng họ trả nợ miệng nhiêu khê chả bao giờ hết. Dù sao, từ đây những giá trị nhân văn được tạo dựng: sự bao bọc, nếp đầm ấm, tối lửa tắt đèn có nhau. Cạnh đấy là trở lực cho sự phát triển.

Phát triển không cần nhiều đặc tính làng, những giá trị đã có cả nghìn năm. Làng đang phân rã do nhiều lý do, kể đáng tiếc lắm. Thật là mâu thuẫn khi vừa muốn hiện đại, hòa nhập, vừa không muốn mất đi ngôi làng, nhất là khi đó là ngôi làng này, của tôi, chỉ tôi có.

Ta ra ta cày đường nhựa

Người Việt ta có nhiều đợt di chuyển nơi cư trú. Truyền thuyết để lại cuộc du cư (có người nói vui là cuộc ly dị) đầu tiên của Lạc Long Quân, đem năm mươi con xuống bể. Sử chính thống nhắc đến những đận nhổ gốc trốc rễ đến trồng nơi xa, lác đác từ Lê Thánh Tông rồi ồ ạt theo Nguyễn Hoàng vào vùng đất Chăm. Các chúa Nguyễn lại “di thực” sang Chân Lạp hoang vu, tha hồ khai phá, để lại cấu trúc thôn ấp thưa thớt, nhà cửa rải rác bên kênh rạch đi mãi mới tới hàng xóm.

Gần gụi hơn, chừng sáu chục năm nay, nhiều gia đình cán bộ, bộ đội chuyển nhà ra Hà Nội, kéo theo người làng người họ. Sau năm 1975, Tây Nguyên thành đất hứa với sáu chục tỉnh thành cả nước. Người Tày, Dao, Nùng từ vùng núi kiệt màu Việt Bắc rùng rùng vào cả bản, người Thanh Nghệ từ bỏ phù sa sông Chu sông Con, người Quảng dưới sườn Đông Trường Sơn kéo lên… Tây Nguyên mênh mông thế mà cạn kiệt quỹ đất. Cà phê, dâu tằm, hồ tiêu mọc lên xóa sạch rừng cùng nền văn hóa bản địa, đem lại sự giầu có ngùn ngụt cho dân mới. Chả có nơi đâu đổi đời họ nhanh đến thế.

Nhưng đi thế xa quá, để mồ mả ông bà lại đau đớn lắm. Có một cách không thương tổn bằng, nhưng từ từ, chậm rãi, ổn định, đủ ăn…, là về thủ đô. Về lúc nông nhàn hoặc ở hẳn, làm bất cứ công việc gì bọn người phố thị cần. Đấy là lựa chọn của đông đảo nông dân châu thổ sông Hồng, vùng quê giờ táo tác, ở lại còn tinh người già con trẻ. Đất đai bị lấy cho “công nghiệp hóa”, không bị cũng chả sinh lãi lờ.

“Giầu nhà quê không bằng ngồi lê kẻ chợ”, phận bán mặt cho đất bán lưng cho giời bạc lắm. Nên chi kéo ra thành phố, anh em, vợ chồng chia nhau người ở người đi hoặc ra cả. “Trùng trùng quân đi như sóng”, đến mùa cấy hái, mùa gặt, tết giỗ ta về, rồi lại ra. Dĩ nhiên là những đặc tính làng được mang theo, áp vào phố thị. Phải nói là phố thị rất cần lực lượng lao động này, cả thô lẫn tinh. Về văn hóa, tính cách, họ bổ sung sự khỏe mạnh, hồn nhiên vào chất mềm mại tinh tế của “người cũ”. Không ít tài năng, nhân cách lớn tụ về, đào luyện, trưởng thành.
*****
Nhưng đông đảo quá, họ làm thành phố biến dạng, ra đời cái loại hình nửa tỉnh nửa quê.
                  
Đầu tiên, là họ có yêu cái thành phố - thủ đô của họ không? Khó mà nói là không có chút nào. Nhưng ở đấy nhà cửa đều đã có chủ, nếp ăn ở khác “làng mình”. Còn những di vật di tích, sự giao lưu với bốn phương, làm thế nào mà đáng yêu bằng mái đình, phong tục bản quán được.

Dần dà, những người ấy có khẩu có nhà, đứng lại được, vài đời là thành “người phố”. Nhưng có những biến thái ly ty cho thấy thị dân Hà Nội chả khác lắm so với người tiểu nông. Đầu tiên là tâm lý tư lợi, chỉ lo cho mảnh “rau xanh” của mình. “Người nông dân không nhìn quá luống cày”, đâu như Mác nói thế. Một thời hợp tác hóa thất bại vì trâu bò ruộng rẫy ao chuôm đều của tập thể, còn mỗi mảnh “rau xanh” là của mình.

Thị thành cũng chỉ là mảnh ruộng chung, không gian kiếm lợi thuần túy. Chả phải quê ta với mái đình bờ ao yêu dấu, nơi ta leo trèo nô nghịch từ bé, việc quái gì phải nâng niu gìn giữ, cứ dùng cho nó nhầu nát, bạc phếch ra. “Cha chung không ai khóc”, từ đấy đến chỗ “mất tiền mua mâm thì đâm cho thủng” chả xa xôi gì. Tập quán đi lại, sinh hoạt bừa bãi, chả tuân thủ phép nước hình thành rồi phát triển, còn là nhờ nhà chức trách rất chi buông lỏng. Ngôi nhà của mình, dù là nhà hờ, giống ruộng “rau xanh” lau chùi sạch bóng, nhưng con chuột chết vứt ra đường chả sợ nghe chửi.

“Chào cờ xã ta”, co cụm lại là một tâm lý khác. Ở làng có thể thờ ơ, nhưng đi xa thời phải hát bài ca kết đoàn. Có tý quyền lực trong tay, người ta mang thân thuộc chèn vào bên cạnh cho chắc chắn, đặng bành trướng tiếp. “Một người làm quan cả họ được nhờ” là thế. Có thể coi Hà Nội như mảnh đất hoang màu mỡ, người ra trước như một “dinh điền sứ”, kéo theo họ hàng làng tổng. Những tập người hình thành trong lòng thành phố, mỗi nơi một “luật” riêng che chắn, bảo vệ nhau. Ngần nấy cái “lệ làng” đè nghít kỷ cương đô thị. “Hương đảng tiểu triều đình”, các cụ xưa nói thế. Nhìn vào những “phe giáp” trong cơ cấu xã hội có tổ chức phức tạp, “cao cấp” hơn ngày hôm nay, rõ ràng có lợi ích từng “làng” trong đó, có lẽ phải nghĩ đến câu “Triều đình đại hương đảng”.

Nông dân quen sống cộng đồng, trong hương xã có việc gì thủng ra liền lao xao nhưng khi “quyết” đều là ở cụ chánh ông lý, trưởng họ hay người có tuổi (nay thay bằng hệ thống cán bộ). Vì không có cá thể, tỉnh thành đổi nếp ấy thành “tập thể chịu trách nhiệm”. Hệ thống quan liêu cứ thế vận hành, trì trệ, tù đọng nhưng chả ai phải ngay ngáy lo. Những nhà quản lý quen thuộc văn hóa làng sẽ chả dị ứng gì trước loa phường dông dổng tước đoạt không gian cá nhân. Cá nhân là một khái niệm của phương Tây, xa lạ với công xã nông nghiệp. Trên tàu xe, chỗ công cộng, người này đụng chạm vào người khác mà chả sợ tiếng “xâm phạm”. Ăn cỗ cưới gắp dúi dụi cho người khác bất kể người ta có thích lại là biểu hiện của chu đáo.
*****
Mang những tâm lý trên ra Hà Nội, bản thân người nông dân tha hóa đi. Tâm lý sinh tồn cộng cảm với tâm lý “đấu tranh giai cấp” trước “bọn” thị dân. Ai mà ngờ được, thành phố hóa ra là nơi tự do nhất. Ở quê có chú bác kiềng ra, đi qua đình miếu giữ mồm kẻo Thánh phạt, chứ phố thị ai giữ phận nấy chả nhắc chả phạt. Đi đường chèn lấn, mua bán không xếp hàng, chửi tục nói bậy đều tha hồ..., một thói quen bừa bãi hình thành, dần dà trở thành văn hóa. Và “Hà Nội cũ” với những trật tự nền nếp “bọn thực dân” áp vào cứ ngày một lốp lép trước đoàn người xâm thực đông đảo.

Rồi một ngày có “người quê” ra tỉnh làm ăn kiểu trên mời ta về làng. Trong ngôi nhà, dưới mái đình, bên bờ ao thân thuộc, người ấy lại trở về thuần phác, nhuần nhị như bao giờ, như chưa từng… Lạ thay!

Monday, December 19, 2016

Lễ là cái... gì?

Này! Chẳng hiểu ai ở Bộ mình nghĩ ra việc treo khẩu hiệu "Tiên học lễ - Hậu học văn” cứ chềnh ềnh ở cổng các trường suốt mấy mươi năm. Có văn bản chính thức nào quy định bắt buộc không? Hay chỉ là các ông bà hiệu trưởng tự phát, thấy học trò thời nay láo quá rồi vơ luôn nó làm cái khiên tự vệ.

Ông bạn chuyên gia giáo dục đào tạo nước ngoài hỏi: Đó là triết lý giáo dục của Việt Nam sao? Mà nội hàm của nó quá khó hiểu.

Tra từ điển Việt-Anh (Lạc Việt trên mạng) càng phát hoảng: Lễ có bốn nghĩa chính: Kownow - quỳ lạy, khúm núm; to give money, present - cúng tiền, tặng quà; rite lễ - nghi, nghi thức, và festival, holliday - ngày hội, ngày nghỉ. Sứ mạng đầu tiên của giáo dục là dạy học trò khúm núm, hối lộ, tập nghi thức và dự lễ hội!!!

Tôi xua tay rối rít: No, no! Lễ đây là theo kinh điển Khổng giáo: như quân thần - phụ tử - phu thê (vua với quan, cha với con, vợ với chồng đối với nhau ra sao), quân tử - tiểu nhân khác nhau thế nào, quy tắc sống nhân, nghĩa, lễ trí, tín phức tạp lắm... phải tra từ điển tiếng Hán mới thấy!

Ông ta ồ à: Thế là ưu tiên môn giáo dục công dân, dạy kỹ năng sống... Cũng hay, nhưng lạc hậu quá. Sao giáo dục XHCN, hiện đại lại lấy giáo điều Khổng 2.500 năm cũ làm kim chỉ nam? Đến đó thì mình "tịt": Tôi cũng chả hiểu. Giống như các Văn Miếu thờ Khổng tử được tôn làm biểu tượng, lâu đài văn hoá quốc gia. Ở Trung Hoa ổng cũng chả được độc tôn như ở ta!

Hỏi các thầy cô giáo "Tiên học lễ" là mình dạy cái gì? Trả lời: Chả dạy gì hết. Không có môn Lễ, cũng không có nội dung chỉ thị hướng dẫn gì. Chỉ chung chung là "con ngoan trò giỏi", lễ phép với thầy cô, với người lớn, giữ vệ sinh chung, không ăn quà vặt, "cổng trường em sạch đẹp"...

Ông thầy tóc bạc sâu sắc hơn giải thích: Khẩu hiệu này ý nói học sinh đi học trước hết là học làm người có lễ nghĩa, đạo đức nhưng nếu lấy nội dung Kinh lễ ra mà dạy thì quả có hủ lậu. Nữ sinh mà phải Tại gia tòng phụ/xuất giá tòng phu/phu tử tòng tử (ở nhà tuân theo bố, lấy chồng tuân theo chồng, chồng chết tuân theo con (trai trưởng)... thì là vi phạm pháp luật, vi phạm nhân quyền mất rồi!

Phỏng vấn phụ huynh về "Tiên học lễ". Có ba nhóm quan điểm khác nhau.

Nhóm một, phần lớn là phụ huynh nghèo vùng sâu/xa: Chúng em thất học có biết Lễ là môn quái gì đâu. Các cháu được đến trường là phúc đức lắm rồi. Lễ chắc là tốt thì các thầy cô mới dạy trước chớ. Tụi em tuy nghèo nhưng vẫn lễ lạt đầy đủ. Rằm nào cũng biện đủ cái lễ trên chùa/đền cầu các vị phù hộ cho cháu nó học hành tấn tới!.

Nhóm thứ hai, phần lớn là nhà giàu: Chúng tôi không quan tâm. Các cháu nhà tôi học trường quốc tế từ mẫu giáo, đứa lớn thì du học. Tụi nó không học Lễ nhưng tiếng Anh với chuyên môn khá, đạo đức cũng đạt, biết tự chủ lắm, ra trường có việc liền, lương cao. Ta "Tiên học lễ" mấy thập niên rồi mà chất lượng vẫn đì đẹt thì nên thay đi. Vô ích, có khi còn cản trở không biết chừng.

Nhóm thứ ba, phần lớn trung lưu, có trình độ: Triết lý GDĐT hủ lậu, thậm chí phản động. Thời nay mà hòng khôi phục tư tưởng phong kiến! May mà đại bộ phận giáo viên không hiểu đạo Khổng, không học "tứ thư ngũ kinh", không áp dụng triệt để cái cùm "Lễ" chứ không thì còn khốn nữa! Các vụ giáo viên đánh phạt học sinh tàn bạo mà không hề áy náy bị báo chí lên án làm ta nhớ tới tín điều "yêu cho roi cho vọt" theo Lễ cổ xưa. Không hiểu sao Ủy ban Văn hoá Giáo dục không thấy chướng! Bộ ta nếu có chủ trương nêu triết lý này thì xin hãy chỉ đạo cụ thể, nhồi nội dung hiện đại, hợp thời vào cho chữ Lễ - và hướng dẫn công nghệ "tiên học lễ" tới các trường. Mà thế cũng chỉ thêm rắc rối. Tốt nhất là khuyến cáo các trường xóa ngay cái slogan tù mù này đi!

Hỏi trẻ con, học sinh thì phản hồi muôn hình vạn trạng nhưng tựu trung là nông cạn lơ mơ: Các bé cấp một tất nhiên không thể biết "lễ" là cái gì. Với cấp trung học Lễ là lễ phép, thêm nữa là biết chào hỏi, không nói tục chửi bậy. Cá biệt có em trả lời: Không quên ơn thầy cô, đi lễ, tặng quà thầy cô ngày nhà giáo hay ngày quốc tế phụ nữ. (Dịp này phần lớn phụ huynh đều nhớ "biện chút lễ mọn" gửi thầy cô, ghi rõ họ tên con mình kẻo thầy cô nhớ nhầm sang con người khác!)...

Nghĩa của Lễ trong phạm vi GDĐT của chị mới tù mù khó hiểu chứ ngoài đời bọn em Lễ dễ hiểu vô cùng: Trong sáng là lễ hội, vui chơi thả dàn. Thần bí là lễ bái đủ đình/chùa/đền/miếu/phủ... Đen tối là biếu xén, đút lót, phong bì, móc ngoặc, hối lộ... Chả có gì sâu xa khó hiểu cả. Những kỹ năng sống ấy ai ai cũng phải có. Không có đố mà sống nổi. Cụ Khổng thánh thật! Hai nghìn năm còn cứ thời sự rành rành!

Tâm lý tiểu nông, sức ỳ nghìn năm

Vì được củng cố bởi những điều kiện kinh tế và xã hội ngưng đọng hàng nghìn năm nên tâm lý tiểu nông có tính bảo thủ và sức ỳ rất lớn. Thể hiện trước hết ở đặc điểm người Việt ít có sự khẳng định về cái tôi cá nhân, về nhân cách độc lập của mình. Người Việt ít khi xưng “tôi” mà luôn hòa tan mình vào các mối quan hệ cộng đồng, thường xác định vị thế và trách nhiệm của mình trong quan hệ cộng đồng để có xưng hô tương ứng: Là anh, là em, là con, là cháu, v.v.. Cái cá nhân gần như bị hòa tan, gần như bị che lấp bởi con người cộng đồng. Đặc điểm văn hóa này có ở mỗi người dân, bám vào họ một cách bền chặt và dai dẳng trở thành một đặc điểm tâm lý Việt bền vững.

Nếu trong thời chiến tranh, việc đề cao giá trị cộng đồng, đặt lợi ích cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân là hợp lý, chính đáng và cần thiết thì trong điều kiện hội nhập toàn cầu, mỗi cá nhân cần phải được khẳng định cái tôi, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Điều đó gặp sự cản trở rất lớn của tâm lý cộng đồng chi phối. Tâm lý này là một trong những nguồn gốc của thói dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể, không dám chịu trách nhiệm: “Cha chung không ai khóc"; tâm lý cầu an, thụ động kiểu “nước nổi lo chi bèo chẳng nổi”, thiếu chí tiến thủ, “Ai sao tôi vậy” hay “Anh nhất thì tôi cũng nhì/ Ai hơn tôi nữa tôi thì thứ ba”, chỉ lo giữ mình và lo đối phó, thụ động, thiếu trách nhiệm xã hội, thiếu ý thức công dân. Chính vì vậy, tư tưởng cả nể có cơ hội để phát triển, mọi người luôn nghĩ “Đóng cửa bảo nhau”, “Rút dây động rừng”. Do vậy, không khuyến khích được sự phát triển tính tích cực, năng động, sáng tạo của các cá nhân.

Cần có sự phân biệt mặt trái của tâm lý cộng đồng với truyền thống coi trọng các giá trị cộng đồng - vốn là một trong những giá trị truyền thống của dân tộc đã được thử thách qua thời gian. Nhờ thế con người không ngừng rèn luyện các phẩm chất cá nhân để hướng tới những giá trị cộng đồng cao đẹp. Sự coi trọng tính cộng đồng là một giá trị truyền thống quý báu, là nguồn sức mạnh nội sinh của đất nước. Điều này khác với mặt trái của nó, là tâm lý dựa dẫm, ỷ lại, trông chờ vào tập thể...

Quá coi trọng đến mức phụ thuộc cái cộng đồng sẽ đẻ ra tính bình quân chủ nghĩa, cục bộ địa phương, đố kỵ, mất đoàn kết, không muốn người khác hơn mình, bảo thủ, trì trệ,... Những nét tiêu cực này mâu thuẫn gay gắt với những yêu cầu phải tôn trọng các hợp đồng kinh tế, các điều khoản, các quy định luật pháp trong nền kinh tế thị trường, trong hội nhập và giao lưu với nước ngoài, nhất là với các nước công nghiệp phát triển.

Tính tự trị, tự quản tương đối hoàn chỉnh của làng - xã và óc cục bộ địa phương của người nông dân xưa kia làm cho họ chỉ thấy lợi ích chật hẹp của làng mình, không thấy lợi ích của làng khác và của cả nước (trừ những lúc đất nước bị ngoại xâm và thiên tai đe dọa). Xuất phát từ tâm lý cục bộ địa phương, nhiều làng (nhất là những làng nghề), trong Lệ làng còn có những quy định khắt khe nhằm giấu nghề bằng cách không truyền nghề cho người làng khác. Tính hẹp hòi, vị kỷ, “bí quyết” nghề nghiệp đó hiện nay vẫn còn tồn tại, ảnh hưởng đến sự hội nhập và phát triển.

Làng xã Việt Nam truyền thống về cơ bản là làng xã nông nghiệp. Nền kinh tế làng xã mang tính tự cung, tự cấp. Mọi sinh hoạt đều bị bó hẹp bên trong lũy tre làng, ít có điều kiện giao lưu với bên ngoài, khép kín với thói quen sản xuất nhỏ, manh mún, phân tán. Phương thức sản xuất này cùng với tính khép kín trong quan hệ dòng họ, thôn xóm dẫn đến tư duy của người tiểu nông không có tầm nhìn xa, không có tính chiến lược, bảo thủ trong sự tiếp nhận cái mới.

Cách tư duy ấy, cách nhìn ấy, cùng với sự rụt rè thiếu tự chủ của con người cá nhân trong cộng đồng là điều kiện để nảy sinh tâm lý bám làng; dù đói, dù no cũng bám lấy làng mình, ở lại làng mình: “Ta về ta tắm ao ta...”. Người nông dân thích sự ổn định, an phận, ngại đi xa để làm ăn mở mang tầm nhìn, họ chỉ muốn “an cư lạc nghiệp” nên nảy ra tâm lý cầu an. Người tiểu nông Việt Nam vốn ưa cái thanh bình, tĩnh lặng, nhẹ nhàng, ngại sự thay đổi. Nếu người phương Tây sống trong xã hội công nghiệp một năm có thể thay đổi chỗ ở vài lần thì ngược lại, người tiểu nông sống trong xã hội văn minh nông nghiệp cả đời có khi chỉ sống một nơi, một chốn. Điều này dẫn tới những khó khăn trong việc phân công lại lao động hay trong các hợp tác quốc tế về lao động.

Mảnh đất làng xã Việt Nam cổ truyền được coi như mảnh đất màu mỡ để hạt giống ý thức hệ Nho giáo “cấy” vào. Nho giáo đã có những mặt tích cực rất đáng kể đóng góp vào sự phát triển của xã hội phong kiến Việt Nam. Ảnh hưởng của Nho giáo cùng chế độ đẳng cấp làng xã coi trọng tầng lớp “sĩ”, kết hợp với tâm lý trọng danh đã dẫn tới sự quá coi trọng việc học hành, khoa bảng. Mặt tích cực là sản sinh ra truyền thống hiếu học. Sự coi trọng danh tiếng, danh dự - kết quả của lối sống cộng đồng và đề cao sự thừa nhận của cộng đồng, ở mức độ hợp lý là điều đáng quý, đáng trân trọng, cần kế thừa. Nhưng nếu coi trọng học vị khoa bảng một cách hình thức “một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”; coi thường thương nghiệp, kỹ nghệ, sẽ là sự lệch lạc nguy hiểm.

Mặt trái của tâm lý quá coi trọng danh tiếng còn được biểu hiện ở thói khoa trương hình thức và “bệnh sĩ diện”. Người Việt rất giản dị và tiết kiệm, “bóp mồm bóp miệng” trong sinh hoạt ngày thường thì trong những dịp lễ hội, đình đám,... lại rất phung phí tiền của, “vung tay quá trán”. Thời kỳ công xã nguyên thủy, việc tổ chức ăn uống cộng đồng là một hoạt động có mục đích thắt chặt tình cảm cộng đồng, thì đến thời phong kiến, ở nhiều nơi, truyền thống đó bị bóp méo thành hủ tục. Trong các dịp ngày lễ, Tết, đám xá... việc tổ chức ăn uống lại là dịp để người ta khoa trương thanh thế, để “trả nợ miệng”... Những tiêu cực này không chỉ xảy ra trong các lễ tết, hiếu hỉ, mà còn xâm nhập cả vào trong các dịp sinh hoạt hội họp, tổng kết,... Dĩ nhiên chúng để lại những di hại cả về kinh tế lẫn văn hóa - xã hội.

Cũng do ảnh hưởng của Nho giáo mà trước kia xuất hiện tâm lý khinh thường hoạt động buôn bán, chỉ coi trọng: Văn, Đạo và Đạo đức. Do vậy tâm lý xem thường nghề buôn (họ mỉa “con buôn”: Thật thà cũng thể lái trâu...) đã bám rễ sâu vào suy nghĩ con người, khiến cho nghề buôn trong lịch sử Việt Nam không phát triển. Điều này làm cho nông nghiệp trước Cách mạng Tháng Tám rơi vào tình trạng biệt lập, khép kín. Tư tưởng trọng nông, ức thương cho đến nay vẫn còn tồn tại, khó có thể khắc phục được ngay. Đây là một khó khăn để thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, trong đó ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc dân, là một trở ngại trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường và quá trình giao lưu học hỏi hội nhập với quốc tế.

Saturday, December 17, 2016

Hình thức - Bệnh “thâm căn cố đế” của người Việt

ThS Trần Văn Phương cho rằng, chuộng hình thức là căn bệnh “thâm căn cố đế” của người Việt, đến nỗi ở đâu cũng thấy.

Người Việt hay quan tâm đến hình thức, từ chuyện coi “lời chào cao hơn mâm cỗ” đến việc chuộng bằng cấp, làm gì cũng cốt sao cho “bằng anh bằng em”, được “nở mày nở mặt” với khu phố, xóm làng… Theo các nhà nghiên cứu, đó là căn bệnh trầm kha của người Việt.

Chỉ thực dụng mặt... tâm linh

ThS Trần Văn Phương, cán bộ nghiên cứu, giảng dạy văn hóa cho rằng, chuộng hình thức là căn bệnh “thâm căn cố đế” của người Việt, đến nỗi ở đâu cũng thấy.

Đoạn, ông Phương dẫn ra những câu chuyện thực tế để minh chứng cho điều mình nói: Đến nhà bạn chơi, dù trong bụng rất đói nhưng vẫn từ chối khi được bạn mời cơm, vì nếu đồng ý ngay thì sợ mang tiếng là tham ăn. Ngay người mời đôi khi cũng là hình thức, mời vì phép xã giao, cho có chứ trong lòng thực tâm lại chẳng muốn khách ăn chút nào.

Hay việc cưới xin, ma chay, đời người ai chả gặp thì làm gì có chuyện “ma chê, cưới trách”. Chẳng qua là người ta quá quan tâm đến hình thức, xem việc làm cỗ ra sao, mời gọi mình thế nào chứ lại không quan tâm đến việc làm ma có suôn sẻ không, đôi trẻ có vui không. Nếu như không làm mâm cao cỗ đầy, nhất lại là khi gia đình có điều kiện thì sẽ bị dị nghị rằng keo kiệt. Vậy nên người ta rất sợ mang tiếng với xóm làng, khu phố mà cố làm cho thật to. Thậm chí, dù kinh tế gia đình không cho phép nhưng vẫn chạy vạy, vay mượn để cho “bằng chị bằng em”, được “nở mày nở mặt” với xóm làng... Đó là những biểu hiện của bệnh hình thức đã ăn sâu vào tâm thức người Việt.

Rồi trong việc đi lại, cái xe máy, ô tô hay xe đạp cũng chỉ là phương tiện giúp con người ta di chuyển. Đáng ra chỉ cần mua xe số cho hợp túi tiền thì người Việt lại có tâm lý mua xe tay ga, xe đắt tiền, coi đó như một sự nâng cao giá trị bản thân và cũng được xã hội công nhận. Hay khi xây nhà, đáng ra chỉ cần 50m nhưng cứ xây thêm 10m nữa dù chẳng ở hết các phòng, chỉ cốt để khách đến chơi nhà khen nhà cửa rộng rãi... Vì chuộng hình thức như vậy nên người Việt có xu hướng ít quan tâm đến công năng sử dụng.

Tuy nhiên, trong thực tiễn người Việt chuộng hình thức bao nhiêu thì trong đời sống tâm linh người Việt lại thực tiễn bấy nhiêu. Bằng chứng là đi lễ, người ta sẽ cố gắng sắm sanh những mâm cao cỗ đầy, của ngon vật lạ với tâm niệm “tốt lễ dễ kêu”, tin tưởng vì thế mà thần linh sẽ ban phát cho mình nhiều điều tốt đẹp.

Chạy theo giá trị ảo

Cũng theo ThS Trần Văn Phương thì chính căn bệnh chuộng hình thức khiến người Việt luôn chạy theo giá trị ảo, từ đó sinh ra bệnh thành tích. Cuối năm họp tổng kết, cơ quan nào cũng muốn nhận bằng khen là đơn vị trong sạch vững mạnh, dù tăng trưởng chẳng là bao, thậm chí thua lỗ. Ngành giáo dục thì phấn đấu đạt kết quả tốt nghiệp càng cao càng tốt, có nơi 99 - 100% đỗ tốt nghiệp THPT nhưng điều đó không phản ánh thực chất dạy và học. Rồi thì đi đâu cũng thấy làng văn hóa, khu phố văn hóa, gia đình văn hóa, dù ở đó vẫn có cờ bạc, mại dâm, đánh nhau, nghiện ngập... Người ta nhìn vào những bằng cấp, danh hiệu... để đánh giá năng lực, trình độ của con người, thế nên mới sinh ra việc mua bằng, dùng bằng giả...

Điều đặc biệt nguy hại, theo ThS Trần Văn Phương là căn bệnh chuộng hình thức, chuộng thành tích đã được giáo dục ngay từ khi trẻ còn học... mẫu giáo, thông qua những tờ phiếu bé ngoan. Dĩ nhiên, đó là động lực khuyến khích trẻ phấn đấu hơn, nhưng mặt trái của nó là tạo cho trẻ suy nghĩ rằng chỉ kém cỏi mới không nhận được tờ phiếu ấy. Từ đó trẻ tự ti, mặc cảm với bạn bè, thậm chí bị cha mẹ trách cứ.

Sống trong một môi trường mà người ta cố gắng để đạt được những giấy chứng nhận, danh hiệu này kia, kể cả bỏ tiền ra mua danh hiệu sẽ khiến cho những đứa trẻ quen dần và cũng biết chuộng hình thức như người lớn. Cứ thế, cả xã hội chạy theo thành tích, theo hình thức mà quên đi những giá trị cốt lõi làm nên nhân cách, phẩm giá con người. Dĩ nhiên, những thứ đó không phải chỉ nằm ở các danh hiệu.

Chuộng hình thức vì chỉ có hai thái cực giá trị

Vậy vì sao người Việt lại trọng hình thức đến thế? ThS Trần Văn Phương lý giải là từ tính tò mò, hiếu kỳ, tâm lý đám đông của người Việt. Người Việt hay để ý của nhau. Vậy nên khi thấy người khác có được cái gì hay ho, mới mẻ thì cũng cố gắng để “nở mày nở mặt”, bằng bạn bằng bè, sắm cho kỳ được.

Còn theo PGS. TS Ngô Văn Giá thì do xã hội người Việt truyền thống là xã hội đẳng cấp. Toàn bộ cấu trúc làng xã nhìn con người theo phận vị. Do con người cá nhân không phát triển, xã hội lại không có dân chủ và bình đẳng bởi ảnh hưởng nặng nề của Nho giáo (“quân xử thần tử, thần bất tử bất trung; phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu”, “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”), thành thử bao giờ người ta cũng nhìn theo tiêu chí hơn hay kém hoặc đúng hay sai. Nó khác với xã hội dân chủ, ở đó con người cá nhân phát triển, người ta biết phát hiện ra những cái khác nhau, độc đáo ở mỗi cá nhân rồi bổ sung cho nhau, tôn vinh nhau lên.

Đằng này, chỉ với hai thái cực giá trị (đúng - sai, hơn - kém) nên dẫn đến loại trừ nhau, từ đó mà chạy theo những thứ hào nhoáng, tưởng như thật mà không thật. Bởi lẽ, tiêu chí đúng - sai, hơn - kém không phải lúc nào cũng chính xác. Anh lấy mô hình của cái anh cho là bậc trên, là đúng để chạy theo nhưng không phải lúc nào những thứ đó cũng là giá trị thực.

Cũng vì chuộng hình thức mà người Việt háo danh, sợ mình bị lép vế với thiên hạ nên thích huân chương, thành tích. Cứ đạt được một giải thưởng nào đó là đã tự mãn huênh hoang rồi. Xã hội cũng nhìn vào đó mà trọng vọng, làm cho căn bệnh hình thức mãi phổ biến.

PGS.TS Văn Giá cho rằng, để hạn chế căn bệnh này của người Việt cần phải bổ sung một nguyên lý quan trọng nữa trong xã hội là tìm ra giá trị độc đáo ở mỗi cá nhân, để tất cả được quyền chung sống thân ái, bình đẳng với nhau, bổ sung cho nhau và làm cho xã hội phong phú lên. Chỉ nhìn theo tiêu chí kém thì xã hội sẽ bị đẩy vào sự triệt tiêu, loại trừ lẫn nhau. Có khi chỉ còn là sự ghen ăn tức ở, ích kỷ. Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận “sẽ rất khó để xóa bỏ được căn bệnh này”.

Theo nhà văn Tạ Duy Anh, bệnh hình thức khiến người Việt sinh ra thói sính ngoại. Ông phân tích: Chính từ việc “bế quan tỏa cảng”, thói tự mãn, tự bằng lòng với những gì mình có nên người Việt lạc hậu quá lâu về phương diện kỹ thuật, công nghệ. Dần dần dẫn đến tâm lý mình không có khả năng đó, hoặc khả năng đó không phải là mặt mạnh, như những người láng giềng. Vì thế, thấy cái gì của nước ngoài cũng lạ, cũng hay, cũng tốt. Từ thói sính ngoại - như một thói quen tiêu dùng biến thành bệnh sính ngoại - như một sự méo mó về tinh thần. Nó được cổ vũ bằng thói sĩ diện và ngày càng trầm kha.

Saturday, December 3, 2016

Liệu chúng ta có đang sống chỉ để làm việc và mua sắm?

1. Chúng ta sống để làm gì? Câu hỏi này gần như được đặt ra mỗi ngày, với mỗi người. Bạn, những người quanh bạn đang sống để làm gì? Tất cả chúng ta, mọi người trên thế giới này đang sống để làm gì? Những câu trả lời sống để ăn, để ngủ, sống để tìm ý nghĩa cuộc đời, sống để yêu thương… tôi cho rằng đều là những câu trả lời chưa thỏa đáng. Chúng ta sống tất nhiên không chỉ vì những việc tầm thường như ăn và ngủ. Chúng ta càng không sống vì những mục đích lớn lao cao cả như tìm ý nghĩa đích thực của cuộc đời, ghi dấu ấn vào cuộc đời hay thay đổi thế giới. Ít nhất không có nhiều người làm được những điều đó trên cuộc đời này, hình như không phải chúng ta. Vậy thì phải có thứ gì đó ở giữa, thứ gì đó mà mọi người đều sống vì nó như một quy luật tất yếu, thứ mà phần đông mọi người đều chấp nhận và tuân theo, một thứ gì đó đại trà và phổ biến.

Tôi không có câu trả lời chính xác cho câu hỏi này, nhưng gần đây, khi tiếp xúc với một số lý thuyết và luận điểm thú vị, tôi đã bắt đầu mường tượng ra. Liệu, chúng ta, tất cả chúng ta đều đang chỉ sống để… làm việc. Vâng, là làm việc, có bao nhiêu người trên đời này sống mà không cần làm việc hay chưa từng làm việc? Bản thân việc “làm việc” đôi khi không hẳn là thứ mọi người muốn nhưng chẳng mấy ai có thể tách nó ra khỏi cuộc sống cả. Khi còn nhỏ chúng ta được đẩy đến trường học ngày qua ngày tháng qua tháng không phải vì mục tiêu hiểu biết, mà để mong sau này đậu đại học, ra trường kiếm được một công việc làm. Khi lớn lên đã có việc làm, chúng ta gần như dành trọn tuổi trẻ cho công việc, lãng quên đam mê và những thứ khiến ta hạnh phúc thật sự. Cho đến khi về hưu mục tiêu của mọi người luôn là cố gắng làm việc để chứng tỏ bản thân, để được cống hiến và cụ thể hơn là để được không phải làm việc khi về già.

Đúng vậy, mọi người làm việc để không phải làm việc về sau. Việc làm từ khi nào đã trở thành nỗi ám ảnh, thành mối quan tâm hàng đầu của mọi lớp người trong xã hội. Tất nhiên, mục tiêu của nó là làm việc để kiếm tiền duy trì cuộc sống, duy trì rồi thì làm việc để nâng cao chất lượng cuộc sống và theo đuổi các tiện nghi khác. Vậy tôi có thể nói “làm việc” chính xác là thứ người ta sống để làm hay không?

Tất nhiên theo cách này hay cách khác, dù việc ta thích hay không, dù việc to hay nhỏ, dù làm vì mục tiêu gì, mọi người đều sống để làm việc. Không giây phút nào trên trái đất này không có người làm việc, dù ngày hay đêm, dù trên mặt trời hay dưới lòng đất, trên biển hay trong đất liền, dù làm việc bằng tay chân hay bằng đầu óc, dù ở bờ biển hay trong nhà hàng… Mọi nơi, mọi lúc đều có người đang làm việc.

Câu hỏi đặt ra là, chúng ta có thật sự cần làm việc nhiều như thế để duy trì cuộc sống? Thế giới này có cần nhiều người làm việc như vậy mới có thể duy trì và phát triển? Tại sao người ta không sống vì hạnh phúc, sống để tạo ra những giá trị đích thực hay tạo ra những thứ lớn lao ý nghĩa mà cứ phải sống để làm việc ngày qua ngày? Liệu có một tương lai nào tốt đẹp cho những con người chỉ muốn làm việc vừa đủ không?

2. Tôi từng đọc được một bài luận rất hay, đại ý bài luận ấy nói rằng chúng ta hoàn toàn không cần thiết phải làm việc 8 tiếng/ngày để duy trì cuộc sống. Bài luận đưa ra những luận điểm thuyết phục mọi người hãy quẳng bớt công việc đi, hãy sống cho ra sống, sống để hưởng thụ, để trải nghiệm, để trân trọng thời gian chứ không phải sống để làm việc. Một bài luận nhận được rất nhiều sự phản đối từ mọi người, đúng vậy, phản đối, chứ không phải đồng tình. Như kiểu ai cũng thích làm việc cả, kiểu như phải làm việc không ngơi nghỉ thì mới tồn tại được trên trái đất này.

Làm tôi lại nhớ tới một câu nói trên status của anh H.H (founder Triết Học Đường Phố):

“Bạn có để ý thấy những ai thường bị giết, ám sát không? Luôn là những người kêu gọi hòa bình, đoàn kết, yêu nhau: Jesus, Gandhi, Lincoln, John Kennedy, John Lennon, Bobby Kennedy, Martin Luther King, Malcom X… và Bùm một phát, ngay đầu. Rõ ràng là loài người chưa bao giờ sẵn sàng cho những tư tưởng như thế.” – George Carlin.

3. Công nghiệp hóa là một bước tiến vĩ đại của loài người, nhưng lại là một bước tiến tồi tệ đối với trái đất. Nó khiến cho hàng hóa dư thừa, khiến cho tất cả mọi người phải quay cuồng theo cái vòng xoáy bất tận của sản phẩm, sản xuất, hàng hóa, lưu thông, mua sắm rồi lại làm việc, kiếm tiền, mua sắm, sản xuất, khai thác, vứt bỏ rồi lại làm việc, lại mua…

Hãy bắt đầu với thời gian làm việc của loài người nói chung. Ngày xưa người lao động phải làm việc tới 16 tiếng/ngày và 7 ngày/tuần để có thể bắt kịp tiến độ của máy móc đang dần trở nên thịnh hành. Mọi việc thay đổi khi một người có tên Robert Owen bắt đầu tổ chức chiến dịch đòi quyền cho công nhân không làm việc quá 8 tiếng/ngày, khẩu hiệu của ông là “một ngày làm việc 8 tiếng, vui chơi tận hưởng 8 tiếng và 8 tiếng còn lại để nghỉ ngơi”.

Thật không may, một trong những người đầu tiên đáp ứng yêu sách này của ông, chính là vị doanh nhân nổi tiếng Henry Ford. Ông đi đầu trong việc phê chuẩn cho công nhân của mình rút ngắn giờ làm còn 8 tiếng và thậm chí còn tăng gấp đôi lương. Điều này đã tạo nên bước ngoặt rất lớn cho sự phát triển của xã hội. Mọi người làm việc hăng say hiệu quả hơn, chỉ trong một thời gian ngắn đã đem về cho công ty gấp đôi lợi nhuận.

Các doanh nghiệp và tập đoàn lớn bắt đầu học theo ông và chẳng mấy chốc, cả thế giới bằng lòng với mức lao động 8 tiếng/ngày và 5-6 ngày/tuần. Vấn đề ở chỗ, khi Henry Ford kí quyết định đó, không phải vì ông lo lắng cho sức khỏe của công nhân hay gì tương tự thế, lý do của ông được tiết lộ rằng: “Tôi đồng ý mọi người cần làm việc ít đi, để có thời gian mà ra ngoài mua sắm, phải vậy thì nền kinh tế mới phát triển được, tất nhiên, mua sắm ô tô cũng nằm trong danh sách đó.” Đó có thể coi như một bước ngoặt lớn trong lịch sử phát triển của xã hội, khi người ta giảm ½ thời gian làm việc để dành thời gian cho việc mua sắm, vô hình chung đã hình thành nên xã hội đương đại của chúng ta hiện nay. Xã hội của vật chất, của tiêu dùng, phá hoại và rất nhiều điều tệ hại đi kèm.

4. Đồng ý với quan niệm của Story of Stuff, tôi cũng phản đối sự ảnh hưởng của chủ nghĩa tiêu dùng, không phải lên tôi, mà lên xã hội này cũng như trái đất này. Công nghiệp hóa khiến cho hàng hóa trở nên dư thừa. Các nhu cầu căn bản được đáp ứng lại nảy sinh ra những nhu cầu mới, hết nhu cầu mới lại có những nhu cầu cũ được làm mới, cứ thế nó xoay tròn loài người trong cái vòng xoay bất tận để thỏa mãn những thú vui vật chất mà quên đi cái đích đích thực của kiếp người. Chính chủ nghĩa tiêu dùng, chứ không phải cộng hòa, dân chủ hay quân chủ mới là siêu chủ nghĩa, mới là thứ chi phối tất cả mọi người, ở khắp mọi nơi, đủ mọi lứa tuổi, màu da, giới tính… Mọi người đều ở trong nó, bị nó chi phối, hoàn toàn tự nguyện.

Vậy tại sao chủ nghĩa tiêu dùng lại không tốt? Vì nó khiến cho chúng ta, tất cả chúng ta, đều chạy theo vật chất, chạy theo những thứ hàng hóa bám ngoài da. Nó thay đổi nếp suy nghĩ và cả phương thức sống của mọi người. Chủ nghĩa tiêu dùng nói rằng, nếu như bạn không mua sắm, bạn là người tệ hại, bạn không giúp xã hội phát triển, bạn là người vô dụng. Nó nói rằng, nếu bạn không mua sắm bất cứ gì, thì cuộc sống của bạn là vô nghĩa, bạn tụt hậu, bạn thua kém mọi người. Chủ nghĩa tiêu dùng nhồi vào đầu óc người ta rằng sống là phải mua sắm, rằng giá trị con người bạn nằm ở những thứ đồ vô tri trên người bạn, xung quanh bạn chứ không phải bản thân bạn, nó nhất định cho rằng mua sắm là cách làm cho xã hội phát triển, là cách khiến bạn chứng tỏ giá trị và là cách để đánh giá một con người, một quốc gia.

Tại sao người ta không đánh giá một quốc gia bằng những chỉ tiêu như độ hài lòng, độ hạnh phúc, độ an toàn, độ trong lành xinh đẹp, mà lại chỉ đánh giá qua những con số “tổng sản phẩm quốc nội hay tổng sản phẩm xuất nhập khẩu”. Tại sao người ta không đánh giá nhau qua những giá trị đóng góp cho người khác, cho gia đình, cho xã hội mà lại đánh giá qua những đồ vật họ có thể mua và có thể mang bên mình? Sở dĩ chúng ta phải làm việc 8 tiếng cũng chỉ vì lẽ đó, vì phải kiếm tiền để mua sắm, vì nếu không có tiền, không mua sắm ta sẽ bị tụt hậu, bị người khác chê cười, bị đánh giá là người tụt hậu, nghèo hèn.

Ta không thể nào cứ đi mãi chiếc cub cùi khi được nói mỗi ngày bên tai rằng xe này mới sành điệu, xe kia mới mạnh mẽ. Ta không thể dùng mãi cái điện thoại cùi khi 24/7 mọi phương tiện truyền thông đều bô lô ba la rằng dòng điện thoại mới này là cần thiết, là tuyệt vời, là hoàn hảo, là không thể thiếu trong cuộc sống. Mà cho dù ta có giữ được bản thân khỏi sự hấp dẫn của những món hàng, chỉ sử dụng những thứ đúng nhu cầu, thì, liệu những người xung quanh có còn ai muốn chơi, muốn quen biết, muốn giao thiệp hay hợp tác với ta không?

Thật ra đây chỉ là một khía cạnh nhỏ tiêu cực của chủ nghĩa tiêu dùng. Sự thật nó còn tệ hại hơn nhiều. Theo Story of Stuff, sản xuất hàng hóa chính là chủ đề được ưu tiên hàng đầu của mọi quốc gia trên thế giới này. Vâng, không phải y tế, giáo dục, đời sống, an toàn hay gì cả, mà chính là kinh tế, chính là việc sản xuất hàng hóa. Chính phủ các cấp quan tâm và ưu tiên nó đến nỗi, ở nhiều nơi, các tập đoàn còn giàu mạnh và ảnh hưởng nhiều hơn cả chính phủ, thậm chí nó chi phối cả chính phủ các nước.

Tất cả những gì chủ nghĩa tiêu dùng quan tâm, là làm sao để sản xuất được nhiều hàng hơn, bán được nhiều hàng hơn cho mọi người. Vâng, chỉ có thế. Và nó làm mọi cách để đạt được điều đó. Chắc hẳn bạn còn nhớ khi đi học chúng ta được dạy về quy trình sản xuất hàng hóa như thế nào, rằng hàng hóa đến từ nhà sản xuất, qua kênh phân phối, đến tay người tiêu dùng.

Đó chỉ là một phần rất nhỏ của quy trình. Họ không dạy chúng ta rằng trước cả khâu sản xuất, hàng hóa là những tài nguyên bị đào khỏi lòng đất, bị chặt khỏi rừng, bị xới tung và tận diệt. Họ cũng quên không nói rằng, hàng hóa nào cũng chứa những hóa chất độc hại sẽ đi vào cơ thể theo cách này cách khác.

Họ càng quên không nói rằng, để làm ra được một sản phẩm người ta phải thải ra bao nhiêu chất độc hại, ô nhiễm ra môi trường, phải tận dụng bao giờ làm việc của những người lao động cùng khổ và sau cùng phải mất bao nhiêu chi phí để hàng hóa đến được tay chúng ta. Và họ cũng chẳng nói với ta rằng những thứ hàng chúng ta mua sẽ mau chóng bị lỗi thời và hư hỏng, chúng ta sẽ lại phải mua những món hàng mới, còn những thứ đồ cũ vất đi sẽ bị chôn vào lòng đất, sẽ góp phần hủy hoại môi trường.

Không, họ không nói với chúng ta điều đó, bởi vì họ còn bận nhồi vào đầu ta rất nhiều thứ khác: rằng mua sắm là việc nên làm, cần làm và phải làm, rằng hãy mua sắm để thể hiện giá trị con người bạn, rằng bất cứ thứ gì bạn cần trên đời, bạn đều có thể mua được. Các tập đoàn, các công ty và xí nghiệp làm mọi biện pháp để duy trì thứ chủ nghĩa này. Họ biến chúng ta thành những kẻ thụ động, những kẻ sống hời hợt, chạy theo trào lưu, vây quanh những món hàng vô tri vô giác, họ biến mục đích sống của chúng ta trở nên tầm thường. Biến mọi con người thành nhỏ nhen, ích kỷ, vụ lợi và tính toán. Đó chính là mặt trái xấu xí của chủ nghĩa tiêu dùng. Nó bắt chúng ta làm lụng vất vả để có tiền mua sắm, mua mỗi ngày, mua nhiều hơn nữa và sau cùng đút tiền vào túi của các nhà tài phiệt.

Theo một vài khảo sát, người Mỹ ngoài thời gian làm việc chính thức thì chỉ làm hai việc: mua sắm và xem tivi, mua sắm thì là mua sắm rồi, nhưng xem tivi cũng lại là một kênh mua sắm khác nữa, tivi ném vào bạn hàng trăm mẫu quảng cáo mỗi ngày, quảng cáo trực tiếp, gián tiếp, quảng cáo liên tục không bao giờ ngừng nghỉ. Đó chính là cách thức chủ nghĩa tiêu dùng chi phối chúng ta. Nó nhắc ta mỗi ngày rằng ta là người tụt hậu, quê mùa, xấu xí, răng ta xấu, tóc ta hư, da ta tệ hại và đồ dùng của ta thì lỗi thời và quê kệch.

Truyền thông là một công cụ hữu hiệu phục vụ cho chủ nghĩa tiêu dùng. Nó nhắc ta mua sắm mỗi ngày, nó làm mọi việc chỉ để chạy theo mục tiêu lợi nhuận và bán hàng của các nhà sản xuất. Nó không quan tâm tâm tư tình cảm và nhu cầu cao cấp của con người, nó đơn thuần chỉ là một công cụ. Và dường như càng ngày thứ công cụ này càng lớn mạnh, đến nỗi con người không thể sống mà thiếu chúng?

Chủ nghĩa tiêu dùng, nói tổng quát, chính là chủ nghĩa vật chất, nó làm cạn kiệt tài nguyên, phá hủy môi trường, nó khiến con người phải làm việc ngày đêm cho những sản phẩm họ không thật sự cần tới, để làm hài lòng những người không quen biết, làm vừa lòng cái xã hội này.

5. Nếu như một ngày làm việc rút ngắn lại 4 giờ cho mọi người làm việc sản xuất đủ nhu cầu tiêu dùng của thế giới, hàng hóa không còn dư thừa, mọi người trân quý đồ dùng hơn, có nhiều thời gian để sống cho chính mình, cho những đam mê, những nghiên cứu, những sáng chế và nhiều thời gian hơn cho con cái, cho gia đình. Điều đó không phải rất tuyệt sao? Bạn nghĩ điều này là vô tưởng? Nhưng chẳng phải nó đã từng xảy ra trong quá khứ rồi sao? Khi giờ làm việc chính thống 16 tiếng được rút thành 8 tiếng/ngày. Vậy giờ nếu lịch sử lặp lại một lần nữa, thời gian làm việc được rút thêm một lần ½, thế giới này sẽ ra sao?

Chắc hẳn rất nhiều người chưa bao giờ hình dung được cuộc sống trong thế giới đó. Liệu người ta làm việc ít hơn trái đất có ngừng quay không, cây cối có ngưng sản xuất oxi và người ta có chết vì lo lắng cái ăn cái mặc? Không, nhất định là không, có thể người ta sẽ bớt mua sắm chi tiêu lại một chút, có thể người ta sẽ muốn dành nhiều thời gian bên con cái, dạy dỗ chúng trở thành người tự lập, tự kiếm tiền, tự mua nhà chứ không cố sống cố chết mua nhà để sẵn cho chúng.

Có thể người ta sẽ có nhiều thời gian để đi du lịch khắp nơi cùng nhau, biết rõ và tường tận về địa lý và các vùng miền của nước nhà, trải nghiệm những không gian văn hóa khác nhau. Có thể người ta sẽ muốn đi ra thế giới nhiều hơn, học hỏi được tinh hoa văn hóa của cả nhân loại nhiều hơn. Có thể người ta sẽ có nhiều thời gian để vui chơi, đọc sách, trau dồi tri thức, kỹ năng và dành nhiều thời gian, tình cảm hơn để ở bên người thân. Có thể bọn trộm cắp sẽ thôi không hoành hành khi họ cũng có thể có được cuộc sống như bao người, khi đồ dùng đắt giá không phải mối quan tâm của ai cả mà tâm tư, tình cảm và những hoạt động nhân văn mới là thứ người ta mong muốn.

6. Tổng lại hai ý lớn ở trên, rằng con người có cần làm việc 8 tiếng/ngày không để suy trì và làm hài lòng cái chủ nghĩa tiêu dùng ích kỷ? Tôi cho rằng không. Tại sao phải làm việc 8 tiếng/ngày khi chỉ cần 4 tiếng/ngày chúng ta có thể giải quyết mọi việc sản xuất mọi thứ đủ cho nhu cầu của cả thế giới? Tại sao người công nhân phải làm 8 tiếng để sản xuất gấp đôi những cái kẹp ghim, những cái móc quần áo, những cái tăm xỉa răng chất đầy trong kho?

Điều đó là không cần thiết. Thế giới không cần đến những kho hàng đầy ắp dư thừa như thế chỉ vì mục tiêu lợi nhuận của các tập đoàn. Thế giới cần được phát triển theo những phương thức khác, nhân văn hơn, sâu sắc và ý nghĩa hơn. Trái đất lại càng căm ghét chủ nghĩa tiêu dùng, nó hủy hoại môi trường, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên mất hàng tỉ năm mới có được. Nếu như con người chỉ sản xuất những thứ cần thiết, vừa đủ cho nhu cầu thì hẳn trái đất này sẽ rất đẹp xinh. Không khí trong lành, cây cối xanh tươi, chim thú đa dạng, con người và thiên nhiên hòa nhập với nhau.

Các bạn sẽ nói đó là một thế giới không tưởng hay lý tưởng, sao cũng được, chúng ta hãy cứ hình dung, cứ tưởng tượng đi, chẳng ảnh hưởng gì tới cuộc sống thực cả, nhưng nếu ý tưởng này có thể tác dụng dù chỉ một chút ít lên lối sống của chỉ một ai đó, làm cho nó tốt đẹp hơn, không phải thế cũng tuyệt rồi sao? Tin vui là chúng ta có tiền đề và nền tảng để xây dựng thế giới đó, chỉ là chúng ta có thực sự muốn và đủ năng lực tư duy để chấp nhận nó hay không mà thôi. Tại sao thế giới không cần người ta phải làm việc 8 tiếng/ngày? Nếu nhìn theo một góc nhìn khác bạn sẽ nhận ra nhiều điều thú vị.

Các bạn sẽ nói đó là một thế giới không tưởng hay lý tưởng, sao cũng được, chúng ta hãy cứ hình dung, cứ tưởng tượng đi, chẳng ảnh hưởng gì tới cuộc sống thực cả, nhưng nếu ý tưởng này có thể tác dụng dù chỉ một chút ít lên lối sống của chỉ một ai đó, làm cho nó tốt đẹp hơn, không phải thế cũng tuyệt rồi sao? Tin vui là chúng ta có tiền đề và nền tảng để xây dựng thế giới đó, chỉ là chúng ta có thực sự muốn và đủ năng lực tư duy để chấp nhận nó hay không mà thôi. Tại sao thế giới không cần người ta phải làm việc 8 tiếng/ngày? Nếu nhìn theo một góc nhìn khác bạn sẽ nhận ra nhiều điều thú vị.

Bạn có cho rằng, chúng ta không cần quá nhiều đồ dùng, thế giới này không cần đầy ắp hàng hóa như hiện tại không? Và đặc biệt là trái đất này càng không hề muốn chủ nghĩa tiêu dùng được duy trì quá lâu, quá sâu sắc như hiện nay. Chẳng việc gì phải chặt hàng rừng cây để sản xuất ra những bộ bàn ghế cồng kềnh chất đầy các showroom hay đóng thành những tập giấy chất đầy ắp các kho hàng. Nếu chúng ta chỉ sản xuất đủ nhu cầu của thế giới, không dư thừa thì bao nhiêu tài nguyên, bao nhiêu cánh rừng trên đời được bảo tồn và tươi tốt? Chẳng việc gì phải mất hàng ngàn giờ lao động của những đứa trẻ vị thành niên ở thế giới thứ ba để sản xuất ra một kho quần áo khổng lồ lỗi mốt mỗi ngày, hàng tấn tấn thực phẩm hư hỏng hết hạn dùng phải thiêu hủy mỗi giây.

Đó là một sự lãng phí khủng khiếp mang tính tàn bạo của chủ nghĩa tiêu dùng. Nó thà sản xuất ra hàng đống hàng đống hàng dư thừa để rồi phải thiêu hủy còn hơn là chia đều cho những người cần đến chúng. Theo S.O.T, chỉ trong vòng vài trăm năm loài người đã khai thác hết 1/3 tổng lượng tài nguyên trên trái đất, cứ cái đà khai thác, sản xuất như thế để thỏa mãn những nhu cầu thứ cấp thì loài người sẽ phải cần tới 5 trái đất mới đủ tài nguyên cung cấp thỏa mãn nhu cầu ảo này. Vâng, là 5 trái đất, nhưng bạn biết đấy, trái đất đẹp xinh này chỉ có một thôi, một duy nhất thôi. Sao chúng ta lại lỡ quên điều đó mà cứ thoải mái ăn xài như hiện tại?

Con người được đặt lên trái đất này với một sự ưu tiên tuyệt đối so với mọi loài, được sử dụng mọi quyền lợi trong khả năng với điều kiện con người phải bảo tồn những giá trị cả vật chất lẫn tinh thần của trái đất này. Tiếc thay loài người chúng ta là những kẻ tham lam, chúng ta tận diệt trái đất mà chẳng có biện pháp nào để bảo vệ và bảo tồn nó cả, chưa đủ và sẽ không bao giờ đủ.

Chúng ta không chỉ lấy mọi thứ của trái đất, chúng ta cũng trả về cho nó, nhưng là trả về những hóa chất độc hại, những nguồn nước bị ô nhiễm và hàng tỷ tỷ tấn rác thải trong đó rất rất nhiều là rác thải công nghiệp, độc hại, không bao giờ phân hủy. Chúng sẽ mãi còn ở đó dù hàng ngàn năm nữa trôi qua. Thế hệ con cái chúng ta nhất định sẽ phải gánh đủ hậu quả, yên tâm là thế, nhất định là thế nếu chúng ta không có biện pháp và hành động nào khắc phục.

Hãy tưởng tượng, rác thải tiêu dùng chúng ta thải ra môi trường mỗi ngày là 1, thì rác thải trong sản xuất, trong công nghiệp nhân lên con số 70, bạn có thể hình dung nổi không? Và những thứ rác thải siêu độc hại này, là rác vĩnh viễn, không thể tái chế và không thể phân hủy được. Bạn có hình dung được trái đất của chúng ta đang phải gánh chịu một sức ép lớn như thế nào từ đống rác loài người thải ra?

Và không chỉ trái đất mà từng cá thể chúng ta cũng phải chia nhau gánh nặng đó. Những cá thể ở các nước nghèo, đang phát triển như Việt Nam ta còn chịu sức ép lớn hơn. Khi các nước lớn tha hồ dùng phần tài nguyên trên đất của ta sản xuất ra sản phẩm cho nhu cầu của họ, và rồi, thải ngược lại cho chúng ta hàng trăm ngàn tấn rác thải mỗi năm trong sự chào đón nhiệt tình của mọi người.

Chẳng cần nói nhiều ai trong chúng ta chẳng biết thừa Việt Nam từ lâu vốn đã bị xem như cái thùng rác của thế giới. Xe hơi cũ không xài nữa, nhập về đây, quần áo sida chẳng ai còn mặc, nhập về đây. Linh kiện, máy móc, dây chuyền sản xuất, nguyên vật liệu, đồ điện tử… tất cả những gì thế giới thải ra đều sẽ được nhập về Việt Nam dưới những tên gọi mỹ miều. Tôi thật sự đau lòng về điều này. Tài nguyên của chúng ta đâu hết rồi? Tại sao chúng ta không là cái nôi, là cái nguồn hay là một thứ gì giá trị hơn. Tại sao chúng ta lại chỉ là cái thùng rác của thế giới? Xấu hổ quá, thất vọng quá!

7. Quá nhiều những bất cập càng nói càng đau lòng, nhưng làm sao chúng ta có thể thay đổi điều đó, liệu một thực tại khác có thể xảy ra trên trái đất này? Có thể lắm chứ, miễn sao chúng ta không ngừng tìm cách, không ngừng suy nghĩ, đừng cổ súy và chạy theo chủ nghĩa tiêu dùng như những tín đồ mất hết chính kiến. Từ đó xây dựng nên những khái niệm, những hệ thống và quy trình mới cho thế giới này. Chẳng phải thế giới này mọi thứ đều thay đổi bắt nguồn từ những ý tưởng hay sao? Đừng xem thường bất cứ ý tưởng nào dù nhỏ bé hay điên rồ.

Tin vui là cho đến nay, khá nhiều những lý thuyết mới đã và đang dần xuất hiện hứa hẹn thay đổi hệ thống kinh tế, xã hội ở mức vĩ mô. Đó là điều hoàn toàn có thể. Chỉ cần chúng ta chịu khó tìm hiểu nó, chấp nhận nó và để cho nó được chứng tỏ sự đúng đắn của bản thân. Bởi lẽ cái gì không đúng sẽ tự nhiên bị triệt tiêu khỏi thế giới này, đó là quy luật.

Chẳng hạn sự xuất hiện của Bitcoin là một ví dụ điển hình. Nếu các bạn có tìm hiểu sẽ thấy ngay, nó là một bước tiến cực kỳ đáng chú ý cho nền kinh tế cả về phương thức lẫn giá trị. Nếu như nó được chấp nhận và ủng hộ rộng rãi, tôi không biết người ta còn cần đến hệ thống ngân hàng để làm gì? Cần các dịch vụ chuyển tiền làm gì? Mọi thứ bỗng trở nên dễ dàng, đơn giản, tiết kiệm và gọn gàng hơn bao giờ hết.

Rồi hãy thử nhìn mô hình kinh tế Kibbutz tôi từng đề cập trong bài viết về Israel, không phải đó là một mô hình quá tuyệt vời sao? Người ta tha hồ sống khỏe chả cần mua các thiết bị máy giặt vì có đội giặt ủi cho cả làng, người ta chẳng cần mua xe hơi vì đã có sẵn một bãi xe miễn phí ai thích chạy thì lấy chạy… Điều tưởng chừng vô lý đó hoàn toàn có thật, không cần nghi ngờ nữa. Giờ thì xin giới thiệu với các bạn thêm một ý tưởng về một thế giới mới, một nền kinh tế kiểu mới, nếu hình thái kinh tế này được phát triển và duy trì, chúng ta hoàn toàn có thể làm được điều tưởng chừng vô tưởng: không mua sắm vẫn sống tốt và chẳng cần gì phải làm việc quá nhiều.

8. Trước tiên xin lấy bản thân mình làm ví dụ đầu tiên cho việc kiểm soát thói quen mua sắm và hạn chế tác động của truyền thông lên cuộc sống cá nhân. Tôi đã làm được, bằng cách nào? Chỉ một vài năm trước đây có thể coi tôi như một tín đồ của chủ nghĩa tiêu thụ và mua sắm, cũng như mọi người, đặc biệt cũng như mọi cô gái trẻ khác, tôi yêu việc mua sắm, tôi không thể ngừng mua sắm thêm quần áo mới, đồ dùng mới hàng tuần, thậm chí hàng ngày.

Không thể ước chừng được số tiền tôi bỏ ra cho thói quen tai hại này, dù nhiều khi thứ đồ tôi mua về có khi chẳng bao giờ được đụng đến. Vậy mà giờ đây, vẫn là một cô gái trẻ, tôi lại chẳng mất nhiều chi phí cho khoản này, không phải vì tôi không thích những món đồ mới, không phải vì tôi không có điều kiện, mà chỉ đơn giản vì tôi thấy chúng không còn cần thiết nữa.

Tôi mặc đi mặc lại chỗ quần áo đã mua từ lâu, tôi đi hoài một đôi giày yêu thích và kiểu tóc thì để mãi ngàn năm chẳng buồn thay đổi. Tôi quên luôn cái ý định đổi điện thoại mỗi khi ra dòng mới dù trước đây đã từng đặt nó như việc nhất định phải làm. Và tôi nhận ra, mọi thứ chẳng có gì thay đổi, mặc đi mặc lại một vài bộ quần áo không khiến cho bản thân tôi mất giá trị, xài một món đồ lỗi mốt cũng không vấn đề. Mọi thứ chẳng có gì to tát nữa. Tôi dành nguồn lực tập trung cho những mục đích cao hơn, như học những kỹ năng mới, nghĩ ra những cơ hội kinh doanh mới, trau dồi bản thân bằng những giá trị tốt đẹp hơn như vốn kiến thức, sự hiểu biết và rất nhiều thứ khác. Những thứ sẽ không bị lỗi mốt và không bị vứt đi như những món hàng.

Tôi nhận ra thời gian và tiền bạc dùng để mua những bộ đồ hợp mốt có thể dùng để tập thể thao và đầu tư ăn uống hợp lý, rồi thì ta sẽ có một cơ thể đẹp đẽ cân đối. Khi có một cơ thể đẹp, cân đối rồi thì mặc gì cũng sẽ đẹp cả thôi, không nhất thiết phải là những bộ đồ đắt đỏ hay thời thượng. Giả sử thế. Hoặc tôi biết rất nhiều bạn nữ, mỗi khi có dịp tiệc tùng, như sinh nhật, đám cưới, lại phải đi mua những bộ quần áo váy đầm mới. Nhưng hãy thử một lần, lục lại tủ và mặc một bộ đồ cũ đi, bạn sẽ nhận thấy rõ ràng rằng chẳng mấy ai bận tâm chuyện bạn mặc gì cả, ngoại trừ chính bản thân bạn. Và rằng bạn sẽ nhận ra quần áo là phù phiếm thế nào.

Tất nhiên tôi hoàn toàn không khuyên các bạn chê bai quần áo, chỉ là hãy nhìn nhận nó đúng với giá trị nó mang lại, đừng quá phụ thuộc và ảo tưởng về quần áo. Tôi là người chuyên bán quần áo thời trang, nhưng lại khuyên các bạn điều ngược đời như vậy nên bạn hoàn toàn có thể tin tưởng lời khuyên này, và thử tự mình kiếm chứng đi.

Nếu như mỗi lần ra đường bạn lại băn khoăn nên mặc gì, thử một lần mặc đại vài món cơ bản trong tầm tay, dám chắc khi bạn không chú ý tới vẻ ngoài của mình quá nhiều thì tâm trạng của bạn cũng thoải mái hơn nhiều lắm. Đừng xem tivi, xem quảng cáo quá nhiều. Nó chẳng có tác dụng gì hơn việc cố bán cho được nhiều hàng, sự thật răng bạn không xấu, tóc bạn không xấu, xe bạn không lỗi thời, điện thoại của bạn vẫn ngon lành lắm.

Mọi thứ vẫn ổn, chỉ có trong mắt truyền thông quảng cáo, chẳng cái gì là ổn cả, bạn phải mua đồ mới thì mới ổn được, nhưng sự thật chúng ta đều biết, món đồ mới sẽ nhanh chóng bị cũ đi, bị lỗi thời và bạn lại phải quay cuồng vào những món mới khác nữa. Cứ thế, khi để mặc cho truyền thông dắt mũi đưa bạn vào mê cung mua sắm bạn sẽ mãi sống trong thế giới vật chất tầm thường, không bao giờ thỏa mãn và góp phần không nhỏ hủy hoại môi trường sống cũng như trái đất này. Bạn có muốn như vậy không?

Tôi không tin mình có thể khiến cho ai đó ghét mua sắm hay ít mua sắm hơn sau bài viết này. Tất nhiên, đó là một căn bệnh, một loài virut đáng yêu chẳng ai muốn khỏi cả. Nhưng tất cả những gì tôi muốn, là đem đến cho những ai chưa từng quan tâm, hãy có một cái nhìn toàn cảnh về mọi việc, bao gồm cả việc mua sắm, chủ nghĩa tiêu dùng đã và đang phá hoại trái đất, phá hoại cuộc sống và các giá trị xã hội nhiều đến thế nào.

Chính vì chủ nghĩa tiêu dùng mà truyền thông ngày càng biến dạng. Bạn có biết tại sao các trang tin tức ngày càng tiêu cực, vớ vẩn và tệ hại không? Vì họ phải đăng những tin như thế để thu hút nhiều người đọc, nhiều người đọc để bán quảng cáo, bán quảng cáo để bán được nhiều hàng. Tất cả chỉ có thế. Nếu như một xã hội người ta không cần mua sắm nhiều, các công ty không cần quảng cáo quảng bá ra rả ngày đêm thì các trang tin có cần đăng những thứ rác rưởi, giật gân, tiêu cực như hiện tại? Tôi nghĩ rằng không.

Dù là một người học chuyên ngành truyền thông – quảng cáo, nhưng tôi phải thừa nhận tôi ghét nó. Càng đi sâu vào nó tôi càng ghét, khi tất cả mọi hoạt động truyền thông gần như đều vì mục đích bán hàng, bán nhiều hàng, nhiều hàng hơn nữa. Tôi phát chán đọc những tài liệu, những dự án, những cuốn sách chật ních những “thông điệp truyền tải, sự thật ngầm hiểu, thõa mãn tức thời, nghiên cứu hành vi, thị hiếu, thói quen khách hàng, marketing, quảng cáo, bảng khảo sát, chiến lược tiếp cận khách hàng, tạo ra nhu cầu …” vân vân. Thật sự quá mệt mỏi khi phải gặp những từ ngữ chuyên ngành đó thường xuyên. Tôi ghét chúng, tất cả chúng. Chúng biến con người thành những thực thể yếu đuối và hay thay đổi, chúng đào sâu từng ngóc ngách trong tâm tư con người không phải để làm cho nó tốt đẹp hơn, mà chỉ để bán hàng, để sinh lợi nhuận mà thôi. Tôi ghét những mẫu quảng cáo ngập tràn báo chí, truyền hình, website, diễn đàn, ngập tràn đường xá, cầu cống và thậm chí cả trên giấy vệ sinh cũng gặp quảng cáo nữa.

Tôi ghét chúng, tôi ghét những chương trình truyền hình, những sân khấu, những con đường ngập tràn các bảng hiệu, các tên thương hiệu, các băng rôn áp phích. Tôi ghét những cảnh phim lạm dụng quảng cáo sản phẩm, tôi ghét những cuộc gọi chào hàng, ghét những gương mặt, những con người hoàn hảo, những gia đình hoàn hảo trong các phim quảng cáo. Ghét những người yêu nhau vì một loại dầu gội, ghét những gia đình hạnh phúc nhờ một loại thuốc đông y nào đó, ghét những đứa trẻ chỉ thông minh được khi ăn một loại bánh này, lễ phép khi được uống một loại sữa kia. Tôi ghét những hình ảnh hàng hóa tràn ngập trang facebook của mình, ghét những tờ rơi bay đầy phố… Tôi ghét mọi thứ liên quan đến quảng cáo, truyền thông, ghét những hành động chỉ mang mục đích bán hàng.

Tôi ước hàng hóa không nhiều, không dư thừa để người ta biết trân quý hơn những gì người ta có. Để người ta không làm mọi việc chỉ để có tiền mua sắm, để người người không nghĩ về vật chất mà nghĩ về tâm hồn nhiều hơn. Chắc chắn sẽ có người nói tôi điên rồi, đúng vậy, tôi điên rồi, cái chủ nghĩa tiêu dùng này khiến tôi phát điên rồi. Tôi chỉ muốn đập nát nó đi thôi. Còn nếu ai nói nếu không sản xuất, không mua sắm xã hội không thể phát triển, hẳn người đó sẽ phải suy nghĩ lại.

Đúng thế, có thể kinh tế hàng hóa phát triển chậm hơn nhưng chắc chắn sẽ theo hướng bền vững hơn, hài hòa hơn và tuyệt đẹp hơn. Khắp mọi nơi trên thế giới ai cũng có thời gian để làm việc và nghiên cứu những gì mình giỏi. Mọi người nông dân đều hiểu rõ cách nuôi trồng nông sản của mình cho hiệu quả. Các nhà khoa học có nhiều nguồn lực hơn để nghiên cứu sáng chế, các y bác sĩ sẽ có nhiều thời gian nghiên cứu, bào chế các phương thức chữa bệnh mới, những bài thuốc mới hiệu quả hơn.

Nhất định nếu có điều kiện để mọi người dù nông dân hay tri thức cùng nhau nghiên cứu mọi vấn đề, lĩnh vực thì trái đất này sẽ càng xanh tốt, những nguồn năng lượng sạch được khai thác và tìm thấy sớm hơn. Tất cả các tiến bộ khoa học, công nghệ trên đời sẽ tiến nhanh thêm một bước, thậm chí nhiều bước. Vì chúng ta tận dụng được kho ý tưởng của toàn nhân loại và chúng ta có gấp đôi lượng thời gian hữu ích được sử dụng cơ mà.

9. Giờ xin quay lại việc giới thiệu về hình thái kinh tế mới mà tôi đã nhắc ở trên: Nền kinh tế chia sẻ

Bạn đã bao giờ nghe đến khái niệm này? Để đơn giản, hãy tưởng tượng một viễn cảnh mà nơi đó, mọi người đều dùng chung đồ dùng của nhau, nói gọn là mọi người chia sẻ đồ dùng với nhau, từ những thứ đồ sử dụng mỗi ngày như xe hơi, như bếp nấu ăn, cho đến những thứ đồ ngàn năm mới sử dụng một lần như đồ nghề câu cá, dụng cụ cắm trại, bộ dụng cụ sửa xe, làm vườn. Mỗi khu phố lại có một nhà kho chứa những thứ đồ dùng từ phổ biến đến chuyên môn cho mọi người trong phố ai có nhu cầu thì đến lấy về dùng, xong lại đem trả… Như thế không phải thật tiện dụng và thật tiết kiệm sao? Như một thư viện công cộng cấp khu phố, ai có sách lại mang đên đây góp lại, mọi người đến đọc tự do và chịu trách nhiệm bảo quản.

Ngay cả những đồ dùng như đồ chơi con nít, quần áo, đồ nội thất, đồ công nghệ, đồ dùng nhà bếp hay ti tỉ thứ đồ dùng khác, hễ ai có mà không dùng tới nhiều sẽ tự động quyên vào nhà kho chung cho mọi người cùng sử dụng. Và hãy tưởng tượng những căn nhà được đề bảng chia sẻ ở khắp nơi, ai cũng có cơ hội kiếm được một chỗ ở nơi mình yêu thích, thuận tiện cho công việc và vui chơi. Có thể đây là một khái niệm khá mới và bạn chưa kịp hiểu lẫn thấm nó. Vậy thì đừng tiếc bỏ ra một khoảng thời gian nhất định tìm hiểu về mô hình kinh tế chia sẻ này, tôi hứa đó sẽ là khoảng thời gian xứng đáng không bị phí trong cuộc đời bạn đâu.

Ưu điểm của nền kinh tế chia sẻ này không còn gì phải nghi ngờ. Chúng ta sẽ tiết kiệm được rất nhiều tài nguyên của trái đất, tiết kiệm được rất nhiều thời gian hoang phí trong việc cố sản xuất hàng hóa cho dư thừa như mô hình cũ. Không chỉ tài nguyên trái đất mà tài nguyên của mỗi cá nhân cũng được trân trọng hơn, bao gồm cả vật chất và phi vật chất, như công sức, tình cảm, thời gian. Mọi người không cần đi làm cật lực để mua những thứ đồ dùng chạy theo mốt mới. Chỉ sống đủ nhu cầu và dành thời gian công sức để theo đuổi đam mê, sáng tạo những ý tưởng mới, bào chế ra những phương thuốc mới, cách thức chữa bệnh mới. Nhiều thời gian hơn để đi du lịch khắp nơi, trải nghiệm thế giới phẳng. Nhiều thời gian hơn để chăm sóc cho gia đình, cho con cái và cha mẹ. Ai cũng hài lòng.

10. Có một câu nói ngắn gọn mà rất nhiều người chúng ta đã nghe qua và từng cảm thấy xấu hổ về nó, một câu nói mô tả chân thực thực tế hành động của chúng ta khi bị chủ nghĩa tiêu dùng, chủ nghĩa hàng hóa chi phối và điều khiển, xin được nhắc lại:

“Rất nhiều người trong chúng ta, tiêu những đồng tiền không phải do ta kiếm được, để mua những thứ ta không thật sự cần, nhằm để chứng tỏ với những người ta không thích.” – Dave Ramsey, (Fight Club)

Vâng, bạn có thấy không? Có thừa nhận câu nói này rất đúng không? Nếu viết đầy đủ câu nói đó có thể như này: “Rất rất rất nhiều người trong số chúng ta, tiêu những đồng tiền do người khác làm việc cật lực có được, hoặc những đồng tiền do chính chúng ta đổ mồ hôi sôi nước mắt mới có được, để mua những món đồ ta chẳng thật sự cần, chỉ để lấy le với những người ta không quen biết, không quan tâm, làm giàu cho một nhóm nhỏ người khác mà ta chẳng hề biết đến, rồi sau đó nhanh chóng quăng nó đi, quên nó thật nhanh và góp một tay đẩy trái đất này đến ngày tận kiệt.”

Liệu sau bài viết này có ai muốn cùng tôi căm ghét cái chủ nghĩa tiêu dùng chết tiệt này? Có ai đó muốn nhìn lại cuộc sống của bản thân và bắt đầu thay đổi?

Đừng ai nói những người như tôi làm cản trở sự phát triển của xã hội, vì tôi dám khẳng định rằng xã hội này cần nhiều người có những ý tưởng, những hành động thiết thực hơn, ý nghĩa hơn việc ngồi hàng giờ xem quảng cáo và mua sắm. Thế giới này chắc chắn sẽ thay đổi vì những người có những hành động đi ngược số đông, chứ sẽ không thay đổi vì những hành động của bầy cừu hay của đàn chuột lemping. Không, nhất định không!

Và cũng đừng ai nói thế giới này không thể thay đổi, nếu bạn cho rằng như thế thì bạn cũng không nên ngăn cản những người đang cố thay đổi nó. Còn giả như bạn cho rằng thế giới này không cần thay đổi ư? Bạn thật ích kỷ. Chúng ta cần thay đổi nó, không phải vì chúng ta, mà vì con cái chúng ta, vì tương lai của trái đất này, vì đó là trách nhiệm của loài người khi mang danh thống trị muôn loài, đừng đùn đẩy cho loài nào khác.

Còn nếu như bạn nghĩ đó không phải việc của bạn, thật tốt vì bạn đã đọc đến đây. Sau nữa dành cho những người thật sự quan tâm, hãy tìm hiểu, đây có thể là thời cơ, là cơ hội của bạn. Hãy thử nghiên cứu sâu hơn về nền kinh tế chia sẻ, bạn sẽ nhận ra được nhiều cơ hội có thể ứng dụng vào thực tế. Bạn có thể sẽ trở thành người đi đầu trong nền kinh tế mới mẻ này vì nhu cầu chia sẻ luôn luôn tồn tại, không bao giờ mất đi cả. Và chia sẻ đồ dùng, kinh tế nhất định sẽ không ngoại lệ.

Hôm nay tôi làm được nhiều việc nên cảm thấy mệt mỏi quá, có ai dư một bờ vai rảnh rỗi để chia sẻ cho tôi lúc này không? (Đó cũng là một ý tưởng về kinh tế chia sẻ nhỉ)

Các bạn còn nhớ cái bài này

“Bạn có cho rằng, chúng ta không cần quá nhiều đồ dùng, thế giới này không cần đầy ắp hàng hóa như hiện tại không? Và đặc biệt là trái đất này càng không hề muốn chủ nghĩa tiêu dùng được duy trì quá lâu, quá sâu sắc như hiện nay. Chẳng việc gì phải chặt hàng rừng cây để sản xuất ra những bộ bàn ghế cồng kềnh chất đầy các showroom hay đóng thành những tập giấy chất đầy ắp các kho hàng. Nếu chúng ta chỉ sản xuất đủ nhu cầu của thế giới, không dư thừa thì bao nhiêu tài nguyên, bao nhiêu cánh rừng trên đời được bảo tồn và tươi tốt? Chẳng việc gì phải mất hàng ngàn giờ lao động của những đứa trẻ vị thành niên ở thế giới thứ ba để sản xuất ra một kho quần áo khổng lồ lỗi mốt mỗi ngày, hàng tấn tấn thực phẩm hư hỏng hết hạn dùng phải thiêu hủy mỗi giây. Đó là một sự lãng phí khủng khiếp mang tính tàn bạo của chủ nghĩa tiêu dùng. Nó thà sản xuất ra hàng đống hàng đống hàng dư thừa để rồi phải thiêu hủy còn hơn là chia đều cho những người cần đến chúng…”

Và đây, bằng chứng cụ thể cho sự hiểm độc tàn ác của chủ nghĩa tiêu dùng, nó hạn chế thu mua sữa của người nông dân khiến họ phải đổ hàng ngàn lít sữa ra đường còn hơn thu mua và hạ giá sữa cho trẻ con khắp đất nước cùng được uống. Có nhân đạo k? Có lãng phí k? Có đáng bị tức giận k?

Tuesday, November 29, 2016

Yêu, kết hôn và sinh con để làm gì?

Tình yêu đó là những cơn điên ngắn. Và hôn nhân của bạn chấm dứt những cơn điên ngắn kia bằng sự ngu dốt lâu dài.
Friedrich Nietzsche

Tình yêu của con người chỉ khác với sự động cỡn ngu xuẩn của thú vật nhờ vào hai việc thần thánh là: âu yếm và hôn…
P. Louys
Tập 1: Yêu để làm gì?

Nhiều người có lúc đã tự hỏi mình yêu để làm gì? Nhưng rồi cũng quy về thực tại vẫn yêu người hiện tại. Ta đang sống với bản năng mà đã cài sẵn trong con người mà ta không biết. Ai cũng lớn lên người sẽ yêu một ai đó. Có thể tình yêu đó sẽ dẫn đến hôn nhân và có thể không. Nhưng điều chung nhất là ai cũng đều đau khổ khi yêu vì lỡ yêu một người không như mình tưởng tượng vì họ còn quá nhiều nhược điểm mà không chịu sửa vì sự ích kỉ của mình.

Tại sao đau khổ mà vẫn yêu? Vì thấy thiên hạ ai cũng yêu nên tâm lý đám đông đã cuốn ta theo. Tại sao đau khổ vẫn yêu? Vì nhiều lúc người kia nói lời ngon ngọt hay vì tâm lý tuổi mới lớn làm ta thấy lạ. Và điều quan trọng nhất là vì bản năng thú tính trong con người ta đã làm hai con người đến với nhau mà nói chính xác là dục vọng đã làm ta khó thoát ra. Nếu yêu mà không được nhìn thấy nhau, không được nắm tay, không được chạm vào nhau thì ba hôm là chia ta. Vì thể xác không thể nằm ngoài lề được. Có mấy ai yêu vì tâm hồn. Vì thế nên công viên hay nhiều nơi bóng tối và khách sạn luôn có cặp nam nữ xuất hiện.

Yêu cứ tưởng là thứ bắt nguồn cho hạnh phúc nhưng lại là thứ bắt nguồn của mọi sự đau khổ trên đời.

Tập 2: Kết hôn

Có nhiều người yêu nhau thật sự và kết hôn, có người thì yêu một người lại kết hôn với một người. Mỗi người có mỗi lý do khác nhau để dẫn đến việc kết hôn nhưng ai nào biết kết hôn là bắt đầu cho những điều đau khổ phía sau!

Hai con người với hai cá tính khác nhau lại ngủ chung một giường và ở chung một nhà. Đã là hai con người khác nhau thì ai cũng có sự ích kỉ của bản thân. Khi yêu thì hứa hẹn sẽ xây dựng mái ấm riêng nhưng khi lấy nhau về thì không được như ngày đang yêu. Hai người ít quan tâm nhau và thường xuyên không nhịn nhau vì chuyện thường ngày. Nỗi lo cơm áo gạo tiền càng gánh nặng khi kết hôn. Xung quanh toàn nỗi lo. Sáng sớm dậy để chuẩn bị đi làm, đến tận chiều tối mới về. Tương lai ở đâu khi biết trước ngày mai mình ở công ty. Hai con người và một cuộc sống chung không còn vui như ngày mới yêu.

Tập 3: Sinh con

Hai tập đầu là nguyên nhân dẫn đến tập 3 đầy đau khổ này. Vì bản năng và vì quan niệm sinh con nối dòng nên con người ai cũng phải sinh con. Người có con chê người nào không sinh con được là bất hạnh nhưng nào ngờ chính mình mới là người bất hạnh.

Hai vợ chồng sống với nhau đã khó, giờ thêm đứa con thì lại càng vất vã chạy đi kiếm tiền để nuôi còn và vừa chăm lo cho nó mà chẳng biết sau này lớn lên nó có mang lợi ích gì hay hư hỏng như bao đứa trẻ khác.

Nếu con lớn lên tài giỏi thì nó khó có thời gian cho ba mẹ, nếu nó chẳng ra gì thì ta lại khổ với thói hư tật xấu của nó. Khi chưa xin con thì chỉ có hai vợ chồng, khi sinh con và nuôi con lớn cũng chỉ có hai vợ chồng bên nhau. Tốn thời gian và tiền của nuôi con khôn lớn, sức khỏe suy tàn và làm nhiều tội lỗi vì kiếm tiền cho con rồi cuối cùng nó cũng bỏ mình mà đi lập gia đình cho nó như ta từng làm. Hai vợ chồng rồi vẫn có nhau. Vậy sinh con để làm gì?

Khi già yếu làm gì ăn được hay hưởng thụ gì mà trông nhờ con báo hiếu. Khi con vừa trưởng thành thì bệnh tật bắt đầu dồn dập đến với ta. Cuối cùng là kết thúc một cuộc đời như bao người đã kết thúc. Thân xác rồi cũng mục nát thành cát bụi. Những thú vui hiện tại cũng sớm tan biến mà thôi.

Nhưng vì hầu hết chúng ta làm theo tự nhiên nên ai cũng khổ!

THM sưu tầm
Xem thêm: Cha thì sao, mẹ thì sao?Vì sao ta có con?Rốt cuộc, kết hôn để làm gì? Và vì sao người ta vẫn muốn kết hôn?Người ta yêu nhau chỉ để sinh con?Sinh con để có người nuôi khi về già là ích kỷCon cái nhất thiết phải có?

P/S: 

Sống si mê trong tình cảm nam-nữ tình yêu lứa đôi, vui với cuộc sống gia đình và con cái – vốn là cái bóng mây đen che phủ cuộc đời từ muôn kiếp. Ai cũng muốn đi tìm bằng được cái gọi là một nửa của đời mình, ai lớn lên cũng muốn lập gia đình sanh con đẻ cái như một nhiệm vụ phải làm trong đời người. Có mấy ai bao giờ tự đặt câu hỏi ngược lại cho chính mình rằng: “Tại sao tôi lớn lên phải lập gia đình?”, “Tại sao chúng tôi phải đẻ con?”, Tại sao? Tại sao?…. Nếu đặt được ra các câu hỏi tại sao như trên, rồi đi tìm câu trả lời thích đáng được thì mọi người đã bớt đi được nỗi khổ và phiền não phần nào rồi. Chúng sanh sống trong mê mờ ngộ nhận, mê trong thế giới mê mộng ảo ảnh, mê trong mê, không biết khi nào mới chịu tỉnh giấc mộng dài. Không có cái được gọi là “½ đời mình”, không ai trên thế giới này có thể lấp đầy khoảng không trống trải của cuộc đời mình bằng chính bản thân người đó.

Tại sao ta lại cần người khác để làm cho mình cảm thấy hạnh phúc hơn? Vì người khác đem lại cho ta tình cảm yêu thương nồng nàn ư? Vì người đó thỏa mãn nhu cầu dục vọng của mình ư? Vì người đó thỏa mãn nhu cầu vật chất của ta ư? Vì người đó thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ bằng tai, bằng mắt, bằng các giác quan của mình ư? Vì người đó có đôi mắt đẹp, có nụ cười duyên dáng làm say đắm lòng người ư? Vì cái gì?

Tất cả những điều đó chứng tỏ một điều rằng, con người có lòng THAM vô tận không đáy, không bao giờ chịu thỏa mãn với những thứ không có thực đó. Nếu chúng ta biết sống hạnh phúc với chính bản thân ta, thì cần gì người thứ 2, người thứ 3 để làm cho chúng ta cảm thấy hạnh phúc hơn, hay dù cho có 100 ông chồng hay bà vợ thì cũng không làm cho  chúng ta cảm thấy hạnh phúc hơn chút nào, trái lại rất bất hạnh và cảm thấy cô đơn thêm. Chúng ta là những con người ích kỷ, sinh ra đã là những tâm hồn ích kỷ, muốn vơ vét hạnh phúc vào cho mình càng nhiều càng tốt, muốn thỏa mãn dục vọng càng nhiều càng tốt, khi không thỏa mãn được thì lòng SÂN nổi lên, không muốn ban tặng, không muốn hiến dâng hạnh phúc niềm vui của đời mình cho người khác.

Vốn dĩ, bản thân ta không có thực, xác thân ta còn không có huống gì người khác, ai cũng già và chết, có ai giữ mãi tuổi trẻ thanh xuân đẹp rạng ngời đâu. Nếu nói yêu ai vì người đó có đôi mắt bồ câu xinh đẹp và má lún đồng tiền thì khi móc riêng đôi mắt đẹp đó ra hay cắt da lấy cái lún đồng tiền đó ra, thì người đó có còn đẹp không? Có còn giữ vững tình yêu cho người đó không? Có còn SI MÊ cái được gọi là vẻ đẹp đó không? Hay lại tránh xa và ghê sợ? Thân xác là giả tạo, vẻ đẹp là giả tạo, tình cảm là giả tạo, hợp tan khôn lường, dễ đến và dễ đi. Biết được như vậy thì chúng ta không nên chấp chặt, ôm khư khư bên mình rồi đau khổ vì cái giả tạo đó.
*****
Không biết bao lần tôi tự hỏi chính mình. Con người sinh ra để làm gì? Sống như thế nào? Và làm sao để sống tốt?. Rất nhiều lần tôi nghĩ, tại sao phải lấy chồng, tại sao phải sinh con? Có lúc nào, những đứa con ấy không muốn sinh ra mà vẫn phải sinh ra? Là để nó tiếp tục vòng lai sinh bởi con người ta muốn kéo dài sự sống, nên phải có con để tiếp tục dòng chảy của mình?

Nhưng cuộc đời ấy bao nhiêu những khổ đau, phiền muộn. Nhỏ khổ theo kiểu của tuổi nhỏ, lớn khổ theo đường lớn, giàu cũng có cái khổ của giàu, nghèo cũng mang đầy mặc cảm, khổ đau... Con người ta cứ sống đời đời kiếp kiếp với những gánh nặng, những hình mẫu, những con đường đã được đặt ra, đã bó buộc khiến người ta phải gồng mình lên để sống một cuộc đời khác không phải của chính mình chỉ bởi nó tất yếu là phải như vậy.
*****
Con cái của bạn không phải là con cái của bạn,
Chúng là những cô bé, cậu bé của cuộc đời
Thuộc về chính bản thân chúng
Chúng đến thông qua bạn nhưng không đến từ bạn.
Và dù chúng đang ở với bạn song
Chúng không thuộc về bạn.
Bạn có thể trao cho chúng tình yêu thương
Mà không phải suy nghĩ của bạn.
Bởi vì chúng có suy nghĩ riêng của mình.
Bạn có thể cố gắng giống chúng, nhưng đừng tìm cách làm chúng giống bạn.

[“Con tôi, tài sản tôi”,
Người ngu sanh ưu não,
Tự ta, ta không có,
Con đâu, tài sản đâu?
Kinh Pháp Cú, số 62, Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch]

Đức Phật cũng nói như vậy: “Một người với trí tuệ hữu hạn có thể suy nghĩ một cách tự hào rằng con cái và tài sản của mình thuộc về mình. Nhưng ngay cả bản thân anh ta còn không phải của anh ta, còn nói gì đến con cái và tài sản?” Làm sao con người có thể tin rằng mình sở hữu những thứ đó khi anh ta còn không thể kiểm soát hoặc ngăn cản những thay đổi mà con cái, tài sản và ngay chính bản thân anh ta sẽ phải trải qua.

Friday, November 25, 2016

Ngày Tết nói chuyện tuổi già

Ai đã từng đón Tết ở Việt Nam, đặc biệt là ở đồng bằng Bắc bộ, thì đều biết tập quán chúc Tết. Sau thời khắc giao thừa, mọi người gặp nhau đều có câu cửa miệng là câu chúc Tết, trước khi đi vào chủ đề chính. Khác với câu chúc thường nghe trong văn hoá phương Tây là “happy new year” – tức là năm mới hạnh phúc - chúc Tết ở Việt Nam có rất nhiều câu chúc khác nhau, nhiều câu khá dài dòng.

Tuy nhiên, tựu trung lại thì cũng xoay quanh các chủ đề như phúc (hạnh phúc, nhiều con cái), lộc (nhiều tiền tài, danh tiếng), và thọ (khoẻ mạnh, sống lâu). Đối với người già, có lẽ thọ là câu chúc phổ biến nhất.

Ai cũng phải già đi, có sinh thì phải có diệt. Điều này được con người chấp nhận như một quy luật của trời đất. Có nhiều người muốn tìm cách thoát khỏi quy luật này, nhưng đều không thành công. Thời xưa nhiều người muốn đi tìm các thứ thuốc làm con người trường thọ, trẻ mãi không già. Đương nhiên là chẳng có ai tìm được.

Có quy luật về lão hoá?

Lão hoá là gì? Có thể định nghĩa nó là một thuộc tính theo đó xác suất tử vong của một cá thể trưởng thành tăng dần theo thời gian. Đây là cách mà các hãng bảo hiểm dùng để tính mức phí bảo hiểm nhân thọ cho khách hàng. Người nhiều tuổi hơn thì khả năng tử vong cao hơn người trưởng thành trẻ tuổi hơn.

Nếu có một sinh vật không bị lão hoá, hay gọi là “bất tử” (immortal), thì không có nghĩa sinh vật đó không bao giờ chết. Nó chỉ đơn giản là sinh vật đó không bao giờ già đi. Nói cách khác, xác suất tử vong của sinh vật này không tăng theo thời gian.

Nhưng cái gì kiểm soát quá trình lão hoá? Tại sao lại cần phải có quá trình này? Câu hỏi tưởng chừng đơn giản nhưng trả lời nó không dễ.

Khoa học về gene thời gian gần đây đã có nhiều tiến bộ liên quan đến hiểu biết của con người về lão hoá. Giải Nobel về y học năm 2009 được trao cho 3 nhà khoa học người Mỹ về các phát kiến trong lĩnh vực này. Theo tuần báo Time, trong tế bào của người có những chuỗi phân tử DNA dài gọi là chromosomes. Mỗi chromosome có hai “nắp” bảo vệ ở hai đầu được gọi là telemeres – giống như một dây buộc dày có hai nút nhựa bảo vệ ở hai đầu. Mỗi lần tế bào tự nhân đôi (replicate) thì các telemeres lại bị ngắn đi. Các telemeres bị ngắn đi được cho là làm cho xác suất tử vong cao lên gắn liền với các bệnh tật của tuổi già. Nói một cách đơn giản, lão hoá là do các telemeres ngắn đi.

Nhưng cái gì làm cho các telemeres ngắn đi khi tế bào nhân đôi và khiến con người lão hoá? Gần đây một nhóm nghiên cứu người Anh và Hà Lan đã tìm ra một chuỗi gene đặc biệt liên quan đến độ dài của telemeres. Chuỗi gene này nằm sát gần một gene có tên là TERC, là gene có ảnh hưởng tới quá trình sửa chữa các telemeres.

Các nhà nghiên cứu này tìm thấy rằng có 38% những người trong mẫu nghiên cứu có chuỗi gene đặc biệt này, và có 7% có đến 2 chuỗi gene này. Những người có một chuỗi gene đặc biệt này thì già hơn những người không có chuỗi gene này đến 3 tới 4 tuổi xét về mặt sinh học (có nghĩa là các telemeres của họ ngắn hơn người cùng tuổi nhưng không có chuỗi gene đặc biệt này). Còn những người có tới hai chuỗi gene đặc biệt trên thậm chí còn già hơn những người không có tới 7-8 tuổi xét về mặt sinh học.

Ngoài TERC ra, các nhà khoa học cho rằng khả năng còn nhiều gene nữa quy định quá trình lão hoá ở con người. Những gene này chưa được phát hiện. Tuy nhiên, dù là nhiều hay ít, thì chúng ta cũng biết được rằng quá trình lão hoá là một quá trình mặc định sẵn trong gene di truyền của chúng ta. Điểm kỳ lạ là có vẻ như các gene này ngoài chức năng quy định quá trình lão hoá thì không có chức năng gì khác.

Nói khác đi, khi con người, và nói rộng ra là tuyệt đại đa số các loài sinh vật xuất hiện, thì “người” tạo ra nó đã đặt vào đó một thứ mật mã, và thứ mật mã này không có chức năng gì khác ngoài việc làm cho sinh vật này bị lão hoá và vì thế sẽ chết đi sau một thời gian nhất định. Tại sao phải đặt vào cấu tạo của sinh vật thứ mật mã “ác nghiệt” này? Đó là câu hỏi tới giờ vẫn chưa có câu trả lời hợp lý.

Có sinh vật nào bất tử hay không?

Có sinh vật nào trên địa cầu này không chịu sự tác động của quy luật lão hoá hay không? Một số loài cây có thể sống nhiều nghìn năm, và thông qua cơ chế sinh sản qua hình thức nhân bản vô tính (cloning), một số loài cây có thể “sống” hàng chục nghìn năm. Thí dụ cây dương (aspen) vừa có khả năng sinh sản hữu tính - tức là ra hoa và thụ phấn, thành hạt và phát tán – vừa có khả năng sinh sản vô tính từ đầu rễ của nó. Một cây dương có thể sống khoảng 200 năm. Nhưng nếu tính cá thể được nhân bản vô tính và cá thể gốc là một (cách mà các nhà khoa học vẫn nhìn nhận), thì gần như cá thể cây dương có thể sống bất tử. Cây dương Pando ở Utah được cho là có tuổi thọ 80 nghìn năm, thậm chí nhiều người tin rằng nó còn có tuổi thọ gấp mười lần con số đó.

Loài dương sống “bất tử” bằng cách tạo ra nhân bản vô tính thực ra cũng không phải là bất tử theo nghĩa mà con người muốn cho mình. Cá thể một cây dương, không tính nhân bản của nó, vẫn già đi và chết. Vì thế nó cũng không thực sự là một trường hợp thú vị đối với con người trên con đường tìm kiếm sự bất tử.

Gần đây loài người cũng tìm ra một động vật thực sự được coi là bất tử theo nghĩa xác suất tử vong của sinh vật này không tăng theo thời gian. Đó là  con “sứa bất tử”.  Sứa bất tử trưởng thành có thể khởi động một quá trình theo đó cơ thể nó sẽ quay trở lại thời kỳ còn là phôi. Nói nôm na, nó giống như một con bướm trưởng thành có thể trở thành một con nhộng trong kén. Quá trình này có thể lặp đi lặp lại vô tận, tạo cho sứa bất tử có khả năng sống bất tử. Cho đến nay, nó được coi là động vật bất tử duy nhất trên Trái Đất hiện nay.

Nếu sứa bất tử có thể thoát khỏi thứ “mật mã chết” mà tuyệt đại bộ phận sinh vật trên trái đất đều có, thì liệu con người có tìm được cách nào để thoát khỏi vòng sinh tử hay không?

Năm 2045 con người sẽ bất tử?

Thời nay, cuộc sống vật chất ngày càng tiến bộ và tiến bộ của y học hiện đại khiến tuổi thọ trung bình của con người được kéo dài hơn nhiều so với thời trước. Nhưng kéo dài hơn vài chục năm không có nghĩa là chiến thắng được quy luật sinh tử.  Việc tìm hiểu và giải mã bản đồ gene cũng cho biết các gene quy định sự lão hoá, nhưng từ đó tiến đến chỗ can thiệp vào các gene này để kéo dài tuổi thọ hoặc để bất tử thì vẫn còn là chuyện xa vời.

Thế nhưng có những người lại dũng cảm tiên đoán rằng đến năm 2045 thì con người sẽ bất tử. Và những người này phần lớn lại không phải dân nghiên cứu về sinh học.

Họ là các “tín đồ” của một học thuyết khoa học gọi là “điểm kỳ dị” (singularity). Những người này (toàn là những người đặc biệt thông minh chứ không phải mê tín) cho rằng máy móc sẽ ngày càng thông minh. Thực tế hiện nay là máy tính ngày càng nhanh hơn, và nhanh hơn với tốc độ nhanh hơn. Và như thế, khi quá trình này tiếp tục, sẽ đến một thời điểm khi máy móc có khả năng ngang bằng với người. Và từ thời điểm đó trở đi, không có lý do gì để không tin rằng máy móc sẽ tiếp tục thông minh hơn nữa, và trở nên ưu việt hơn con người. Đó được gọi là thời điểm kỳ dị (singularity).

Điều gì sẽ xảy ra? Máy móc khi đó sẽ có thể huỷ diệt con người như trong phim ảnh mà Hollywood vẫn làm. Nhưng nhiều tín đồ của điểm kỳ dị thì cho rằng khi đó loài người sẽ nhất thể hoá với máy móc, và sẽ không còn loài người giống như thời điểm ngày hôm nay. Chúng ta sẽ kết hợp với máy móc để trở thành một dạng người siêu thông minh, chúng ta có thể “quét” toàn bộ thông tin trong não của chúng ta, chuyển vào hệ thống máy tính, và sống bất tử với các bộ não nhân tạo và cơ thể nhân tạo, hoặc đơn giản hơn là sống trong thế giới “ảo” mà chẳng cần phải có cơ thể vật lý.

Và có lẽ đó sẽ là cách mà con người thực sự vượt khỏi vòng sinh tử? Giả sử thời điểm đó đến, và trong số chúng ta, nếu còn sống, có ai muốn thử cuộc sống bất tử đó hay không? Ngay từ bây giờ đã có nhiều người giơ tay rồi. Gần đây đã xuất hiện nhiều công ty cung cấp dịch vụ cho những người già giàu có. Dịch vụ đó gọi là Cryonics – tức là dịch vụ ướp thân xác (hoặc chỉ nguyên chiếc đầu) trong dung dịch nytrogen lỏng và đóng tiền để vào một thời điểm được xác định trước trong tương lai, cơ thể này được làm “hồi sinh” – đương nhiên là theo cách giống như của các tín đồ điểm kỳ dị - khi công nghệ đã cho phép con người có thể “sống lại” và sống bất tử cùng với máy móc.

Trần Vinh Dự