Tuesday, December 27, 2016

Dân trí mình đúng thấp thật rồi?!

Câu nói của ông đại biểu: “Dân trí nước ta còn thấp.” Bị người dân, chủ yếu dân mạng phản đối ầm ĩ. Còn lại đa phần số đông, những người dân, người lao động không bao giờ online thì chẳng biết, chẳng bận tâm. Mà cho dù có biết đi chăng nữa thì cũng kệ vì chả thấy liên quan gì tới mình. Đấy, mình bị cái đứa mình nuôi nó chửi thẳng mặt là ngu mà cũng không biết, không quan tâm, thì thử hỏi mình có ngu thật hay không?

Dân trí cao cỡ nào khi mà ngoại trừ những người quan tâm chính trị ra thì còn mấy ai biết cụ thể công việc, trách nhiệm của những chức danh như Tổng Bí Thư, Chủ Tịch Nước, Hội Đồng Nhân Dân, Ủy Ban Nhân Dân, Ủy ban mặt trận Tổ Quốc… là cái gì? Họ làm những công việc gì? Trách nhiệm của họ đến đâu? Tại sao ông Đại Tướng chẳng bao giờ thấy mặt mũi trên các thông tin chiến trận ngoại trừ có mặt ở một vài cuộc họp vớ vẩn với ngoại bang? Tại sao những vụ doanh nghiệp Nhà Nước thua lỗ động trời không một ai phải đứng ra chịu trách nhiệm hay nói một lời xin lỗi?

Dân mù tịt không biết đâu mà lần, thậm chí cũng là không quan tâm chút nào hết. Thế thì hỏi có là ngu không? Ngu vì không được dạy hay ngu vì không biết tự tìm hiểu hay ngu vì tìm hiểu mãi cũng không ra… Dù cho là ngu vì bất cứ lý do gì thì vẫn là ngu. Ngu thì là dân trí thấp. Đúng quá rồi còn gì.

Dân trí có cao không khi đa phần người dân không hề muốn nghe muốn nói đến chuyện chính trị vì cho rằng nó không liên quan tới cuộc sống của mình. Không hề biết rằng chuyện chính trị chính là quyền của mình để lập ra một chính phủ có trách nhiệm chăm lo cho đời sống của mình.

Chính trị chính là nội dung giáo dục con cái mình nên người. Chính trị chính là niềm tự hào dân tộc của dân mình khi bước ra khỏi đất nước. Chính trị chính là liều thuốc con mình tiêm vào người, là con đường mình đi, là hàng hóa mình tiêu thụ, là không khí mình hít thở, là sức khỏe của chính mình và gia đình mình?

Tách rời chính trị khỏi cuộc sống và trách nhiệm của bản thân trong khi nó ảnh hưởng sâu sắc và gắn liền mật thiết đến nhau. Cho rằng nó thì không liên quan đến mình, mình thì không làm gì được nó, thì thử hỏi có ngu không, có dân trí thấp không?

Dân trí cao cỡ nào mà để cho Trung Quốc nó ngang nhiên chiếm đảo chiếm đất xây dựng sân bay, công trình mà vẫn im lặng không nói một lời.

Dân trí cao chắc chắn sẽ phải biết biểu tình và giữ im lặng khi bị bắt là hai trong những quyền cơ bản nhất của con người trên bất cứ vùng đất văn minh nào.

Dân trí cao thì đâu thể im lặng đi trên những cây cầu mới xây đã sập, bê tông cốt tre, đường cao tốc sóng trâu, công trình trăm ngàn tỷ vừa khánh thành đã hư hỏng, đập nước bờ kè mưa một trận đã sụt lún…

Dân trí cao thì nỡ nào mà để người dân mình tự lừa đảo người mình, tự đầu độc dân mình, tự làm hại đồng bào mình. Giúp người ta tiêu thụ hóa chất độc hại, nông sản độc hại còn nông sản của dân mình thì phải đổ bỏ đi vì thừa mứa và rẻ mạt.

Dân trí cao thì sao để chính quyền tự ý lấy thuế xây cái miếu vài trăm tỷ thờ một ông học giả ngoại bang rồi còn trơ trẽn tuyên bố xây thế thôi chứ chưa quyết định thờ ai. Hẳn là chính quyền dư nhiều tiền lắm. Nhưng dư tiền sao lại phải đi vay Trung Quốc tiền xây cái đường tàu cao tốc để rồi bị họ chèn ép. Dư tiền sao lại phải đi vay viện trợ bảo vệ môi trường trong khi tiền phí bảo vệ môi trường thì tận thu từ trong giá xăng giá điện?

Dân trí cao thì sao mà có mấy chuyện hy hữu cười ra nước mắt rằng cuộc sống của ta là hạnh phúc nhất, yên bình nhất.

Dân trí cao làm sao chịu nổi khi chính quyền làm được một việc nhỏ thì bắt dân mang ơn, tạc tượng. Còn khi chính quyền làm sai những việc tày đình thì không cần xin lỗi, từ chức, chịu trách nhiệm, chỉ cần rút kinh nghiệm là xong?

Dân trí cao thì hẳn đã chẳng phải xấu hổ khi dân ta ra nước ngoài mang bao tiếng xấu, trộm cắp, mại dâm, vô ý thức vô văn hóa.

Nếu dân trí mà có cao thì phụ nữ Việt đã chẳng phải lũ lượt ra nước ngoài bán dâm, bị mua làm vợ, bị hành hạ, bị xúc phạm. Người dân Việt đã chẳng phải qua Cam, qua Lào làm giúp việc, lao động nặng nhọc, chui nhủi.

Nếu dân trí mà không thấp thì hàng trăm ngàn sinh viên thạc sĩ tiến sĩ ra trường hẳn đã phải có công ăn việc làm, có những đồ án, công trình giúp ích cho cộng đồng chứ không xếp hàng dài thất nghiệp ăn bám gia đình xã hội.

Nếu dân trí cao thì hẳn phải biết đất nước đã đi thụt lùi thế nào sau những năm tháng “giải phóng”. Từ một nước tự sản xuất được xe hơi nội địa thành một nước không sản xuất được con ốc con vít. Từ một nước được miễn phí học hành, y tế biến thành có nhiều tiền cũng chưa chắc có được môi trường học hành, y tế đủ tốt. Từ một nước được bao nước thèm muốn, ước ao trở thành một nước bị xem thường.

Nếu dân trí cao hẳn đã phải nhận ra những mâu thuẫn, nhìn thấy những sự thật đang được giấu kín thay vì nói gì biết đấy, kêu gì làm đấy.

Nếu dân trí cao liệu có để cho các ngài lãnh đạo xem như trò hề, muốn làm gì thì làm, muốn chặt cây thì chặt, hứa một đằng làm một nẻo, muốn thay cây gì thì thay, muốn bán đất cho ai, bán tài nguyên cho ai, cho ai thuê đất bao lâu thì cho.

Nếu dân trí cao hẳn không thể để mặc cho những người được mình ủy quyền lộng hành tác oai tác quái. Sâu mọt khắp nơi từ trung ương đến địa phương, từ trong ra ngoài, từ lớn đến bé, từ xưa đến nay mà không một động thái ngăn cản.

Nếu dân trí cao người ta hẳn sẽ phải thích đọc sách hơn xem truyền hình, thích nghiên cứu tìm hiểu hơn là đọc tin tức giải trí. Nhưng xem kìa, Việt Nam là một trong những nước đọc sách ít nhất thế giới.

Nếu dân trí cao thì hẳn sẽ không cười xòa khi đọc tin tức “Cá mập cắn đứt cáp” “Nhím gà dê hỗ trợ nông dân đi lạc vào nhà bí thư, chủ tịch”.

Nếu dân trí cao hẳn người dân phải biết hợp sức lại, biết cất tiếng nói của mình, biết liên kết với nhau tạo nên sức mạnh.

Và quan trọng nhất, nếu dân trí cao thì người dân chắc chắn phải biết chuyện gì đang xảy ra với đất nước mình, với dân tộc mình.

Đấy, xin mời các bạn xem lại, tự vấn lại bản thân một chút. Rằng so với một vài biểu hiện của dân trí cao như trên, thì tự xem dân trí của mình có cao không? Nếu có, thì xem tiếp, xung quanh mình có bao nhiêu người có dân trí cao giống mình trên tổng số người mình quen biết và tiếp xúc hàng ngày? Còn nếu không, thì thôi, ông đại biểu nói đúng, dân trí mình thấp thật, nói thẳng tuột, mình thật là ngu, dân mình cũng ngu, rất ngu, đấy là sự thật không còn nghi ngờ và bàn cãi gì nữa.

Ấy thế thì, thay vì phản bác và chê trách ông đại biểu, người dám nói dân trí ta thấp, thì có lẽ, nên tuyên dương ông. Vì dám nói ra sự thật, sự thật mà các ngài lãnh đạo đều biết nhưng chưa ai có can đảm nói. Nhưng mà cũng không được, vì ông đại biểu này khi bị phản đối đã lại kịp có bài thanh minh rằng ông ta không nói ra điều đó. Ý ông không phải vậy, dân hiểu lầm ý ông rồi. Đấy, lại một lần nữa, dân trí thật thấp, thật ngu, lãnh đạo phát biểu gì người dân cũng hiểu lầm hết.

Từ “dân trí thấp” “quyền im lặng và biểu tình là nguy hiểm” “xu thế ghét Trung Quốc là nguy hiểm cho dân tộc” “nước ta còn dân chủ gấp vạn lần các nước tư bản” “đa số người dân ủng hộ chặt cây” “chưa quyết xem thờ ai trong miếu” “chúng ta phải cố gắng xây dựng quân đội mạnh như Triều Tiên” “dân sai thì dân chịu chứ kỷ luật ai”…

Đấy, câu phát ngôn nào cũng bị người dân hiểu lầm. Thế thì giờ sao? Lãnh đạo phải coi lại cách phát biểu sao cho dân hiểu. Hay người dân phải cố mà hiểu cho đúng ý lãnh đạo?

Ôi tôi cũng không biết nữa, vì như đã nói, dân trí tôi thấp lắm!

Sunday, December 25, 2016

Tầm vóc người Việt nhìn qua thế hệ Nhà thơ nhược tiểu

Theo các số liệu và các nhìn nhận khá chính xác, mới đây có rất nhiều bài viết do học giả Vương Trí Nhàn, tập hợp những bài viết của các đại trí thức người Việt như Phan Khôi, Đào Duy Anh, Đặng thai Mai… nhận định trí thức Việt không có các đại triết gia vì không khao khát những lý tưởng cũng như cái nhìn lớn lao siêu việt.

Cụ thể hơn mới đây, một vài chuyên gia nước ngoài am tường đã nhận xét: Người Việt và nhiều lãnh đạo Việt thường khoác lên mình thứ tâm cảm vĩ đại ngoại cỡ khỏi bản thân mình. Cụ thể trong kinh tế, khi nguồn vốn nước ngoài như ODA, FDI đổ vào nhiều (hơn hẳn các nước trong khu vực), nhiều lãnh đạo Việt Nam đã tự khoác lên mình những tầm vóc cũng như dự án vĩ đại cả tỉ đô la, những quả đấm thép như Vinashine, Vinaline ra đời… Rút cục chỉ trong có vài năm các tập đoàn này phá sản nhấn chìm theo nhiều tỉ đô la và cả nền kinh tế.

Đã có rất nhiều người Việt bàn tán rỉ tai rằng chúng ta có rất nhiều người trẻ giỏi học hành, toán học hay lập trình vi tính. Nhân một cuộc ra mắt những thành tựu của lập trình vi tính ViệtNam, ông bầu Nhật, người phụ trách chương trình này đã nói thẳng thừng: lập trình vi tính của người Việt mới ở trình độ cành lá, chứ chưa bao giờ xác định được nguồn gốc của hệ lập trình. Như vậy đã rõ, chúng ta mới chỉ có thứ khôn ngoan tùy tiện trên ngọn, mà chưa có được nền móng vững chắc của hệ điều hành căn bản.

Về học vấn, trí thức Việt mới chỉ dừng ở mức thông tin mà chưa biến thông tin đó thành nhận thức. Triết gia Kant quan niệm dù học bao nhiêu mặc lòng, nếu sự học đó không biến thành khả năng suy xét của lý trí thì sự học vẫn chỉ là vô ích. Học nhiều mà không hành được, không phán đoán để tìm ra quyết định hay chọn lựa, thì học làm gì, học thế khác gì không học?!

Tôi có gặp một anh bạn, người có vẻ thành thạo lắm về kinh tế, anh nói rằng: thời gian thực hiện nền kinh tế thị trường của Việt nam dù rất ngắn, những các chuyên gia nước ngoài đánh giá rất cao khi người Việt học biết giá trị sở hữu cá nhân. Trời ơi giá trị sở hữu cá nhân ư, đó là bản năng nằm ngay trong từng con vật hay mỗi đứa trẻ con ngay từ thời khai thiên lập địa, khi hai con chó hoặc nhiều con chó tranh nhau một cục xương, hoặc những đứa trẻ đòi chia lại số kẹo mà đứa lớn đã chia bất công, thì đó chính là bản năng sở hữu cá nhân vậy. Thế nhưng anh bạn này, hay một típ người giống vậy rất phổ biến ở ta, chuyên sống bằng ấu trĩ và biện hộ, lâu dần trở thành một bản tính cố hữu thứ hai. Trước sự nhường nhịn của người khác, lối sống bao biện lấy được này lên ngôi, kéo theo cả một băng chuyền xã hội. Thật là tai hại!

Trong kinh tế và xã hội, vì tâm cảm ve vãn ảo tưởng vĩ đại của chính mình, chúng ta đã đánh đắm nền kinh tế bằng những tập đoàn khổng lồ vô hiệu. Vậy trong thi ca, chúng ta có tung hứng ảo tưởng vĩ đại của mình không? Muốn vĩ đại thì người ta phải làm việc lớn! Văn hào Lỗ Tấn có nói dễ hiểu thế này “nghệ thuật là cái khác lạ, một người lấy ngón tay ngoáy mũi thì chẳng ai nhìn, nhưng người đó lấy ngón chân ngoáy mũi thì có thể dựng rạp bán vé được rồi”. Việc chúng ta có một đội ngũ làm thơ đông đảo như thiếu nhi rinh ríc làm thơ ở khắp nơi, liệu có tạo ra cảm giác đó là những người làm việc vừa lớn vừa khó? Mỗi bài thơ họ đọc chỉ có vài câu thì bao giờ mới lớn? Chẳng hạn mới đây nhà thơ thiền kia làm một đêm cả trăm bài thơ thử hỏi liệu đó có phải công trình lớn như phương ngôn “thành La Mã không thể xây trong một ngày” ? Và chúng ta cũng có được câu trả lời rồi, nhà thơ lãnh đạo kia cách đây không lâu nói “thế hệ của chúng tôi không có nhà thơ lớn, trong ao không có cá lớn, chúng ta chỉ bắt tép thôi”.

Từ xã hội đến thi ca chúng ta thấy Việt nam vẫn đang là xã hội tiểu nông, nhỏ bé, nhóp nhép, nghèo nàn lạc hậu. Giờ trên truyền hình đang chiếu bộ phim nhiều kỳ “Sông Đông êm đềm” của nhà văn Solokhov. Thử so sánh, chúng ta thấy, mỗi người đàn ông xứ họ khi ra khỏi nhà đều nhảy lên lưng ngựa, khi hành động, ứng xử, hay tranh luận người ta đều thể hiện sự trưởng thành, tính mã hiệp của mình, người mẹ nhấc chân con trai lên mình ngựa… thể hiện cung cách cao quí, sâu sắc làm sao! Trái lại, phim ảnh Việt thường thấy những con người cư xử nhạt nhẽo, hời hợt, nông nổi, đối thoại thì cãi lộn, nước đôi, bỏ dở giữa chừng không bao giờ dám đi đến cùng.

Nhiều chuyên gia nghiên cứu phát hiện: ở nhiều nước người ta có văn hóa vũ điệu, trai gái nhảy nhót theo điệu nhạc. Trong khi đó văn hóa tiểu nông như xứ ta thì có hát ru, là cách đứa trẻ ấp vú mẹ đang mơ màng ngủ. So sánh thì thấy văn hóa ôm nôi của chúng ta thật bé bỏng và yếu ớt. Ôm nôi là đứa trẻ vừa đói vừa buồn ngủ, thụ động lim dim tìm sữa và ngủ nghỉ mặc dù nó chẳng làm gì mà mệt cả. Trái lại điệu nhảy là của người trưởng thành, họ lắc mông, lắc đùi, lắc bụng là biểu hiện sự trưởng thành và khao khát giới tính, khao khát vận động, và khao khát làm nhà ngoại giao tình ái. Nghệ thuật trước hết luôn luôn là vũ điệu, bởi không có vũ điệu thì những bước chân hân hoan kia chỉ còn là sự cuốc bộ buồn tẻ.

Thơ ca Việt Nam dựa trên lời ru buồn ngủ vòi ăn kia nên luôn bé bỏng, sau khi thoát khỏi vòng tay mẹ thì tìm kiếm mái hiên che chở của vua chúa, giờ thì muốn làm cán bộ văn thơ để nấp yếm tem phiếu bao cấp đường sữa và giải thưởng. Một lãnh đạo thơ văn phấn khích nói: cuộc liên hoan thơ lần này có rất nhiều cụ tham dự rưng rưng cảm động. Thơ Việt có thể nói có đến 80% là dành cho các cụ già, tổ hưu, hay giám đốc đã làm xong công việc kiếm quyền kiếm tiền, giờ quay sang kiếm tí danh thơ. Và còn có thể nói: “Thơ Việt là lời hát ru của những hàm răng móm”.

Khi bước vào thế giới thơ văn quốc doanh đại trà của chúng ta, tôi chưa bao giờ thấy ngạc nhiên về tài năng, cá tính, tri thức, văn hóa, đạo đức hay trí khôn của họ, nhưng đã vài lần bất ngờ ngã ngửa về sự đố kỵ rất “nhảy vọt” và chu toàn của nhiều nhà thơ. Các nhà thơ Việt hầu như không ai nghe ai cả, họ chỉ để ý đã đến lượt mình đọc thơ chưa, giải thưởng lần này cua lượn thế nào, rồi nhân sự kỳ này sẽ rót vào ai? Tại sao các nhà thơ hay đố kỵ? Vì tầm vóc của họ sàn sàn giống nhau quá, giá chỉ cần họ viết được một trường ca có cốt truyện với gáy sách đàng hoàng, sự đố kỵ đã giảm xuống 90% rồi.

Điều thứ hai, tôi ngạc nhiên, là họ rất chăm khoe khéo khoe khôn. Đó là cách marketing cho mình giống như việc tranh nhau giành chỗ đọc thơ vậy. Ở Mỹ, người ta chọn tổng thống là người điều hành quốc gia cao nhất cũng bằng hình thức tranh luận đối thoại trực tiêp, cởi mở trước sự quan sát công khai của mọi người. Đằng này, nhiều nhà thơ của chúng ta cứ ảo tưởng sự khôn ngoan của mình dựa trên những sự thật che dấu ấp úng không minh bạch. Người Việt có câu “khôn ngoan đến cửa quan mới biết”. Khôn ngoan mà nói không lên lời, lại toàn ấp úng nói trong xó tối thì sự “khôn ngoan” đó đâu có được cạnh tranh và kiểm chứng.

Điều thứ ba, họ rất thường hay hứa hão câu giờ theo kiểu “an tâm đi, rồi cũng đến lượt anh mà. Nhưng tất nhiên lượt của anh chỉ đến sau lượt tôi. Chưa đến đâu, đừng sốt ruột, vì còn đến người đồng hương quê tôi đã, rồi còn đến người vùng miền, rồi người cùng cánh, người có ảnh hưởng đến chức vị leo cao của tôi, sau đó chúng tôi lần lượt lĩnh giải xong đã… yên tâm đi, rồi cũng đến lượt anh thôi, có gì phải lo nào…”

Thi ca muốn lớn phải có lý tưởng là tầm nhìn để chiếu ra xa, có tôn giáo để nuôi dưỡng cái nhìn lý tưởng, có tri thức để nuôi dưỡng nghệ thuật, có đam mê để nhảy vọt, có lao động để dựng công trình. Đằng này các nhà thơ Việt có cái gì? Lý tưởng ư, làm sao lý tưởng tự do, bình đẳng bác ái lại chui ra từ tem phiếu! Tôn giáo ư, hơn 90% là vô thần! Tri thức ư, công nông binh về tráng men văn hóa ở trạm cấp cứu Nguyên Du, còn lại là các cụ tổ hưu đã hết sắc hương! Lao động nghệ thuật ư, nằm gãi thẻ trên chiếu vừa quạt vừa gãi cho mát, gom mấy câu vần vèo lại, sao thành lao động! Thơ Việt như vậy làm gì chẳng bé! Chẳng hay đố kỵ! Chẳng hay cản đường! Chẳng hay tranh giành vương miện! chẳng hay đội nhầm giải thưởng!

Con người muốn làm được việc khó phải tập luyện như nghệ sĩ vĩ đại Sac-lô, ông không chỉ leo dây mà còn tập cho những con khỉ nhảy lên đầu bịt mắt, lăn xuống giật chân, nghĩa là ông tăng độ khó cho nghệ thuật của mình. Mà nghệ thuật toàn vẹn thì cũng đòi hỏi phải tập luyện toàn vẹn về tri thức, tài năng, nhân cách, và lý tưởng. Chỉ khi nào chúng ta ý thức được điều đó chúng ta mới bắt đầu gieo một vụ mùa lớn cho tầm vóc quốc gia cũng như văn chương và nghệ thuật.

Đừng sát sanh vì sự sống của mình

Nếu không có đạo đức, con người chỉ là một con thú vật thông minh, hung ác, gian xảo, lừa đảo nhất trong các loài động vật.

Trong đời sống con người không có việc gì cao đẹp bằng lòng thương yêu sự sống của muôn loài. Chính lòng thương yêu ấy, sẽ giúp các bạn có một đời sống biết chan hòa tình thương với muôn loài vạn vật.

Đừng vì sự sống của mình, mà nỡ tâm sống trên sự đau khổ của người khác, vật khác. Đừng vì sự sống, sự an vui của mình, mà nỡ lòng để nước mắt của người khác, loài vật khác phải rơi! Như vậy có được gọi là lòng thương yêu không, các bạn? Đừng vì sự sống, sự ăn uống, vui chơi, giải trí của mình, mà nỡ tâm để nước mắt và xương máu của loài vật khác phải đổ xuống? Như vậy các bạn sống có công bằng không? Công lý của sự sống ở chỗ nào, thưa các bạn?

Loài người xuất hiện là một loài động vật cao cấp, để trở thành người anh cả trong muôn loài. Nhưng cớ sao người anh cả lại không thương những người em vô minh, khờ dại, ngu tối, lại nhẫn tâm bắt các em của mình ra ăn thịt? Như vậy con người có xứng đáng là người anh của muôn loài vật chăng? Hay cũng chỉ là một loài vật tầm thường như bao nhiêu loài vật khác?

Nếu loài người không thực hiện được đạo đức hiếu sinh, thì sự sống của con người sẽ ra sao? Vì thế, trong loài người có một tôn giáo ra đời đã xác định quả quyết: Đời là khổ.

Đời là khổ, nhưng chúng ta biết chuyển nó thì nó sẽ hết khổ, các bạn ạ! Có nghĩa là chúng ta sống với lòng yêu thương chân thật đối với sự sống của muôn loài. Vì sự sống của loài người mà sự sống chết của muôn loài vật khác như chỉ mành treo chuông. Vì thế, chúng phải khóc thương, khóc thương cho kiếp sống khổ đau của mình phải chịu lầm than, bạc phước, bị loài người ác độc, vô đạo đức hiếu sinh đã, đang và sẽ giết hại để ăn thịt.

Sao lại nỡ nhẫn tâm vì sự sống của mình mà giết hại chúng sanh ăn thịt? Trong những tiếng kêu la thảm thiết của chúng, chúng ta không chút lòng thương xót sao? Sao lại nỡ nhẫn tâm chà đạp lên sự sống của muôn loài vật khác? Trong lúc đó mọi vật đều muốn sống, sống bình đẳng như nhau, sống bình an và hạnh phúc.

Mỗi khi nghe tiếng kêu của những con vật mà các bạn đang đập đầu, cắt cổ, nhổ lông làm thịt để làm thực phẩm, thì lòng tôi đau xót vô cùng, cảm thấy như chính mình đang chịu sự giết hại đó. Các bạn có biết đâu, mỗi một con vật bị các bạn giết là một phần nghiệp của các bạn, đang thọ quả khổ đau do các bạn đã từng làm ác tạo ra. Nói một cách khác cho dễ hiểu hơn, bạn đang giết và ăn thịt con của các bạn mà các bạn không biết. Vì mỗi con vật được sinh ra đều do từ môi trường sống. Trong môi trường sống có nghiệp ác hay thiện của các bạn. Hằng ngày hành động của các bạn đang thải ra trong không gian vũ trụ những nghiệp; đủ duyên hợp chất nghiệp thì sinh ra các loài vật hoặc loài người.

Mỗi khi tôi nhìn thấy các bạn giết hại chúng sanh và ăn thịt chúng thì tôi cảm thấy xót xa, thương cho các bạn vô cùng vì chính các bạn đang ăn thịt con của các bạn đấy, ăn thịt những người thân của các bạn. Các bạn có biết không, do sự vô minh mà các bạn đã đánh mất nền đạo đức hiếu sinh sự sống trong lòng của các bạn. Đó là nền đạo đức cao thượng tuyệt vời, nó đem lại sự sống an lành cho các bạn và cho mọi loài trên hành tinh này. Nó đem lại cho quả đất này một mầu xanh tươi đẹp, một vẻ đẹp đẽ vô cùng; nó đem lại một sự thanh bình an ổn cho muôn loài vạn vật, sống không còn lo âu và sợ hãi nữa.

Nếu một con người sinh ra mà để cho thú vật nuôi, thì con người đó sẽ không biết nói tiếng người, mà chỉ biết kêu, hú như loài vật. Và chẳng biết đi đứng bằng hai chân như con người, chỉ còn biết bò, đi 4 chân như loài thú vật. Một con chim được người nuôi dưỡng và dạy nói tiếng người, con chim sẽ nói được tiếng người một cách dễ dàng, không mấy khó khăn. Có khi nào các bạn nghe chim nói tiếng người chưa? Có nhiều loại chim nói được tiếng người như: Chim anh vũ, chim sáo, chim cưỡng, chim nhồng, v.v... đều do con người dạy và tập luyện chúng. Bởi vậy con người cũng như thú vật, do sự học hỏi và tập luyện mà thành thói quen tốt hay xấu, có đạo đức hay vô đạo đức mà thôi.

Thói quen có hai phần: phần tốt và phần xấu. Vậy thói quen là gì? Thói quen là do một hành động gì huân tập nhiều lần đã thấm nhuần. Nếu một người thường sống theo ác pháp thì sẽ quen đi với những hành động ác. Ý thức chủ động điều khiển hằng ngày theo hướng ác thì ngày ngày tăng thêm một chút ác; mỗi chút ác ấy gom lại thành thói quen ác. Khi đã huân tập thành thói quen ác thì rất khó bỏ, muốn bỏ không phải dễ dàng. Ví dụ từ lâu chúng ta quen ăn thịt chúng sanh, bây giờ bỏ không ăn thịt chúng sanh nữa, thì đó là một việc làm không phải dễ dàng.

Muốn bỏ một hành động nào đã thành thói quen, thì chúng ta phải có nghị lực, có gan dạ và còn phải bền chí thì mới mong bỏ được. Một thói quen xấu mà muốn bỏ để trở thành thói quen tốt, thì phải vất vả, gian nan mới bỏ được. Tuy biết rằng ăn thực phẩm thực vật vẫn sống bình thường, nhưng vì thói quen, tâm chúng ta vẫn thèm thịt cá, vẫn thích ăn nước mắm hơn là ăn nước tương.

Chúng ta vẫn biết mỗi con vật bị đem ra giết để làm thực phẩm, đều có sự đau khổ, đều có phản ứng chống lại hoặc cầu cứu, van xin mong được chúng ta tha mạng sống. Nhưng chúng ta làm ngơ như không biết, hoặc chúng ta không biết thật sự, hoặc chúng ta thích thú khi thấy con vật bị cắt cổ nhổ lông, bị thọc huyết, bị đập đầu, bị chích điện... khiến cho con vật chỉ còn kêu lên một tiếng, giẫy giụa rồi ngã xuống bất động, chết một cách thương tâm nào có ai biết! Chết một cách đau đớn nào có ai hay! Chết một cách thê thảm, xương thịt được người phân chia ra từng ký lô, rồi từng người mua mang về làm thực phẩm ăn tươi nuốt sống một cách hả hê, thích thú...

Thói quen ăn thịt chúng sanh là một thói quen đã làm mất đi lòng thương yêu chân thật của con người đối với sự sống của muôn loài. Lòng thương yêu sự sống của muôn loài là một hành động đạo đức hiếu sinh cao thượng và cao đẹp nhất của loài người và chỉ có loài người mới thực hiện được, ngoài loài người ra thì không có loài vật nào có thể sống và làm được những hành động đạo đức cao thượng tuyệt vời này.

Con người không học hành, không tập luyện đạo đức hiếu sinh này thì cũng chẳng khác nào là những con thú vật. Con người có tập luyện học hành, biết sống có đạo đức, có lòng yêu thương này, thì con người sẽ hơn con thú rất nhiều. Nói cách khác cho dễ hiểu hơn là con người thoát ra khỏi bản chất của loài cầm thú.

Tập luyện, học hành sống có đạo đức hiếu sinh, biết thương yêu sự sống của muôn loài là tập thành thói quen tốt, thói quen tốt đáng được ca ngợi. Còn tập luyện, học hành sống không có đạo đức, không biết thương yêu sự sống của muôn loài thì thường giết hại, làm đau khổ mình và chúng sanh. Ngược lại hằng ngày nếu còn nỡ lòng ăn thịt chúng, thì đó là tập thành thói quen xấu ác. Thói quen xấu ác làm đau khổ mình, đau khổ người và đau khổ muôn loài vật; thói quen ấy không được ca ngợi, không được khen tặng, không được chấp nhận, luôn luôn bị chê bai và khinh bỉ. Làm người phải xa lìa, viễn ly những hành động xấu ác này, những hành động xấu ác này biến chúng ta trở thành ác thú hay là các quỷ.

Vì thế, trong sự ăn uống có sự đau khổ của loài vật thì đó là sự ăn uống trong các pháp ác, huân tập sự đau khổ vào thân của mình; tạo thành nghiệp ác; nghiệp ác ấy là nguyên nhân sẽ đưa đường dẫn lối cho các bạn gặp những tai họa khổ đau và bịnh tật.

Thói quen ăn thịt chúng sanh của con người, cũng giống như thói quen ăn uống của loài vật, đều do sự huân tập từ khi mới lọt lòng mẹ được sinh ra. Nếu được cha mẹ cho ăn uống như thế nào lúc mới biết ăn, thì sẽ thành thói quen ăn uống như vậy suốt đời. Ví dụ: Một đứa bé vừa sinh ra được loài khỉ vượn nuôi, thì đứa bé lớn lên ăn bằng trái cây mà không thể ăn thịt cá được. Cũng đứa bé ấy được loài sói nuôi thì đứa bé ấy ăn thịt sống của con vật khác; cũng đứa bé ấy nếu được con người nuôi thì ăn thịt nấu chín.

Trưởng lão Thích Thông Lạc
Xem thêm: Năm Giới - Thiện pháp của con người

Sự thông minh và sự 'chậm lớn' của người Việt

Cây cầu tre - tư duy và cơ chế quản lý xã hội tiểu nông bắc giữa hố sâu của 2 bờ "tụt hậu" hay "phát triển" cần được thay đổi, được đổi mới bằng cây cầu hiện đại- tư duy và quản lý xã hội gắn kết dân chủ, công bằng, văn minh và minh bạch. sự kiện nóng.

Sau những giờ phút xúc động đến "nghẹn con tim", khi chứng kiến GS Ngô Bảo Châu được vinh danh trên trường quốc tế với Giải thưởng Fields danh giá, và được trong nước vinh danh thành "hiện tượng Ngô Bảo Châu", cũng như trước đây là "hiện tượng" Đặng Thái Sơn- nghệ sĩ biểu diễn piano, giải nhất cuộc thi quốc tế về Frédéric Chopin ở Warszawa (Ba Lan), thì tâm lý người Việt trong chúng ta bỗng chùng xuống, im lặng khi nghĩ về đất nước mình. Nghĩ về những tài năng Việt xa xứ. Đã đành, sự vinh danh vẻ vang GS Ngô Bảo Châu, một người Việt tài năng, thì dân tộc Việt sẽ là dân tộc được thế giới nhắc nhớ đầu tiên.

Nhưng sẽ có một câu hỏi khác, một sự nhắc nhớ khác, khiến chúng ta hổ thẹn. Tại sao người Việt ra thế giới, đi làm thuê cho xứ người, lại thường thành danh, thành đạt? Và tại sao, người Việt chúng ta thông minh thế, mang tiếng tài nguyên rừng vàng biển bạc thế, phải cho nước ngoài khai phá...mà đất nước vẫn luẩn quẩn với cái nghèo, chậm phát triển, nay lại còn tụt hậu so với khu vực?

Một chuyên gia người Việt của tổ chức Ngân hàng Thế giới từng đặt câu hỏi: "Ta cứ hay vin vào chiến tranh. Thế nhưng chiến tranh đã lùi xa sau 35 năm, tại sao đến giờ, thu nhập bình quân/ người Việt/ năm mới đạt 1.000 USD. Trong khi đó, các quốc gia như Đức, Nhật, Ba Lan, Tiệp Khắc bị tàn phá thảm hại sau chiến tranh thế giới thứ 2 nhưng sau 35 năm họ đã thành cường quốc kinh tế, thu nhập bình quân đạt trên 10.000 USD/ người/ năm".

Chiến tranh liệu có thể mãi là "bình phong" để cho ta che đậy sự kém cỏi? Điều gì là vật cản khiến tố chất thông minh của người Việt không "phát" lên được, không biến thành tài nguyên chất xám làm giàu cho nước Việt, thành vòng nguyệt quế kiêu hãnh trên vầng trán nước Việt, khi mà rất nhiều quốc gia tương tự như ta, đều đang ngẩng đầu tiến về phía trước?

"Người nọ ngoi lên, người kia kéo xuống"- ngụ ngôn hay cuộc đời?

Khi đặt câu hỏi này, người viết bài tự nhiên nhớ đến câu chuyện ngụ ngôn hiện đại: Có chiếc tàu đắm ngoài khơi xa, tàu cứu hộ được điều đến để cứu hành khách đang ngoi ngóp dưới biển. Người các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore...lần lượt được cứu thoát, bởi người nọ làm bệ đỡ cho người kia ngoi lên. Nhưng hành khách là người Việt Nam, cứ người nọ ngoi lên, thì lập tức bị đồng loại- người kia kéo xuống. Vì thế mà cuối cùng hành khách là người Việt Nam chết hết.

Câu chuyện triết lý bi thảm về tính cách một dân tộc thật chua xót. Nhưng chắc chắn, nó "ngụ ngôn" trên cơ sở có thật. Hay nó bước ra cuộc đời, từ "ngụ ngôn" để trở thành tính cách người Việt?

Không biết có phải vì quá thấm thía về câu chuyện ngụ ngôn, quá hiểu tính cách người Việt không, mà khi được đặt câu hỏi đề cập việc có chính sách quy hoạch bồi dưỡng cho những chuyên gia giỏi tuổi còn trẻ, một vị sếp cỡ Bộ trưởng lắc đầu quầy quậy: "Không được đâu chị ơi. Cứ "dàn hàng ngang cùng tiến" thì không sao. Chứ đụng vào chuyện quy hoạch, bồi dưỡng người nọ người kia là chết ngay!"

Chẳng biết ông có chịu để "chết" không, nhưng rõ ràng, cơ quan ông "chết" vì những người giỏi cũng chẳng thể bật được lên do chính sách cào bằng,  "dàn hàng ngang mà tiến". Hòa cả làng! Và cho nó...lành!

Chắc chắn câu chuyện và tâm lý của vị Bộ trưởng trên không phải là cá biệt. Mà đó cũng mới là chuyện xây dựng đội ngũ chuyên gia, không phải quy hoạch đội ngũ quản lý.

Còn chuyện mới đây: Tại Hội nghị về chiến lược quản lý nhân sự do báo VNN và VN500 tổ chức, người ta nêu ra một vấn đề đáng chú ý. Nhiều công ty có tầm cỡ đang hoạt động trong nước ta cho biết, họ thường có vấn đề với nhân sự trung và cao cấp mà họ rất cần. Tại sao lại như vậy? Theo ông Trần Sĩ Chương, Chủ tịch HĐQT Công ty ABBO, trong tất cả các cái "thiếu" có lẽ cái thiếu "tinh thần đồng đội" là quan trọng hơn cả.

"Nhiều nhà quan sát lịch sử Việt Nam cho rằng đây là một nghịch lý đáng ngạc nhiên. Dân tộc Việt Nam khi cần đã chứng minh được một khả năng đoàn kết cao độ trong các cuộc kháng chiến giành độc lập cực kỳ khó khăn, gian khổ.

Vậy mà từ người Pháp trước đây, rồi người Mỹ và nhiều người ngoại quốc khác sau này khi có cơ hội làm việc, tiếp xúc với người Việt lại có nhận xét, "một cá nhân người Việt thì có thể hơn một người khác nhưng ba người Việt ngồi lại thì... lại có vấn đề!".
Cũng theo ông Trần Sĩ Chương, các nhà xã hội học dựa vào thuyết "Con người là sản phẩm của môi trường sống", hiện tượng này là do sự bất ổn định của hoàn cảnh lịch sử xã hội. Khi sống trong một xã hội có truyền thống bất ổn định thì con người với bản chất sinh tồn bẩm sinh sẽ có khuynh hướng muốn hành động tự phát, thiếu lòng tin vào tập thể, vào tương lai.

Từ đó, người ta không muốn đầu tư vào những cam kết, đầu tư và gắn bó xã hội có tính lâu dài thậm chí có khi còn "đạp lên nhau để sống".

Tuy nhiên, ông Trần Sĩ Chương chưa nêu được cái gốc của tố chất này. Nền văn minh của nước Việt là văn minh lúa nước. Dân tộc Việt có tới 80% dân số làm nghề nông. Một nét đặc thù của tư duy nông nghiệp là tư duy tư hữu; là "con gà tức nhau tiếng gáy", "sân gạch nhà ông không thể cao hơn sân gạch nhà tôi"...

Chính tố chất "tư hữu đậm đặc" này tuy lặn sâu trong tiềm thức con người Việt, khó "điểm mặt chỉ tên", nhưng nó lại luôn kề vai sát cánh với mỗi người Việt cho dù họ đã là trí thức, từ cơ quan nghiên cứu đến công sở...và nó là "người tình" trăm năm thủ thỉ, gắn bó với ta khi ta cộng tác, làm việc với đồng nghiệp, bằng hữu. Bỗng nhớ tới một câu "ngụ ngôn" khác sâu cay không kém: "Trong cái sự mất đoàn kết, thì trí thức là hay mất đoàn kết nhất, rồi mới đến...đàn bà"(!).

"Gieo tư duy gặt số phận"?

Tính cách người Việt ấy, lại được đặt trong một cơ chế và tư duy quản lý ra sao?

Khi bàn về sự lận đận, yếu kém và sự tụt hậu của xã hội chúng ta trong những năm tháng thách thức nghiệt ngã này, có nhà thơ đã nói: Hình như con người có số phận, thì dân tộc cũng có số phận?

Bỗng nhớ tới câu chiêm nghiệm về luật nhân- quả của đạo Phật, răn dạy con người ở kiếp nhân sinh: "Gieo tính cách, gặt số phận". Nhưng luật Đời cũng luôn cảnh báo cho bất cứ dân tộc nào- gieo tư duy gặt số phận?

Tư duy của dân tộc Việt chúng ta đã từng đổi mới để thích ứng với đòi hỏi của thời hiện đại, từ bao cấp chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường. Nhưng công bằng mà nói, tư duy đó thực chất vẫn không thoát khỏi dấu ấn tiểu nông, gia trưởng. Trong tố chất "tính cộng đồng" còn tồn tại cả tố chất "bầy đàn", hình thành nên trên hình thái lao động sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công, không vượt khỏi tầm chắn của lũy tre làng.

Chính tư duy "bầy đàn" và trọng hư danh của con người tiểu nông, khi có quyền lực, dễ trở nên e ngại, phòng ngừa với những người có tư duy độc lập khác với số đông. Thời nào, và dân tộc nào cũng vậy, luôn có những con người thông minh, trí tuệ, luôn có những con người biết nhìn ra sớm hơn cộng đồng mình, dám nhận thức bằng sự kiểm chứng thực tiễn. Nhưng tư duy tiểu nông khi cực đoan, dễ nghi ngờ, hoặc đánh đồng sự "khác biệt" của người tài là sự đối trọng, thậm chí đối nghịch.

Cơ chế quản lý xã hội, một khi được xây nên từ tư duy tiểu nông ấy, tạo nên một hệ thống chân rết cũng sẽ khó chấp nhận những cá tính sáng tạo, mà chỉ thích sự 'cào bằng" và sự nghe lời. Khi ấy thì sự thông minh, năng lực sáng tạo, và niềm tin lý tưởng chân lý là thực tiễn, rất có thể trở thành bi kịch cho chính người tài, nếu không, chí ít anh ta cũng trở nên hoặc đơn độc, hoặc bị vô hiệu hóa trong cộng đồng.

Tư duy và cơ chế quản lý "cào bằng" ấy tạo ra sự bất công với những người tài, chỉ gặt hái được sự a dua cơ hội của sự háo danh, sự vô cảm của số đông và làm thui chột tài năng sáng tạo thực chất. Đó chính là nguyên nhân sâu xa, tạo ra "hố sâu" ngăn cách giữa hai bờ tụt hậu và phát triển. Một dân tộc có nhiều người thông minh như dân tộc Việt, vẫn có thể là dân tộc "chậm lớn" vì thế.

Liệu dân tộc Việt chúng ta có vượt lên được chính mình không?

Nhìn ra thế giới, ông Trần Sĩ Chương cho rằng, mặc dù cá nhân người dân Nhật không được tiếng học giỏi, lanh lợi như người Ấn, người Hoa hay so với người Việt chúng ta...nhưng theo ông Chương, điều kiện "công bằng trong xã hội" là một yếu tố quyết định để mọi cá nhân có lòng tin sự đóng góp của mình được ghi nhận một cách sòng phẳng, được đền bù xứng đáng về mặt vật chất lẫn tinh thần.

"Từ đó, con người mới tin vào ý nghĩa của sự đoàn kết, đem lại cái tổng giá trị lớn hơn từng giá trị của cá nhân đứng riêng lẻ cộng lại và cá nhân họ "được" nhiều hơn là nếu chỉ nghĩ đến mình. Con người bất cứ ở đâu, nếu sống trong một điều kiện xã hội còn nhiều bất công thì sẽ khó sống trung thực. Từ đó sự tự trọng, tương kính cũng sẽ không có.

Trong xã hội Mỹ, cá nhân chủ nghĩa, tinh thần cầu lợi có lẽ cao hơn bất cứ xã hội nào khác. Nhưng họ may mắn có được một cơ chế xã hội mà đa số người ta tin là công bằng. Câu phản biện đầu môi, hữu hiệu nhất của một người Mỹ (ngay cả những đứa trẻ con) đối với người khác khi tranh luận một vấn đề là vịn vào cái lý lẽ "That's not fair!" (Thế là không công bằng đâu nhé!)"(VNR500,12/8/2010)

Như vậy, tư duy và cơ chế quản lý xã hội hay  hoặc dở, hoàn thiện hay khiếm khuyết, tất yếu dẫn đến hoặc kết quả hoặc hệ lụy khác nhau căn cứ vào việc sử dụng người, đặc biệt là những người tài. Mà đối với những người tài, nhất là các nhà khoa học, trí thức lớn, không chỉ đồng lương, quan trọng hơn là được tự do học thuật, tự do sáng tạo. Việc sử dụng những người tài, đòi hỏi những nhà quản lý có tầm, có tâm, biết tôn trọng lao động sáng tạo và..."không sợ họ".

Cơ chế quản lý xã hội nặng tính cào bằng, thậm chí các thang bậc giá trị trắng đen lẫn lộn, sớm muộn cũng gây ra những bất công, làm ly tán lòng người. Nhiều người tài, cũng từ sự bất công đó mà ra đi. Sự suy yếu, tụt hậu của dân tộc là không tránh khỏi

Cơ chế quản lý xã hội công bằng, là động lực kích thích mọi người làm việc, khiến người tài tin tưởng, dốc lòng cống hiến. Không gọi, dù xa xứ, sớm muộn họ cũng sẽ quay về. Sự phát triển của dân tộc là tất yếu.

Không ai có thể quyết định số phận dân tộc Việt bằng chính người Việt. Cây cầu tre- tư duy và cơ chế quản lý xã hội tiểu nông bắc giữa hố sâu của 2 bờ "tụt hậu" hay "phát triển" cần được thay đổi, được đổi mới bằng cây cầu hiện đại- tư duy và quản lý xã hội gắn kết dân chủ, công bằng, văn minh và minh bạch.

Khi đó mới có thể kỳ vọng, sự thông minh song hành với sự lớn nhanh của người Việt, cũng tức là song hành với sự phát triển mạnh của dân tộc.

Xin đừng để sự "chậm lớn" của người Việt cũng thành một "hiện tượng", nhưng là "hiện tượng" buồn!

Báo “lá cải” …

1. Từ cuối tháng Năm cho đến hết tháng Sáu năm 2012, dư luận báo chí ồn ào quanh chuyện báo lá cải. Khởi đầu dường như có một bài viết trên một tờ báo kết luận một số báo hiện hành là lá cải và cần phải chống lại cách làm báo ấy. Tuy không nêu đích danh nhưng với cách trình bày có đưa những chữ cái viết tắt tên của các tờ báo bị coi là lá cải, có trích dẫn những biểu ngữ và một vài tựa đề xuất hiện trên những tờ báo đó thì chẳng thể nào giấu được những độc giả thường xuyên đọc báo. Lại nữa, ngay sau đó, những tờ báo được nêu dẫn lập tức phản bác bằng những lời bào chữa yếu ớt, càng chứng tỏ chính mình đã được người ta xếp hạng. Cũng có những bài viết tỏ ra không can dự, tự cho mình ở vị thế “tọa sơn quan (hổ) đấu” và lên tiếng cao dao, rằng không nên bêu xấu nhau.

2. Kể ra thì không khí chưa đến mức bút chiến nhưng vì rõ ràng vấn đề được nêu có phần lem luốc; lại nữa, giữa lúc lời qua tiếng lại thì có “sự cố”, một người bị coi là nạn nhân của báo lá cải vì mất danh dự tìm cách quyên sinh, nên đã có các quan chức trong ngành thông tin truyền thông lên tiếng.

Có vị dẫn luật báo chí ra để khẳng định rằng xứ ta không có báo lá cải. Lại có vị bảo rằng có biết hình thức báo lá cải nó thế nào đâu mà kết luận. Thế rồi nhiều vị cầm bút dẫn chứng chuyện đông tây kim cổ để cho rằng báo lá cải chỉ là sản phẩm của nền báo chí tư bản, rằng báo lá cải là những tờ báo khổ nhỏ; nhưng… cái chữ nhưng rắc rối…; nhưng cũng có vị bảo lá cải là ở nội dung chứ không ở khổ báo, rằng nội dung mà quá nhấn mạnh đến những chuyện tình, tiền, tù, tội, sốc, sếch, sến…thì bị coi là lá cải, rồi dẫn chứng có những tờ báo tuy khổ lớn mà lá cải trong lúc nhiều tờ báo khổ nhỏ lại không lá cải. Nghe cứ loạn cả lên.

Bỗng lại xuất hiện một vị bảo rằng nhiều thuật ngữ trong nghề báo ở Việt Nam bắt nguồn từ tiếng Pháp, cho nên khi người Pháp dùng từ la feuille de chou để chỉ những tờ báo xoàng, những tờ báo ít giá trị, thì người Việt cũng dịch cụm từ ấy ra là lá cải để chỉ những tờ báo có nội dung không tốt. Sau bao nhiêu giấy mực đổ ra, rốt cuộc người đọc bình dân cũng chẳng mường tượng nổi cái báo lá cải nó là thế nào, có thật hay không, nếu có thì tác hại ra sao, vì lý do gì mà phải chống; chỉ biết thêm rằng lá cải có gốc tiếng Pháp la feuille de chou.

3. Đúng như nhận định của vị đã tìm được nguồn gốc của từ lá cải, ban đầu người Việt ta đã học nghề làm báo từ người Pháp, ta có dùng từ lá cải thì cũng là bắt chước những người làm báo Pháp (còn bắt chước đúng hay sai lại là chuyện khác). Cho nên muốn hiểu về từ lá cải thì phải biết qua lịch sử báo chí Pháp. Đại khái thì người Pháp và nhiều dân tộc châu Âu khác cũng chỉ có thể bắt đầu làm báo từ một thời gian rất lâu sau khi Johannes Gutenberg cải tiến kỹ thuật in với những khuôn chữ rời vào năm 1438; và những tờ báo in đầu tiên được phát hành cũng là những phương tiện truyền bá chính sách của các chính quyền hoặc công cụ truyền giáo của nhà chung phục vụ giáo hội Thiên chúa giáo La mã.

Phải đến giữa thế kỷ thứ 18 thì mới xuất hiện những tờ báo tư nhân; bên cạnh những tin tức chính trị và chiến sự, còn có các bài viết kể lại hành trình thám hiểm các vùng đất mới, những tác phẩm văn học viết dưới dạng đăng trên mặt báo theo định kỳ, gọi là feuilleton, và các tin tức về tài chánh liên quan đến những cơ sở khai thác thuộc địa của các nhóm thực dân. Không lâu sau đó, những tạp chí chuyên ngành bắt đầu xuất hiện, kích thích không khí học thuật châu Âu khiến nhu cầu thông tin ngày càng tăng. Sang thế kỷ 19, những phát minh mới như kỹ thuật điện tín, điện thoại, đường sắt, tàu chạy hơi nước… cũng góp phần đẩy mạnh sự phát triển của hoạt động báo chí.

4. Đặc biệt, sự ra đời của máy in bằng trục lăn tròn do William Bullock sáng chế năm 1865 làm tăng tốc độ in đã làm cho việc xuất bản báo chí trở nên thuận tiện và rẻ hơn trước rất nhiều. Đến lúc này, nhu cầu và thị hiếu của người đọc có thay đổi. Bên cạnh tin tức chính trị và quân sự, người ta dần dần quan tâm hơn đến các hoạt động thường nhật, những tin tức về tài chánh, thị trường, đất đai, nhà cửa… và cả những thông tin có tính cách vô bổ nhưng giúp người đọc thư giãn cũng bắt đầu xuất hiện trên báo. Bấy giờ, nội dung của những báo phát hành rộng rãi không thể đáp ứng nhu cầu của các địa phương.

Ở Pháp, loại báo chuyên cung cấp những thông tin lặt vặt phục vụ cho từng địa phương như vậy đã ra đời trong hoàn cảnh đó, được người Pháp gọi với cái tên thân mật là la feuille de chou, là lá cải; vì trong ngôn ngữ của người Pháp, lá cải là một hình ảnh thân thiết, dễ thương. Điều đó có nghĩa lá cải là tờ báo thân thiết của tôi, của địa phương tôi, của cộng đồng tôi; tờ lá cải đó đăng những tin tức hay những bài viết mà tôi và những người trong cộng đồng của tôi quan tâm nhiều nhất, phục vụ cho chúng tôi nhiều nhất, đáp ứng đúng nhất nhu cầu của chúng tôi.

5. So với những tờ báo bề thế phát hành hàng chục nghìn đến trăm nghìn bản, chuyên bàn chuyện thế giới hoặc quốc gia đại sự, rõ ràng lá cải phát hành vài trăm bản hay một hai nghìn bản chỉ nói đến những chuyện lặt vặt của đời sống thường nhật trong một cộng đồng, chỉ là một loại báo tầm thường, cho nên các tự điển Petit Larousse Illustré ấn bản 2002 hay tự điển Hachette ấn bản 2005 và tự điển Grand Robert bảo la feuille de chou là tờ báo xoàng, tờ báo ít giá trị… thì quá đúng rồi. La feuille de chou chỉ có thể cung cấp tin và bài địa phương, không thể và cũng không cần tổ chức đội ngũ biên tập tài năng, lực lượng săn tin hùng hậu… cho nên không thể có những bài viết sáng giá.

Tuy nhiên, la feuille de chou vẫn rất cần thiết với đời sống địa phương, và là một trường đào tạo kiểu vừa học vừa làm cho những người có tinh thần học hỏi; do đó, ở Pháp, có những la feuille de chou sau một thời gian hoạt động đã trở thành những tờ báo thông tin chính thức của một cộng đồng. Nhiều tờ báo lớn vẫn có những phụ trương là la feuille de chou, như Nouvel Observateur chẳng hạn.

Cho đến nay, ở Pháp và những nơi có cộng đồng sử dụng tiếng Pháp, la feuille de chou vẫn là hình thức báo chí phổ biến của sinh viên các trường đại học, của những nhóm người có cùng một mối quan tâm, ấn hành mỗi kỳ vài trăm cho đến hơn một ngàn bản, thường phát hành bằng việc nhận đặt báo trước, nhưng một số nơi cũng có thể bày bán ở các sạp báo, cho thấy có những la feuille de chou ăn khách. Đọc những la feuille de chou mới thấy người viết cũng vẫn tự hào là mình cung cấp được những thông tin đứng đắn cần thiết cho độc giả. Tuyệt đối không thấy những lối câu khách nhảm nhí như những tờ báo vừa bị phê bình là lá cải ở ta. Trong những bài viết tham gia bàn luận về báo lá cải vừa qua, cũng có một tác giả bảo rằng việc gọi những tờ báo câu khách bằng những trò dung tục và rẻ tiền là hạ thấp giá trị của chữ lá cải, nhận xét ấy có thể là chính xác nếu chỉ hiểu lá cải là la feuille de chou.

6. Cũng chưa rõ từ lá cải xuất hiện trên báo chí Việt Nam vào lúc nào, nhưng có thể đoán định được rằng cho đến năm 1945, từ lá cải chưa được sử dụng. Theo danh mục những tờ báo đã xuất bản trong buổi bình minh đối với nghề báo của người Việt trong Báo Chí Việt Nam từ khởi thủy đến 1945 của Huỳnh Văn Tòng, đã thấy xuất hiện những tờ báo chuyên về đua ngựa, phim ảnh, kịch trường, vui cười, thương mại… có nội dung bị coi là mị dân, ru ngủ, đánh lạc hướng việc đấu tranh giành độc lập của dân tộc.

Tuy vậy, người ta chưa thấy những tờ báo ấy bị phê là lá cải. Trong Báo chí Cách mạng Việt nam 1925-1945 của Nguyễn Thành, nhiều tờ báo công khai bị chê là cải lương nhưng cũng không hề xuất hiện từ lá cải. Nếu báo chí thời ấy đã phê nhau là lá cải, thì nhiều khả năng từ lá cải cũng đã được các nhà nghiên cứu báo chí sử dụng để định hình một phong cách hoạt động báo chí của một thời.

Có lẽ sau năm 1963, báo chí miền Nam xuất bản ồ ạt, nhiều tờ báo phải tìm mọi cách câu độc giả, đã xuất hiện những tờ báo bước đầu kể chuyện phòng the, khai thác một số khía cạnh tình dục, đăng tải những câu chuyện tình diễm lệ, chịu ảnh hưởng lối sống thác loạn của các phong trào beatnik và hippi, tuy vẫn còn chừng mực, từ lá cải mới được dùng đến với hàm ý phê phán. Nhưng như vậy thì ý nghĩa từ lá cải mà người Việt dùng hoàn toàn khác với ý nghĩa của từ la feuille de chou mà người Pháp tự hào gọi tên một số xuất bản phẩm truyền thông của họ.

7. Tìm hiểu về sinh hoạt báo chí quốc tế, người ta sẽ có một nhận xét hợp lý có thể đoán trước là mỗi xứ đều có một lề thói sinh hoạt riêng, một hệ thống thuật ngữ riêng để chỉ các hình thức hoạt động báo chí của xứ mình, mặc dù những xứ có hoạt động báo chí phát triển sau luôn luôn học hỏi từ những xứ tiên phong. Ngay cả giữa người Anh và người Mỹ cũng có những khác biệt. Cũng có trường hợp môt xứ dịch các thuật ngữ có sẵn của xứ khác sang tiếng nước mình hoặc biến đổi cách viết cách đọc các thuật ngữ đó.

Giới báo chí Hoa Kỳ có một thuật ngữ là Yellow Journalism mà người Pháp dịch ra là Journalisme Jaune để chỉ những tờ báo có phẩm chất dung tục chuyên sử dụng kỹ thuật “đập vào mắt” độc giả để câu khách. Báo giới Hoa Kỳ đã chỉ ra năm đặc điểm của loại báo này gồm:

a. trình bày tựa bài bằng những hàng chữ to có nội dung giật gân cho những mẩu tin tầm thường;
b. sử dụng màu sắc lòe loẹt và nhiều hình ảnh khổ lớn có tính kích thích;
c. dựng lên những cuộc phỏng vấn cuội, đặt những tựa bài không ăn nhập với nội dung bài, trình bày những luận thuyết giả khoa học, đưa ra những học thuyết vớ vẩn của những kẻ tự xưng là chuyên gia;
d. nhấn mạnh vào những tờ phụ trang;
e. bày tỏ lòng thương cảm quá đáng về hoàn cảnh của những đối tượng thiếu may mắn.

Thuật ngữ này dựa vào màu giấy vàng của những tờ báo đầu tiên áp dụng kỹ thuật câu khách này hồi cuối thế kỷ thứ 19. Trong khi đó, người Anh dùng từ Tabloid hay Red Top để chỉ những tờ báo có khuynh hướng nhấn mạnh đến các chủ đề mang tính gây cảm xúc mạnh như tin án mạng, chuyện tình dục, chuyện ngồi lê đôi mách về những người nổi tiếng, tin thị trường chứng khoán, tin về công nghệ giải trí…, các thuật ngữ trên cũng căn cứ vào thực tế là một số tờ báo có khuynh hướng này thường phát hành với khổ nhỏ hoặc có tên báo được in bằng mực đỏ. Người Pháp có khi để nguyên, có khi cũng dịch những thuật ngữ này ra ngôn ngữ của mình để trỏ loại báo có khuynh hướng như vậy.

8. Con người có thiên tính tò mò và dễ bị lôi kéo bởi những thị hiếu thấp kém. Trong khi mọi hình thức khiêu dâm và gợi dục đều bị cấm đoán triệt để ở mọi xã hội, những người làm báo thiếu tinh thần đạo đức đã tìm cách luồn lách để cho ra đời những sản phẩm báo chí có khuynh hướng kích thích bản năng xấu của người đọc. Mỗi nền báo chí có một loại từ ngữ khác nhau để chỉ hình thức báo chí ấy. Có vẻ như người Việt sử dụng từ lá cải là một từ vay mượn của người Pháp nhưng lại nêu trỏ một hiện tượng văn hóa xuất hiện ở Hoa Kỳ và có ảnh hưởng đến xã hội Việt Nam vào khoảng giữa thập niên 1960, đó là hiện tượng sử dụng các kỹ thuật câu khách bằng việc trình bày quá đáng mặt xấu của xã hội và những sự kiện không phù hợp với tiêu chuẩn “đáng là tin tức” của giới làm báo chuyên nghiệp.

Vậy thì cũng không nên chẻ sợi tóc làm tư để tranh cãi thêm nữa về từ lá cải; mặc dù đừng nên nói rằng lá cải là la feuille de chou có thể làm tổn thương những dân tộc vẫn dùng tiếng Pháp. Có một điều chắc chắn là hiện tượng báo lá cải ở xứ ta hoàn toàn có thật. Và dựa trên những tranh luận của báo giới Việt Nam hồi tháng 5 tháng 6 vừa qua, cũng có thể nhận diện thế nào là báo lá cải.

9. Ai cũng biết rằng báo chí là một hoạt động có hệ thống nhằm tìm hiểu một cách thấu đáo rồi tường thuật lại một cách đầy đủ bằng những ngôn từ dễ hiểu tất cả mọi sự kiện xảy ra trong cuộc sống của cộng đồng loài người và phổ biến những điều tường thuật đó cho công chúng, những người có quan tâm, giúp họ có một nhận thức đúng mực về thực tại của cuộc sống để có những hành xử thích hợp với hoàn cảnh. Báo chí cũng còn nhiều mục tiêu hoạt động khác, nhưng phải khẳng định mọi mục tiêu khác đều phải xem là thứ yếu. Như vậy, người hoạt động trong lãnh vực báo chí trước hết phải khẳng định với chính mình một tinh thần phụng sự cộng đồng. Giá trị phụng sự cộng đồng của người làm báo đến từ nhiều mặt.

Thứ nhất, tham gia việc cung cấp một cách trung thực nhất có thể được những thông tin cần thiết đối với cuộc sống của cộng đồng. Thứ hai, góp phần phổ biến những điều đúng và tốt trong lúc hỗ trợ việc đẩy lùi những nhân tố sai và xấu trong nhận thức chung. Thứ ba, cùng với mọi người gìn giữ và làm tỏa sáng những giá trị văn minh văn hóa mà cộng đồng đã tích tụ được qua bao đời, trong đó có việc giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ cộng đồng. Để bảo đảm cho những giá trị phụng sự đó được thể hiện xuyên suốt, mọi người làm báo đều biết đến đạo đức của nghề nghiệp mình. Khi một cá nhân làm báo vi phạm những quy định đạo đức nghề nghiệp thì những người có trách nhiệm đã phải áp dụng nhiều biện pháp từ nhắc nhở đến giáo dục lại và cuối cùng là chế tài theo những hình thức thích đáng. Nhưng khi cả một tập thể làm báo đều cố tình vi phạm những tiêu chuẩn nghề nghiệp thì tờ báo sẽ biến tướng thành một loại lá cải.

10. Dựa vào những tranh luận về báo lá cải trong thời gian qua, có thể nhận diện báo lá cải ở chỗ cố tình khai thác những yếu tố gây cảm xúc mạnh trong mọi hình thức đưa tin viết bài khi tường thuật những sự kiện đã diễn ra trong xã hội; cố tình tô vẽ những sự kiện bình thường thành những sự kiện mang tính tin tức, chẳng hạn, việc một cô gái lỡ mặc áo hở ngực trong một buổi trình diễn ca nhạc nào đó được thổi phồng lên thành sự kiện tin tức; cố tình khai thác những yếu tố đời tư của nhân vật nổi tiếng để gợi sự tò mò ở người đọc; sử dụng nhiều hình ảnh mang tính khiêu dâm gợi dục một cách lập lờ với sự bào chữa là minh họa.

Nói tóm lại, tất cả những sản phẩm truyền thông nào đem lại hiệu quả kích thích những bản năng xấu của con người đều là báo lá cải. Đã nhận diện được báo lá cải rồi thì chắc chắn ai cũng có thể thấy những tờ báo nào là lá cải trong thời gian qua. Còn tác hại của chúng ra sao thì bài viết “Thời của báo lá cải?” đăng trên TuanVietNam ngày 2-6-2012 có những câu cực tả như sau:

“…Cột được đọc nhiều nhất, chiếm ưu thế nhất, đương nhiên toàn cướp, giết, hiếp; toàn sốc- sex- sến… Nó giống như một loại độc dược, khốn thay, người đọc lại thích thú và mê mải nhấm nháp. Để từ đó, biến thành con bệnh tự phát từ lúc nào. Những tội phạm trẻ vị thành niên, những tội ác loạn luân quái đản, ghê rợn xuất hiện ngày càng nhiều, liệu có phải bắt nguồn từ những liều độc dược được sản xuất… hợp pháp này không?…Người bệnh cuả “lá cải”, nhẹ thì nghiện xem, nghiện đọc. Nặng thì bước chân vào con đường phạm tội. Nhưng tờ báo thì tăng số lượng người đọc, và đương nhiên, kéo theo là tăng tiền bạc.”

Bấy nhiêu đủ cho thấy việc chống lại báo lá cải là điều cần thiết. Vấn đề đặt ra là chống thế nào?

 11. Thực ra báo lá cải không chỉ “mới xuất hiện gần đây” như được nêu trong cuộc tranh luận vừa qua. Nó đã có mặt từ lúc những bài phóng sự điều tra về tội phạm được đăng lên mặt báo với quá nhiều chi tiết gợi dục khi ở nhiều nơi rộ lên những hình thức mại dâm trá hình được gọi là “cá lóc ôm”, “bia ôm” hay “cà phê đèn mờ”… Ngày đó đã có những ý kiến cho rằng việc cực tả những hình ảnh xấu là điều không bình thường. Nhưng giới chức có trách nhiệm về văn hóa lúc ấy đã không quan tâm. Đó chính là tín hiệu mở đường để lá cải phát triển rầm rộ trong thời gian qua. Việc chống cơn lũ lá cải hiển nhiên là cần phải có biện pháp mạnh từ những cơ quan quản lý về thông tin và truyền thông. Nhưng về lâu về dài, phải xét vấn đề tận ngọn nguồn thì mới ngăn chặn hữu hiệu sự tái phát.

12. Khi có quan niệm “lá cải chỉ xấu khi quá đà” là đã thấy mệt mỏi rồi. Đành rằng báo chí cũng phục vụ cả nhu cầu giải trí, vì giải trí cũng là một giá trị; nhưng ngay cả giá trị giải trí cũng phải là những giá trị đúng tốt. Như vậy, việc định hướng giải trí cũng phải là một nhiệm vụ của báo chí, chứ không thể nói rằng báo chí được phép chạy theo thị hiếu để rồi bảo rằng quá đà hay không quá đà.

Như nhiều vấn đề dân sinh khác, cũng đã có lời quy kết rằng có lá cải vì dân trí thấp. Nhưng nếu hỏi tiếp, rằng dân trí thấp vì đâu, thì ai trả lời?

Lại kêu rêu rằng báo chí phải tự bươn chải nuôi sống mình nên phải chạy theo số lượng độc giả. Khi nêu vấn đề này ra thì đã tự xem nhẹ tinh thần phụng sự cộng đồng của người làm báo. Như mọi vấn đề của xứ ta, giải quyết vấn đề “lá cải” trong hoạt động báo chí cũng chỉ có thể bắt đầu từ việc điều chỉnh lối sống của từng cá nhân trong xã hội. Một khi từ đứa trẻ học mẫu giáo trở lên đã đánh mất sự hồn nhiên trước chủ nghĩa tiêu thụ với những khẩu hiệu kiểu “thỏa sức mua đua sức sắm” thì mọi toa thuốc cho các căn bệnh xã hội hiện tại đều không có hiệu lực. Đây không phải là lãnh vực mà một cá nhân có thể đưa ý kiến một cách võ đoán được.

Tuy vậy, có thể gợi ý rằng một định hướng sinh hoạt cá nhân trên tinh thần biết đủ và ít ham muốn sẽ phần nào giúp cho từng cá nhân, các cộng đồng và cả xã hội nữa tỉnh táo hơn trước những cám dỗ đầu độc người khác và tự đầu độc mình bởi việc lao theo những giá trị phù du.

Bi kịch của sự hào nhoáng

Thị trường luôn tái tạo các ngôi sao để thổi gió vào ngọn lửa khao khát tuổi trẻ, sắc đẹp và sự hào nhoáng của đám đông. Và đám đông sẽ vô tư quên họ đi khi họ già, yếu, cô đơn và hết thiêng như những đạo cụ ảo thuật nằm dưới ánh nắng ban ngày.
​
Họ, những người mẫu, ca sĩ, diễn viên, chân dài, đại gia, tựu trung là những ngôi sao, có thể từng chiếm lĩnh tâm trí nhiều người trong chúng ta nhiều hơn các thành viên trong gia đình ta, dù ta chưa gặp họ bao giờ và họ không biết ta là ai. Họ là những “người xa lạ gần gũi”, theo chữ của Richard Schickel.

Dù không đứng đầu các thể chế chính trị hay kinh tế, các ngôi sao và văn hóa ngôi sao xung quanh họ - bộ máy truyền thông, quảng cáo, thời trang, mỹ phẩm, âm nhạc, điện ảnh - nắm giữ một quyền lực lớn có thể thay hình đổi dạng xã hội.

"Nếu cả thế giới biết tới bạn, dù chỉ như một diễn viên sex, thì cũng vẫn tốt hơn không ai biết tới bạn cả".
Marilyn Monroe

Angelina Jolie có khả năng làm người dân toàn cầu chú ý tới nạn đói ở châu Phi hơn nhiều lần tổng thư ký Liên Hiệp Quốc (mà tên ông ta là gì nhỉ?).

Ở buổi lễ tưởng niệm các nạn nhân của tòa tháp đôi New York, được tổ chức vài tuần sau ngày 11-9, trong khoảnh khắc bi tráng và đau thương, người đứng đầu nghi lễ để vực dậy tinh thần của cả nước Mỹ không phải là một chính trị gia hay một lãnh tụ tôn giáo, mà là Oprah Winfrey, một ngôi sao truyền hình.

Vài năm sau, khi tổng thống Bush lên truyền hình quốc gia công bố sự kiện trọng đại quân đội Mỹ đã bắt sống Saddam Hussein, ông ấy đã không cạnh tranh được với show truyền hình thực tế The simple life của Paris Hilton được phát cùng giờ, trên đó 18 ứng cử viên tranh nhau trở thành “người bạn tốt mãi mãi” của cô gái tóc vàng này.

Tạm biệt xuất thân

Văn hóa ngôi sao nói gì với chúng ta về những thay đổi trong xã hội? Dường như nó đang kích hoạt một quá trình dân chủ hóa. Có vẻ như mâu thuẫn, nhưng trong khi chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn thì các khác biệt về giai cấp và xuất thân lại được cào bằng.

Bắt đầu từ thế kỷ 19 ở châu Âu, theo nhà xã hội học Stephen Gundle, phong cách, cái đẹp, thời trang, sự xa xỉ và cả danh tiếng không còn là độc quyền của giới vua chúa và quý tộc nữa. Quá trình này dường như đạt được điểm kết ở cuối thế kỷ 20.

David Beckham là con của một thợ làm đầu và một thợ đóng bếp. Vợ anh, ca sĩ Victoria của Spice Girls, là con của một nhân viên văn thư và một kỹ sư điện. Nhưng đám cưới của họ được tổ chức như một nghi lễ hoàng gia và là một sự kiện toàn cầu.

Ngay sau đó, một tờ báo Anh chạy một biếm họa vẽ David và Victoria đội vương miện, mặc áo choàng lông, vẫy thần dân từ trên bancông một lâu đài, trong khi đó nữ hoàng Anh bé tí đứng ở một góc nói vào điện thoại: “Bảo vệ đâu, chúng ta bị chiếm nhà!”. David Marshall viết: “Các ngôi sao là hiện thân cho sự đắc thắng của đám đông”.

Ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 21, “đẳng cấp” là cái gì có thể mua được, như các quảng cáo cho gỗ lát sàn, rượu và đồ lót vẫn khẳng định. Những ngôi sao vẫn lên báo kể về ngôi nhà lợp tôn mà họ lớn lên trong một xóm nhỏ ở tỉnh lẻ, những công việc như hớt tóc hay làm Promotion Girl thuở còn vô danh.

Những tiểu sử này là những bài ca cho chủ nghĩa cá nhân, một điểm cơ bản trong ý thức hệ phương Tây, mà sự nổi tiếng được coi là đích đến. Những ngôi sao này đã trở thành một tầng lớp elite mới. Họ xuất hiện khắp nơi, các phát ngôn của họ được theo dõi sát sao, thuật lại nhiều lần và bình luận tỉ mỉ. Khi các hoa hậu đi thăm người ốm, họ đeo băng ren quanh ngực và đội vương miện, trang trọng như khi vua chúa đi thị sát ngày xưa.

Lệ Rơi hay Bà Tưng là những đại diện mới nhất của những người “nổi tiếng bình dân” này. Đặc điểm của họ là không nổi tiếng vì đã đạt được những thành tựu nào đó trong khoa học, nghệ thuật hay thể thao, vì dũng cảm trong chiến tranh hay là tấm gương đạo đức trong khủng hoảng xã hội.

Họ nổi tiếng vì được nhiều người biết tới. Không cần tới yếu tố tài năng thiên bẩm cộng khổ luyện nhiều năm, chỉ cần đi qua cỗ máy truyền thông và giải trí để được đóng gói, dán nhãn, đánh bóng và quảng bá, đôi khi chỉ cần vòng một ấn tượng. Thậm chí sự thiếu vắng tài năng có thể được sử dụng như một chiến lược.

Cái “bất tài” của Lệ Rơi làm anh nổi tiếng và cho phép anh bước vào làng showbiz, mở công ty truyền thông, làm chủ chuỗi nhà hàng vì nó được nhìn như một dấu hiệu của cái thật, cái thực.

Bộ máy nhào nặn

Danh tiếng của các sao được xây dựng chủ yếu bởi những sắp đặt của truyền thông, những “sự kiện giả”, theo chữ của học giả Daniel Boorstin. Một “hot girl” mặc áo Manchester United lên K+ “bình luận” về bóng đá. Lệ Rơi lên chương trình Cuộc sống thường ngày của VTV1 vào cuối năm 2014.

Có thể nói đây là một cột mốc quan trọng của truyền thông. Bộ máy này đã sẵn sàng nhập cuộc, và có lẽ nó đang ngày đêm cầu nguyện để có được một Kim Kardashian hay một Paris Hilton phiên bản Việt. Có nhiều ý kiến phản đối việc Lệ Rơi lên VTV1, nhưng tôi tiên đoán sự kháng cự này sẽ không kéo dài được lâu.

Giá trị của một ngôi sao không được đo bởi đóng góp của họ cho xã hội và cộng đồng, mà được đo bởi số lượng người theo dõi họ. Những “phi sự kiện” này không chủ đích đem lại một nội dung văn hóa hay xã hội nào, ngoài việc để người nổi tiếng xuất hiện và phục vụ cho một cuộc làm ăn thuần túy.

Từ nổi tiếng qua tai tiếng tới khét tiếng, với truyền thông, có giá trị như nhau. Tội phạm cũng có thể trở thành celebrity “chính hiệu”. Người ta dành cho kẻ giết người Lê Văn Luyện nhiều mực in và sự chú ý như cho một ngôi sao ca nhạc - với công chúng, họ đều là một nhân tố bí ẩn. Ô danh cũng là danh.

Ở phương Tây, nhiều tử tù nhận được vô số thư tình và lời cầu hôn. Tội phạm có thể trở thành ngôi sao, mà khi ngôi sao trở thành tội phạm thì còn thu hút view kinh khủng hơn nữa. Phiên tòa xử Michael Jackson năm 2005 là một ví dụ.

​Cám dỗ và lụi tàn trong khoảnh khắc

Vì sao các sao hấp dẫn? Họ là màn ảnh để những khán giả nhẹ dạ chiếu lên đó các giấc mơ, các khao khát của mình. Theo Stephen Gundle, sức hút của các ngôi sao tới từ chỗ họ thể hiện những phẩm chất mâu thuẫn: một sự lịch lãm không đứng đắn, một thái độ cao sang gần gũi, một cảm giác elite dân chủ.

Mang trong mình những mâu thuẫn này, họ như một lời hứa cho một xã hội đầy ắp cơ hội, trong đó mọi người sẽ được chuyển hóa thành những phiên bản hay hơn, hấp dẫn hơn, giàu có hơn của chính bản thân mình.

Các ngôi sao khoác trên mình glamour. Từ này không có một khái niệm tiếng Việt tương đương, nó là tổng hợp của hào nhoáng, rực rỡ, lộng lẫy, lôi cuốn và hoành tráng. Với triết lý gỗ không quan trọng, nước sơn quyết định tất cả, nó khơi dậy khao khát.

Hình ảnh của các sao là cầu nối dẫn người ta tới một thế giới long lanh, phiêu lưu, phấn khích và hồi hộp, không buồn chán, bụi bặm và mòn mỏi như cuộc đời thực. Đầu tư tình cảm vào mối quan hệ một chiều với các sao, các fan dường như nhờ họ sống cho mình, sống hộ mình.

Các sao cũng là những “biểu tượng văn hóa”, là loa phát của những trào lưu mới, là địa hạt cũ mới giao tranh. Phát ngôn “Không có tiền thì cạp đất mà ăn” của Ngọc Trinh, cái hôn khóa môi nhà sư của Đàm Vĩnh Hưng, Bà Tưng không mặc áo lót, tất cả là thách thức với những kiến lập cũ, là cố gắng đập vỡ truyền thống và chuẩn mực cũ. Chúng cung cấp chất liệu cho những lời đàm tiếu để nuôi dưỡng quyền lực “văn hóa” của các sao.

Theo Graeme Turner, những câu chuyện “buôn dưa lê” là một quá trình xã hội quan trọng để người ta tranh cãi, đánh giá và thay đổi căn tính, chuẩn mực xã hội. Thông qua chúng, các ngôi sao tác động vào quá trình hình thành bản sắc cá nhân của các thành viên trong đám đông.

Mỗi ngôi sao có hai con người: con người riêng tư và con người công cộng, và giữa chúng thường có một khoảng cách khổng lồ. Bộ mặt công cộng của các ngôi sao không thuộc về họ, mà được cấu thành với sự tham gia của công chúng. Mặt khác, công chúng lại khước từ quyền được là con người riêng tư của các sao, trong khi vẫn tìm tới các chi tiết đời tư của họ như một cố gắng thu hẹp khoảng cách giữa mình và thần tượng.

Công chúng vô thức hiểu được rằng mình sở hữu các ngôi sao, không có công chúng thì không có sao. Chính vì thế đám đông có thể thất vọng và nổi giận khi phát hiện ngôi sao không sống đúng với kỳ vọng của mình. Trong con mắt các “mẹ bỉm sữa”, Hồ Ngọc Hà đã phản bội. Họ không cho phép cô tụt xuống khỏi cái bệ mà họ đã đặt cô lên.

Danh vọng luôn quyến rũ, như ánh sáng quyến rũ thiêu thân. Nổi danh cho con người ảo giác rằng họ bất tử. “Danh tiếng cầm tù thánh thần và con người”, sử gia Hi Lạp Heraclitus viết. Ba ngày trước khi nghệ sĩ Andy Warhol chết, ông ta còn hỏi tiếp tân để được khẳng định là không có ai nổi tiếng khác đang nằm cùng viện.

Trong cuốn Những kẻ nghiện danh, tác giả Jake Halpern để một diễn viên già đang sống trong một trại dưỡng lão của Hollywood kể lại: “Sự nổi tiếng giống như một người tình. Anh cố gắng bỏ đi, nhưng người tình luôn nói: Hãy quay lại đi, hãy thử một lần nữa. Anh thề thốt sẽ dứt áo ra đi, nhưng sự cám dỗ của người tình luôn ở đó”.

Hơn ai hết, các ngôi sao hiểu rằng họ cũng chỉ là vật tế lễ cho thị trường. Nếu họ được coi là thần thánh thì tôn giáo mà họ đại diện là chủ nghĩa tiêu dùng, và bản thân họ là những mặt hàng có hạn sử dụng. Giống như sao băng, họ tàn lụi cũng nhanh chóng như khi lên ngôi.

Ngọc Trinh thể hiện bi kịch này rõ nhất qua tâm sự: “Tôi chỉ sợ mình xấu đi”. Thị trường luôn tái tạo các ngôi sao để thổi gió vào ngọn lửa khao khát tuổi trẻ, sắc đẹp và sự hào nhoáng của đám đông. Và đám đông sẽ vô tư quên họ đi khi họ già, yếu, cô đơn và hết thiêng như những đạo cụ ảo thuật nằm dưới ánh nắng ban ngày.        

Thỏa mãn nhu cầu và điều được coi là “sành điệu”

Mấy năm nay, hễ ai hỏi có “chơi facebook” không là tôi lại tỏ ra ngại ngần, nếu không nói là ngượng ngùng, vì hồi blog thịnh hành tôi đã không dính dáng, đến thời facebook lên ngôi tôi cũng chẳng bận tâm. Thế nhưng nhìn những người Việt bất kể trẻ già lúc nào cũng lăm lăm điện thoại thông minh, laptop, máy tính bảng,… là tôi rất vì nể.

Song quả thật khi gặp mấy anh khoác cái túi đựng Iphone trông như xà-cột của sĩ quan Liên Xô trước đây, đi lại với vẻ sành điệu tôi cứ thấy buồn cười. Hình như với họ, cái túi ấy là dấu hiệu của đẳng cấp!?

Vừa rồi đi công tác tại Pháp, mấy ngày nghỉ cuối tuần lang thang ở Paris, tôi quan sát không thấy ai đeo cái túi như vậy, hầu như mọi người ai cũng đều sử dụng điện thoại, nhưng chủ yếu là điện thoại thông minh, và Iphone là của hiếm. Chỉ có một lần tôi gặp một người đeo túi đựng Iphone là khi đến sân bay làm thủ tục về nước, thấy một Giám đốc Sở ở Việt Nam đang đeo túi hiên ngang đứng giữa cửa. Như vậy, bằng vào quan sát của tôi thì sự sành điệu ở Việt Nam hình như cũng khác sự sành điệu ở Paris?!

Xét từ những đòi hỏi của sự sinh tồn con người thì nhu cầu và việc thỏa mãn nhu cầu luôn là những điều kiện tất yếu. Tuy nhiên cùng với tiến trình lịch sử, khi nhu cầu ăn - mặc - ở của con người không ngừng tăng lên thì các nhu cầu đó cũng luôn được đặt trong quan hệ chặt chẽ với quá trình “văn hóa hóa”. Như nhu cầu ăn chẳng hạn, từ khi văn hóa ra đời, việc ăn đối với con người không còn chỉ là để no bụng, mà trước và trong khi ăn, mỗi người còn phải trả lời các câu hỏi: “ăn cái gì”, “ăn như thế nào?”... Nói cách khác, cùng với sự phát triển, việc thỏa mãn nhu cầu ăn - mặc - ở của con người đã từng bước thoát khỏi tình trạng thuần túy thỏa mãn về vật chất, mà còn bị điều chỉnh, bị chi phối bởi các giá trị tinh thần.

Ở Việt Nam, sự ra đời của các chuẩn mực như “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”, “Y phục xứng kỳ đức”, “Đói cho sạch, rách cho thơm”, “Chồng em áo rách em thương - Chồng người áo gấm xông hương mặc người”,... không giữ vai trò trực tiếp quyết định các hành vi, nhưng nếu ai vi phạm sẽ dễ bị cộng đồng chê cười, đàm tiếu. Vì thế mỗi người, bất kể trong hoàn cảnh riêng như thế nào, sở thích ra sao, cũng cố gắng điều chỉnh việc thỏa mãn nhu cầu, như một sự tự ý thức, để thích ứng với tiêu chí văn hóa của cộng đồng. Tuy nhiên, nếu như văn hóa nông nghiệp lúa nước gắn với chu kỳ hầu như không đổi của tự nhiên cùng với các chế định phong kiến ngặt nghèo đã làm cho con người không có tham vọng phóng chiếu nhu cầu, sở thích của mình trước cộng đồng, thì đồng thời cũng giới hạn con người trong phạm vi nhu cầu, thỏa mãn nhu cầu nhất định.

Đó là căn nguyên làm cho hàng trăm năm trước đây, các thế hệ phụ nữ kế tiếp nhau, dù có muốn, cũng không vượt thoát khỏi áo tứ thân, nón quai thao, xà tích, nón ba tầm. Đó cũng là một căn nguyên làm cho trong hàng trăm năm ngôi nhà, dù một gian hai trái hay ba gian hai trái, thì cũng không có biến động về cấu trúc. Tương tự như thế, dù sơn hào hải vị phong phú đến thế nào thì mâm cỗ của tiền nhân cũng ít khi phá bỏ sự đồng bộ với thành phần bốn bát, sáu đĩa... Nghĩa là, nhu cầu vẫn hiện diện trong cuộc sống thường ngày của con người nhưng hầu như ít biến động, vì thế việc thỏa mãn nhu cầu cũng ít biến động theo, đặc biệt là thiếu cá tính hóa.

Từ khi tiếp xúc với văn hóa - văn minh phương Tây, thì mọi sự đã thay đổi, và đối với con người, những chế định xã hội theo quan niệm của thời kỳ trước như đã dần dần lỏng lẻo. Đó là kết quả tất yếu của sự phối kết giữa các điều kiện khách quan do xã hội đem lại, với sự tự ý thức của con người về vị trí xã hội của mình và về các quyền mà mình được hưởng. Nhưng, nếu về cơ bản sự phối kết ấy đã đưa tới cho một bộ phận xã hội ý thức mới về lao động và sự hưởng thụ; thì ngược lại, với một bộ phận khác, sự phối kết ấy lại được hiểu theo nghĩa “tự do muốn làm gì thì làm, càng hơn người càng tốt”. Cách hiểu này kết hợp với thói ích kỷ, sĩ diện hão, kiểu lối trọc phú và học đòi, a dua theo đám đông, con gà tức nhau tiếng gáy,... vốn tiềm tàng trong tâm lý tiểu nông tư hữu có cơ hội trỗi dậy, nhiều người phóng chiếu các thói tật này bằng việc chạy theo, cố gắng phô phang một số kiểu lối hưởng thụ được cho là thời thượng, quyền được hưởng.

Nếu như coi việc sử dụng ngoại tệ để nhập một số mặt hàng không được Nhà nước khuyến khích nhập là một căn nguyên của tình trạng xa xỉ trong tiêu dùng, thì việc một bộ phận người Việt thả sức vung tay mua sắm hàng hiệu, chơi bời, nhậu nhẹt cũng là một căn nguyên trực tiếp ảnh hưởng tới hành vi tiêu dùng của xã hội. Dẫu đồng tiền chi tiêu là đồng tiền “sạch” và mọi người có quyền chi tiêu thì trước cộng đồng, sự chi tiêu ấy lại không còn mang ý nghĩa cá nhân. Nó tác động tới tâm lý tiêu dùng của người khác, và nếu không được điều chỉnh sẽ dễ dàng đẩy tới tình trạng tiêu dùng tiêu cực, lãng phí, bừa bãi, bất chấp hệ lụy, bất chấp cả sự phản cảm so với cuộc sống của số đông. Bên cạnh đó, dù thiện chí đến đâu cũng khó có thể bỏ qua vai trò của hệ thống truyền thông với tiêu dùng xã hội.

Hàng chục năm nay, trên nhiều báo in và báo điện tử, luôn nhan nhản tin ảnh quảng cáo đủ các loại hàng hóa cao cấp có nguồn gốc nước ngoài, và thường gắn liền với các tiêu chí đại loại như “hàng đầu”, “bán chạy nhất”, “thế giới ưa chuộng”. Với vô tuyến truyền hình, vài năm trở lại đây là một trong các phương tiện truyền thông hăng hái quảng bá lối sống tiêu thụ. Ở đó, dưới nhiều hình thức khác nhau, truyền hình tung ra các “pha” quảng cáo càng giật gân càng tốt để “đánh” vào sự tò mò và thị hiếu tiêu dùng của công chúng. Ở đó có thể bắt gặp hình ảnh mấy anh chàng phóng xe bạt tử lao như tên bắn trên đường chỉ nhằm giành giật một chai nước ngọt bất chấp cả luật lệ giao thông,... với mấy lời quảng cáo sáo rỗng nhưng lại có khả năng tác động đến sự nhẹ dạ, đến thói chuộng lạ của con người, tỷ như: “người đàn ông đích thực”, “cả thế giới trong ngôi nhà của bạn”...

Cùng với đó là trình chiếu một số bộ phim Việt Nam mà bối cảnh hầu như chỉ có nhà cao cửa rộng, đồ đạc đắt tiền, tiện nghi hiện đại, đèn đuốc sáng choang, trai thanh thì tóc phết “keo” dựng đứng, gái lịch thì váy áo xúng xính cố tỏ ra sành điệu, rồi lái ô tô “xịn”, nhấp nháp rượu Tây... Điển hình cho tình trạng quảng bá tiêu dùng của truyền thông là thông tin về các “người đẹp”. Thông tin, bình luận về các cuộc thi hoa hậu và người mẫu chiếm lĩnh hệ thống thông tin đại chúng đến mức ngỡ họ chỉ “ho” một tiếng là lập tức báo chí xôn xao. Ở đó, người đẹp khoe mông, ưỡn ngực và tranh cãi ỏm tỏi về việc chấm thi công minh, hay không công minh. Rồi người đẹp xông lên báo chí bới móc chuyện này chuyện khác của nhau. Rồi người đẹp “diễn” lòng từ thiện bằng cách vung tiền đóng góp. Rồi người đẹp bế em bé tật nguyền, người đẹp ôm hôn cụ già để chụp ảnh quảng bá.

Và người ta không ngần ngại gán cho họ các mỹ từ nào “sao Việt”, nào “miss teen”, nào “siêu mẫu”... không cần coi đó là các mỹ từ nếu biết định tính ý nghĩa xã hội - thẩm mỹ, người ta sẽ phải thận trọng. Rồi người đẹp yêu ai, hẹn hò với ai, nấu món ăn gì, học làm bánh pizza, dạo chơi ở đâu, mua nhẫn tiền tỷ,... cũng được báo chí đưa tin rình rang. Thậm chí tin tức đại loại như Diễm Hương khoe đường cong dưới mưa, Chung Thục Quyên biến hóa với bikini, Jennifer Phạm khoe vòng một gợi cảm, Dương Thùy Linh được khen quyến rũ khi có bầu,... cũng vinh dự nằm trên trang nhất một báo điện tử thì đúng là không biết bình luận ra sao.

Trở lại với những ai sắm Iphone để được coi là sành điệu, tôi không phản đối họ, nhưng tôi quan tâm đến khả năng kinh tế cá nhân và tính hữu dụng của nó trong tư cách là sản phẩm tiêu dùng. Và thiết nghĩ, trong tính hai mặt của một vấn đề, nếu chúng ta cố gắng vận động, tuyên truyền, xây dựng những thế hệ người tiêu dùng Việt Nam thông minh, không nhấn chìm mình vào các thú vui vật chất, biết thỏa mãn các nhu cầu trên cơ sở khả năng kinh tế riêng của bản thân và điều kiện kinh tế chung của cộng đồng; thì mặt khác, cần phải chú trọng phát triển một nền sản xuất vật chất và tinh thần tương ứng với mọi phương diện tiêu dùng của xã hội, với các kiểu loại hàng hóa luôn được nâng cao chất lượng, được sáng tạo một cách sinh động, đa dạng về hình thức.

Hơn thế nữa là điều được viết trong bài Bớt nhậu để tiết kiệm hàng tỷ đôla cho đất nước đã đăng trên Vnexpress mà tôi muốn dẫn lại ở đây: “Nếu như ngay ngày mai, hơn 3 triệu đảng viên và hơn 1 triệu doanh nhân trong nước, hãy làm gương trước tiên bằng hành động thiết thực, cắt giảm chi tiêu trong dịp Tết này và tiết kiệm trong suốt cả năm để đóng góp ngay từ 10 đến 100 đôla Mỹ hoặc nhiều hơn nữa cho quỹ Nối vòng tay lớn năm nay và những năm tới. Cùng đoàn kết một lòng, không có việc gì khó, cùng với người Việt trên toàn thế giới đoàn kết, chung tay, chung sức xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc mà tổ tiên đã đổ biết bao xương máu để giữ cho đến ngày nay.

Việc làm nhỏ của chúng ta sẽ được thế giới ngưỡng mộ vì đạo lý thương yêu và đùm bọc lẫn nhau, là anh em trong cùng một bọc được gọi là đồng bào, cùng chia sẻ để niềm vui nhân đôi cho tất cả đồng bào còn khó khăn, các chiến sỹ, ngư dân nơi biên giới, biển đảo ngay trong những ngày Tết cuối năm đầy ý nghĩa và sẽ rất vui này...”. Thiển nghĩ, đó cần xem là việc nên làm hằng ngày, chứ không phải chỉ làm trong dịp Tết!