Thursday, February 21, 2013

Phật Học Thường Thức 7 - Sám Hối


A. Mở Đề:
Kinh Quán Phổ Hiền nói: “Nếu tội lỗi của chúng sanh có hình tướng thì tất cả hư không cũng chẳng thể chứa hết”. Thế nên chúng ta không ai có thể tự hào là hoàn toàn trong sạch, không mắc phải một sai lầm nào, do đó cần phải thực hành sám hối.
B. Thân Bài:
1. Định Nghĩa:
“Sám” nghĩa là ăn năn lỗi trước, “Hối” nghĩa là chừa bỏ lỗi sau, nói chung có nghĩa là “ăn năn chừa lỗi”.
Tất cả tội lỗi đều phát xuất từ thân, miệng, ý của con người. Giờ đây muốn diệt trừ, không có cách nào khác hơn là biết lỗi, nhận lỗi và chuyển đổi chính mình. Đó chính là trọng tâm của việc sám hối trong đạo Phật.
Các cách sám hối:
1. Cách sám hối sai lầm:
-Người thế gian, khi có tội lỗi với ông bà, làng nước thì dùng trầu rượu, heo gà, tiền bạc để tạ tội.
-Ngoại đạo dùng máu thú vật xin rửa tội với thần linh; hoặc tắm ở những sông, suối mà người ta cho là linh thiêng; hay ép xác như đánh đập thân mình, nhịn đói, nhịn khát, chịu nóng rét, nằm gai nếm mật để được giải thoát tột lỗi.
2. Sám hối chân chính:
Tất cả tội lỗi đều phát xuất từ thân miệng ý của con người
Kinh Trung Bộ, đức Phật dạy La Hầu La: “Nếu trong khi phản tỉnh, ông biết như sau: “Thân, miệng và ý nghiệp này, ta đã làm đưa đến hại mình, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ.
Một thân miệng và ý như vậy, ông cần phải thưa lên, cần phải tỏ lộ, cần phải trình bày trước các vị đạo sư, hay trước các vị đồng phạm hạnh có trí.
Sau khi đã thưa lên, tỏ lộ trình bày, ông cần phải lo âu, cần phải hổ thẹn, nhàm chán, cần phải phòng hộ trong tương lại”.
Có bốn phương pháp:
a. Tác pháp Sám hối: Thiết lập giới đàn, thỉnh chư Tăng thanh tịnh, phải thành thật tỏ bày tội lỗi, hết lòng ăn năn và nguyện về sau không tái phạm.
b.Thủ tướng Sám hối: Đến trước tượng Phật, Bồ tát, thành tâm đảnh lễ, bày tỏ lỗi lầm và nguyện chừa bỏ. Thực hành như thế mãi cho đến khi nào thấy tướng hảo của Phật hoặc Bồ tát mới thôi.
c. Hồng danh Sám hối: Nghi thức này thực hành bằng cáh dốc lòng đảnh lễ những danh hiệu tôn quí của chư Phật để diệt trừ những tội lỗi đã tạo trong hiện tại và quá khứ.
Phương pháp này do Pháp sư Bất Động – người đời Tống bên Trung Quốc soạn từ quyển kinh “Ngũ Thập Tam Phật” – từ chỗ Đức Phật Phổ Quang đến chỗ Phật Nhất Thiết Pháp Tràng Mãn Vương là 53 danh hiệu Phật, cộng thêm 53 danh hiệu trong kinh “Quán Dược Vương và Dược Thượng” và Pháp thân của Đức Phật A Di Đà.
Cuối cùng là bài kệ “Đại Nguyện” của Bồ Tát Phổ Hiền mà tạo ra nghi thức sám hối có tổng cộng 108 lạy, ý nghĩa là để diệt trừ 108 phiền não của chúng sanh.
Đức Phật Tỳ Bà Thi nói rằng: “Nếu chúng sanh nào nghe danh hiệu của 53 vị Phật này, thì trăm ngàn ức kiếp không bị đọa vào trong ác đạo”.
Phật Thích Ca cũng có nói: “Thuở xưa vào thời của Đức Phật Diệu Quang, Ta đi tu nhằm vào thời mạt pháp. Do nhờ nghe được danh hiệu của 53 vị Phật này và thành tâm lễ bái nên tránh được những đau khổ trong đường sanh – tử luân hồi trong nhiều kiếp”.
Trong kinh Bảo Tích nói: “Nếu tất cả chúng sanh phạm tội ngũ nghịch hay thập ác đến muôn kiếp không thể sám hối, nhưng chỉ xưng danh hiệu của 53 vị Phật này thì diệt trừ được hết những tội chướng”.
d. Vô sanh Sám hối: Ba pháp trước thuộc về phần Lý. Sự – Lý hỗ trợ nhau thì không có tội nào không diệt, chẳng có phước nào không sanh.
Kinh Quán Phổ Hiền nói:
Tất cả biển nghiệp chướng,
Đều từ vọng tưởng sanh,
Nếu người muốn sám hối,
Ngồi ngay xét lẽ thực,
Tội lỗi như sương móc,
Mặt trời tuệ soi tan.
Tất cả tội lỗi đều từ vọng niệm gây ra, nếu thấu suốt vọng niệm vốn không thật thì tội lỗi từ đâu sanh khởi?
Do quán xét lẽ thật của các pháp là không, thảy đều rỗng lặng, vì thế diệt trừ mọi tội lỗi.
e. Tự tâm chân thành Sám hối: Tự mình nói với Phật, lạy tha thiết chí thành chậm rãi trang nghiêm.
C. Kết Luận:
Nếu thực hành pháp sám hối một cách chân chánh, chúng ta sẽ phát triển được tánh thành thật, trau dồi tính cương quyết diệt trừ thói xấu, dứt sạch tội lỗi, tăng thêm phước huệ.
Tội từ tâm khởi đem tâm sám,
Tâm nếu tịnh rồi tội liền tiêu,
Tội tiêu tâm tịnh thảy đều không,
Thế mới thật là chân sám hối.

Ốc đảo tự thân – Chương 7: Tâm Dễ Uốn Nắn

ayya-khemaokPHƯƠNG PHÁP LUYỆN TÂM THANH TỊNH
Tác Giả: Ni Sư Ayya Khema - Việt Dịch: Diệu Liên Lý Thu Linh
Dịch từ bản tiếng Anh: Be An Island The Buddhist Practice of Inner Peace
Wisdom Publications 1999
Nhà xuất bản PHƯƠNG ĐÔNG 2010

Xây Dựng Nền Tảng

   Trong các bài giảng của Đức Phật, ta thường nghe thấy rằng 'tâm dễ uốn nắn, dễ thay đổi, dễ sử dụng nhưng cũng rất kiên định’.  Làm sao tâm lại có thể có những đặc tính như mâu thuẩn nhau?  Tâm của kẻ phàm phu, không biết tu lại có đặc tính cố chấp.  Lúc nào nó cũng nhớ về những tổn thương, đau khổ, lúc nào cũng so sánh quá khứ với hiện tại, và luôn chấp chặt vào các khổ đau.  Hơn thế nữa, chúng ta phần đông đều tin vào những suy nghĩ, các dự tính tràn đây trong tâm.  Tâm chúng ta giống như bị rào bó trong một cái khung, trong đó chứa đựng tất cả những hiểu biết của chúng ta. 

   Có bao giờ ta nghĩ ra đưọc điều gì mới mẻ không, điều gì chưa từng đi qua tâm trí ta?  Có lần nào ta chiêm nghiệm đưọc một chân lý vũ trụ?  Nếu không có những sự kiện đó, tâm ta khác nào một cây kim quay mòn trên cái đĩa hát cũ, cứ chơi mãi một điệu nhạc nhàm chán ngày này qua tháng nọ.

   Khi ta có thể chú tâm, ngưng suy nghĩ lung tung, ta mới có thể biết đưọc sự trong sáng của tâm.  Lúc đó tâm có thể đưọc uốn thành một hình dáng mới thay vì chỉ cứng nhắc một khuôn mẫu cũ.  Chỉ khi nào ta phát hiện ra đưọc điều gì hoàn toàn mới trong tâm, ta mới biết đưọc rằng tâm có khả năng suy nghĩ khác trước.

   Ta nên thận trọng đối với những suy tưởng diễn ra suốt ngày trong tâm, vì chúng không có nền tảng đích thực; chúng chỉ là những bóng ảnh của bản ngã, của lòng tham muốn, và thói quen từ bao đời của ta.  Chúng không dựa vào chân lý tuyệt đối.  Nói thế không có nghĩa là ta có thể vứt bỏ chúng ngay, nhưng ta cần thận trọng đối với chúng.  Chúng chỉ là những thói quen, chẳng tốt đẹp gì, chẳng dẫn đưa ta đến bình an, hạnh phúc.

   Khi chúng ta chánh niệm hơn với những suy nghĩ của mình, ta sẽ kinh nghiệm đưọc thế nào là sự kiểm soát những cái ta nghe, ta nhìn, ta cảm xúc -- ta có sự khám phá của trẻ thơ, dưới trí tuệ của người lớn.  Tâm trẻ con không hoàn toàn trong sạch như ta nghĩ, nhưng chúng cảm nhận sự vật trực tiếp, không bị ảnh hưởng của những suy nghĩ như người lớn.  Một khi đã trưởng thành, ta vẫn có thể cảm nhận sự vật như trẻ con, như thể ta chưa từng nghe, chưa từng thấy, nếm, xúc chạm hay nghĩ tưởng về điều đó bao giờ.  Với cách nhìn hoàn toàn mới mẻ về các xúc cảm của mình, ta có thể nhận chân đưọc sự thật như như - dầu chỉ là trong thoáng chốc.

   Khi chúng ta chú tâm, chánh niệm, ta có thể nhận thấy rằng tâm bị chi phối bởi các thói quen thường nông nổi, thiếu trưởng thành, ngây ngô chứ không phải ngây thơ.  Ta cũng sẽ nhận thấy là tâm có khả năng thay đổi, dễ uốn nắn.  Biết đưọc như thế là ta đã biết đưọc con đường trở về với nội tâm.

   Đức Phật đã so sánh tâm với vàng.  Khi còn ở trạng thái thô ráp, chưa qua toi luyện, trong kim loại bằng vàng này còn có năm thứ kim loại khác.  Những cặn bã này làm cho nó dòn, dễ vỡ, vì thế người thợ trang sức trước hết phải đun nóng vàng lên, để những chất cặn bả có thể đưọc chiết lọc ra.  Rồi người thợ đó sẽ dùng các dụng cụ của mình để uốn nắn vàng thành đủ loại trang sức.  Đức Phật đã dùng truyện ngụ ngôn này để chỉ về năm chướng ngại trong tâm ta: đó là tham, sân, trạo cữ, hôn trầm và mạn nghi.

   Tâm có thể giúp ta đạt đưọc Giác Ngộ, nếu nó đã diệt trừ đưọc năm chướng ngại đó, và trở nên trong sạch như vàng ròng.  Lúc đó ta sẽ tìm đưọc sự bình an cho tâm, và sống hòa hợp với mọi người chung quanh.

   Quá trình tu tập thiền định có thể giúp ta kinh nghiệm đưọc nhiều trạng thái của tâm thức, không giống như tâm bình thường ta hằng biết.  Ý niệm về vô ngã hẳn là rất khác với những ý niệm ta đã từng biết.  Nếu ta đưọc nghe nói nhiều về vô ngã, ta có thể tạm biết về nó, nhưng sẽ không có gì thay đổi ở nội tâm nếu ta không thực sự thực tập vô ngã.  Nếu bất cứ điều gì phát khởi trong tâm, ta đều đối mặt với nó như thể ta chưa từng thấy hay nghe về điều đó trước đây, thì -dù chỉ trong phút chốc,  khi tâm hoàn toàn chìm sâu trong thiền định- mọi tập khí cũ sẽ tiêu tan.

   Nếu ta không thể chuyển hóa, làm mới tâm, thì suốt đời ta chỉ lẩn quẩn với tâm cùn cụt.  Nó cũng chỉ luôn là "cái tôi và những gì tôi muốn", hay 'cái tôi và những gì tôi không muốn'.  Tâm hạn hẹp, tham lam đó không lợi ích gì cho hạnh phúc và an vui.  Vì cái tôi mới nhỏ bé làm sao!  So với vũ trụ bao la này, nó chưa bằng một đầu kim.  Hãy luôn nhớ như thế để hạn chế sự bành trướng của cái ngã.

   Khi nào ta có một sáng kiến hoàn toàn mới, một điều ta chưa bao giờ nghĩ đến, tâm ta theo đó cũng đưọc phát triển.  Sự mới mẻ đó đưọc coi là tri kiến.  Tuy nhiên nếu điều ta tri kiến đưọc không ảnh hưởng gì đến hành động, tư tưởng của ta, có  nghĩa là ta đã không thực sự hiểu ý nghĩa của nó, hay có hiểu cũng chỉ là một tri thức vô dụng.

   Tâm phóng khoáng có thể quan sát mọi sự vật quanh mình một cách khách quan.  Phiền não, vô thường và vô ngã là những định luật tự nhiên trong vũ trụ, cũng như ái và các chấp thủ khác.  Khi chúng ta nhớ đưọc điều đó, những gì ta đã trãi qua không còn là của riêng ta, không còn đầy kịch tính nữa.  Trái lại, ta cần nhớ đến sự bao trùm của vạn pháp, đến thực tại tương đối mà ta sống trong đó.  Cho đến lúc đó - cho đến khi ta có thể nhận biết và chuyển hóa cách suy nghĩ, hành động của ta-  nếu không ta khó thể bước chân vào thế giới của các chứng nghiệm mới.

   Tâm dễ chuyển hóa phóng khoáng, có thể thay đổi, dễ dàng chấp nhận tất cả pháp.  Mỗi khi ta nhận biết đưọc một chuyển đổi mới nào trong tâm, ta cần phải duy trì, ghi nhớ để có thể biến chúng thành quán tính, một bản năng. Một trong những dấu hiệu của các chuyển đổi đó là sự bớt đòi hỏi các tiện nghi,  bớt quan tâm tới của cải, bớt ham muốn hay cố chấp. Thay vào đóù ta lại suy nghĩ xem có thể bố thí những gì, làm sao để phát triển đạo tâm, để tạo các nghiệp thiện.  Tiến sâu hơn nữa, ta có thể tập từ bỏ làm một cá thể riêng biệt, mà hãy là một phần của vạn vật quanh ta, dù chỉ trong chốc lát.  Vì khi ta còn bị vướng mắc vào sự phân biệt thân tâm của mình, ta khó tìm đưọc chân hạnh phúc.  Là ta tự giam mình trong ngục tù của 'tự ngã', chờ đợi ai đó giải thóat cho chúng ta.  Trong khi chìa khóa nằm trong lòng bàn tay của ta.

   Các phiền não ràng buộc tâm ta bằng những lậu hoặc sâu dầy, nhưng nếu chính ta không tự nhận biết như thế, thì sẽ không có sự thay đổi nào có thể xảy ra.   Chúng ta không thể chờ đợi người khác giải phóng cho tâm trí mình.  Sự giải thoát (mobbama) và bánh xe luân hồi (samsara), cả hai đều ở trong tim ta.  Đôi khi, trong những giây phút ta tạm quên cái ngã của mình, khi ta hoàn toàn không  quan tâm lo cho chính mình, ta có thể kinh nghiệm thoáng qua trạng thái của Niết bàn: đó là lúc 'cái tôi' của ta không còn quan trọng nữa, khi ta không có một định kiến nào trong đầu, khi chỉ có sự tỉnh thức mà không có chút tham ái nào.  Lúc đó có thể ta mới ý thức tự ngã không phải là cái gì ta tưởng nghĩ, và diệt bỏ nó.

   Đối với đa số chúng ta việc diệt bỏ cái ngã không phải là chuyện dễ làm, vì ta sẽ nghĩ rằng chính ta tự đánh mất mình khi không có tự ngã.  Trong khi thực ra là chúng ta có đưọc tất cả -mọi giáo lý tâm linh đều đồng ý trên điểm đó.   Bất cứ thứ gì ta sử dụng để xác định mình đều là tù ngục của chính ta.  Buông bỏ là giải thoát.  Khi chúng ta kinh nghiệm đôi phút giây của buông xả, ta thường nhầm lẫn đó là do hoàn cảnh hay người nào đó đã đem lại cho chúng ta.  Thực ra, bất cứ khi nào chúng ta diệt bỏ được các chấp thủ, ta sẽ đưọc gỉai thoát.  Hãy nhường nhịn đôi chút, hãy buông bỏ đôi điều, đó là ánh sáng le lói ở cuối đường hầm, để báo hiệu cho ta biết sự tự do, giải thoát là có thật.

Niết bàn và luân hồi đều ở trong tâm.  Luân hồi khổ ải có mặt khi ta còn có ý thức về ngã, và Niết bàn, chân hạnh phúc sẽ phát khởi khi ta có thể diệt trừ ngã chấp.  Không có gì trên thế gian này -của cải vật chất, vinh quang, sự tán thưởng, danh vọng, tiếng tăm hay trí tuệ- có thể mang đến cho ta sự tự do và bình an vô hạn như thế.

http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-75_4-8064_5-50_6-1_17-543_14-1_15-1/#nl_detail_bookmark

Wednesday, February 20, 2013

Phở chay tốc hành – Diệu Sương


Mẹ của DS tự làm bánh phở khô cho DS mang về Philadelphia. Chỉ cần vài tai nấm đông cô, cà rốt và đậu hũ tươi là DS nấu được món phở tốc hành rồi. Gọi là phở vì DS có cho bột ngũ vị hương vào cho thơm mùi phở đó mà. Nếu có nước lèo nấu sẵn thì ngon, ở đây DS dùng nước lã, ăn cũng tạm được.

Cách làm này thì dễ quá rồi. Mình dùng 1 cái nồi luộc bánh phở. Cái nồi kia  mình khử dầu với 1/2 muỗng cà phê gừng bằm, cho 1/2 muỗng cà phê bột ngũ vị hương vào, xào cà rốt, nấm cho vàng, xong chế nước vào nấu sôi vài dạo. Thả đậu hũ xắt lát vào, nấu sôi. Nêm nếm cho vừa ăn. Bánh phở luộc chín tới là cho ra tô chang nước vào là có ngay 1 tô phở tốc hành nóng hổi vừa thổi vừa ăn ấm lòng cho mùa đông tê tái ở Phila.Smile
DSC_0111
Đây là bánh phở khô tự làm của Mẹ. Ăn món này mình cảm thấy yên tâm vì biết là không có hoá chất ở trong đó. Mà cũng dai và ngon lắm.

Chúc các bạn ăn chay ngon miệng.
Nam Mô A Di Đà Phật.
Diệu Sương

Ốc đảo tự thân–Chương 6: Lý Duyên Khởi

ayya-khemaokPHƯƠNG PHÁP LUYỆN TÂM THANH TỊNH
Tác Giả: Ni Sư Ayya Khema - Việt Dịch: Diệu Liên Lý Thu Linh
Dịch từ bản tiếng Anh: Be An Island The Buddhist Practice of Inner Peace
Wisdom Publications 1999
Nhà xuất bản PHƯƠNG ĐÔNG 2010

Xây Dựng Nền Tảng

      Thập nhị nhân duyên (paticcasamuppada) đưọc bắt đầu bằng Vô minh (avijja), qua đến hành, thức, danh sắc, lục căn, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh rồi kết thúc bằng tử.  Đã có sinh ắt phải có diệt.  Trong suốt quá trình sinh diệt đó, chỉ có một lối thoát: giữa xúc và thủ.  Đây là các nhân duyên sanh tử luân hồi của chúng sanh.

   Tuy nhiên Đức Phật cũng dạy về những lý duyên khởi siêu việt, cao thượng hơn.  Bắt đầu bằng khổ đế (dukkha).  Đó là sự tỉnh thức, tri kiến về những đau khổ không thể tránh đưọc trong cõi nhân sinh.  Khổ đế cần đưọc nhận thức đúng như thực tướng của nó, là bước khởi điểm của cuộc hành trình về tâm linh của ta.  Nếu chưa từng trãi qua khổ đau, ta không có lý do gì để tu tập.  Nếu ta không nhận thấy khổ đau hiện hữu trùm phủ trên tất cả vạn vật, ta sẽ không có ý muốn thoát ra khỏi sự trói buộc của khổ đau.  

   Khi đã nhận diện đưọc khổ đau, ta không còn tìm cách trốn chạy chúng trong những hoàn cảnh của thường tình thế tục.  Ta sẽ không ham muốn đưọc giàu sang hơn, đưọc nhiều kiến thức hơn, sở hữu nhiều của cải hơn, hay kết thêm bạn bè.  Thêm nữa, biết rằng ta không thể trốn tránh khổ đau vì nó đi đôi với sự hiện hữu trong cuộc sống, ta sẽ không thấy bị nó chế ngự.  Ví như ta đã chấp nhận sấm sét như một hiện tượng không thể trốn tránh -biết rằng phải có mưa, có sấm sét, ta mới có thể trồng trọt- vì thế không thể vứt bỏ chúng.  Cũng thế, ta không thể trốn tránh khổ đau.  Không có khổ đau, con người không thể hiện hữu.  Sẽ không có tái sinh, hoại, lão và tử.  Hiểu đưọc như thế, ta sẽ không còn tìm cách chạy trốn khổ đau.  Do đó ta sẽ bớt khổ đau.  Sự trốn tránh, chống đối khiến ta không thể chấp nhận khổ đau, và như thế lại càng làm ta đau khổ thêm bội phần.  

   Có khổ đau, ta mới có duyên tìm đến chánh Pháp, kinh điển Phật giáo.  Thật vậy, đó là do duyên lành của ta.  Có biết bao nhiêu chúng sanh chẳng bao giờ đưọc biết đến Phật pháp.  Ngay cả khi họ đưọc sinh ra ở những xứ sở Phật giáo, họ cũng chẳng có dịp nghe đưọc Pháp.  Lại cũng có người không tìm đến Phật pháp vì họ vẫn tin rằng có thể tìm ra lối thoát trong cõi thế tục, nhưng đó là một phương hướng sai lầm.  Nhưng ngay đối với những người không tin rằng có thể tìm đưọc chân hạnh phúc trong cõi thế tục, chính họ cũng cần phải có duyên lành, mới có thể đưọc nghe chánh Pháp.  Hiểu đưọc như thế, tín tâm mới có thể thành tựu.

   Tín tâm phải dựa trên sự tin tưởng, ủy thác.  Nếu không, con đường đạo sẽ bị bít lối.  Chúng ta tin tưởng, như đứa trẻ nắm tay người lớn băng qua đường.  Đứa trẻ tin rằng người thân của mình sẽ trông chừng xe cộ, để tránh tai nạn có thể xảy ra.  Vì đứa trẻ chưa đủ khả năng phán đoán lúc nào an toàn để qua đường, nó tin tưởng vào người có kinh nghiệm, từng trãi hơn.

   Đối với Đức Phật, chúng ta cũng giống như đứa trẻ kia.  Với tâm hồn ngây thơ, trong sạch của đứa trẻ, chúng ta hoàn toàn dựa vào giáo lý, phương pháp tu hành, nắm bàn tay của Chánh pháp để dìu dắt ta đi.  Cuộc sống và sự tu tập của ta sẽ trở nên đơn giản hơn khi ta không mãi lưỡng lự, cân nhắc: "Chắc tôi phải đi nơi khác xem người ta tu cách nào".  Có lựa chọn, cân nhắc mọi giải pháp, cũng chưa chắc là ta sẽ tu tập tốt hay sẽ thoát khỏi khổ đau.  Lòng tin chân thành nơi chánh Pháp sẽ giúp cho tâm ta thêm kiên định.  Rồi qua thực hành, ta mới có thể chứng nghiệm đưọc lời Phật dạy.  Nếu không, ta sẽ không bao giờ biết đưọc sự thật.

   Nếu ta cứ cố chấp xem đau khổ như một tai họa, trong ta sẽ không còn chỗ cho lòng tin.  Vì lúc nào ta cũng đầy đau khổ, phiền não, ta quên rằng tất cả là do nghiệp quả của ta mang đến, không có gì hơn.  Làm chúng sanh là phải thọ nghiệp báo của mình.

   Phải thấu hiểu bản chất của khổ đau thật rõ ràng, ta mới có thể tin vào những giáo lý mà ta chưa từng thực hành.  Niềm tin đó sẽ mang đến cho ta an lạc, trái lại con đường tu sẽ đầy khổ não.  Là một yếu tố quan trọng trong đời sống tâm linh, nhưng an lạc ở đây không có nghĩa là khoái lạc, hưng phấn, rộn ràng.  An lạc đem lại niềm vui, tự tại, vì ta biết rằng mình đã tìm ra con đường giải thoát mọi khổ đau.  Đôi khi người ta lầm tưởng rằng người thánh thiện, sùng đạo phải có vẻ mặt u buồn, dáng đi thiểu não.  Vậy mà không có ai ghi lại là Đức Phật đã từng khóc, trái lại Ngài luôn đưọc minh họa với nụ cười luôn ở trên môi.  "Thánh thiện'  không có nghĩa là sầu não, mà có nghĩa là 'trọn vẹn'.  Không có niềm vui, thì khó có thể có tự tại, tròn vẹn.  Niềm vui nội tâm hàm chứa lòng tin tưởng rằng con đường chúng ta chọn không sai lầm, con đường đó sẽ mang đến thành tựu đạo quả qua các phương pháp chánh đáng.

   Chúng ta cần phải ngồi xuống chiếu thiền với niềm vui trong lòng.  Như thế thì tất cả quá trình hành thiền sẽ đưọc kết quả tốt đẹp.  Sẽ mang đến cho chúng ta sự tự tại, vì ta không còn đôn đáo tìm kiếm hạnh phúc ở bên ngoài ta, mà nương trú nơi chính bản thân.  Không cần phải tìm kiếm nơi đâu, không phải nhọc sức làm gì, tất cả đều ở trong ta.  Sự bình lặng đó mang đến cho ta cảm giác có mặt đúng lúc, đúng nơi.  Nó khiến tâm an tịnh, và từ đó diệt bỏ đưọc lòng hoài nghi (vicikiccha).

   Sự bình lặng khiến cho tâm dễ nhập định.  Chính khổ đau giúp ta tìm đưọc đúng đề mục thiền quán, nếu ta thực sự hiểu đưọc tính chất của khổ đau.  Ta không nên trốn chạy khổ đau, coi nó như một số phận nghiệt ngã hay oán trách người khác đã gây ra đau khổ cho mình.  Chánh định giúp tâm thêm rộng mở.  Trong khi tâm cố chấp, nhỏ hẹp, ô nhiễm khó thể thâm nhập pháp vi diệu.  Nó có thể linh cảm có cái gì đó siêu việt hơn cái đang cóù, nhưng không thể nào đến đưọc đó.  Trừ khi tâm đã đưọc an định.  

   Tâm định lúc đó có thể "tri kiến đưọc thể tánh như như của sự vật", một câu nói Đức Phật thường dùng để diễn tả một cách nhìn sự vật rất khác với cái nhìn sự vật bằng con mắt xét đoán hay bằng sự ao ước chúng phải như thế này,thế kia.  Cho đến giờ phút này, chúng ta đã có khái niệm rõ ràng về những điều ta không thích, như những lúc sự việc xảy ra làm sụp đổ niềm tin về tự ngã, những lúc cái ta không muốn lại xảy ra cho ta.  Nhưng khi đã biết nhìn và hiểu sự vật bằng chính bản thể của nó, trí tuệ của ta sẽ trở nên sâu xa hơn.  Chúng ta sẽ nhận ra rằng trong thế giới của vô thường, khổ đau và vô ngã, ta không thể nắm giữ điều gì, không có gì bền vừng mãi, và có thể đem lại hoàn toàn thoả mãn cho ta.  Không có ai, không có của cải, không có suy tưởng, không cảm thọ nào cả.  Tất cả không có gì bền vững, chắc chắn để ta có thể nương tựa vào.  

   Đó là chánh kiến, khác hẳn với cái nhìn bình thường hằng ngày.  Nó là kết quả của chánh định, từ thái độ không coi đau khổ như thù địch, tiêu cực.  Vì khi ta tìm cách thoát khỏi đau khổ bằng cách cố quên nó, trốn chạy nó, đổ lổi cho người khác, buồn phiền vì nó, hay tự trách mình, chúng ta chỉ tạo thêm đau khổ.  Tất cả những cách đó đều chỉ là tự dối mình.  "Nhìn sự vật đúng như bản thể của chúng" là bước khởi đầu trên con đường đạo của nội tâm; còn lại tất cả chỉ là những công tác chuẩn bị.

   Đôi khi sự hiểu biết của ta có thể ví như những bức tranh bí mật trẻ con thường chơi.  Có lúc bạn thấy nó, có lúc không.  Khi có đưọc tri kiến về bất cứ khía cạnh nào của Pháp, ta phải thường quán chiếu trở lại tri kiến đó.  Nếu thật sự có đưọc tri kiến đó, đau khổ không còn làm đau đớn được ta, ta chấp nhận chúng như mọi việc khác đã xảy đến cho ta.  Sự lão hoại, bịnh hoạn, chết chóc không còn làm ta phải sợ hãi nữa.  Còn gì nữa để sợ khi ta biết rằng tất cả vạn vật đều hoại diệt không ngừng.  Thân ta ngày một hoại, tâm thì thay đổi từng phút giây.

   Không có tri kiến về thực tại này, việc thực hành của ta không đưọc dễ dàng.  Ngược lại với tri kiến sáng suốt, việc thực hành của ta trở nên là điều duy nhất ta thấy cần phải làm.  Mọi thứ khác đều tạm bợ, đều làm ta sao lãng việc thực hành.  Nhờ có tri kiến sáng suốt đó, ta mới khởi đưọc lòng nhàm chán đối với mọi quyến rủ của cuộc đời.  Tất cả những hào nháng chỉ là thỏi vàng tầm thường của kẻ ngu, đem lại hạnh phúc cho ta phút này, thì phút sau đã đem đến bất hạnh.  Các cảnh trần trên thế gian dễ đánh lừa ta, nhưng ta vẫn đeo bám theo chúng, do tập khí lâu đời mà ra.   Vì thế ta sẽ tiếp tục chịu khổ đau cho đến khi ta nhìn ra đưọc sự thật.

   Ở Úc có một tấm biển đề: "Cuộc sống:  Hãy hòa nhập vào đó".  Có lẽ tốt hơn nên đề: "Cuộc Sống:  Hãy xa rời nó".  Cuộc sống và sự hiện hữu của ta bị trói buộc bởi những chuyển biến không ngừng của các trần cảnh -khi căn tiếp xúc với trần: nghe, thấy, nếm, xúc, tưởng.  Chỉ khi nào ta đã có đưọc cái nhìn rõ ràng về sự vật, ta mới biết nhàm chán, khi ấy dù cho cảnh trần có tuyệt vời đến đâu, cũng không lay chuyển đưọc ta.  Quỷ Ma Vương, kẻ dụ ta làm điều tội lỗi, sẽ phải bó tay, vì ta đã đuổi đưọc hắn ra khỏi cửa.  Nhưng hãy nhớ, hắn sẽ đợi ngoài cửa ngõ, rình chờ cơ hội đầu tiên để có thể xuất hiện trở lại,  điều ấy có thể lắm chứ, nhưng chắc rằng hắn sẽ không bao giờ có thể ung dung tự tại bước vào nhà ta nữa.

   Tri kiến này mang đến cho ta bao niềm tin, khiến lòng ta cảm thấy mãn nguyện nhường bao.  Ta sẽ khó thể bị lôi kéo khỏi con đường tu tập của mình.  Khi Ma Vương còn ở bên cạnh ta, ta còn chưa đưọc hoàn toàn bình an.  Ta còn phải lo sợ với những điều mới lạ khác có thể rù quến đưọc ta.  Tuy nhiên khi đã có đưọc cái nhìn rõ ràng về sự thật của mọi vật, ta sẽ có đưọc lòng nhàm chán, ta sẽ nhận ra con đường Đức Phật dẫn dắt ta đến tự tại, bình an, tận diệt mọi khổ đau.

   Thực ra khổ đau chính là người bạn thân thiết nhất, trung thành nhất.  Ta khó lòng tìm đưọc người bạn nào có thế giúp ích đưọc ta nhiều như thế, nếu ta có cái nhìn đúng đắn về khổ đau, không chống cự, không phản kháng lại nó.  Lúc ấy ta có thể dùng khổ đau làm lực đẩy để ta tu tập, trân trọng, biết ơn mỗi khi nó dấy khởi.  Điều đó khiến nỗi đau của ta không còn sắc bén, mà khổ đau đã đưọc chuyển hóa thành những kinh nghiệm quí báu nhất của chúng ta.

http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-75_4-8064_5-50_6-1_17-543_14-1_15-1/#nl_detail_bookmark

Tuesday, February 19, 2013

Maki chay

IMG_4525

Món này cũng có người gọi là Sushi nhưng Maki thì chính xác hơn. Maki có nghĩa là bỏ nguyên liệu vào giữa lớp cơm và cuốn lại bằng rong biển.

Các bạn có thể cuốn với các loại thực phẩm chay tùy thích (miễn là đừng cuốn chung với bánh kẹo nha, hihi). TL dùng trái bơ, dưa leo, đậu nành nguyên hạt lên men của Nhật, củ cải ngâm kiểu Hàn Quốc, đậu hũ rim dầu hào chay trộn sốt mayo để cuốn nên ăn cảm thấy phong phú và không bị ngán.

Cơm để cuốn nên nấu hơi dẻo hơn thường ăn một chút. TL trộn thêm gạo nếp tỷ lệ là 2 gạo tẻ + 1 gạo nếp. Cơm chín trộn một chút xíu dấm và chút xíu đường.

Cách cuốn

Trải lá rong biển ra và múc một ít cơm dàn đều theo chiều ngang của lá rong biển, đặt nguyên liệu vào giữa và cuộn tròn lại hơi chắc tay một chút. Chưa cuốn quen có thể mua mành trúc loại chuyên để cuốn maki/sushi cho dễ làm.

Cuốn xong để khoảng 2-3 phút hãy cắt. Khi cắt các bạn dùng dao bén. Một tip nhỏ để cắt cuốn cho dễ là nhúng một chút dấm vào dao để khỏi bị dính cơm. Khi cắt nhiều cơm cũng sẽ dính chút ít, các bạn rửa dao và lại nhúng qua dấm lần nữa.

Maki/sushi ăn chung với gừng ngâm chua ngọt rất bắt.

Cách làm gừng ngâm chua ngọt

- Chọn gừng non một chút. Gọt vỏ, bào hoặc cắt mỏng. Rửa sơ qua bằng nước ấm để ráo.

- Nấu dấm và đường tỷ lệ 1:1 hoặc 1 dấm + 1.2 đường nếu thích ăn ngọt. Các bạn điều chỉnh theo khẩu vị của mình.

- Để dấm nguội ngâm chung với gừng trong lọ thủy tinh, khoảng nửa ngày là ăn được.

TL thường xuyên làm món này để mang khi đi chơi xa rất tiện lợi, gọn gàng và sạch sẽ.

Chúc các bạn ngon miệng!

Tuệ Lan

Monday, February 18, 2013

Chương Trình Khóa Tu Xuất Gia Gieo Duyên - TT Thích Thông Lai


Chương Trình Khóa Tu Xuất Gia Gieo Duyên 3 ngày
thứ Sáu, thứ Bảy và Chủ Nhật 15,16,và 17 tháng 3, 2013
tại Chùa Bồ Đề 1114-1120 South 13th Street, Philadelphia 19147
Do Thượng Tọa Thích Thông Lai Hướng Dẫn

Lịch Trình Tu Học:
            1./ Thứ Sáu Ngày 15 Tháng 3 Năm 2013

8:00am - 6:00pm     Phật Tử Khắp Nơi Vân Tập Về Chùa Bồ Đề/ Lễ Xuống Tóc Cho Quý Phật Tử Tu Gieo Duyên
6:00pm - 7:30pm    Đại Chúng Dùng Cơm Chiều
7:30pm - 9:30pm    Lễ Truyền Giới Sa Di/ Sa Di Ni và Truyền Bát Quan Trai Giới
9:30pm - 4:45am     Đại Chúng Chỉ Tịnh             
           
            2./ Thứ Bảy  Ngày 16 Tháng 3 Năm 2013

4:45am - 5:45am     Chuông Thức Chúng
6:00am - 6:45am     Tụng Lăng Nghiêm
6:45am - 7:45am     Niệm Phật Tam Muội/Kinh Hành Niệm Phật
8:00am - 9:30am     Đại Chúng Điểm Tâm Sáng và Vệ Sinh Cá Nhân
9:30am - 11:30am   Lễ Thỉnh Sư, Chào Cờ và Thuyết Pháp
11:30am - 1:00pm   Đại Chúng Thọ Trai
1:00pm - 2:00pm     Đại Chúng Chỉ Tịnh 
2:00pm - 3:30pm     Trai Đàn Chẩn Tế Cầu Siêu cho Chiến Sỉ Trận Vong, Đồng Bào Tử Nạn, Thập Loại Cô Hồn
3:30pm - 4:30pm     Đại Chúng Giải Lao  
4:30pm - 6:00pm     Công Phu Chiều   
6:00pm -6:30pm      Kinh Hành Niệm Phật
6:30pm - 7:30pm     Đại Chúng Dùng Cơm Chiều     
8:00pm - 10:00pm   Hướng Dẫn Pháp Tu Tịnh Độ        
10:00pm - 4:45am    Đại Chúng Chỉ Tịnh 

            3./ Chủ Nhật Ngày 17 Tháng 3 Năm 2013
  
4:45am - 5:45am     Chuông Thức Chúng
6:00am - 6:45am     Tụng Lăng Nghiêm
6:45am - 7:45am     Niệm Phật Tam Muội/Kinh Hành Niệm Phật
8:00am - 9:30am     Điểm Tâm và Vệ Sinh Cá Nhân
9:30am- 11:30am    Thuyết Pháp  
12:00am - 1:00pm   Đại Chúng Thọ Trai
1:00pm - 2:00pm     Đại Chúng Chỉ Tịnh 
2:00pm - 3:00pm     Kinh Hành Niệm Phật
3:00pm - 3:30pm     Đại Chúng Giải Lao 
3:30pm - 5:00pm     Thuyết Pháp
5:00pm -5:30pm      Lễ Xả Giới
5:30pm - 6:00pm     Lễ Hồi Hướng Công Đức Và Hoàn Mãn

CHÚ Ý:
- Tham Dự Khóa Tu Hoàn Toàn Miễn Phí.
- Quý Vị Có Thể Tham Dự Tu Xuất Gia Gieo Duyên Hoặc Thọ Bát Quan Trai Giới, Nếu Không Muốn Cạo Tóc.
- Phải Ghi Danh Với Ban Tổ Chức Trước Ngày 9 Tháng 3, 2013 Để Ban Tổ Chức Kịp Chuẩn Bị Y Áo Cho Tu Xuất   
  Gia Gieo Duyên và Lo Nơi Cư Trú, Ẩm Thực Và Phương Tiện Đưa Đón Tại Phi Trường Philadelphia (PHL).
- Ban Tổ Chức Cung Cấp Miễn Phí Y và Áo Hậu Cho Quý Vị Tu Xuất Gia Gieo Duyên.
- Điều Kiện Ghi Danh Tu Xuất Gia Gieo Duyên Phải có Lục Căn Đầy Đủ.
- Những Đạo Hửu Không Tham Dự Khóa Tu Xuất Gia Gieo Duyên Hoặc Thọ Bát Quan Trai  Giới Đều Có Thể Dự    
  Nghe Pháp Do Thượng Tọa Thích Thông Lai Giảng.
- Chương Trình Tu Học Có Thể Thay Đổi Tùy Theo Hoàn Cảnh.

Xin Quý Chư Tôn Đức Tăng Ni Phật Tử Vui Lòng Ghi Danh Tu Học Với Các Vị Trong Ban Tổ Chức Sau Đây:
               1./ Anh Phúc Vĩnh    :  917.952.6396       email: lachong99@yahoo.com 
               2./ Anh Nguyên Trí  :  215.500.2716       email: followadida@yahoo.com 
               3./ Anh Huyền Danh:  610.633.2398       email: hungphan444@yahoo.com 

Trân Trọng Kính Mời Quý Chư Tôn Đức Tăng Ni Phật Tử Dành Chút thời Giờ Quý Báo Đến Tham Dự Khóa Tu Đặt Biệt Này.
* Nam Mô Công Đức Lâm Bồ Tát Tác Đại Chứng Minh
* Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Thay Mặt Ban Tổ Chức Khóa Tu
Tỳ Kheo Thích Thông Lai Kính Bạch


                 
                                      Khóa Tu Xuất Gia Gieo Duyên                  
                                  PHIẾU HỒI BÁO





Kính mong Quý PHẬT TỬ VÀ ANH CHỊ EM  điền chi tiết vào Phiếu nầy và gởi về BTC trước 03/9/2013 để BTC kịp thời điều chỉnh số phòng đã đặt trước, thuê mướn xe bus và đặt đồ ăn. Ghi X vào cột thích hợp. Mỗi hồi báo nhận được đều thông báo trên email hay phone.

Tôi ký tên dưới đây ………………………………………………  sẽ tham dự Pháp Hội tổ chức tại chùa Bồ Đề vào 15, 16, 17 tháng 3 năm 2013.
Địa Chỉ:…………………………………………TP…………………TB……………
ĐT:(H)………………………………….   (C)………………………………..
Email:…………………………………………………………………………
Ngày, giờ đến:……………….       Flight #..............Airline:…………………
Cần xe chuyên chở …….Có……..Không
(Nên dùng phi trường Philadelphia International Airport (PHL))
Cần chổ cứ ngụ : …….Có………Không.
(Xin đem thêm túi ngủ và vật dụng cá nhân)

Chú Ý: Quý Phật tử và ACE xin hiện diện vào đúng ngày lể qui định nếu không thể có mặt trong suốt ba ngày Pháp Hội.
Lể gieo duyên và thọ BQTG sẻ được tổ chức vào ngày thứ sáu và thứ bẩy 3/15/13-3/16/13.
Lể cầu siêu sẻ được tổ chức vào ngày thứ bẩy 3/16/13.
Lể cầu an và qui y sẻ được tổ chức vào trong cả ba ngày từ 3/15/13-3/17/13.


-LIÊN LẠC
Nguyên Trí     followadida@yahoo.com   215-500-2716
HuyềnDanh    hungphan444@gmail.com  610-633-2398
Phúc Vĩnh      lachong99@yahoo.com     917-952-6396

1.   Danh sách cầu an, TBQTG, gieo duyên, quy y
(Nếu cần thêm chỗ ghi danh , xin tiếp tục điền vào phía dưới hay dùng thêm tờ giấy khác)

Tên Gia chủ: ………………………………………………………….
Số TT
Họ - Tên và Pháp Danh
Tuổi
 Gieo Duyên
Cầu An
Quy Y
Thọ Bát Quan Trai Giới
           1    






2






3






4






5






6








2.    Danh sách cầu siêu (tên người mất).
Tên Gia chủ: ………………………………………………………….
Số TT
Họ - Tên và Pháp Danh
Ngày tháng năm sanh
Ngày tháng năm mất
Tuổi
  1




2




3




4