Thursday, January 28, 2016

Cảm tính và Lý tính

Xét theo lẽ tự nhiên, con người ai cũng ham thích nói lý, dùng lý lẽ để khẳng định, lập luận, biện minh cho những ý muốn, hành động của mình. Đồng thời lại rất ưa chuộng tình cảm (cảm tính), nhất là những tình cảm hợp với ước muốn của mình, đặc biệt những khuynh hướng được thúc đẩy do những dục vọng tiềm tàng từ trong vô thức.

Như ai cũng biết, lý trí hay lý tính có nhiệm vụ tìm ra sự thật, tìm ra chân lý để dẫn dắt, soi sáng cho những hành vi của con người khỏi lầm đường lạc lối. Cảm tính, cảm xúc hay tình cảm lại rất cần cho cuộc sống, là động lực thúc đẩy để con người hành động, làm cho đời sống thêm phong phú, sáng tạo, sinh động, tạo nên một tâm hồn có sức sống, nhạy cảm, nhiệt huyết, được chan hòa tới mọi người và mọi vật.

Nhưng để sống cho có tình có lý, nhất là để mọi việc sao cho “thấu tình đạt lý” thì quả là một vấn đề không đơn giản. Nó là một quá trình thông qua nhiều giai đoạn, đi từ nhận thức cảm tính cho đến tư duy trừu tượng, được kiểm chứng bằng thực tế của vấn đề, sự kiện. Nhưng để hiểu được một cách đúng đắn của vấn đề cảm tính và lý tính, con người lại phải qua quá trình giáo dục, rèn luyện, tư duy khoa học, kiểm nghiệm, và nhiều vấn đề còn phải tu dưỡng mới hiểu và khắc phục được những nhận thức sai lầm về sự việc, sự vật, nhất là nhận ra được chân lý.

CẢM TÍNH VÀ LÝ TÍNH THEO TRIẾT HỌC

Trong triết học, người ta phân biệt rất rõ ràng giữa nhận thức cảm tính và lý tính.

Nhận thức cảm tính:

Là sự nhận thức ở giai đoạn đầu, con người sử dụng các giác quan để tác động vào sự vật nhằm nắm bắt sự vật. Trước tiên các sự vật, hiện tượng tác động trực tiếp vào giác quan của con người, nó phản ánh các thuộc tính riêng lẻ mà con người cảm nhận bằng những cảm giác, cảm xúc.

Từ cảm giác, cảm xúc được tổng hợp thành những tri giác, là sự nhận thức một cách tổng quát về các sự vật hay hiện tượng của vấn đề thông qua giác quan. Từ đó nó trở thành những biểu tượng, nhờ đó con người hình dung ra những sự vật mà không cần nhờ tới giác quan trực tiếp tác động vào.

Người ta nghiên cứu, giai đoạn cảm tính này cũng có trong một số động vật.

Nhận thức lý tính:

Là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh những đặc tính bản chất của sự vật. Từ đây tìm ra một khái niệm, nói lên sự khái quát, đặc điểm, thuộc tính của sự vật, trở thành cơ sở cho luận lý, suy luận và phán đoán các hiện tượng, sự vật.

Luận lý học hay logic học giúp con con người tư duy theo phương pháp khoa học, tránh được những cảm giác, cảm tính chi phối, bằng cách liên kết những khái niệm với nhau, để so sánh, phân tích và tổng hợp những đặc điểm, thuộc tính của đối tượng, nhằm khẳng định hay phủ định sự việc, sự vật. Từ đây con người có thể suy luận theo diễn dịch hay quy nạp giữa các phán đoán để hình thành một tri thức mới mang tính đặc trưng hoặc phổ quát.

Nhờ nhận thức lý tính, con người mới nhận ra những mối liên hệ, bản chất, yếu tính, thuộc tính của sự vật.

Tuy nhận thức cảm tính và lý tính có sự khác biệt nhau, nhưng chúng không tách biệt nhau mà luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Không có nhận thức cảm tính thì không có nhận thức lý tính, không có nhận thức lý tính thì không nhận thức được bản chất, yếu tính thật sự của sự vật.

CON NGƯỜI THƯỜNG SỐNG THEO CẢM TÍNH HAY LÝ TÍNH

Như ai cũng có thể biết, lý tính giúp con người tìm ra chân lý, vì chân lý là những cái tồn tại mang tính bất biến, nó nằm ngoài ý thức của con người. Chân lý có sẵn chứ không do con người tạo ra, là chân lý của các ngành khoa học, những chân lý về tinh thần, tâm linh, siêu hình… Con người nhờ tư duy khoa học hoặc tu dưỡng qua những trải nghiệm về tinh thần, về tâm linh mà nhận biết, phát hiện. Lý tính hay lý trí là ngọn đèn soi dẫn, là ánh sáng dẫn dắt, canh chừng cho những hành vi của con người khỏi lầm đường lạc lối, mà mục đích của nó là định hướng hành vi theo chân lý.

Nhưng thực tế cho thấy, đa số con người chỉ dừng lại ở cảm tính, nếu có lý luận cũng thường do cảm tính dẫn dắt, được thúc đẩy qua những cảm xúc làm chủ thuận theo khuynh hướng riêng. Lý luận thường biện minh, bảo vệ cho ý muốn, mục đích của chủ thể, muốn được hợp thức hóa cho những hành vi của mình. Sự xáo trộn, bất an, mặc cảm, lầm lạc, nhiều sa lầy, bế tắc, bất hạnh, đau khổ… của nhiều người là bằng chứng cho thấy ít người để cho lý tính chân chính hướng dẫn, nếu có thường chỉ bảo vệ cho quan điểm riêng hoặc mưu cầu một ý đồ hay lợi lộc nào đó, có khi biện minh để thỏa mãn cho những dục vọng riêng tư của cá nhân mà thôi. Vì vậy nhiều khi chính mình đang tự lừa dối mình mà không biết.

Con người có nhiều thành kiến về sự vật sự việc, thành kiến về người này người nọ, lại có nhiều yêu ghét về vật này vật nọ, về đối tượng này đối tượng kia, cũng như mang những kỳ thị trong cộng đồng xã hội và bao điều tham lam ham hố ở đời. Tất cả đều bị nó dẫn dắt hướng tới hành động, mà những điều này đều xuất phát từ cảm tính chứ không phải lý tính. Như trong tâm lý học, khoa học trình bày những trạng thái của con người, từ vô thức, tiềm thức cho đến ý thức. Đó là tâm lý tự nhiên của con người vốn có, đã được phú bẩm mà không cần thông qua học hỏi và luyện tập. Ngoài phần ý thức ở trình độ cao, còn hầu hết hành vi của con người đều xuất phát ở phạm vi cảm tính, nên nó chi phối phần lớn cuộc sống con người. Bởi vậy, những thuật xử thế, thuật đắc nhân tâm và những thuật khác liên quan đến con người đều áp dụng tâm lý, tác động vào những cảm giác, cảm xúc của con người để đạt được mục đích.

Những điều trên cho thấy, phần lớn con người đều sống theo cảm tính, bị tình cảm, cảm xúc dẫn dắt, dù rằng lý lẽ vẫn tồn tại, nhưng chẳng qua là biện minh, bảo vệ cho những “ý đồ” của con người.

CẢM TÍNH VÀ LÝ TÍNH LÀ CẶP SONG HÀNH HAY ĐỐI LẬP

Theo nghĩa thông thường người ta vẫn hiểu, lý tính hay lý trí đối lập với tình cảm, cảm xúc, ước muốn, nhu cầu, đam mê. Tuy đối lập nhưng nó luôn song hành với nhau, nó cùng hiện diện nơi con người, hiếm khi nó độc lập hoàn toàn, khó có thể mang tính thuần lý hay thuần cảm tính. Khi tôi yêu điều này, vật này, người này là tôi vận dụng đủ lý lẽ để biện minh cho cái tôi yêu. Còn nếu tôi ghét, tôi cũng có lý lẽ như vậy.

Cũng như khi tôi dùng lý trí để tìm ra một phương án giải quyết công việc, khi thi hành, tôi vẫn bị chi phối bởi sự ưa chuộng, ham thích, hoặc khó chịu, thành kiến, ghét việc này việc nọ, người này người nọ. Nhưng nhiều khi khi lý tính mâu thuẫn với một số mong muốn mà chủ thể có cảm tưởng rằng lý tính tách rời với cảm xúc. Ngược lại, đôi khi con người cảm thấy một cảm xúc mạnh mẽ đã chiến thắng các lý luận một cách phi lý, mặc dù cảm xúc đó đã không còn luận cứ xác đáng nào, hoặc khi nó chưa kịp là chủ đề của lý luận thì hành động đã xảy ra, như trong trường hợp phản xạ chẳng hạn, nó xảy ra trong những tình huống bất ngờ.

Bởi vậy con người mới trở nên phức tạp, nhiều mâu thuẫn ngay chính nội tại, tất cả đều do lý tính và cảm tính không hòa hợp được với nhau. Điều này cũng là nguyên nhân gây đau khổ cho con người.

Như đã đề cập, chân lý là đỉnh cao của trí tuệ - lý tính – nhưng con người ít quan tâm để sống theo chân lý nên sự xáo trộn và mâu thuẫn cũng xuất hiện. Khuynh hướng con người ham thích được chiều chuộng theo bản năng, lệ thuộc vào “hỉ, nộ, ái, ố, ai, cụ, dục” của những đòi hỏi tự nhiên, nghĩa là đắm mình trong những cảm giác, cảm xúc thuộc về cảm tính mà giác quan nhận được. Vì vậy không chỉ là đối lập giữa cảm tính và lý tính mà trở thành đối đầu, xung khắc làm cho chủ thể luôn luôn thấy bất an, dù bề ngoài có vẻ khoan khoái và sung sướng, nhưng chỉ là nhất thời, giả tạo.

CẢM TÍNH VÀ LÝ TÍNH HOẠT ĐỘNG TRÊN HAI BÁN CẦU NÃO – CHỨC NĂNG

Hoạt động trí tuệ chịu sự khống chế của não, song não lại chia thành hai bán cầu là bán cầu não phải và bán cầu não trái và hai bán cầu này có ưu thế, chức năng khác nhau.

Bán cầu não trái có nhiệm vụ xử lý ngôn ngữ, tư duy trừu tượng, viết, tính toán, sắp xếp, phân loại, ghi nhớ từ ngữ và tri giác thời gian, nó có thói quen phân tích từng bước một.

Bán cầu não phải có vai trò xử lý hình tượng tổng thể, khái niệm không gian, phân biệt hình vẽ, khả năng cảm thụ âm nhạc, khả năng bắt chước, nó có khuynh hướng phân tích trực quan, chỉnh thể vấn đề.

Người có khuynh hướng về bán cầu não trái:

- Thiên về lý tính, có tính khách quan, tư duy trừu tượng, lý luận chặt chẽ, phán đoán hợp lý, xử lý ý tưởng từng bước.

- Tính logic thông tin và ý tưởng, biết phân tích từng bước sau đó định hình tổng thể, tìm tòi, biết so sánh, chứng minh.

- Biết đặt vấn đề, lập kế hoạch, tập trung bền, có mục tiêu rõ ràng, làm việc có phương pháp, theo nguyên tắc và quy định, tính bền bỉ, kiên trì, quyết đoán. Biết phân bố, làm chủ được thời gian.

- Ngôn ngữ phong phú, dễ nhớ tên hơn hình dáng, có bố cục. Tinh thần độc lập, nghị lực, bản lĩnh, cân nhắc, kín kẽ, sống thực tế, chính xác, cụ thể.

- Có đời sống cứng nhắc, khô cằn, ít sáng tạo, giao tiếp thiếu mềm mại, thiếu tình cảm, khó cảm thông, dễ độc đoán, độc tài, dễ khổ trí.

Người có khuynh hướng về bán cầu não phải:

- Thiên về cảm tính, nhận xét, phán đoán theo thành kiến, chủ quan.

- Xử lý các ý tưởng cùng một lúc, dùng hình ảnh để nhớ, ít có cảm nhận về thời gian, hay bốc đồng, dễ chán nản, thiếu tính độc lập, thiếu kiên nhẫn, tập trung kém, tản mạn.

- Khó khăn dùng từ ngữ diễn tả, muốn trải nghiệm hơn là dùng tài liệu, thiếu tự tin vào khả năng sáng tạo bản thân, quyết định vội vàng, võ đoán, thiếu hệ thống.

- Thích đụng chạm khi quan sát vật thể, thích được chiều chuộng và lời vuốt ve, sống tình cảm, yêu, ghét, vui, buồn bất chợt tùy theo hứng, bị thần kinh kích động.

- Gặp khó khăn trong việc phân bố tính chất ưu tiên nên thường trễ hạn (giờ) trong công việc và hay thay đổi, thích nghe điều gì sắp nói đến, hướng về tình cảm cao đẹp.

-Trực giác bén nhạy nên không cần thông qua suy luận, có óc tưởng tượng phong phú, sáng tạo dồi dào, dễ rung động, thích mơ mộng, ít thực tế.

- Năng khiếu về nghệ thuật, âm nhạc, màu sắc, lối nhìn góc cạnh, chi tiết, chu đáo.

- Giao tiếp tốt, tế nhị, mềm dẻo, vị tha, tính cộng đồng nhưng dễ bối rối và khổ tâm.
Người ta phát hiện nhiều chức năng ưu thế, ở mức độ cấp cao đều tập trung ở bán cầu não phải chứ không phải bán cầu não trái, vì bán cầu não phải có cơ năng mang tính chỉnh thể, tổng hợp, sáng tạo, chủ quan trực giác, trí tưởng tượng phong phú, nhạy cảm về thái độ, tình cảm, ý chí của con người.

Tuy rằng mỗi bên bán cầu não có chức năng riêng, song chúng luôn hỗ tương lẫn nhau trong quá trình hoạt động. Vì vậy phát triển cân bằng cả bán cầu não trái và bán cầu não phải là một trong những nguyên tắc quan trọng để phát triển trí tuệ, giúp quân bình giữa tâm và trí nơi con người. Nói cách khác là có được sự hòa hợp giữa cảm tính và lý tính. (Tham khảo: http://www.tgm.vn/ttgbct-c5-ban-so-huu-bo-nao-cua-mot-thien-tai/)

CẢM TÍNH VÀ LÝ TÍNH TRONG VẤN ĐỀ GIÁO DỤC

Cái học ngày nay hầu như người ta chỉ chú trọng về giáo dục lý tính mà quên đi vấn đề cảm tính thể hiện qua những cảm xúc của con người. Nói đến giáo dục là phải nghĩ tới giáo dục con người, bao gồm toàn thể lý tính và cảm xúc, trong đó yếu tố đạo đức, luân lý, là cực kỳ quan trọng. Như Andrew Chrucky, TS. Triết học, Trường Đại học FordhamUniversity, Hoa Kỳ nói:

“Giáo dục tổng quát - được hiểu một cách đúng đắn - bao gồm giáo dục nhận thức, đạo đức và cảm xúc. Và nếu giáo dục tổng quát được coi như một thứ nằm ngoài phạm vi của luân lý, thì nền giáo dục đó sẽ tạo ra những kẻ ngụy biện, chứ không phải những người biện chứng, biết dùng kỹ năng nhận thức để nâng cao đạo đức theo một cách có sự kiểm soát của cảm xúc”.

Tất cả các ngành học ngày nay hướng tới phục vụ con người bằng cách sản xuất ra của cải và tiện nghi hưởng thụ. Nó được kích cầu tối đa, tạo ra những nhu cầu mới, kích thích sự thèm khát tiêu thụ như trong quảng cáo, giúp cho nền kinh tế phát triển. Xã hội tiêu thụ - mua sắm những cái không cần thiết và dư thừa - là đỉnh cao của xã hội công nghiệp ngày nay mà nước nào cũng muốn nhắm tới.

Cho nên vấn đề phương pháp, chính xác, hoàn hảo, đắc lực, hiệu quả, vượt thời gian, kỷ lục, cạnh tranh, loại đối thủ… là yếu tố nòng cốt cho mọi kế hoạch thi hành, nên nó rất năng động và sát phạt trong quy trình diễn tiến.

Mục đích của con người đi học để đạt được cái danh và cái lợi, mà đỉnh cao của nó mang tính CHUYÊN: chuyên môn, chuyên gia, chuyên viên, chuyên nghiệp…, và mang tính NHÀ: nhà nghiên cứu, nhà khoa học, nhà lý luận, nhà kinh tế, nhà kế hoạch, nhà chính trị… Cũng như thành công trong cuộc sống được đo lường và đánh giá bằng lương tháng, bằng lợi nhuận, bằng tiện nghi… Nó trở thành tiêu chí để đánh giá tài năng hay bất tài, giỏi hay dốt, khôn hay dại, giá trị hay không ở đời.

Chung quy, cái học ngày nay đặt trong bối cảnh có một vị trí thuận lợi trên thị trường lao động, nhắm vào sự thành công về tài chính. Để được vậy, sự học phải được trau dồi những khối lượng kiến thức về lý thuyết, thực tiễn và kỹ thuật. Cho nên vấn đề cảm xúc, luân lý, đạo đức được đặt ra ngoài.

Đây là một lỗ hổng lớn trong vấn đề giáo dục, nhưng nhiều người nghĩ rằng trau dồi những kỹ năng nhận thức là có thể bù lại mọi khiếm khuyết trong giáo dục. Nhưng các nhà nghiên cứu thấy rằng, thế giới này được cai trị và các nền văn minh được thiết lập bắt nguồn từ những cảm xúc của con người, trong đó có luân lý và đạo đức. Cảm xúc kích thích suy nghĩ và hành động, nên con người chịu ảnh hưởng tình cảm nhiều hơn là lý trí. Óc sáng tạo được chuyển hóa thành hành động là nhờ cảm xúc chứ không phải do lý trí lạnh lùng. Người ta cũng nhận thấy khả năng suy luận xuất chúng chỉ cho ra đời các nhà phát minh, còn trí tưởng tượng tổng hợp với sáng tạo lại cho ra đời các thiên tài, như Blaise Pascal, Albert Einstein là những thiên tài điển hình.

NGƯỜI VIỆT NAM CẢM TÍNH HAY LÝ TÍNH

Hầu hết các nhà nghiên cứu về văn hóa đều công nhận, đặc điểm quan trọng nhất của văn hóa truyền thống Việt Nam mang “âm tính”. Như GS.TSKH Trần Ngọc Thêm: “Có thể coi đó là bản chất của văn hóa truyền thống Việt Nam. Sở dĩ có âm tính, mà còn là âm tính nặng nữa, là vì hoạt động nông nghiệp có đặc điểm là tĩnh hơn hoạt động du mục và công nghiệp. Mà trong nông nghiệp thì trồng lúa nước là tĩnh nhất, vì trồng lúa nước thì bị bó chặt vào đồng ruộng, phụ thuộc vào nước, mức độ phụ thuộc càng cao thì tính âm, tính tĩnh càng mạnh”.

Vì vậy người VN thường sống theo cảm tính, nghĩa là suy nghĩ và hành động để cho tình cảm, cảm xúc dẫn dắt, thay vì căn cứ vào các sự kiện hợp lý để định hướng cho công việc và cuộc sống. Đó là lúc con người sử dụng cảm giác để lý luận, khiến cảm tính trở thành yếu tố quan trọng khi đưa ra những quyết định. Cũng từ đó, trong việc ăn ở đối nhân xử thế tuy có tình nhưng lại thiếu công minh, mặt khác tin vào quyết định mình một cách mù quáng. Trong tổ chức thì thiên vị, tùy tiện và thiếu khoa học. Sự phán đoán theo cảm tính thường sai lạc, không chính xác, thiên lệch, bất công.

TS. Phạm Gia Minh đăng trên tuanvietnam.net, đưa ra “Danh mục các thói hư, tật xấu của người Việt thời nay" như sau:

 A: An phận thủ thường; Ăn bẩn; Ăn người; Ăn cắp vặt, Ăn hơn, làm kém; Ăn tục nói phét; Ảo tưởng; Ăn xổi ở thì; Ẩu v.v…

 B: Bàng quan; Bảo thủ; Bằng cấp giả; Bán trời không văn tự; Bài ngoại; Bắt cóc bỏ đĩa; Bóc ngắn, cắn dài; Bè phái; “Buôn dưa lê”; Bới bèo ra bọ v.v…

 C: Cãi nhau to vì chuyện nhỏ; Chen ngang khi phải xếp hàng; Chọc gậy bánh xe; Chụp giật; Chửi bậy, cục súc; Cờ bạc; Coi thường pháp luật; Cù nhầy; Cửa quyền; Cười không đúng chỗ, đúng lúc v.v…

 D: Du di; Dị ứng tri thức; Dzô dzô (ăn nhậu thái quá) v.v…

 Đ: Đâm bị thóc, chọc bị gạo; Để bụng; Đỏ đen; Đố kỵ; Đùn đẩy; Đua xe v.v…

 E: Ép buộc; Ép uổng v.v…

 G: Gắp lửa bỏ tay người; Gia trưởng; Giả dối; Giàu ghen, khó ghét; Giậu đổ bìm leo v.v…

 H: Hách dịch; Hiếu chiến; Hòa cả làng; Hô khẩu hiệu suông; Hứa hão v.v…

 I: Ích kỷ hại người v.v…

 K: Khoe khoang; Khôn lỏi; Không đúng giờ; Không chính kiến; “ Khuỳnh”; Kỳ vĩ v.v…

 L: Làm láo, báo cáo hay; Làm liều; Làm theo phong trào; Lập lờ nước đôi; Lệ làng; Lý nhẹ hơn tình v.v…

 M: Mạnh ai nấy chạy; Mất đoàn kết khi sung sướng, đầy đủ; Mê tín v.v…

 N: Ném bùn sang ao; Nịnh trên nạt dưới; Nhai to; Nhậu nhẹt triền miên; Nhổ bậy; Nhếch nhác; Nghĩ ngắn hạn (tư duy nhiệm kỳ); Ngoáy mũi nơi đông người; Nói dai, nói dài, nói dại; Nói một đằng, làm một nẻo; Nói to nơi công cộng; Nói phách (nói khoác lác); Nể nang; Nửa vời v.v…

 O: Oai hão; Ôm đồm; Ôm rơm rặm bụng; Ông giơ chân giò, bà thò nậm rượu (thông đồng làm việc khuất tất) v.v…

 P: Phép vua thua lệ làng; “Phong bì” (hối lộ); Phô trương; Phung phí v.v…

 Q: Qua cầu rút ván; Qua loa đại khái; Quan liêu; Quan trọng hóa vấn đề; Quy hoạch treo v.v…

 R: Ra oai; Ranh vặt; Rượu chè v.v…

 S: Sai hẹn; Sĩ diện hão; Sính ngoại; Sợ trách nhiệm; Sợ người khác giỏi hơn mình v.v…

 T: Tâm lý vùng (địa phương hẹp hòi); Tiểu nông, tiểu trí; Tiểu xảo; Tiểu khí (tiểu nhân, hạn hẹp); Tham nhũng; Thấy kẻ sang bắt quàng làm họ; Thụ động; Tư duy nhiệm kỳ; Tự ti dân tộc nhược tiểu v.v…

 U: Ưa xiểm nịnh; Ức hiếp kể yếu; Ừ hữ cho qua; Ương ngạnh v.v…

 V: Vặt vãnh; Vẽ vời; Vênh váo; Vị kỷ; Vị nể; Viển vông; Viết, vẽ bậy nơi công cộng; Vòi vĩnh; Vung tay quá trán v.v…

 X: Xa dân; Xa rời thực tế; Xả rác nơi công cộng v.v…

 Y: Ỷ lại; Ỷ quyền thế; Ý thức tập thể, cộng đồng kém v.v…

GS.TSKH Trần Ngọc Thêm, cho rằng, tất cả những tật xấu của người Việt đều có nguyên nhân từ nền văn hóa âm tính, nó nhằm đưa đến sự ổn định, nhưng trở ngại rất lớn cho sự phát triển, cộng với nhiều tật xấu phát sinh.

Ông nói: “Cả giá trị và tật xấu đều do những đặc trưng nhất định của văn hóa truyền thống sinh ra. Chẳng hạn, đặc trưng tính cộng đồng làng xã mang lại những phẩm chất tốt như tình đoàn kết, tinh thần tập thể, lòng yêu quê hương, lòng biết ơn... thì đồng thời cũng là cội nguồn sinh ra những tật xấu như thói bè phái, bệnh hình thức, bệnh sĩ diện, háo danh, bệnh thành tích. Đặc trưng tính linh hoạt mang đến phẩm chất sáng tạo, khả năng thích nghi cao thì cũng là cội nguồn sinh ra thói tùy tiện, cẩu thả, khôn vặt, bệnh thiếu ý thức pháp luật. Tổng hợp các đặc trưng mang đến phẩm chất tinh tế, nhân ái, yêu nước, tinh thần dân tộc cho người Việt thì cũng mang lại luôn cả bệnh giả dối, nói không đi đôi với làm...”.

Cũng theo ông: "Một nền văn hóa âm tính đậm đặc, với những con người lúc nào cũng chỉ lo "ổn định" luôn có một lực lượng bảo thủ không cho phép phái cấp tiến làm gì tới nơi tới chốn”.

Cảm tính của người Việt Nam quá nặng nên nó làm mất quân bình cho cả một dân tộc về con người và sự phát triển của đất nước, cả về mặt tinh thần lẫn tổ chức xây dựng cộng đồng xã hội, ảnh hưởng đến cả trong tín ngưỡng và tôn giáo – về tổ chức và trong sự nhận thức về tâm linh.

SỰ QUÂN BÌNH GIỮA CẢM TÍNH VÀ LÝ TÍNH

Luật quân bình là cần thiết cho mọi vật, đặc biệt đối với con người trong lãnh vực tinh thần. Như đã trình bày ở mục chức năng của hai bán cầu não, chung quy, người mang cảm tính nặng chú trọng về tình cảm, mềm dẻo, ý tưởng sáng tạo dồi dào, nhưng làm việc thiếu hệ thống, bấp bênh trong suy nghĩ, trong phán đoán và hành động. Họ hay thay đổi, dễ chán nản, tin vào cảm xúc của mình nên mắc nhiều khiếm khuyết trong quyết định, dễ hỏng việc trong hành xử, có thể đi đến sai lầm. Ngược lại người thiên về lý tính làm việc có kế hoạch, chắc chắn, kiên trì, nhưng dễ bị khô cứng trong lối tư duy, trong suy luận và trong kế hoạch hành động. Họ thiếu sự sáng tạo, ít hòa hợp, khe khắt và khó chọn người cộng tác, căn cứ trên suy luận nên thiếu sự linh động và khó cảm thông với người khác, có thể lệch lạc hoặc nhận định sai lầm trong những cảm xúc của người khác.

Để có được sự quân bình, cần phải biết học hỏi và trau dồi cả về tâm và trí. Cái tâm là toàn thể đời sống nội tâm, bao gồm là ý chí, tình cảm, cảm xúc, tâm linh và những tri giác về thế giới, về con người xã hội trong sự liên đới với nhau. Cái tâm cần được chân lý soi sáng và dẫn dắt chứ không phải tin và căn cứ trên cảm xúc của mình. Cái trí là khả năng phán đoán, khả năng suy luận, đi từ tiền đề (có tính khái niệm), qua từng bước để kết luận vấn để, được kiểm nghiệm bằng thực tế. Theo quy trình phải qua từng bước: quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, đặt giả thuyết, kết luận và chứng minh bằng phương pháp luận lý trên cơ sở khoa học.

Thực ra để học hỏi và trau dồi về tâm và trí cho được quân bình là điều khó, ngay trong những ngành giáo dục, từ tiểu học đến đại học, người ta thường chú trọng về trí là chủ yếu - dù vẫn có những môn học về nhân văn - nên đây là một khiếm khuyết khá lớn trong giáo dục, người đi học cần biết tự trau dồi mới có thể bù đắp cho khoảng trống này. Tây phương có nguồn gốc là du mục nên dương tính nhiều, thiên về trí nên họ rất sắc xảo và phát triển về khoa học, cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học thực nghiệm và kỹ thuật. Vì vậy vấn đề cảm tính – cảm xúc – ít hơn.

Người Á Đông có nguồn gốc từ nông nghiệp, nên âm tính rất nhiều, có khuynh hướng thiên về cảm tính, lý tính ít được chú trọng. Để được quân bình, những triết lý của Đông phương đã điều chỉnh giúp con người lấy lại quân bình rất hữu ích, triết học được gọi là Đạo học, tiêu biểu nhất là Khổng, Phật và Lão. Tuy nó cao siêu nhưng ai cũng có thể áp dụng được, từ thấp lên cao, tùy theo căn cơ tu dưỡng của mỗi người. Tuy đây chỉ là vấn đề thuộc tinh thần giúp con người hòa hợp được giữa tâm và trí, tìm được lẽ sống ở đời, dựa vào những chân lý của trời đất.

Trong kinh dịch, con người và vạn vật đều bị chi phối bởi quy luật Âm Dương. Để được quân bình thì âm dương phải hòa hợp, cân bằng, nương tựa vào nhau để tồn tại. Nếu dương thịnh thì phát triển nhưng mạnh quá sẽ đi đến đổ vỡ, ngược lại nếu âm thịnh thì được ổn định nhưng nhiều quá sẽ bị trì trệ và suy thoái. Nó theo quy luật “dương thịnh âm suy” và ngược lại, nên tùy tình hình, tùy thời mà áp dụng cho thích hợp. Cảm tính thuộc về Âm, lý tính thuộc Dương, nên điều chỉnh để áp dụng cho con người và tổ chức xã hội cũng theo quy luật này. Thuần âm hoặc thuần dương là tự hủy diệt, luôn luôn trong âm có dương và trong dương có âm như cái mầm để nuôi sống. Cũng như Âm hoặc Dương nếu đi tới đỉnh điểm của nó sẽ bị biến động bởi luật tương phản là: “Dịch cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu”. Nhưng nếu để nó tự biến hóa, hẳn con người phải trải qua những gay cấn, nguy khốn khôn lường, một khi không biết lường trước để tự điều chỉnh cho mình cũng như cho như xã hội.

Đức Khổng đã thâu tóm tinh hoa tư tưởng đạo lý của những thế hệ trước để khai mở ra Đạo Trung Dung, nó hợp với mọi tầng lớp và đắng cấp xã hội, từ thứ dân cho tới quan quyền lãnh đạo. Trung là ở giữa, không thiên lệch bên nào, không thái quá (cực đoan, cố chấp…), không bất cập (vô tâm, bất chấp, bất cần…). Dung là giữ thường thường ở một mực không thay đổi, không bị biến thái, biến dạng lúc nặng lúc nhẹ theo cảm tính hay lý tính thiên lệch: “QUÂN TỬ THỜI TRUNG” (Quân tử xử kỷ tiếp vật lúc nào cũng tùy thời mà giữ cho vừa phải và chính đáng).

Nhà Phật có giáo lý gọi là Trung Đạo, là con đường ở giữa, tức là sắc sắc - không không (sắc tức là không, không cũng là sắc – có mà không, không mà có). Nghĩa là không có sự cố chấp hay bám víu vào bất cứ cái gì, không lệ thuộc vào cái có, không nô lệ vào cái không. Nó không cho phép câu nệ, ràng buộc, chấp chiếm, thiên lệch vào bất cứ sự việc sự vật nào. Không mắc vào hai cực đoan “có và không” mà chọn con đường giữa. Hơn nữa nhà Phật còn đề ra ba trụ chính là Bi – Trí – Dũng để củng cố, trau dồi và luyện tập giúp con người vượt lên trên mọi vật, nhận ra và thực hành chân lý chứ không nô lệ vào cảm tính (cảm quan) hay lý tính (sở tri chướng)

Lão Tử thì chủ trương đạo Vô Vi, nó là Đạo giúp con người thoát khỏi những tham vọng làm chủ tâm trí, trong đó, lòng tham và sự yêu ghét là những dục vọng tác hại nhất. Vô Vi là: “vi vô vi, sự vô sự, đại tiêu đa thiểu, báo oán dĩ đức” (làm Mà không làm, lo mà không lo, nếm mà không mùi, xem lớn như nhỏ, coi nhiều như ít, lấy đức báo oán). Và: “Dĩ kỳ bất tranh, cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh” (Không tranh với ai cho nên không ai tranh giành với mình được).

KẾT

Như đã trình bày ở phần đầu, lý trí hay lý tính có nhiệm vụ tìm ra sự thật, tìm ra chân lý để dẫn dắt, soi sáng cho những hành vi của con người khỏi lầm đường lạc lối. Cảm tính, cảm xúc hay tình cảm lại rất cần cho cuộc sống, là động lực thúc đẩy để con người hành động, làm cho đời sống thêm phong phú, sáng tạo, sinh động, tạo nên một tâm hồn có sức sống, nhạy cảm, nhiệt huyết, được chan hòa tới mọi người và mọi vật.

Để được như vậy, yếu tố giáo dục là cực kỳ quan trọng, mà nói đến giáo dục thì phải mang tính toàn diện, từ gia đình, trường học, xã hội, pháp quyền, cách riêng và đặc biệt là trong lãnh vực tôn giáo. Nhưng dường như giáo dục ngày nay có quá nhiều khiếm khuyết, còn nhiều lỗ hổng trong chương trình, trong kế hoạch để xây dựng con người và xã hội được tốt đẹp, hoàn bị cả về Tâm và Trí.

Vì vậy sự xáo trộn, bất an, nhiều hiện tượng xấu luôn xảy ra cho mỗi cá nhân và xã hội. Như GS. Trần Ngọc thêm nhận xét về đất nước: “Nói đến giáo dục phải nói tới một nền giáo dục trọn vẹn, nghĩa là giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình, cộng với giáo dục xã hội. Hiện nay giáo dục xã hội không làm tròn được nhiệm vụ của mình vì đứa trẻ ra đường toàn thấy những chuyện xấu xa. Hệ thống truyền thông của chúng ta chưa phải là chuẩn mực. Giáo dục gia đình cũng bị buông xuôi vì con người hiện nay chạy theo kinh tế. Tất cả những cái đó cho thấy hệ thống giáo dục đang bị vỡ ra thành từng mảnh”.

Cũng như Andrew Chrucky, TS. Triết học, Trường Đại học FordhamUniversity, Hoa Kỳ nói: “Giáo dục tổng quát - được hiểu một cách đúng đắn - bao gồm giáo dục nhận thức, đạo đức và cảm xúc. Và nếu giáo dục tổng quát được coi như một thứ nằm ngoài phạm vi của luân lý, thì nền giáo dục đó sẽ tạo ra những kẻ ngụy biện, chứ không phải những người biện chứng, biết dùng kỹ năng nhận thức để nâng cao đạo đức theo một cách có sự kiểm soát của cảm xúc”.

Nếu thuần cảm tính thì gần giống với tâm lý ở các động vật không có lý trí, còn nếu thuần lý tính thì cũng giống như những Robot vô cảm chỉ biết hành động theo lập trình sẵn có. Nó đều nguy hại. Nhưng con người sống cần có tâm hồn, con tim, ý chí và lý trí lành mạnh, quân bình, để sống cho mình, cho người khác và cho cộng đồng xã hội. Đó là sự hòa hòa hợp giữa cảm tính và lý tính.

Hàn Cư Sĩ

Wednesday, January 27, 2016

Mặc cảm về nhân tài

Tâm lý mặc cảm về nguồn gốc xuất thân và sự thiếu hụt nhân tài lãnh đạo đất nước trong thời bình của người Việt.

1. Vài năm trở lại đây, cứ như một thông lệ trong mỗi dịp xuân về, không ít thì nhiều dân chúng cả nước lại được nghe những người đã hoặc đang giữ cương vị lãnh đạo nước nhà bàn về hai đề tài cũ mèm. Một là chuyện hòa hợp, hòa giải dân tộc, hai là chính sách tìm kiếm và đãi ngộ nhân tài nhằm xây dựng và phát triển đất nước trong thời bình. Thật lòng, không hiểu sao mỗi khi nghe các vị “đức cao vọng trọng” nước nhà phát biểu về hai vấn đề cũ mèm này bản thân tôi vừa “dị ứng” vừa thấy lòng buồn vô hạn. Vì lẽ, nghe các vị phát biểu tôi buộc phải nghĩ đến vận mệnh và tương lai của nước nhà sao cứ mãi quẩn quanh, năm này qua tháng nọ đi trên con đường không có lối ra.

Thử hỏi đất nước đã thống nhất, giang sơn đã thu về một mối kể ra có hơn nửa đời người rồi vậy mà năm này qua tháng nọ hai chuyện trên vẫn - cứ - phải - mang ra nhắc đi nhắc lại là sao?

Điều này, theo tôi ít nhiều cũng đã nói lên một sự thật: nội lực quốc gia hiện nay vẫn đang bị phân tán rất nhiều và không biết đến khi nào mới thật sự hòa hợp, thống nhất. Thứ nữa, thiển nghĩ những người đã và đang nắm quyền cai quản nước nhà có thực sự muốn hòa hợp dân tộc và tìm kiếm nhân tài thật sự để xây dựng đất nước phồn thịnh hay không?

Bởi nếu muốn thì theo tôi đây là chỗ không nên nói nhiều và nói trùng lắp mãi mà phải nhanh chóng bắt tay vào làm ngay thôi. Vì đất nước, quốc gia đến nay theo tôi, cái “nguyên khí” đã và đang vơi đi nhiều lắm rồi; nguồn tài nguyên “rừng vàng biển bạc” mà tạo hóa ban tặng cũng đang dần bị thu hẹp và việc khai thác gần như muốn cạn kiệt rồi... Vậy nên, thời điểm này mà vẫn ngồi “rung đùi” bàn chuyện hòa hợp dân tộc và tìm kiếm nhân tài thì có phải là quá muộn màng và kỳ cục lắm không? Có thể có ai đó cho rằng mới nửa đời người mà làm được bao nhiêu chuyện là giỏi lắm rồi nhưng thử hỏi nửa đời của hơn 90 triệu dân cộng lại thì sao, có chua xót và cay đắng không?

Thôi thì ở đây, vấn đề hòa hợp dân tộc xin tạm thời gác lại, sẽ bàn vào một dịp khác. Bài viết này chỉ xin góp vài ý kiến xung quanh chuyện tìm kiếm nhân tài.

2. Có một thực tế mà ai cũng thấy ở nước ta thời gian qua là, mỗi khi có một người “nổi tiếng” (nhất là những người từng giữ cương vị lãnh đạo cấp cao trong bộ máy chính quyền) nào đó mất đi thì qua các phương tiện truyền thông công chúng sẽ biết được trong các bài điếu văn, trong các sổ tang gia đình tràn ngập những lời ca tụng, biểu dương công đức người vừa nằm xuống như những “nhân tài kiệt xuất” của đất nước. Nào là “vĩnh biệt đồng chí kiên trung”, “vĩnh biệt người con ưu tú của...”, “vĩnh biệt nhà lãnh đạo tài ba”; nào là “đồng chí là tấm gương sáng ngời, suốt đời tận tụy vì dân, vì nước....”, v.v...

Vẫn biết “nghĩa tử là nghĩa tận”, vẫn biết “uống nước nhớ nguồn” là đạo lý và truyền thống cao quý của dân tộc cần phải gìn giữ, với lại, cũng không ai có quyền ngăn cấm việc thể hiện tình cảm yêu thương, sự mến mộ của ai đó đối với người đã khuất. Tuy vậy, ở một góc nhìn khác, tôi tin là bất cứ một người Việt Nam nào thật lòng quan tâm, trăn trở với hiện tình đất nước cũng ít nhất một lần tự đặt câu hỏi tại sao Việt Nam có rất nhiều “nhân tài kiệt xuất” như vậy nhưng đến nay nước nhà vẫn lẹt đẹt và không thể hóa rồng? Lẽ ra, với truyền thống dày dặc nhân tài như vậy thì Việt Nam phải bay cao, bay xa từ lâu rồi chứ không thể ì ạch mãi thế này?

Chưa hết, như mọi người đã biết, Đảng là tổ chức nắm quyền lãnh, chỉ đạo trong mọi đường hướng phát triển đất nước và dân tộc suốt mấy mươi năm qua. Và lâu nay việc kết nạp người vào hàng ngũ của Đảng đều phải tuân theo một quy trình rất chặt chẽ và ngặt nghèo, chỉ có những người thật sự có Đức, có Tài và lý lịch “ba đời trong sáng như gương” thì mới được xét cho vào. Theo cái logic thông thường mà suy thì những người đã và đang nắm quyền lãnh đạo trong bộ máy nhà nước và chính quyền hẳn nhiên phải là những cá nhân ưu tú và xuất sắc nhất (theo nghĩa những nhân tài của đất nước). Thế thì tại sao mấy mươi năm qua những “nhân tài” này vẫn không thể đưa đất nước “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như mong mỏi của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời?

Từ hai nghịch lý trên, người viết bài này “trộm” nghĩ hay là Việt Nam từ khi đất nước hòa bình thống nhất đến nay ít có hoặc không có nhân tài thật sự ngoài đời mà chỉ có nhân tài tồn tại trong trí tưởng tượng của những người dân vì quá yêu, quá hâm mộ, quá “thần tượng” đồng đội, đồng chí trong tổ chức, cơ quan, làng xã của mình thôi? Cho nên, mỗi khi “thần tượng” của mình qua đời thì vì “nghĩa tử là nghĩa tận” nên mạnh ai nấy thần thánh hóa “thần tượng” lên như những anh hùng xuất chúng của dân tộc? Phải chăng vì vậy mà đi suốt chiều dài nước Việt đến đâu người ta cũng thấy tượng đồng bia đá, nhà mồ, nhà tưởng niệm, đền đài, lăng tẩm rất nguy nga tráng lệ dành cho những “nhân tài kiệt xuất” ấy?

Công bằng mà nói, nếu căn cứ vào sự đánh giá của nhân dân dành cho những lãnh đạo sau khi họ mất đi thì gần đây nổi bật lên là hai nhân vật có thể xem là nhân tài của đất nước trong thời bình. Một là cố thủ tướng Võ Văn Kiệt và hai là ông Nguyễn Bá Thanh – nguyên Bí thư Đà Nẵng và Trưởng ban Nội chính Trung ương. Tuy vậy, nếu so sánh hai nhân vật này với Lý Quang Diệu và Lý Hiển Long ở Singapore thì theo tôi hai người tài của Việt Nam vẫn chưa đủ “tầm phủ sóng” để có thể hiệu triệu toàn dân, từ đó tạo ra động lực thật sự để xoay chuyển vận mệnh của đất nước. Dĩ nhiên, so sánh như thế là khập khiểng, tuy nhiên, qua so sánh này tôi muốn lưu ý rằng, trong nhiều trường hợp người Việt cần phải hết sức cẩn trọng trong việc phong “nhân tài” cho các lãnh đạo trong nước. Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, nếu chúng ta vẫn cứ “đóng cửa” và tự phong “nhân tài” cho nhau thì có khác gì đang một mình... “tự sướng” trong đêm đen?

Nói cách khác, qua đây cho thấy thời gian qua người Việt dường như đang có sự nhầm lẫn trong quan niệm và quá dễ dãi khi phong danh hiệu “nhân tài” cho một lãnh đạo hay một cá nhân nào đó.

Tuy chưa có một công trình nghiên cứu nào nhằm so sánh mật độ nhân tài giữa các nước trên thế giới nhưng tôi tin rằng nếu có một công trình như thế thì Việt Nam chí ít cũng sẽ có thêm một kỷ lục thế giới về mật độ “nhân tài” trong dân chúng. Bởi không biết tự lúc nào hễ nghe tin một anh nào đó được bổ nhiệm vào một vị trí lãnh đạo cao hơn trong bộ máy nhà nước; hay anh nào đó vừa “lấy xong cái Tiến sĩ”, vừa mới được phong GS hay PGS... thì cả làng, cả xóm, cả tỉnh, cả nước gọi đó là “nhân tài” và “phong Thánh” mà chẳng thèm xem xét anh ta đã có đóng góp gì thiết thực cho dân cho nước hay chưa; chẳng thèm tìm hiểu việc thăng quan tiến chức của anh ta có minh bạch, có đường hoàng hay vì phe phái và lợi ích nhóm nên được nâng đỡ và tâng bốc lên?

Chính sự nhầm lẫn và dễ dãi này, theo tôi đã dẫn đến một hệ lụy là lâu dần cả một dân tộc quay cuồng trong căn bệnh háo danh, khoe mẽ và nhất là “thùng rỗng kêu to” lúc nào không hay. Từ đó làm cho việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài nhất là nhân tài trong hàng ngũ lãnh đạo và quản lý đất nước rơi vào cảnh “vàng thau lẫn lộn”, người thực tài và có tâm với đất nước thì bị vứt ra bên lề xã hội và ngược lại.

Không những vậy, nhìn ở góc độ văn hóa, sự nhầm lẫn và dễ dãi trong quan niệm về “nhân tài” của người dân thời gian qua cũng ít nhiều nói lên cái tâm lý mặc cảm về nguồn gốc xuất thân và sự thiếu hụt nhân tài thật sự của cả dân tộc. Người ta đua nhau để được lên quan, để được gọi là GS, TS, để trở thành người nổi tiếng, để rạng danh dòng tộc bằng con đường bất lương và thiếu minh bạch là một trong những biểu hiện rõ nhất cho cái tâm lý mặc cảm này. Điều này vô tình đã tạo ra cái hệ lụy rất nguy hiểm là có không ít người thay vì dũng cảm nhìn vào sự thật về hiện tình của đất nước trong thời điểm hiện tại để mà thay đổi thì lại bấu víu vào những ánh hào quang xưa cũ của các vị tiền nhân, xem đó như là cứu cánh, là phép mầu rồi biện hộ, lấp liếm cho những sai lầm trong quá trình lãnh đạo của mình.

3. Đất nước muốn ổn định và phát triển thì nhất định phải có sự hòa hợp của cả dân tộc. Nhưng muốn có sự hòa hợp của cả dân tộc thì xã hội cần có một hành lang, một không khí “đối thoại” chân thành và dân chủ giữa lãnh đạo, chính quyền với mọi tầng lớp nhân dân hay giữa các tầng lớp nhân dân với nhau. Nói cách khác, nếu không có không khí “đối thoại” chân thành và dân chủ này (mà chỉ là sự “độc thoại”, muốn nói gì thì nói từ một phía nào đó) thì mọi chính sách dù đúng đắn đến mấy cũng rất khó đi vào đời sống, rất khó trở thành hiện thực.

Bởi lẽ, trong cuộc sống những suy nghĩ và lời nói chân thành là rất cần thiết nhưng vẫn chưa đủ vì nó không quan trọng bằng những hành động và việc làm cụ thể nhằm hiện thực hóa suy nghĩ và lời nói ấy. Cho nên, nói cho cùng một đất nước muốn phát triển và thịnh vượng thì những lời nói cùng những việc làm chân thành từ phía người lãnh đạo là một trong những nhân tố quan trọng nhất. Có được điều này rồi thì chắc chắn nhân tài của đất nước sẽ xuất hiện và tự nguyện chung tay góp sức xây dựng quê hương thôi. Khi ấy, “nguyên khí quốc gia” chắc chắn cũng sẽ theo đó mà sung mãn, tràn trề mà không cần đến những phong trào “trải thảm đỏ” để thu hút, tìm kiếm nhân tài mang nặng tính hình thức như hiện nay.

Nguyễn Trọng Bình

Nguồn tham khảo:

1. Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan nói về giải pháp để thu hút nhân tài. http://vov.vn/…/nguyen-pho-thu-tuong-vu-khoan-noi-ve-giai-p…
2. Hòa hợp dân tộc: Mong người trên ngựa chìa bàn tay. http://vietnamnet.vn/…/hoa-hop-dan-toc--mong-nguoi-tren-ngu…

Trí thức lỏng

Căn bệnh “trí thức lỏng” của nước ta vẫn ngày càng phát triển và chưa có biện pháp nào hữu hiệu ngăn chặn. Nạn háo danh đang hành xác trí thức!

Những người Việt trên dưới 60 tuổi được xem là thế hệ bắt đầu của một nền giáo dục dưới chính thể mới. Dạo đó không ít các nhà quản lý giáo dục hể hả tuyên bố một câu xanh rờn “chúng ta tự hào khi có thể giảng dạy tiếng Việt ở bậc đại học”. Sự tự mãn quá lớn này đã để lại hậu quả là hầu hết các trí thức của ta được đào tạo trong nước từ năm 1954 đổ lại đây đều không sử dụng thành thạo nổi một ngoại ngữ. Điều này làm ta chạnh lòng khi nghĩ đến thế hệ cha ông ta thời Pháp chỉ mới ở trình độ sơ học yếu lược - tương đương lớp 5 hiện nay đã có thể nói và đọc tiếng Pháp như tiếng mẹ đẻ. Nhưng thôi, tạm coi hiện trạng “mù ngoại ngữ” này như một tồn tại lịch sử của một thời ấu trĩ trong giáo dục.

Còn hiện nay trong xu thế sĩ diện, thích tự hào, kiêu hãnh, thích lập kỷ lục ở nhiều lĩnh vực nên chúng ta trong một vài năm gần đây thường háo hức với những danh từ tự phong như “cường quốc thế giới về đóng tàu” khi Vinashin chưa bị đổ bể. Rồi gần đây các nhà quản lý văn nghệ lại hào phóng hô to “Việt Nam ta là “cường quốc thơ” “khi phong trào nhà nhà làm thơ, người người làm thơ dẫn đến tình trạng lạm phát thơ. Trở lại lĩnh vực giáo dục, gần đây các nhà quản lý lại kiêu hãnh khoe “Việt Nam là quốc gia đứng đầu Đông Nam Á về số lượng giáo sư, tiến sĩ”.

Tính sơ sơ Việt Nam ta hiện nay với gần 90 triệu dân thì đã có tới 24.000 tiến sĩ , 9.000 giáo sư. Nếu chia bình quân số người có học vị này so với thế giới thì quả là đáng tự hào. Nhưng đáng buồn thay, sau con số hoành tráng về trí thức này là cả một thực tế thê thảm về trình độ học vấn của Việt Nam ta cũng như trình độ thực của các nhà khoa học nước ta.

Theo con số được công bố thì Việt Nam có tới gần 400 trường đại học, cao đẳng thuộc các ngành nghề, các viện tương đương… nhưng tệ hại thay không có trường nào lọt vào danh sách 500 trường đại học danh giá trên thế giới. Đã gọi là các nhà trí thức là tiến sĩ, giáo sư thì tiêu chuẩn đầu tiên là công trình nghiên cứu khoa học hằng năm và quy chuẩn nhất là các nghiên cứu này được đăng ký bằng sáng chế tại Mỹ.

Tình hình này ở Việt Nam ta ra sao? Với 33.000 nhà khoa học nhưng giai đoạn 2000-2006 nước ta vẻn vẹn có 19 bằng sáng chế. Giai đoạn 2007-2010 Việt Nam chỉ còn 5 bằng sáng chế. Năm 2011 số bằng sáng chế của Việt Nam ta đăng ký tại Mỹ lại là con số 0 tròn trĩnh. Cũng trong năm 2011 chưa nói đến các nước có trình độ kinh tế hiện đại, tri thức tiên tiến như Nhật Bản, Hàn Quốc… Mà chỉ so sánh trong khu vực thì vùng lãnh thổ Đài Loan với 23 triệu dân có tới 8.781 bằng sáng chế. Còn các nước vùng Đông Nam Á thì năm 2011 cũng là năm bội thu về số lượng bằng sáng chế đăng ký tại Mỹ. Singapore với 4,8 triệu dân có tới 647 bằng. Malaysia với 27,9 triệu dân có 161 bằng, Thái Lan với 68,1 triệu dân có 53 bằng….

Nguyên nhân của thực trạng đáng buồn này do đâu? Nước ta hiện nay ra ngõ không chỉ gặp nhà thơ mà còn gặp giáo sư, tiến sĩ hay thạc sĩ. Nhưng trong đội ngũ giáo sư, tiến sĩ đó thì có đến hơn 70% không dính dáng gì đến nghiên cứu khoa học, thậm chí cả đời không viết một bài báo nào có tính khoa học. Đa số các vị có bằng cấp này đều làm chức vụ hành chính. Ông Phạm Bích San, Tổng thư ký Liên hiệp các hội khoa học, kỹ thuật Việt Nam đã ngao ngán nhận xét rằng: Chúng ta gần như không có ai có nghiệp khoa học… quên mình vì khoa học được ghi nhận bằng các giải thưởng quốc tế tầm cỡ”.

Hình như sau hàng loạt nghị quyết khuyến khích sử dụng bằng cấp, đào tạo 20.000 tiến sĩ đã khiến cho thị trường bằng cấp càng có đà phát triển. Người ta tìm mọi cách để có được tấm bằng cao học, có học hàm học vị làm điểm tựa tiến thân thay vì xả thân cho sự đào tạo, nghiên cứu nghiêm chỉnh. Trên danh thiếp, trong lời giới thiệu tại hội nghị, hội thảo, người ta sính và coi như mốt thời thượng giới thiệu học vị đi liền với chức sắc. Những vụ việc phát giác ông thứ trưởng, ông giám đốc sở, ông vụ trưởng nọ kia dùng bằng giả… đã trở thành phổ biến hơn ở nước ta. Phải chăng chính sự yếu kém của các nhà trí thức Việt Nam như vậy nên chẳng những nền giáo dục của ta đang là một nền giáo dục yếu kém, nhiều bất cập nhất mà Việt Nam cũng là một quốc gia có vị trí thấp trong thang bậc trí tuệ toàn cầu (hạng 76 trên 141 quốc gia được đưa vào xếp hạng).

Nghĩ lại một thời không xa trí thức thế giới nghiêng mình khâm phục trí tuệ và công trình của những nhà trí thức lớn của Việt Nam như Giáo sư Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Tôn Thất Tùng… Chúng ta càng lo lắng khi căn bệnh “trí thức lỏng” của nước ta vẫn ngày càng phát triển và chưa có biện pháp nào hữu hiệu ngăn chặn. Nạn háo danh đang hành xác trí thức!

Muốn to bằng…con bò

Tôi cứ nhớ mãi hồi còn học lớp Dự bị (cours preparatoire, tương tự như lớp 2 lớp 3 bây giờ), vớ được cuốn thơ song ngữ “Thơ ngụ ngôn La Fontaine” (Les fables de La Fontaine), đọc lấy đọc để, đọc đi đọc lại, khoái trá. Cụ Nguyễn Văn Vĩnh dịch thơ rất dễ nhớ, mà những tranh minh họa của họa sĩ Mạnh Quỳnh theo kiểu comique (hý họa) thì quá gây ấn tượng, xem một lần là nhớ đến già. Một trong những bài gây ấn tượng nhất có lẽ là bài “Con nhái muốn to bằng con bò”:

Con nhái nom thấy con bò,
Hình-dung đẹp-đẽ, mình to béo tròn.
Nhái bằng quả trứng tí-hon.
Lại toan cố sức bằng con bò vàng.
Ngậm hơi, cổ bạnh, bụng trương;
Kêu: – Chị em đến xem tường cho ta.
Đã bằng chưa, chị trông, nà?
Bạn rằng: – Còn kém! Nhái đà phồng thêm;
Hỏi rằng: – Được chửa, chị em?
Bạn rằng: – Chưa được; Phồng thêm ít nhiều.
– Chị ơi! Còn kém bao nhiêu?
Bạn rằng: – Còn phải phồng nhiều. Kém xa!
Tức mình, chị nhái oắt ta,
Lại phồng bụng quá vỡ ra chết liền…

Hồi ấy còn trẻ con, thấy khoái thì xem, nào có hiểu gì ý nghĩa sâu xa. Thế mà nay, chỉ còn 4 năm nữa đã thành “ông lão 80”, tôi mới đột nhiên nhớ lại.

Chả là bây giờ thấy cái gì người ta cũng muốn to, cũng muốn… hoành tráng khủng khiếp. Ừ thì con đường to để xe cộ đi cho dễ, cái siêu thị to để khách vào mua cũng sướng, cái tháp truyền hình thật cao để phủ sóng được xa, tốt thôi! Nhưng cái bánh chưng cũng muốn khổng lồ để vào Guinness, mà nhân làm bằng tấm xốp polyme thì để cho ma nó ăn à? Cả chiếc bánh dày, tô hủ tiếu, cái bánh tét cho đến cả chai rượu… cũng muốn khổng lồ nhất thế giới thì thật là… điên!

Xin lưu ý rằng ngay cả với những công trình lớn lao hữu ích thì cũng phải phù hợp với điều kiện và khả năng thực tế, không thể bắt chước những nước quá giàu, và nếu dùng kinh phí nhà nước (tức là của nhân dân) thì vẫn phải lắng nghe hoặc trưng cầu ý kiến của dân.

Huống chi, nay lại đến chiến dịch “tượng đài Bác Hồ”, tỉnh nào cũng ganh nhau sao cho có cái quảng trường thật rộng, có tượng “Bác” thật to, mà to đến mức tiêu tốn “kinh phí 1.400 tỷ đồng” thì xin thưa, nói khi vô phép chứ, thối không ngửi được ạ!

Nước mình còn thuộc loại nước lạc hậu, dân quá nghèo, sao không thương những em bé phải trượt ròng rọc qua sông đi học, những mẹ già nhặt rác kiếm sống qua ngày, những bệnh nhân phải chen nhau nằm cả dưới gầm giường bệnh viện, những nam nữ thanh niên nghèo phải đi làm như nô lệ khắp nơi… mà lại rửng mỡ định tự tiện đổ 1.400 tỷ đồng như “tiền chùa” vào một đại công trình không xuất phát từ nhu cầu thiết thực và từ mọi mặt của thực tiễn xã hội, nhất là nhận thức và tâm lý của xã hội hôm nay?

Người ta có thể đặt ra nhiều câu hỏi về nguyên nhân của bệnh dịch thích “hoành tráng giật gân” hiện nay nói chung và về tượng đài HCM nói riêng.

– Hoặc là háo danh muốn được ghi vào kỷ lục?

– Hoặc là tư duy nhiệm kỳ muốn để lại dấu ấn cá nhân thời mình tại chức?

– Hoặc về chính trị, muốn tự cứu bằng cách bao phủ xã hội bằng một hình tượng gọi là chủ nghĩa yêu nước đặc hiệu Việt Nam thoát khỏi hệ Mác-Lê đã hết thời?

– Hoặc là nương theo chủ trương chính trị ấy để tham nhũng mưu lợi riêng?

– Hoặc đây là phản ứng ngược của mặc cảm tự ti, tự gồng lên cho vĩ đại , tự tô vẽ, tự dối mình, hòng dối người, tự mê mình mà tự sướng, hòng che đậy khỏa lấp thực trạng bất lực, thấp kém, như cái bánh chưng khổng lồ bất chấp ruột bằng polyme độc hại?

Dẫu là nguyên nhân nào thì đây cũng là một hiện tượng dở, tiêu cực, nên tránh, nên dừng, nên bỏ. Song, điều đáng buồn là hầu như tất cả các nguyên nhân tiêu cực nói trên đều hiện hữu, đều ở cùng một phía và cộng hưởng với nhau thành sức mạnh để chống lại mọi tiếng nói tỉnh táo của lương tri, chẳng biết rằng khoe tượng đài cho lắm chính là tự khoe nền độc tài!

Trở lại bài thơ ngụ ngôn, tại sao anh hề tội nghiệp muốn to bằng con bò kia lại là con nhái mà không phải một con gì khác? Vì nó là con vật biết mình nhỏ bé quá thì đã đành, nhưng sao không phải là con chuột, con rắn, con chim…? Chim, chuột , rắn… không thể có ảo tưởng lớn bằng con bò vì chúng tự thấy mình không thể. Nhưng chàng nhái được trời phú cho những “ưu điểm” dẫn nó đến tự huyễn hoặc. Tác giả đã mô tả 3 năng lực ấy: Ngậm hơi, cổ bạnh, bụng trương! Quả là chỉ anh nhái bén mới có 3 ưu điểm khác đời này, chút tài năng bẩm sinh rốt cuộc đã làm hại nó.

Cuối cùng La Fontaine (*) cũng trở lại với xã hội con người:

Ở đời lắm kẻ thật điên,
Sức hèn lại muốn tranh tiên với người.
Dại thay những thói đua đòi
Vinh gì cuộc rượu trận cười mà ganh.
Để cho cơ-nghiệp tan-tành.

Những bài thơ ngụ ngôn đã ra đời cách đây hơn 300 năm mà sao như đang nói cho xã hội hôm nay? Ba trăm năm là bước tiến rất xa về kinh tế, về khoa học – kỹ thuật nhưng là khoảng cách không đáng kể về bản tính, về thói đời và nhân cách con người, về cuộc giằng co giữa “thú và nhân”, giữa thiện và ác.

Văn minh về khoa học-kỹ thuật phát triển nhanh ư, thì cả Thiện và Ác đều dùng những thành quả ấy làm công cụ cho mình. Công cụ ngày càng tinh vi và hữu hiệu chỉ càng khiến cho cuộc đấu tranh ngày càng gay cấn và ngụy trang phức tạp hơn thôi. Cái Ác ngày càng đội lốt Thiện một cách gần như hoàn hảo khiến cho giới duy cảm càng dễ bị lừa.

Nhưng xã hội càng bị lừa thì sự duy lý cũng được hun đúc thêm để ngày càng sắc sảo. Cứ thế, đấu tranh để tiến hóa là con đường bất tận.

Thế kỷ 21, dù Internet với những bàn phím đã gom trí thức cả loài người vào một tập đại thành khổng lồ, dù con người đã bay tới những hành tinh xa lắc thì những câu chuyện ngụ ngôn viết bằng lông ngỗng thuở xưa vẫn mãi là những viên đá lát đường nhận thức, chẳng bao giờ cũ.

Trước mắt ta những con nhái và những con bò vẫn nhởn nhơ vô tình nhắc mãi bài thơ cuộc đời “Dại thay những thói đua đòi, Vinh gì cuộc rượu trận cười mà ganh…”.

Hà Sĩ Phu
(*) Jean de La Fontaine (Lã Phụng Tiên) là nhà thơ ngụ ngôn danh tiếng nước Pháp, sinh ngày 8 tháng 7 năm 1621, mất ngày 13-4-1695 tại Paris, thọ 73 tuổi

Về văn hoá tranh luận

GS Ngô Bảo Châu nói: “Nếu không có phản biện thì xã hội coi như chết lâm sàng”. Cách đây 5 năm, TS Dương Ngọc Dũng thì cho rằng: “VN chúng ta thiếu văn hóa tranh luận, cái quan trọng để làm động lực cho sự sáng tạo, phát triển!”… Đúng là soi vào thực tế, có vô số chuyện về văn hóa tranh luận cần được mổ xẻ để mong sao ngày nào đó đất nước, xã hội VN mới phát triển, mới bình đẳng, văn minh thực sự.

Nếu đi dự các cuộc hội thảo, dự các buổi bảo vệ luận văn, luận án chẳng hạn, hoặc trước một vấn đề xã hội cần phản biện, tranh luận, chúng ta sẽ thấy không hiếm việc người ta gần như có “kịch bản” trước. Phát biểu quan điểm tranh luận thì giống như vuốt đuôi nhau: “Vấn đề anh phát biểu chúng tôi cơ bản nhất trí!…”. Nếu có bất đồng quan điểm thì đâm ra cãi nhau vì ghét nhau, ghen tỵ nhau, miệt thị nhau, có trường hợp “thượng cẳng tay, hạ cẳng chân” với nhau. Tranh luận không thắng, không hiếm khi người ta quay sang hiềm khích ngầm, thậm chí giấu mặt rồi triệt hạ nhau bằng những thủ đoạn đê hèn… Như vậy, rõ ràng là không có văn hóa tranh luận. Nếu có văn hóa tranh luận thì chắc chắn người ta sẽ hạn chế dùng bạo lực, hạn chế áp đặt đối với những người có ý kiến phản biện khoa học nhưng khác hoặc ngược với mình…

Hầu như tranh luận của ta chủ yếu quan tâm tới bản thân mình, nói thì sợ đụng chạm, sợ nói điều trái ngược, sợ mất quyền lợi: “Tôi không dám làm mất lòng anh vì lỡ ngày mai con gái tôi đám cưới chẳng hạn,  làm sao nhờ anh giúp được (?!)…“.

TS Dũng cho rằng văn hóa tranh luận của ta thấp vì xuất phát từ văn hóa làng xã, mà nói thẳng ra rằng cả nước VN là một “làng” lớn. Tri thức, văn hóa người Việt Nam không thấp nhưng tập trung lại ở bốn chữ “Dĩ hòa vi quý”. Người ta ngại không dám nói thẳng thật vì lấy “hòa” làm chính. Điều đó làm hạn chế sự độc lập, sáng tạo và phát triển văn minh.

Đúng ra, văn hóa tranh luận thường tôn trọng ý kiến của nhau, nhưng được tôn trọng hơn những vấn đề có ý kiến khác biệt và có lý. “Rõ ràng anh là hoa hồng thì phát triển thành hoa hồng, tôi là hoa nhài thì phát triển thành hoa nhài nhưng hai hoa phải tôn trọng nhau chứ?! Như vậy thì thế giới mới muôn màu muôn vẻ chứ, không lẻ bắt thế giới cứ tòan hoa hồng? Vì vậy, mọi sự tranh luận cần phải được tôn trọng và phải được nhân rộng…”. TS Dũng nói.

Một nguyên nhân khác mà VN thiếu văn hóa tranh luận có thể một phần do nền giáo dục một chiều. Cũng theo TS Dũng ở trên: Mô hình giáo dục của mình hiện nay là mô hình “cái phểu”. Trong đó, đầu ông thầy là “cái phểu” trên, đầu của học trò là “phểu” dưới. Kiến thức như nước rót xuống, số vào được “phểu” của trò phụ thuộc nhiều yếu tố may rủi và phần nhiều chảy ra ngoài. “Thực ra nền giáo dục hiện nay chỉ cần thay đổi một tý phương pháp là từ dạy theo kiểu cung cấp thông tin sang hướng dẫn người học xử lý thông tin, tạo nên sự tranh luận có văn hóa là mọi chuyện sẽ hiệu quả ngay…”. TS Dũng nói.

Tôi có hai câu chuyện nhớ mãi về văn hóa tranh luận, kể ra đây để quý vị xem và cho ý kiến thế nào.

Câu chuyện thứ nhất: Có anh bạn học đại học. Học sang năm cuối thì anh phát hiện ra khoa mình đang theo học có rất nhiều thầy, cô dạy dở, cung cấp những kiến thức lạc hậu của hơn chục năm về trước và lớp nào cũng bị “nhai đi, nhai lại” chừng đó. Anh cho rằng nếu cứ được (bị) dạy như thế thì sinh viên ra trường không làm việc được ngay do kiến thức lạc hậu, nên anh phân tích và được đăng trên một tạp chí chuyên ngành. Sau đó, anh bị cho “te tua” bằng nhiều “trò” từ những người bị anh “điểm” trên báo. Nhờ vững vàng, cuối cùng anh cũng tốt nghiệp. Đến nay anh vẫn còn đặt vấn đề: “Tại sao bị “phê” trên báo mà không ai dám lên tiếng trên báo tranh luận đàng hoàng, lại dùng các “tiểu tiết” khác?! Họ là giáo viên của tôi cơ mà!…”.

Câu chuyện thứ hai: Cơ quan tôi có dịp ra Vườn quốc gia Côn Đảo, nơi nổi tiếng thế giới về việc “quyến rũ” được rùa biển về đây sinh sôi, nảy nở nhiều. Một cán bộ nghiên cứu, cho biết, có rất nhiều cuộc hội thảo khoa học mang tầm quốc tế đã diễn ra ở đây. Có nhiều nhà nghiên cứu của các nước là nữ, rất thông minh, trẻ và đẹp. Thường vào giờ nghỉ, mọi người ra lặn biển, sau đó là ăn uống. Cảnh vật thơ mộng, lãng mạn, lại được các nhà nghiên cứu nữ thông minh, trẻ và đẹp “mời chào” tự nhiên, ít có “ông” VN nào cầm lòng được. Sau đó, ông nào cũng hoan hỷ, nghĩ rằng: “Hôm nay “anh” với “nàng” đã có tình cảm rồi nhé, đã ngủ với nhau rồi nhé! Ngày mai hội thảo, nếu phát hiện ra điều gì thì phải nhẹ tay nhé, chúng ta là “người tình” mà…”.

Ngày mai, vào hội thảo, những người tưởng vớ bẩm “được cả chì lẫn chài” hết sức bất ngờ vì tất cả những gì khiếm khuyết trong báo cáo khoa học của mình đều bị các “nàng” “vạch áo cho người xem lưng” hết, không nương tay chút nào, thậm chí còn nặng hơn! Ấy thế mà chiều đi tắm biển, “nàng” lại “trơ trẽn” gợi ý tiếp mới bực chứ!… Người kể câu chuyện kết luận: Qua nhiều lần như thế, chúng tôi mới nhận ra rằng với người nước ngoài, họ phân biệt rất rõ ràng giữa công việc, đặc biệt là nghiên cứu khoa học, với tình cảm, tình dục…

Vậy, bao giờ VN ta mới có văn hóa tranh luận đúng mức như thế?

"Vịt già xấu xí" và chuyện... mùi đồng!

Kẻ Chợ và... "cái Chợ"?

Không biết, họa sĩ, nhà nghiên cứu và phê bình mỹ thuật Phan Cẩm Thượng, một hôm xấu trời, buồn bã thế nào, mà lại khơi ra chuyện Hà Nội và "văn hóa Hà Nội thụt lùi, văn minh lịch sự còn xa lắm" - loại chuyện biết rồi, khổ lắm, nói mãi!

Nhưng đọc bài viết đó trong cơn mưa sầm sập. Để rồi nhìn cơ man những dòng người Hà Nội, nghìn nghịt trên đường phố, phút chốc "lóp ngóp" biến thành người Hà...Lội.

Quả thật, giữa cái kẹt xe khốn khổ, ướt át mùi cống rãnh, oi nồng bụi bậm, người Hà Nội khó mà ...lịch sự với nhau, nếu chẳng may có va chạm nhỏ. Chí ít, cũng là những đôi mắt "mang hình viên đạn" lập tức phóng thẳng về phía...đối phương. Sẽ cảm thông với nỗi thất vọng của ông hơn.

Bài viết của Phan Cẩm Thượng, thực ra đã khơi lại nỗi đau của những người yêu Hà Nội.

Khi họ ngày ngày phải chứng kiến sự lột xác một cách... "kinh hoàng" của thành phố này.

Từ cô nàng thiên nga yêu kiều thanh lịch, tinh tế và lãng mạn những năm xưa, bỗng chốc thành cô vịt, ả vịt già xấu xí, bẩn thỉu và thô lậu giữa chợ buổi đương đông. Vừa đáng chán, lại vừa... đáng thương.

Tại ai? Đã tạo nên 1 Hà Nội xô bồ, bát nháo, tục tằn, nửa quê nửa tỉnh. Một Hà Nội hiện đại xen quê kệch, và lẫn đâu đây chút hoài cổ, nhưng rất nhôm nhoam, xa lạ, và đi...ngược lại khái niệm cái đẹp?

Bài viết của tác giả Nguyễn Hòa: Thủ đô nghìn năm văn hiến và "văn hóa bãi bia" (Tuần Việt Nam, 1/8) đã phân tích khá kỹ, quá trình hình thành đô thị và sự nhập cư dồn dập của người tứ xứ về Hà Nội, gắn với những giai đoạn lịch sử của thời cuộc, nhất là những năm gần đây, tạo nên 1 Hà Nội "mới" hiện nay.

Nhưng cả 2 ông, Phan Cẩm Thượng và Nguyễn Hòa dường như mới chỉ "chạm" đến hiện tượng của 1 Hà Nội, là hệ lụy của quy hoạch phát triển không đồng bộ, quá tầm quản lý. Một Hà Nội của dân số đông, áp lực mưu sinh xô đẩy con người, thực dụng, tùy tiện, đến mức làm băng hoại cả văn hóa, đạo lý xã hội. Mà chưa đi đến tận cùng bản chất.

Ở góc độ khác, cần thấy, nó là nhân- quả của lối tư duy và cách làm văn hóa sống sượng, duy ý chí, thiếu tầm nhìn, áp đặt những giá trị văn hóa mang tính hình thức, không tôn trọng quy luật thực tiễn, và thiếu hẳn tính tổng thể, nhưng lại bị thả nổi trong... quản lý? Từ đô thị đến con người. Từ văn hóa vật thể đến văn hóa phi vật thể. Từ cái đẹp ngoại hình, diện mạo, đến cái đẹp tinh thần, mang hồn cốt Thủ đô 1 quốc gia.

Thế nên, quản lý văn hóa mà chưa hiểu hết văn hóa. Quản lý Hà Nội mà chưa hiểu hết Hà Nội. Thì khó có thể biết, Hà Nội cần gì, mong đợi gì. Khó có thể biết, Hà Nội yêu hay ghét, khổ đau hay...thất vọng?

Văn hóa, đâu phải đến từ những quan niệm cực đoan như trước đây, xóa bỏ chùa chiền, nhân danh "xóa bỏ tàn dư chế độ phong kiến". Thực chất đã không phân biệt nổi đâu là mê tín, đâu là nơi tinh thần, tình cảm và tâm linh con người cần được chia sẻ, hướng thiện, tìm kiếm sự bằng an tâm hồn. Để đến bây giờ, lại chuyển sang một cực khác, mê tín bói toán tràn lan... Nơi không ít quan chức tìm vận rủi may trong con đường thăng quan tiến chức?

Đó vừa là cái kém của quản lý, vừa là sự không phân định rõ những thang bậc giá trị của đời sống làm nên tinh thần nhân bản của con người.

Phải chăng, còn từ quan niệm xây dựng 1 nền "văn hóa mới", kèm đó là những phong trào "gia đình văn hóa mới, cụm dân cư văn hóa mới" bề nổi, hình thức và áp đặt? Trong khi, văn hóa là mưa dầm thấm lâu, là những giá trị đạo lý thẩm mỹ được sàng lọc qua thời gian, mang tính chuẩn mực, không thể có văn hóa cũ, văn hóa mới. Và văn hóa chỉ có thể hình thành trong xã hội pháp luật được tôn trọng và thượng tôn.

Thế nên, có rất nhiều gia đình "văn hóa mới" (nay thấy chỉ còn chữ văn hóa) nhưng khi xem xét chất lượng giáo dục, người ta tá hỏa. Vì trong khâu dạy người, thì yếu kém nhất, bê trễ nhất, hổng nhất, hỏng nhất là giáo dục...gia đình, tiêu chí không thể thiếu trong việc xây dựng nên gia đình văn hóa.

Có biết bao gia đình văn hóa (hình thức) "che giấu" những bi kịch gia đình? Không ai trả lời được.

Vì tiếc thay, tính sĩ diện hão của người Hà Nội đã gặp bệnh giả dối, nói dối của quản lý xã, phường.

Những cách ứng xử tục tằn, vô văn hóa kiểu "phở quát, bún mắng, cháo chửi", lối sống ích kỉ chỉ biết mình, mất vệ sinh, thiếu văn minh trong cộng đồng, tỷ lệ trẻ em hư, tỷ lệ nạo phá thai của các em gái, tệ nạn xã hội, và những tội ác kinh hoàng, mà tội phạm đang có xu hướng "trẻ hóa đội ngũ", liệu có liên quan gì tới tư duy văn hóa hình thức, thông qua các ...phong trào không?

GD tạo nên "chất lượng người" của quốc gia. Nhưng GD Việt Nam bao năm nay, loay hoay mỗi việc dạy chữ và ngày càng lún sâu vào căn bệnh dối trá khó có thuốc chữa trị. Còn việc dạy người thì đứng lẻ loi... ngoài cánh cửa trường.

Xã hội nghĩ gì khi nhìn thấy nam thanh, nữ tú đứng nghênh ngang trên đầu rùa, ngồi xoạc cả 2 chân lên mình rùa trong Văn Miếu Quốc Tử Giám, nơi tôn thờ và vinh danh các bậc tiến sĩ, khoa bảng. Hậu sinh khả...ố, do đâu?

Khi nghênh ngang đứng trên đầu rùa, cười cợt xoạc chân trên mình rùa, chính là lúc họ nhạo báng lại giáo dục, nhạo báng tri thức và văn hóa. Hay ngày nay, tri thức, trí thức chỉ đáng được cư xử như vậy?

Nghĩ gì khi mới đây, một cô gái người Scotland đi dạo ở một con phố Hà Nội, đã than khóc, van vỉ ai tìm hộ cho cô hộ chiếu bị mất cắp, sẽ đền bù hậu hĩnh. Rút cục, kẻ lấy hộ chiếu và được đền bù 100 USD vì "tìm thấy" đều cùng là...1 người. Cái trò "ma cô" ấy, sẽ để lại cho người khách trẻ Scotland ấn tượng gì về văn hóa Hà Nội nhỉ?

Những hành vi vô đạo đức nhất, "phản văn hóa" nhất như tham nhũng, ăn cắp, hối lộ, mua quan bán tước trong xã hội, đã không được xử lý công minh và công bằng, khiến lòng người hoài nghi, và tâm không phục. Một khi sự thượng tôn của pháp luật bị xuống cấp, thì băng hoại văn hóa... lên ngôi.

Và khi văn hóa Hà Nội bị băm chém, bị băng hoại, thì sự ngụy biện thường xuất hiện- đổ lỗi cho chiến tranh, cho kinh tế thị trường nơi phố thị. Nhưng có khi nào quản lý văn hóa dám "nhìn sâu vào trong mắt nhau" để thấy "anh mới hiểu anh sai là... có lý". Bởi chiến tranh đã lùi xa gần 40 năm, và kinh tế thị trường, thì VN đang mong mỏi thế giới ...công nhận.

Năng lực tư duy về văn hóa Hà Nội, cùng cung cách quản lý tiểu nông, không xứng tầm, đã để lại 1 dấu ấn thô bạo, xấu xí đáng buồn trên thân thể Hà Nội, vốn đẹp tinh tế và thanh nhã.

Hà Nội- kinh kỳ xưa, được gọi một cách trân quý là đất Kẻ Chợ. Thời hiện đại này, Kẻ Chợ đang được gọi mỉa mai là ... "cái Chợ"?

Còn "có danh gì với núi sông" (*) xứng đáng và cũng đau hơn, cho đô thị tinh hoa 1 quốc gia?

Yêu nước còn là biết...lắc đầu

Định mệnh luôn đặt số phận dân tộc Việt trước những thách thức bảo vệ chủ quyền, an sinh xã hội và an ninh quốc gia.

Trong thế giới hiện đại và hội nhập ngày nay, thì sự làm ăn với "bên ngoài", nhất là với 1 nước láng giềng vừa mạnh, vừa bài bản, vừa đa mưu túc kế, đòi hỏi nước Việt phải có sự tỉnh táo, khôn ngoan. Đòi hỏi mỗi người có bổn phận phải biết đặt lợi ích quốc gia lên tối thượng.

Nếu không chúng ta sẽ luôn phải trả "học phí" với giá quá đắt.

Công bằng mà nói, hiện tượng ngoại kiều nhập cư ở lại nước sở tại, hoặc làm ăn giữa các quốc gia thông qua các dự án đầu tư là chuyện bình thường. Ngay người Việt chúng ta cũng vậy.

Tại Mỹ, Pháp, Úc... không thiếu những cộng đồng người Việt sinh sống, làm ăn. Có điều những cộng đồng này luôn phải tuân thủ pháp luật, và chịu sự quản lý chặt chẽ, nghiêm cẩn của luật pháp nước sở tại. Điều đó, còn do năng lực cùng trách nhiệm của quản lý chính quyền cơ sở nước sở tại, biết vì lợi ích và an ninh quốc gia.

Còn ở ta thì sao?

Mới đây, UBND tỉnh Phú Yên đã có lời nói "Không, xin cảm ơn" (Thanhniên.com.vn, ngày 28/7), từ chối công nghệ sử dụng cyanua cực kỳ độc hại trong khai thác vàng, của 1 công ty TQ đầu tư trong lĩnh vực này.

Cái lắc đầu dứt khoát, đúng chỗ, tỉnh táo và cần thiết, trước hệ lụy tác động nguy hiểm tới môi trường sống, không vì... mùi đồng hấp dẫn.

Nhưng có phải lúc nào, người Việt cũng biết ... lắc đầu vì lòng yêu nước, vì an ninh và an sinh xã hội không?

Cách đây ít lâu, dư luận xã hội sững sờ vì vụ việc người TQ nuôi cá bè trái phép ở Vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa)- địa danh có vị trí quan trọng đối với quốc phòng, đặc biệt đối với vùng biển của đất nước. Điều đáng nói, vụ việc diễn ra từ rất lâu, nhưng chính quyền cơ sở cứ...lúng túng, không chịu thực hiện xử lý các vi phạm (?)

Sau Cam Ranh, là vụ ở vịnh Vũng Rô (cũng ở Phú Yên). Na ná "mô hình" Cam Ranh. Hơn nữa, người TQ ở đây còn núp bóng danh nghĩa "chuyên gia kỹ thuật". Vũng Rô cũng là 1 địa danh được quy hoạch cho dự án lọc dầu và phát triển cảng cửa khẩu, không được phép nuôi trồng thủy sản.

Đọc những thông tin này, người ta có quyền đặt câu hỏi: Vì sao người TQ thích "nhằm" vào những vị trí an ninh, quốc phòng vùng biển mà "nuôi cá" với quy mô lớn thế nhỉ? Còn khi bị phát hiện, thì họ rút lui không kèn, không trống. Và vì sao, chính quyền địa phương lại...hồn nhiên thế nhỉ? Hay còn vì cái gì khác?

Cái sự "hồn nhiên" của người Việt khá phổ biến. Đến mức gây hoài nghi. Chả lẽ già rồi mà còn dại?

Còn ông Nguyễn Văn Tiên, Phó Chủ nhiệm UB các vấn đề xã hội của Quốc hội, nhân vụ việc "Loạn phòng khám TQ" (VietNamNet, ngày 31/7) và trước sự kiện 1 người dân bị chết oan ở phòng khám có cái tên rất cứu rỗi- phòng khám Maria- đã thẳng thừng: Vấn đề là tiền!

Vâng, nếu không vì tiền- vì "mùi đồng" thì làm sao có cả một vụ việc tày trời này: "Xây nhà máy chui cho thương nhân TQ" (Thanh Niên Online, 2/7).

Đó là Nhà máy chế biến tinh bột wolfram (ATP) xuất khẩu công suất 3000 tấn/ năm, tại TP Móng Cái (Quảng Ninh), được Công ty CP Hoàng Thái xây dựng. Tài nhất, cả cái nhà máy mọc lên trên diện tích rộng tới 5 hecta mà chính quyền TP... không hề hay biết.

Ông Chủ tịch UBND TP.Móng Cái còn thú nhận: Không ngờ là doanh nghiệp Hoàng Thái lại dám đầu tư hàng chục tỉ đồng để xây dựng nhà xưởng trong khi chưa được chấp thuận đầu tư.

Cũng theo bài báo này, sở dĩ thương nhân TQ muốn xây nhà máy tại VN, vì các sắc thuế ATP cao, chi phí về nhân công, điện, tiền thuê đất đắt đỏ. Đặc biệt, tiêu chuẩn kỹ thuật bảo vệ môi trường ngặt nghèo do nước này muốn hạn chế công nghiệp bẩn ở nước họ (!)

Nếu không vì "mùi đồng" thì làm sao có vụ việc UBND huyện Hàm Thuận Bắc (Bình Thuận) "bị lừa" khi đồng ý ký chuyển đổi mục đích sử dụng đất, với diện tích 8500 m2 đất lúa cho ông Phạm Phú Thạnh.

Để chỉ ...3 ngày sau đó, mặc những hứa hẹn, cam kết bằng đơn từ hẳn hoi, ông này chuyển nhượng ngay cho thương nhân TQ Zhong Heng Shan, Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty TNHH Nguyên Long Sơn (công ty con của Tập đoàn kinh tế Nguyên Hinh, TQ). Đúng là, "mùi đồng" đã khiến lời hứa gió bay, nhẹ hều!

Và tại cuộc họp báo ngày 10/7, ông Phó CT tỉnh thừa nhận đây là vấn đề rất mới mà UBND tỉnh cũng chỉ vừa mới nắm được. Chuyện ồn ào đến mức phải báo cáo lên trên.

Và còn biết bao chuyện xung quanh "mùi đồng".

Mới đây, VietNamNét đưa tin vụ "Tàn sát cổ thụ bán cho thương lái Trung Quốc" ở huyện Minh Long (Quảng Ngãi). Cổ thụ đây là cây nhội- còn gọi là cây trâm, có đặc điểm cực hút nước và giữ nước.

Mỗi khi bứng cây trâm thì những cây con xung quanh cũng sẽ chết vì không còn cây trâm giữ nước. Việc bứng lấy bộ đế rễ cây trâm cũng sẽ khiến hàng loạt cây lớn nhỏ xung quanh bị đốn hạ. Từ đây, hệ sinh thái rừng bị ảnh hưởng nghiêm trọng, làm thay đổi dòng chảy.... Thực chất là phá rừng.

Có chuyện gì xung quanh "mùi đồng", mà người Việt mình không làm đây? Từ bán mèo (để diệt chuột) bán móng trâu (mất sức cày, kéo), bán "đỉa", bán ốc bươu vàng (những loại đáng lẽ phải diệt, thì dân Việt đi nuôi).

Nản quá, nhà thơ Trần Đăng Khoa phải kêu lên, "Người Việt vẫn duy trì thói quen khôn nhà dại chợ": Có thể cảnh giác, nghi ngờ với cả con cái, anh em ruột thịt trong nhà, nhưng lại nhẹ dạ cả tin với thiên hạ. Mà ai nói gì cũng tin. Hay lại tại "cái nước Việt mình nó thế"?

Đến nỗi, theo nhà thơ: Họ mà thu gom hài cốt thì không khéo khối người đào cả mồ mả, ông bà tổ tiên đem... bán. Quả là lời than cay đắng, về cái sự "hồn nhiên".

Đúng là người dân Việt do nghèo đói, do hạn chế nhận thức, do ít thông tin, họ có thể nhẹ dạ nông nổi bởi... "mùi đồng". Nhưng "trên" họ, còn có các cấp quản lý chính quyền cơ sở, cánh tay nối dài của Nhà nước.

Việc làm ăn, giao lưu thông thương giữa 2 quốc gia vào thời điểm cực kỳ nhạy cảm này luôn cần có nguyên tắc. Nguyên tắc tối thượng, là phải tỉnh táo, không để "mùi đồng" làm tối mắt, hoặc những sơ hở vì nhận thức quá kém, làm tổn hại tới an ninh quốc gia.

Nguyên tắc ấy buộc các cấp chính quyền cơ sở không được phép cũng "hồn nhiên", đến mức có thể "rơi vào cái bẫy của TQ", và cần có "văn hóa quan chức"- biết lắc đầu từ chối đúng chỗ, vì lợi ích quốc gia. Bởi đó cũng là yêu nước.

Tiếc thay khi vụ việc đã xảy ra, khiến cả xã hội lo ngại, bất bình, hầu như thường được nghe, từ phía chính quyền những cụm từ sao mà...lỏng lẻo. Lỏng lẻo như cách quản lý đầy sơ hở, thậm chí có phần vô cảm, vô trách nhiệm nữa: Không ngờ, không hay biết, bất ngờ quá, vấn đề rất mới...

Văn hóa Kẻ Chợ và "văn hóa biết lắc đầu" của quan chức, là 2 câu chuyện khác nhau. Nơi này là chuyện của một đô thị. Nơi kia chuyện của đội ngũ quan chức. Nhưng lại giống nhau ở 1 điểm- nó góp phần không nhỏ vào sự trường tồn, hưng hay vong, thịnh hay suy của quốc gia.

Tuesday, January 26, 2016

Văn hóa xe máy ở Việt Nam

Nghe nhỏ bạn nói ở Ý xe máy chỉ dùng để đi giao báo và cho nhân viên làm vệ sinh đường phố di chuyển cho thuận tiện. Chẳng biết đúng hay sai nhưng ở những nước Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc hay Đài Loan thì xe máy cũng chỉ để dùng cho nhân viên giao hàng. Sở dĩ như vậy là vì, do hình dáng nhỏ gọn và khả năng di chuyển nhanh chóng, phương tiện này được ưa chuộng để đi đến mọi ngõ ngách của thành phố. Thế nhưng xe máy không phải là phương tiện phổ biến ở các quốc gia này. Người Nhật, người Hàn và người Đài Loan sản xuất xe máy không phải để bán cho dân của họ. Họ sản xuất để bán cho các thị trường gắn bó truyền thống với xe máy và xem xe máy là phương tiện di chuyển chính ở châu Á và châu Phi, trong đó có Việt Nam.

Đa số những người mới đến Việt Nam lần đầu đều sẽ ngạc nhiên vì đất nước này có nhiều xe máy quá. Và sẽ xuất hiện trong đầu một câu hỏi là tại sao người dân ở đây lại sử dụng nhiều xe máy đến như vậy. Câu trả lời nhanh nhất cho câu hỏi này là vì xe máy tiện lợi và thích hợp. Sở dĩ nói xe máy tiện lợi là vì như đã nói ở trên, hình dáng và cách thức vận hành của loại xe này rất nhanh gọn và thích hợp với những con phố nhiều ngõ nhiều ngách ở Việt Nam. Văn hóa Việt Nam là văn hóa lề đường. Nét văn hóa này trải dài từ miền quê cho đến thành phố.

Do đó, xe máy càng được xem là lựa chọn tối ưu cho nét văn hóa lề đường này. Còn khi nói xe máy thích hợp với dân Việt là bởi số đông dân Việt chẳng thể mua nổi một chiếc ô tô cho chính mình. Thuế quan dành cho việc mua sắm ô tô ở Việt Nam rất cao, làm cho giá thành một chiếc xe đội lên gấp 3 lần so với giá gốc. Sắp tới đây Việt Nam mới bắt đầu dỡ bỏ từ từ thuế ô tô nhưng cũng theo lộ trình dài hạn. Hệ thống phương tiện công cộng thì nghèo nàn, chỉ vài ba chiếc xe buýt nhập khẩu xe cũ từ những nước khác. Chưa kể là những chiếc xe ấy có cái kiểu đón và trả khách rất thiếu an toàn, cùng với cách di chuyển rất mất trật tự. Thử hỏi, nếu không chọn lựa xe máy thì còn chọn lựa gì hơn?

Tiến sĩ Alan Phan từ Hoa Kỳ hướng góc nhìn về vùng Đông Nam Á và so sánh sự khác biệt. Trong khi đa số các quốc gia ở Đông Nam Á đều sử dụng xe máy nhiều (nhiều nhất là Việt Nam) thì quốc gia mới mở cửa là Myanmar lại không nhận thấy xe máy là thứ phương tiện an toàn và mang lại lợi ích cho dân họ. Người Myanmar kiên quyết nói không với xe máy, chắc có lẽ họ đã nhìn thấy những điều kinh khủng do xe máy gây ra cho giao thông của Việt Nam.

Xe máy là thứ phương tiện “chụp giựt” theo lời của ông Alan, và bất cứ người nước ngoài nào đến Việt Nam đều phải “ngạc nhiên và kinh hãi” về thứ phương tiện chụp giựt đó. Sở dĩ nói xe máy là thứ phương tiện chụp giựt là do tính tiện lợi của nó làm cho người điều khiển có thể bất chấp mọi thứ để leo lên lề mà đi, băng ẩu qua đường, vượt đèn đỏ, tấp vào lề đường một cách bất chợt… Mọi thứ dường như quá hỗn loạn với xe máy. Nét văn hóa xe máy còn thể hiện ở các cô các chị cứ chiều chiều phóng xe máy đi ăn hàng, cứ thế mà ngồi trên xe dựng sát lề mà nhâm nhi, thậm chí có khi còn vừa một tay lái xe một tay cầm thức ăn. Văn hóa xe máy còn thể hiện ở các anh, chạy xe hàng hai hàng ba, đua xe lạng lách, rồi đến cả cắt đầu xe ô tô bằng xe máy. Văn hóa này chắc chỉ có ở Việt Nam và các nước Đông Nam Á. 

Thực sự có thể nói giao thông cũng thể hiện một nét văn hóa mà mỗi nơi đều có sự khác biệt. Ví dụ như ở Mỹ người ta lái xe bên phải, trong khi ở Nhật, họ lại lái xe bên trái. Chưa kể là mỗi bang ở Mỹ lại có một quy định riêng về lái xe, và vì thế mỗi bang cũng có một loại giấy phép lái xe riêng. Dĩ nhiên, Việt Nam cũng có văn hóa giao thông riêng. Và cái kiểu giao thông đó gọi là manh mún, chụp giựt và gây hoảng sợ. Cái kiểu giao thông đi lại bằng xe máy, nên cứ thế mặc định là “ôi dào, đã có xe máy rồi, đi nhanh ấy mà, phóng một vèo là tới, cần chi mà phải sửa soạn vội”, và thế là chúng ta cứ chần chừ cho đến gần đến giờ hẹn mới phóng xe đi, vừa không an toàn, vừa thể hiện suy nghĩ tùy tiện, không chu đáo. Rồi còn cái kiểu khi kẹt xe thì người này chen người kia, ai cũng muốn đi nhanh nên biến cả đường phố thành một mớ hỗn độn.

Nếu như ở các nơi khác, luật giao thông đặt ra là để người tham gia giao thông đi cho trật tự và an toàn, thì ở Việt Nam cũng thế thôi. Nhưng khác nhau là ở chỗ người tham gia giao thông các nước khác tuân theo luật lệ giao thông một cách có ý thức, còn ở Việt Nam thì người tham gia giao thông ít có ý thức hơn, chủ yếu là để đối phó với cảnh sát giao thông. Vui một cái là người ta hay đổ lỗi cho cảnh sát giao thông Việt Nam hay ăn hối lộ tiền của người tham gia giao thông, rồi có người nói rằng vì do nhà nước trả lương cho cảnh sát giao thông ít quá, họ đành ra gác đường để kiếm chút cháo. Tôi thì nghĩ theo kiểu khác. Do cái máu kém ý thức của dân Việt ra cả. Nếu chúng ta có ý thức tuân thủ luật giao thông và nắm vững luật thì chẳng có anh công an giao thông nào ăn được một đồng của chúng ta. Do dân Việt ý thức kém, nên trả lương cho công an giao thông ít cũng là cách giúp họ siêng năng ra ngoài canh gác cho những người ý thức kém đi đứng cho đàng hoàng hơn.

Có lần cô tôi nói, đi xe máy là da thịt bọc khung kim loại, còn đi ô tô thì kim loại bọc da thịt. Tôi bật cười khi nghe cách so sánh như vậy. Đáng buồn là ở Việt Nam chẳng có nhiều điều kiện để đi cái xe kim loại bọc da thịt cho nó an toàn. Đôi khi tôi ước gì Sài Gòn giống như Washington DC, có hệ thống phương tiện công cộng phục vụ tối ưu cho người dân di chuyển an toàn và thuận tiện. Tôi ước gì Sài Gòn là Washington DC, Bình Dương và Biên Hòa là những thành phố vệ tinh cũng giống như các thành phố của Virginia. Chỉ cần xây dựng hệ thống tàu điện ngầm nối tuyến xuyên giữa các thành phố thì từ nay chẳng cần phóng xe máy đi từ Bình Dương đến Sài Gòn và ngược lại, vừa sợ mưa nắng, vừa chẳng an toàn.

Nói cho cùng, đổ lỗi cho chiếc xe máy là không đúng, phải đổ lỗi cho văn hóa giao thông manh mún do người điều khiển phương tiện giao thông kia, và cũng phải đổ lỗi cho hệ thống hạ tầng giao thông quá kém cỏi. Trong một nền kinh tế, hệ thống giao thông chẳng khác nào huyết mạch để hàng hóa lưu thông nhanh chóng và thuận tiện. Giao thông yếu kém thì chẳng khác nào cơ thể kinh tế đang khỏe mạnh chẳng còn sức sống. Mỗi ngày chỉ tính riêng Sài Gòn và khu vực Đông Nam Bộ, hàng trăm vụ kẹt xe vào các giờ cao điểm đã làm thiệt hại biết bao nhiêu thứ: thời gian, tiền bạc, ô nhiễm môi trường…thậm chí tính mạng của bệnh nhân trên các xe cấp cứu. Kẹt xe quả thật là thảm họa của nền kinh tế, nhưng nguyên nhân chính của kẹt xe không phải do dân số đông mà là hệ thống hạ tầng giao thông yếu kém, trong đó có văn hóa xe máy manh mún. Thay vì bỏ tiền ra biến các vùng đồng bằng cung cấp lương thực cho nhân dân thành các cánh đồng sân golf mướt mắt, tại sao không dùng số tiền đó đầu tư cho giao thông công chánh?

Nói đi phải nói lại, cái văn hóa xe máy manh mún và tùy tiện dù cho gây thiệt hại cho dân Việt rất nhiều, nhưng cũng trở thành một nét văn hóa đặc trưng của đất nước này. Cũng giống như cà phê phin Việt Nam phải uống lề đường mới ngon, thì tới Việt Nam rảo quanh phố phường bằng xe máy mới thú. Ấy chẳng vậy mà cặp diễn viên vàng của Hollywood là Angelina Jolie và Brad Pitt khi đến Việt Nam lần đầu đã phóng vù vù trên xe máy dạo phố Sài Gòn đó ư? Và còn nhiều anh Tây cô Tàu cũng tập xe máy để hòa vào thứ văn hóa ồn ào và đông đúc này. Sài Gòn, Hà Nội đang xây dựng hệ thống tàu điện cả trên mặt đất, dưới lòng đất và cả trên cao. Hy vọng trong tương lai hệ thống huyết mạch này sẽ giúp cải thiện tình trạng giao thông kinh hoàng ở các đô thị lớn của Việt Nam. Người Việt Nam rồi sẽ văn minh hơn giống như câu nói của hai vị giám đốc của chương trình phương tiện giao thông đô thị Dario Hidalgo và Madhav Pai của Embarq – một chương trình sáng kiến về giao thông vận tải bền vững và phát triển đô thị của Viện Tài Nguyên Thế Giới: “Một quốc gia phát triển là khi người giàu sử dụng hệ thống phương tiện công cộng.”

Cao Huy Huân