Monday, October 13, 2014

Thế giới siêu hình

Hỏi: Kính thưa Thầy, trong Giáo Án … tập 3, Thầy nói: khi còn sống mọi hoạt động của con người đều “lưu lại” ở từ trường trong không gian, và chỉ người nào có tưởng thức mạnh mới giao cảm được với tần số của từ trường ấy mà “thấy và nghe được” những sự việc đã diễn ra của người chết. Như cô Khang bị rút móng tay…

Tóm lại, vậy là “có” linh hồn người chết, nhưng người thấy người không, chứ nói “không có” linh hồn thì mọi người không ai chịu tin hết Thầy ạ! Rồi họ đưa ra việc cầu hồn, thấy ma…

Thưa Thầy: Hay là Phật nói không có linh hồn vì nó có nhưng không thật; hay để con người không nhớ thương, không ỷ lại nương tựa tha lực?

Đáp: Không phải vậy, không phải vì lý do nhớ thương hay ỷ lại mà Đức Phật nói không có thế giới siêu hình mà thật sự hoàn toàn thế giới siêu hình không có. Trong vấn đề linh hồn người chết có hay không, điều này đã mang nặng một dấu ấn trong tâm của mọi người là có linh hồn người chết.

Muốn xác định cho rõ ràng điều này thì không có cách nào hay hơn bằng chính người ấy phải tự nhập Tứ Thánh Định, an trú trong ấy rồi dùng Trạch Pháp Giác Chi hướng tâm đến Thiên Nhãn Minh quan sát thế giới siêu hình thì chừng đó mới xác quyết chắc chắn rằng: người chết không còn có linh hồn tồn tại hay là không có sự sống sau khi chết.

Ở đây, Thầy đã giải thích rất nhiều về vấn đề thế giới siêu hình, nhưng ai là người hiểu vấn đề này. Người tri âm khó gặp, tri kỷ khôn tìm. Người nghe được tiếng đàn của Bá Nha chỉ có Tử Kỳ mà thôi. Nhưng Tử Kỳ chết, Bá Nha đập nát chiếc đàn. Vì trên đời này còn có ai nghe được tiếng đàn của mình. Thầy cũng vậy, chỉ có người nào tu chứng quả A-la-hán mới hiểu được tiếng nói của Thầy. Thầy sẽ không phụ lòng những câu hỏi của các con, Thầy cố gắng trả lời cho các con hiểu.

Các con nên hiểu thế giới mà loài người đang sống là một thế giới sắc tướng, có sự sống, có vạn vật hiện hữu, thế mà Đức Phật gọi nó là thế giới tưởng thì chúng ta có tin không?

Thế giới của chúng ta đang sống không phải do “tưởng uẩn làm ra” như thế giới siêu hình mà do các duyên hợp lập thành. Vì thế không có một vật gì thường hằng, luôn tan hoại theo thời gian năm tháng. Thế mà chúng ta điên đảo tâm, điên đảo tưởng, điên đảo tình, điên đảo kiến chấp thủ, cho mọi vật là có thật, là ta, là của ta v.v…

Thế giới hiện hữu là không có thật, vì thế mọi vật thường vô thường. Trên thế gian không có một vật gì là trường cửu, vậy mà mọi người cho nó là có thật thì không phải đó là điên đảo sao? Do cho nó có thật, nên mọi người cố làm ra cho nhiều, cố làm ra cho nhiều nên làm ra nhiều điều ác. Do làm nhiều điều ác nên phải thọ chịu những quả khổ đau.

Với đôi mắt của Phật nhìn mọi vật trên thế gian này như bong bóng nước, như hoa phù du sớm nở tối tàn, đó là một bằng chứng thật sự. Vì thế Đức Phật cho rằng thế giới mà chúng ta đang sống là thế giới của tưởng tri. Vậy mà có ai tin đâu. Chúng ta lại một lần điên đảo nữa, cái hình bóng của thế giới hiện tượng hữu hình tưởng tri này lại cho là thế giới siêu hình.

Ví dụ: Một cuộn băng video thu những hình ảnh núi, sông, nhà cửa, người và vạn vật đang sinh hoạt nhảy múa. Với những hình ảnh này chúng ta cho đó là thế giới siêu hình sao?

Những hình ảnh núi, sông, đất đá, cây cỏ, người và thú vật trong băng video hiện ra và hoạt động được là nhờ dòng điện, đầu máy và màn hình.

Còn thế giới siêu hình cũng vậy, nó được hiện ra và hoạt động là nhờ tưởng uẩn của chúng ta bắt gặp và lập thành, chứ nó không có thật. Các con cũng nên biết và phân biệt tưởng cho rõ ràng. Tưởng có hai phần cụ thể:

1- Ý thức tưởng là chúng ta dùng ý thức mà tưởng tượng ra một vật mà vật đó không có ở trước mắt.

2- Tưởng thức tưởng là do năng lực hoạt động của tưởng uẩn khiến cho những hình ảnh của thế giới sắc tướng hiện hữu của loài người đang sống đã được lưu lại trong không gian trở thành linh động, khiến cho mọi người chưa đủ trí tuệ sáng suốt, đang sống trong điên đảo tâm, điên đảo kiến, điên đảo tưởng, điên đảo tình mới cho những hình ảnh ấy là có thật, thế giới siêu hình thật. Vì thế mới có việc cầu cơ, cầu hồn, thấy ma, thấy quỷ v.v…

Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây 

Sunday, October 12, 2014

Thầy của Khổng Tử

Tục nhân lỡ một người thầy thì ôm hận suốt đời. Thánh nhân lỡ một người thầy thì ôm hận nghìn thu. Tục nhân ôm hận vì không gặp cơ hội được trên người. Thánh nhân ôm hận vì cảm thấy có lỗi nặng với những đời sau. Việc hôm nay, té ra có nguyên do từ bao đời trước nữa. Ví dụ cái chuyện thật, giả của muôn đời. Muôn đời thật thà là món trang sức rẻ tiền của dối trá, dối trá là chủ nhân đích thực của thật thà. Than ôi! cái đạo nói thật chẳng phải tầm thường. Đến thánh nhân cũng muốn cầu còn chẳng được. Thế gian xưa nay vẫn leo lẻo đấy, cứ tưởng mọi chuyện rồi sẽ rõ như ban ngày. Vậy mà rốt cuộc, tìm mãi có thấy tí sự thật nào đâu. Chung quy cũng tại một bận lỡ làng của bậc Vạn Thế Sư mà sinh ra cả…

Vẫn “lời tựa” trong Luận ngữ Tân thư. Sau đây lại xin trích một phần của bộ sách đó:

Khổng Tử có lúc dạy tới ba ngàn học trò. Vậy mà vẫn lũ lượt người đến xin học. Vì thế mới đặt ra lệ phải kiểm tra, phỏng vấn trước khi nhận, đại khái cũng hao hao như thi đại học hoặc cao đẳng bây giờ. Phụ trách khâu tuyển sinh này gồm các thầy Tử Cống, Tử Nạp, Tử Hối, Tử Lộ, Tử Thâm, Tử Thượng, Tử Hạ. Toàn những thầy mà đời sau xếp vào bậc Tiên hiền cả. Từ khi đặt ra lệ ấy, thiên hạ càng đua nhau đến xin nhập học, công việc giáo dục phát đạt lên trông thấy. Bận rộn nhất là các thầy Tử Cống, Tử Nạp, Tử Hối, Tử Lộ. Các thầy thay nhau bán hồ sơ, xét duyệt hồ sơ, kiểm tra thí sinh bằng mồm, bằng mũi, bằng mắt, cả bằng tay… nữa. Kẻ thì cho nhập học, kẻ thì đuổi thẳng cổ. Chung quy cái việc thi tuyển thì xưa nay đều có trong, có đục cả, không có gì đáng chép lại. Chỉ xin chép ra đây mấy chuyện lạ xảy ra trong lúc tuyển sinh ấy. Không hiểu sao lại chỉ rơi vào các thầy Tử Thâm, Tử Thượng và Tử Hạ.

Một hôm, có một lão già nom hơi cổ quái, gương mặt tuy gồ ghề song hai mắt rất long lanh, dáng đi nhanh nhẹn, hoạt bát đến gõ cửa xin nhập học. Tử Thâm được phân công ra tiếp. Tử Thâm hỏi:

“Cụ già thế này, sắp xuống lỗ rồi còn học làm gì nữa cho mệt?”.

Lão kia trả lời:

“Lão chẳng học cái gì khác. Song trước khi xuống lỗ cũng muốn học cho được mỗi cái cách nói thật đó mà thôi”.

Tử Thâm ngạc nhiên hỏi lại:

“Tại sao cụ phải học cách nói thật?”.

Lão kia trả lời:

“Lão từng nghe cổ nhân truyền lại rằng nói thật một câu sẽ kinh động đến cả trời đất, quỷ thần. Vậy mà lão sống ngần này tuổi đầu rồi, tuyệt chẳng bao giờ thấy trời đất, quỷ thần động lòng gì cả. Điều đó phải chăng vì thiên hạ toàn kẻ nói dối. Tất nhiên trong đó có cả lão nữa. Vì thế lão mới phải đến đây để học cái đạo nói thật. Rất mong Phu Tử chiếu cố chỉ giáo cho, dẫu lão nói thật được một câu rồi chui xuống lỗ cũng hả lòng”.

Tử Thâm nghe ra bèn bảo:

“Rất tiếc ở đây chỉ dạy Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Không dạy nói thật. Cụ đi tìm nơi khác mà học thôi”.

Lão kia nghe Tử Thâm nói thì có vẻ hơi thất vọng, song vẫn cố vớt vát:

“Lão nghe tiếng Phu Tử nức nở cả thiên hạ. Vậy ngoài Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín ra, Phu Tử còn dạy cái gì nữa?”.

Tử Thâm trả lời:

“Dạy đủ lục nghệ. Từ làm chính trị đến đi buôn, từ làm hàng thật đến hàng giả, từ chế đồ xịn đến đồ lô… Học đến đâu sáng ra đến đó. Cứ gọi là vua ra vua, tôi ra tôi. Bố ra bố, con ra con. Chồng ra chồng, vợ ra vợ. Thầy ra thầy, trò ra trò. Trên đời này động đến môn nào Phu Tử cũng tuyệt đối tinh thông cả. Duy có cái môn nói thật ấy thì bản sự đây quả chưa nghe nói đến bao giờ”.

Lão kia nghe thấy thế thì thất vọng quá, bèn thở dài một tiếng rồi than:

“Thế mà lão phu đây cứ tưởng bở. Ôi! Đến cửa này cũng không học được cách nói thật nữa thì lão đành nói dối cho trọn kiếp cùng với thiên hạ thôi”.

Than xong, lão ta vái Tử Thâm một cái rồi đi ra. Tử Thâm bèn vào kể lại toàn bộ đầu đuôi với Khổng Tử. Khổng Tử nghe kể đến đâu ngạc nhiên đến đấy. Nghe xong, Ngài trầm ngâm một lát rồi bảo:

“Ngươi chưa nghe nói đến cái môn nói thật bao giờ cũng phải. Học thuyết của ta toàn thị là chính trị. Mà đã gọi là chính trị thì cần gì phải biết cách nói thật. Thời thế này mà vẫn còn người muốn học cái đạo nói thật ư? Thì chính ta cũng đang muốn tìm thầy để học cái môn đệ nhất ngu ngốc ấy mà chưa tìm ra đấy”.

Một hôm khác, có người ăn mặc sang trọng ra dáng một vị quan to, xe cộ rình rang, tiền hô hậu ủng đến xin học. Tử Thượng được phân công ra tiếp. Tử Thượng lễ phép hỏi:

“Dám xin hỏi ông làm chức quan gì?”.

Ông kia trả lời:

“Chức gì lớn nhất mà thầy có thể nghĩ tới được”.

Tử Thượng hỏi tiếp:

“Vậy ông còn muốn học Phu Tử để làm gì nữa?”.

Ông kia trả lời:

“Ta học để bịt mõm thiên hạ”.

Tử Thượng nghe thấy hơi lạ tai. Bèn hỏi tiếp:

“Thế nào là bịt mõm thiên hạ?”.

Ông kia trả lời:

“Thầy còn giả đò không biết ư? Ta vốn xuất thân làm nghề hoạn lợn, song từ khi thành đạt thì chẳng thiếu thứ gì. Tước vị, bổng lộc, quyền hành, vây cánh… đủ cả. Chỉ phải cái bọn kẻ sĩ trong thiên hạ thấy ta không học hành gì, cứ chửi vụng ta là đồ thượng đẳng vô học. Ta thì không thèm chấp, song vợ con, cháu chắt ta thì không khỏi có lúc phiền lòng. Nay ta đến đây cốt để bù cái chỗ khiếm khuyết duy nhất ấy của mình mà thôi, để chúng nó không còn chửi vào đâu được nữa”.

Tử Thượng nghe ông ta nói, lưỡng lự không biết giải quyết ra sao. Cũng đành phải vào thưa lại với Khổng Tử. Khổng Tử thản nhiên phán ngay:

“Kẻ ấy đâu có cần học hành gì. Hắn đến đây chỉ cốt cho thiên hạ trông thấy hắn cũng từ cửa ta mà đi ra giống như những kẻ sĩ khác đó thôi”.

Tử Thượng nghe thầy nói chợt tỉnh ngộ, bèn lập tức trở ra. Quả nhiên thấy ông kia cùng đám lâu la, xe cộ đã rầm rĩ quay ra đến cổng, vừa đi vừa quảng cáo oang oang, cố tình cho thiên hạ chú ý. Chẳng thèm nói gì đến chuyện xin học nữa. Tử Thượng phục Khổng Tử quá, chỉ biết vừa nhìn theo vừa lẩm bẩm:

“Ta ở ngay trong nhà thầy, đọc sách thầy, nghe thầy giảng… Mà đến bây giờ mới hiểu được ý nghĩa của hai chữ: Cửa Khổng”.

Lại một hôm khác, có người đội nón tơi, đi chân đất, dáng như ăn mày đến xin nhập học. Cố nhiên là Tử Hạ được phân công ra tiếp. Tử Hạ hỏi:

“Anh muốn làm học trò của Phu Tử với mục đích gì?”.

Bất ngờ người ấy không trả lời mà hỏi lại:

“Thầy hãy cho tôi hỏi trước. Thầy học Phu Tử để làm gì?”.

Tử Hạ thấy thế thì hơi cáu, song vẫn nhã nhặn trả lời:

“Bình sinh ta học Phu Tử chỉ cốt để làm người”.

Người ấy hỏi tiếp:

“Thế đã làm người được chưa?”.

Tử Hạ vẫn cố gắng nhã nhặn:

“Tất nhiên là chưa. Vậy cho nên vẫn đang phải học tiếp”.

Người ấy bảo:

“Thì ra thiên hạ đều cùng một giuộc cả. Kẻ nào cũng chỉ được cái leo lẻo cái lỗ mồm. Có biết đâu rằng làm người mà dở dang thì chi bằng làm vật quách cho rồi. Còn tôi muốn làm học trò của Ngài chỉ cốt được ăn thịt”.

Tử Hạ tròn mắt ngạc nhiên, bởi chưa nghe ai trả lời như thế bao giờ. Bèn hỏi tiếp:

“Tại sao anh lại nghĩ rằng làm học trò của Phu Tử thì sẽ được ăn thịt?”.

Người ấy trả lời:

“Tôi nghe nói Phu Tử thịt thái không vuông thì không ăn. Mà con lợn, con gà, con dê, con bò… có con nào vuông đâu. Thế thì dứt khoát sẽ có nhiều chỗ phải bỏ đi. Tôi chỉ xin được chén những chỗ bỏ đi ấy mà thôi”.

Tử Hạ nghe nói cảm thấy hơi có lý. Song cũng chẳng biết quyết định ra sao, đành phải vào thưa lại nguyên văn với Khổng Tử. Khổng Tử ngẩn người ra một lát rồi mừng quớ lên bảo:

“Kẻ ấy chính là thầy ta đó. Ta vốn đã để ý dò tìm bấy lâu nay mà chưa tìm thấy. Ngươi mau mau ra mời y vào đây, để chính ta phải làm lễ bái sư”.

Tử Hạ vội vàng chạy ra thì người kia đã bỏ đi đâu mất. Làm cho không những Khổng Tử, mà những đời sau, cho đến tận bây giờ, ai nghe đến câu chuyện này cũng than thở, tiếc rẻ mãi.

Về sau, cũng nhân chuyện này, có ông Mục công người đất Kinh còn bình luận một câu đại ý: “Chỗ bỏ đi hay là phần còn lại. Thế gian này, trừ thánh nhân ra, chính cái phần còn lại ấy của thiên hạ mới là thầy của thánh nhân vậy”.

VẪN LẠI "CHUỒNG BÁO" VÀ ĐÁM KỀN KỀN!

Xuất thân nghèo khó, tham gia công tác xã hội mà nhiều người muốn gọi là "từ thiện", lại nhờ điều kiện công việc của phóng viên, và từ bản tính thích dịch chuyển nên đi được nhiều nơi, tiếp xúc nhiều cảnh nghèo, nhiều những cuộc đời "dưới đáy xã hội" - nên khi đọc tin "học sinh chết vì quá đói" đăng trên một số thứ gọi là "báo chí" và được một số người chia sẻ lại trên các mạng xã hội, tôi đã lập tức nghi ngờ và có comment lại, và ngay lập tức được đội mũ rằng "vô cảm, xa dân, dư luận viên..." cũng như về một số vấn đề "dư luận dậy sóng" trước đây.

(Ai quan tâm, hãy tự tìm hiểu về sự thật vụ bé học sinh Hà Tĩnh "chết đói"..)

Thực tế, nước ta vẫn còn nhiều khó khăn, nhiều những cảnh đời bất hạnh. Nhưng đó có phải là bức tranh chung của Việt Nam?
Tôi đã đến những vùng nghèo nhất Việt Nam, chỉ để chơi chứ không phải để giúp đỡ, bà con vẫn luôn có gà có rượu để thết đãi.
Tôi cũng đã giúp một số hoàn cảnh nghèo "khố rách áo ôm" như mấy thằng khốn nó miệt thị bà con trên mạng, nhưng bà con cũng đề nghị "đừng tặng gạo, tặng mì tôm, vì chúng tôi có cả. Hãy tặng tiền và những thứ thiết thực hơn"!. Xin mọi người hiểu để đừng ai lấy ví dụ ở đây về một hoàn cảnh cá biệt nào đó trên cả mấy chục triệu gia đình Việt Nam.

Hãy trả lời câu hỏi, các "chuồng báo" và đám kền kền thông tin kia đang sử dụng cái gì, sử dụng thiết bị nào để đăng tải lên mạng xã hội. 

Cách đây chỉ 10 năm thôi, họ là ai?


Kền kền không chỉ có ở Châu Phi, không chỉ có ở Tây Tạng
Mà ở chính trong mỗi chúng ta, và trong mỗi người đang trên mạng xã hội này!
Khốn nạn, nhưng đáng thương!
Khốn nạn, khi có một số người, đang tự đầu độc để biến mình thành kền kền ăn xác thối!
Đáng thương, khi họ nghĩ đó là ..cấp tiến, là.. đỉnh cao trí tuệ!

Hoàng Trường


Hỷ lạc có xả bỏ hay không?

Hỏi: Kính thưa Thầy! Thân, thọ, tâm, pháp đều có khổ, lạc, bất khổ bất lạc thọ, ở thế gian đều phải xả bỏ, ngược lại hỷ lạc, khinh an khi tu tập thiền định sanh ra thì có cần phải giữ gìn và tăng trưởng hay phải xả bỏ như thế nào?

Nếu không được giữ gìn và tăng trưởng thì những hỷ lạc này sẽ thối thất, mất mát, hoặc hao mòn không thưa Thầy?

Đáp: Dục lạc thế gian là nguy hiểm, là tai họa, là khổ đau v.v.. nên tu theo Phật giáo cần phải xả ly, xa lìa những thứ dục lạc đó.

Do tu hành thiền định có lạc, có hỷ, hỷ lạc này tùy theo ở mỗi loại định xuất hiện, như hỷ lạc của Sơ Thiền do “ly dục” sanh ra. Hỷ lạc này không giống như hỷ lạc của dục lạc.

Hỷ lạc của Nhị Thiền do định sanh, hỷ lạc này cao hơn hỷ lạc do ly dục sanh ở Sơ Thiền, nhưng phải hiểu nó là do định ly dục sanh ra, nó không giống hỷ lạc do thiền định ức chế tâm như thiền Đại Thừa và Thiền Đông Độ, hỷ lạc của hai loại thiền này do dục tưởng sanh.

Khi tâm không còn ly dục thì hỷ lạc của Sơ Thiền liền mất, không còn ly dục, tức là tâm phóng dật chạy theo các đối tượng của nó: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp.

Tâm còn ly dục ly ác pháp, tức là tâm còn an trú trong Sơ Thiền, tâm chạy theo dục lạc, tức là tâm xuất Sơ Thiền.

Khi tâm còn tịnh chỉ tầm tứ, tức là tâm an trú Nhị Thiền, tâm an trú Nhị Thiền có hỷ lạc do định sanh. Khi tâm hết hỷ lạc, tức là tâm không tịnh chỉ tầm tứ.

Do những điều ở trên ta muốn giữ gìn hỷ lạc không cho mất, nếu Sơ Thiền thì phải giữ gìn tâm không phóng dật, còn Nhị Thiền thì phải giữ gìn cho tâm tịnh chỉ tầm tứ.

Hỷ lạc của Sơ Thiền và Nhị Thiền không có tăng trưởng thêm mà chỉ có một mức độ của nó mà thôi, dù có kéo dài trạng thái hai loại thiền này ra hai, ba ngày, thì sự hỷ lạc cũng chỉ như vậy, không tăng, cũng không giảm.

Tam Thiền thì xả sạch hỷ, Tứ Thiền thì xả lạc, xả khổ và xả luôn cả đối tượng của nó tức là tâm thanh tịnh, nên không có hỷ và lạc của tưởng và thọ nữa, mà là một trạng thái vắng lặng bất động.

Ở đây quý vị phải hiểu, hỷ lạc của những bậc Thánh Hiền do từ thiền định xả tâm ly dục ly ác pháp mà sanh ra. Vì thế, hỷ lạc này không phải thứ cảm giác an lạc vui mừng của tâm dục lạc thế gian. Quý vị nên lưu ý, bắt đầu vào Sơ Thiền do ly dục sanh hỷ lạc, nên hỷ lạc này không phải dục mà có, vì thế nó rất thanh tịnh, trong sạch không uế nhiễm. Đến định sanh hỷ lạc ở Nhị Thiền, hỷ lạc của định Nhị Thiền là loại hỷ lạc định ly dục, chứ không phải là các thứ hỷ lạc của các loại định tưởng của thiền Đại Thừa và Thiền Đông Độ, loại hỷ lạc đó là do dục tưởng sanh ra, nên có khi hiện lại có khi mất, vì thế mà con hỏi cần phải giữ gìn và tăng trưởng, như vậy con tu hành đã lạc vào tà thiền tà định, cho nên xin Thầy chỉ dạy cách thức giữ gìn và tăng trưởng hỷ lạc. Thứ hỷ lạc này là bệnh thiền sẽ đưa hành giả vào cảnh mộng “Phản Bổn hoàn nguyên; Phủ trùm vạn hữu; Thõng tay vào chợ; Tự tại vô ngại; Đói ăn, khát uống, mệt ngủ”.

Đó là một thứ bệnh thiền cần phải tránh xa. Hỷ lạc của loại thiền định này, gặp nó như là gặp loài quỷ La Sát. Khi tu thiền gặp nó, thì quý Thầy cần phải xả ngay hoặc dùng pháp hướng tâm đuổi đi, đừng để tâm theo nó, nó chẳng có lợi ích gì cho sự tu tập của quý Thầy mà còn có nhiều tai hại về sau.

Trưởng lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây

Tệ nạn mê tín

Hỏi: Kính thưa Thầy! Ở nước ta (VN) hiện nay tệ nạn mê tín, dị đoan như cầu siêu, cầu an, xin xăm, bói quẻ, xem ngày giờ tốt xấu, cúng sao, giải hạn, lên đồng, nhập xác… đang là hiểm họa, tệ nạn xã hội là một gánh nặng của con người. Kính thưa Thầy, để đẩy lùi những tệ nạn này ra khỏi loài người và làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn, chúng con cần phải làm những gì?

Đáp: Muốn đẩy lùi tệ nạn mê tín dị đoan thì người cư sĩ đệ tử của đức Phật phải sáng suốt nhận định và thông suốt những gì mà đức Phật đã dạy, đừng quá vội tin vào những người khác, hễ nghe nói Phật thuyết là bất cứ cái gì cũng vội vàng tin ngay liền, tin như vậy là tin mù quáng dễ bị kẻ khác lừa đảo, đó là một bằng chứng thật sự hiện giờ các tệ nạn mê tín xảy ra chung quanh trong các ngôi chùa là do Phật tử quá tin theo các Thầy Tổ của mình, Thầy Tổ của mình đang chịu ảnh hưởng của tà giáo ngoại đạo đã biến trở thành những người đang dối trá, mượn sắc áo của Phật giáo để kinh doanh tôn giáo làm giàu trên mồ hôi nước mắt của tín đồ.

Bởi vậy, người tín đồ Phật giáo phải tin vào đạo đức nhân quả làm người, không làm khổ mình, khổ người, là một điều lợi ích rất lớn, hãy dẹp bỏ lòng tham vọng, ích kỷ nhỏ mọn của mình, những mơ ước thiếu thực tế, hãy tự lực sống đúng đạo đức nhân quả là đã thấy hạnh phúc ngay liền, dẹp bỏ những sự cầu cạnh tha lực nương tựa vào thần quyền, đó là những hy vọng mơ tưởng hão huyền, đừng tin và làm theo những điều phi đạo đức nhân quả mà trong thế giới siêu hình tưởng thường bày vẽ ra thì tệ nạn mê tín trong xã hội sẽ được đẩy lùi ngay tức khắc.

Giáo lý của đạo Phật có những tiêu chuẩn đã được xác định:

1- Đạo đức nhân bản.
2- Không có thế giới siêu hình.
3- Người chết năm uẩn tan hoại tất cả chỉ còn lại nghiệp lực thiện ác (nhân quả) tiếp tục tái sanh.
4- Pháp môn tu tập của đạo Phật duy nhất chỉ có GIỚI, ĐỊNH, TUỆ.
5- Ngoài giới, định, tuệ thì không phải giáo pháp của đức Phật nữa.
6- Giới định tuệ là chỉ cho một tâm duy nhất của ba trạng thái kết hợp tạo thành một nguồn sống giải thoát chứ không phải ba pháp.
7- Giới là đạo đức nhân bản - nhân quả.
8- Định là tĩnh giác.
9- Tuệ là sự hiểu biết.

Ba vấn đề này gom chung vào một tâm, nếu tâm có hiểu biết tĩnh giác trong đạo đức nhân bản - nhân quả thì tâm liền có giải thoát.

Đó là một vấn đề (giới, định, tuệ) duy nhất của đạo Phật giúp cho con người vượt qua khổ đau của kiếp làm người, ngoài vấn đề này thì không có giáo pháp nào của đức Phật dạy cầu tha lực cả. Nếu có giáo pháp cầu tha lực là giáo pháp của ngoại đạo, đó là một sự xác định nghiêm túc của đạo Phật.

Đạo Phật cấm kị nhất là thần thông và thế giới siêu hình, thần thông đạo Phật cho là huyễn hóa, thế giới siêu hình đạo Phật cho là thế giới ảo tưởng.

Thần thông và thế giới siêu hình là hai phương tiện dùng để lừa đảo gây sự mê tín dị đoan trong lòng người, khiến cho người ta đi vào tội lỗi. Bởi vậy những người hiểu biết cần phải triệt tiêu và quét sạch nó trên hành tinh này.

Người ta gán cho đạo Phật có nhiều pháp môn từ thấp đến cao để tùy theo căn cơ của mỗi chúng sanh mà tu tập, đó là lối biện luận lừa đảo những người mạo danh Phật giáo.

Ngoài Bát Chánh Đạo để thực hiện giới, định, tuệ thì không còn pháp môn nào được gọi là của đạo Phật nữa, đừng đem những tà pháp mê tín dị đoan mà gán cho đạo Phật, đó là một việc làm tội lỗi đối với con người trên hành tinh này.

Khi quý vị đã rõ thấu giáo pháp của đức Phật là giới, định, tuệ thì bất cứ một ngôi chùa nào mà dạy khác pháp môn giới, định, tuệ thì quý vị không chấp nhận, không nghe theo, không cúng dường, không đến chùa đó nữa, không thọ nhận hoặc tu tập theo giáo pháp ngoại lai đó.

Từ khi đức Phật tịch, giáo đoàn Phật giáo bị phân hóa chia thành nhiều bộ phái do những vị tu sĩ lãnh đạo tham danh đắm lợi đã nỡ tâm giết Phật giáo chết, từ đó các Ngài đưa vào những giáo pháp của ngoại đạo để lừa đảo tín đồ Phật giáo. Do đó, mới có những kinh sách dạy cầu siêu, cầu an, xin xăm, bói quẻ, xem ngày giờ tốt xấu, cúng sao, giải hạn, lên đồng, nhập xác… làm đủ mọi điều  mê tín dị đoan, nó được xem là một hiểm họa rất lớn, một tệ nạn xã hội. Các chùa đang hành những nghề nghiệp này là đã tạo một gánh nặng cho xã hội loài người.

Muốn đẩy lùi những tệ nạn này, thì trong các chùa quý Thầy trụ trì phải đình chỉ ngay liền những nghề nghiệp lừa đảo, phi đạo đức này thì tệ nạn mê tín, dị đoan sẽ được chấm dứt. Đó là dứt trừ tận gốc phát sanh ra nó.

Muốn đẩy lùi tệ nạn này thì quý vị cư sĩ không nên tin và không làm theo những giáo pháp mê tín, phi đạo đức này, bằng cách không đến những ngôi chùa có hành nghề như vậy và cũng không cúng dường cho các vị Tăng ở đây. Có như vậy, mới có thể đẩy lùi và dẹp sạch những tà giáo phi nhân quả này thì loài người mới thoát khỏi gánh nặng khổ đau này.

Trích Đường về xứ Phật VI
Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây

TÂM SỰ CỦA LÃO NÔNG

Một tai nạn giao thông xảy ra là điều không ai mong muốn, một vụ đánh chém nhau khiến ai ai cũng sợ. Một tên cướp ngang nhiên giữa ban ngày ai là người không tức, một tên lưu manh chuyên đi ăn trộm chó ai là người không căm.v..v.. và còn rất rất nhiều nữa mà có kể thì phải vài năm mới hết!


Kẻ thức thời thì căm hận, kẻ thất phu thì muốn tử hình, cao nhân thì rơi nước mắt! Còn đám tiểu đồng thì đổ lỗi cho chính quyền làm không nghiêm, lũ ngoại bang và bám đít ngoại bang thì nói đó là do Đảng..v..v.. Muôn vàn điều tiếng biết trách ai đây! Nay ta chỉ là kẻ vô danh tiểu tốt chập chững cầm phone, thấy cảnh này cũng không cầm nổi đau xót mà để lại vài dòng mong muôn dân góp ý!

Từng nghe Việt Nam đã sống cùng lũ bẩn bựa khựa cả một thiên niên kỉ. Đã chịu cảnh làm thuộc địa của Pháp Quốc suýt 100 năm, chịu cảnh chia cắt 2 miền dưới thời chống Mỹ. Vậy mà dân ta kiên cường giữ nước, đánh đuổi ngoại bang đem lại cuộc sống hạnh phúc cho muôn dân trăm họ. Lịch sử hào hùng ấy ta có chết vạn lần, đầu thai vạn kiếp cũng làm sao quên được!

Thế mà nay, lũ bợ đít ngoại bang bưng bô đế quốc lại phủ nhận hoàn toàn lịch sử oanh liệt ấy, lại vu khống bôi nhọ các bậc trung quân ái quốc, các hào kiệt khi xưa. Chúng dùng mọi mưu hèn kế bẩn để nhằm một mục đích: CHÚNG QUYẾT TÂM BÁN NƯỚC TA MỘT LẦN NỮA.

Tội ác ấy trời không dung đất không tha, thiên địa quỷ thần đều muốn ăn tươi nuốt sống, thử hỏi ta không căm sao được! Có nỗi nhục nào hơn quốc nhục, có nỗi chia cắt nào lớn hơn chia cắt 2 miền! Ôi nghĩ đến chúng ta chỉ hận một điều không tự tay moi tim uống máu chúng cho hả dạ, không lột da xẻ thịt chúng cho thỏa nỗi hận căm !

Nhưng ta biết con dân Việt Nam ai cũng như ta, cũng đều căm hận chúng đến tận xương tủy, đều muốn xây dựng nước nhà chứ chằng ai muốn làm nô lệ. Vì vậy dù chúng có cả trăm mưu hèn, cả ngàn kế bẩn thì cũng chỉ có thể làm dân Việt thêm ghê tởm chúng thêm thôi !

Ta nói vậy các vị anh hùng đồng ý chứ!

Vận mệnh đất nước luôn là điều trăn trở của các bậc kỳ nhân, các anh hùng ái quốc nhưng xây dựng nước nhà thì lại là bổn phận của mọi con dân Việt Nam. Lên án cái xấu xa, không bao che sai trái, thẳng tay loại bỏ những kẻ yếu hèn cũng là một cách giữ giang san vậy !

Dẫu biết rằng đất nước đang khó khăn, biết rằng bổng lộc Nhà nước còn eo hẹp. Lại thêm bản chất của con người luôn vị kỉ, tham lam. Nhưng ta không thể không bức xúc về tình trạng tham ô ăn hối lộ của các quan trên. Đồng tiền kiếm được đâu phải là dễ, như ta đây khi hành nghề cửu vạn, lúc lại chăm chút ruộng điền, kiếm được miếng cơm cũng cơ cực muôn phần. Ta luôn ghi nhớ ta được hưởng thái bình là do Nhà nước, được học hành, được dùng các chính sách hỗ trợ y tế, giáo dục, cầu đường, an ninh..v..v.. đều do Nhà nước đem lại. Ta đóng thuế là bổn phận của con dân Việt Nam, đó cũng là quyền và nghĩa vụ của ta. Vì vậy ta không muốn đồng tiền thuế mà ta phải đổ mồ hôi sôi nước mắt được sử dụng vào mục đích cá nhân của bất cứ ai cả. Ta cho phép các quan ăn một phần nhỏ gọi là để cảm ơn các quan đã làm việc vì dân ta. Nhưng các quan phải làm được thì hãy ăn, còn không làm được mà chỉ ăn thì ta hận lắm! Dân ta cũng hận lắm !

Ta nói vậy không phải để mở đường cho các quan tham nhũng mà là nhắc nhở các quan hãy tỏ ra là người có GIÁO DỤC, bởi ăn quả phải nhớ kẻ trồng cây. Ta biết ơn các quan làm cho ta nên ta cho các quan một chén nước, nhưng các quan sống bằng bổng lộc Nhà nước, bằng thuế của dân ta thì phải biết ơn dân ta mà làm việc cho trách nhiệm !

Ta nói vậy các quan có cho là phải không ?

Còn ta nói với muôn dân Việt một vài câu như thế này, có gì không hay không phải các vị bỏ quá cho!

Bản thân mình không tài không cán hoặc có tài cán nhưng chưa đủ để lên điều hành con thuyền đất nước thì phải để cho những người khác họ làm. Họ phục vụ các vị chứ họ chẳng làm cho riêng mình, họ ngày ngày nghĩ cho cuộc sống của các vị chứ họ nghĩ cho họ được bao nhiêu? Họ trăn trở vì giá lúa thấp kém, suy nghĩ bạc đầu về hệ thống giao thông. Rồi nay xây bệnh viện này, mai xây dựng cầu nọ. Giá cả leo thang họ nghĩ cách bình ổn giá, xăng dầu phải nhập khẩu giá tăng cao thì họ trợ giá sao cho vừa túi dân mình..v.v.. Và rất rất nhiều nữa mà ta không kể hết.

Vậy họ không làm cho các vị thì cho ai?

Còn họ tham nhũng cường quyền tất nhiên là sai trái, nhưng đặt vào địa vị của họ các vị có dám chắc rằng mình sẽ không tham hay không? Có "Công chính liêm minh, chí công vô tư" hay không? Hay lại tham nhũng gấp trăm, lạm quyền gấp vạn!

Từ cái to đến cái bé, từ con chó bị trộm đến con gà bị chết các vị cũng đổ lỗi cho chính quyền? Hỏi như vậy có phải là quá đáng lắm không?

Ý thức của các vị thì tốt lắm. Các vị đi xe không đội mũ bị bắt cũng chửi, các vị chạy nhanh đánh võng rồi chống trả người thi hành công vụ xong bị bắt các vị cũng chửi..v..v.. Dù là phạm luật hay không phạm luật mà bị chính quyền sờ gáy là các vị lại chửi, các vị bị bắt xe đút lót được cũng chửi mà không đút lót được chửi! Kiểu gì các vị cũng chửi được! Hình như không chửi là các vị không ăn ngon, không ngủ yên được thì phải!

Ta thật ngán ngẩm vô cùng !

Thay vì các vị chửi đổng thì hãy tỏ ra có ý thức hơn đi! Đi xe đúng luật, kinh doanh lương thiện, xử sự ôn hòa không đánh chém nhau, kiên quyết không tiếp tay cho tiêu cực, không nài nỉ để đút lót. Và tìm hiểu thêm về pháp luật để nâng cao trình độ, có thể lật mặt những trò bẩn của các con sâu mọt trong bộ máy chính quyền. Được như thế thì tiêu cực sao có thể sinh sôi, đất nước sao có thể bất ổn.

Vài dòng của ta tuy thô nhưng nó thật, mong các vị bỏ chút thời gian ra đọc để cùng suy ngẫm !

Quốc Trung






Chúng ta sống vì cái gì?

Con người sống trên đời vì cái gì? Câu hỏi này tưởng chừng như đơn giản mà lại khó trả lời. Tôi biết rằng, hỏi như vậy thì sẽ có hàng tá câu trả lời khác nhau xa lắc xa lơ. Con người sống vì cái gì ư? Sống để “ăn” chăng? Tầm thường quá! Sống để hưởng thụ chăng? Cuộc đời này có gì mà hưởng thụ, nếu không muốn nói rằng đầy dẫy những đau khổ, những điều trái ý nghịch lòng? Hay như Nguyễn Công Trứ:

“Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông”.

Hay sống để tu thân, trở thành một  người “tận thiện tận mỹ”? Vậy thì tận thiện tận mỹ để làm gì rồi đến lúc nhắm mắt xuôi tay chúng ta chẳng đem nó theo được. Hoá ra chúng ta sống mà chẳng có mục đích gì cả. Vô vị quá!

Có lần trạng nguyên nước ta là Mạc Đĩnh Chi đi sứ Trung Quốc, nhân một buổi đi thăm, bị các quan nhà Nguyên chất vấn: “Ngài qua nước tôi đã lâu, cũng đã đi nhiều nơi, thăm nhiều phong cảnh, vậy ngài có biết trong một ngày có bao nhiêu người qua lại trên đường này hay không?

Các bạn thử nghĩ xem trên đường một ngày có biết bao người qua lại?, đừng nói rằng mình không chú ý mà cho dù có quang tâm đi chăng nữa, làm sao mà đếm cho hết, quả thật là một câu hỏi oái ăm. Mạc Đĩnh Chi thoáng ngập ngừng rồi vui vẻ trả lời: “Có hai người chứ mấy!”.

- Ngài có đùa không?

- Phàm người đi qua trên đường cái quan này nhiều thật nhưng chỉ có hai hạng người thôi: một vì danh và một vì lợi!

Câu trả lời hết sức sâu sắc, trừ những vị thánh sống trên cõi đời này, ai dám tự hào rằng mình sống mà chẳng vì danh, vì lợi? Mạc Đĩnh Chi chỉ trả lời đúng thôi chứ chưa đủ vì chẳng phải còn bỏ sót “những vị thánh” đó sao? Vậy những vị thánh sống vì cái gì?

Vì “hạnh phúc”, và chúng ta cũng vậy, chúng ta sống cho “hạnh phúc”. Chỉ đơn giản có hai chữ hạnh phúc mà sao lại nhiều câu trả lời khác xa nhau thế nhỉ? Bởi quan niệm về hạnh phúc khác nhau lắm. Người ta nói “chín người mười ý”, có người cho rằng hạnh phúc chỉ có khi làm thật nhiều tiền và họ hướng tới việc kiếm tiền, kẻ lại bảo hạnh phúc là quyền lực và danh vọng. Lẽ dĩ nhiên họ lao vào tranh giành quyền lực, danh vọng … Chắc chắn bây giờ trong lòng bạn đã suy nghiệm lại bản thân mình, biết quan niệm về hạnh phúc của mình như thế nào rồi? Thật ra quan niệm về hạnh phúc khác nhau là vì con người khác nhau về tâm hồn, về trí tuệ. Người “ngu” thì bám vào cái hạnh phúc tạm bợ thoáng qua, cũng như kẻ trộm đạo chỉ thấy được cái lợi tiền tài trước mắt, mà không thấy được gông cùm, xiềng xích, tù đày phía sau số tiền kia. Người có trí thì bám vào cái gì chắc chắn, lâu dài hơn. Còn bậc đại trí thì … chả bám vào cái gì vì họ nhận được sự hạnh phúc khi họ chẳng bám vào cái hạnh phúc nào cả, đối với họ thì danh vọng, tiền bạc như hạt bụi dưới chân, chẳng đáng bận tâm.

Tôi không nói đến người “ngu” xem hạnh phúc là quyền lực, địa vị, tiền bạc, danh vọng vì chúng ta đều biết những thứ đó có rồi mất như đoá hoa phù dung sớm nở tối tàn. Tôi cũng không dám nói tới những vị thánh, vì hạnh phúc của họ quá cao siêu. Chúng ta tạm tự nhận mình là người có chút trí tuệ, vậy hạnh phúc thật sự của chúng ta là gì?

Vào thập niên 70 của thế kỷ XX, tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung tràn ngập các tờ báo, trong số đó có bộ “Tiếu ngạo giang hồ” (Tiếng cười cao ngạo trên giang hồ) mang một tinh thần triết lý hết sức sâu sắc. Nhân vật chính là Lệnh Hồ Xung có cơ duyên học được một loại kiếm pháp mà yếu quyết là ở chỗ “Kiếm chiêu là chết, con người là sống, người xử kiếm chứ không phải kiếm xử người. Người ta đặt ra khái niệm phá chiêu là vì có chiêu thức, vậy nếu đánh mà không có chiêu thức thì làm sao mà phá, đó là cái lý lẽ vô chiêu thắng hữu chiêu”. Với một tinh thần như vậy, sau khi dẹp tan các thế lực đen tối, Lệnh Hồ Xung đã phủi tay phiêu du khắp nơi không bị ràng buộc bởi danh lợi, lề thói. Chàng đã thấm nhuần được ý nghĩa của hai chữ “hạnh phúc”, con người chỉ hạnh phúc khi sống đời sống của chính mình, làm những việc mình thích một cách an nhiên tự tại, đó chính là cái hạnh phúc của sự bình yên. Sự bình yên trong tiểu thuyết của Kim Dung có phần nào giống tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài “Cảnh nhàn”:

“Một mai một cuốc một cần câu
Thơ thẩn dầu ai thú vui nào
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

Vậy là quá rõ, hạnh phúc là bình yên. Nhưng hình như cái hạnh phúc của Lệnh Hồ Xung hay của Nguyễn Bỉnh Khiêm quá xa vời với chúng ta thì phải. Tôi biết, trong chúng ta, mỗi người là một phần tử của xã hội, có nhiều mối quan hệ xã hội, và chúng ta cũng cần phải đi làm để sống chứ, sống để mà còn … đi tìm hạnh phúc, phải không các bạn? Có một câu chuyện về hai bức tranh như thế này: Ngày xưa có một vị minh quân treo giải thưởng cho người hoạ sĩ nào vẽ được bức tranh đẹp nhất về sự thái bình thịnh vượng của nước nhà. Trong các bức tranh tham dự, nhà vua chú ý nhất là bức tranh vẽ một hồ nước trong xanh, mặt hồ in bóng những vườn cây trái sum sê, từng đôi thiên nga nhẹ nhàng lướt sóng hoà lẫn vào bóng của những đám mây trắng mịn … Tất cả mọi người đều công nhận bức tranh này xứng đáng được trao giải. Bất chợt nhà vua nhận ra trong góc còn một bức tranh nữa, ngay tức khắc nhà vua trao giải cho bức tranh này. Mọi người đều ngạc nhiên vì bức tranh ấy chẳng có gì là thanh bình cả, nó vẽ cảnh núi non lởm chởm, bầu trời u ám giận dữ trút những cơn mưa, từng dòng nước lũ tràn về cuốn phăng mọi thứ. Vẫn ôn tồn, nhà vua liền nói: “Các người có thấy không, trong cái hốc đá nhỏ xíu đó có một tổ chim rất đầm ấm, bình yên!”. Bấy giờ các quan lại mới để ý, quả thật có một tổ chim nhưng nó qúa nhỏ … Nhà vua tiếp lời: “ … Trẫm trao giải thưởng cho người hoạ sĩ này vì anh ta vẽ được sự yên bình thật sự, đất nước ta có ngày hôm nay chẳng phải nhờ vào biết bao xương máu của các tướng lãnh và tâm sức của các quan đại thần cùng toàn dân chống lại ngoại xâm hay sao? Ta cũng nhắc nhở các khanh ngoài kia bão táp phong ba vẫn còn đó … ”.

Chúng ta hiểu rằng, bình yên không có nghĩa là không có sự ồn ào, không có khó khăn, không có trở ngại. Sự bình yên tồn tại  ngay giữa cuộc sống này, giữa những trái ý nghịch lòng, chúng ta vẫn cảm thấy sự yên tĩnh trong trái tim. Hạnh phúc chỉ đến khi ý thức được rằng chúng ta đang sống trong hạnh phúc. Bạn hãy tận hưởng hạnh phúc trong từng phút giây bạn sống, trong từng công việc bạn làm, trong từng con người bạn tiếp xúc. Sống bình yên giữa cuộc đời là hạnh phúc.

Tôi viết bài này không có tham vọng đưa ra một định nghĩa, một chân lý về hạnh phúc trong cuộc sống, tôi chỉ xin đưa ra vài mẩu chuyện, vài nhận xét để chúng ta có cái nhìn từ nhiều khía cạnh rồi tự định nghĩa cho riêng mình; và cũng để chúng ta có một cái gì mà hướng tới, mà hy vọng bởi phía trước còn cả một chặng đường dài cần phải đi.

TUỆ MINH