Saturday, January 3, 2015

Các pháp không phải của ta

Hỏi: Kính thưa Thầy! Theo như trong kinh dạy, chúng con biết: thân, thọ, tâm, pháp cũng không phải của chúng ta, sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp và nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý cũng không phải của chúng ta. Như vậy, thân này còn có ý nghĩa gì?

Đáp: Trong kinh đức Phật dạy: Thân này không phải của ta, thọ, tưởng, hành, thức cũng không phải của ta, lục căn, lục trần cũng không phải của ta, cho nên nghiệp ác hay thiện cũng không phải của ta. Chỉ vì không hiểu rõ (vô minh) ta mới lầm chấp là của ta, do sự lầm chấp này, chúng ta mới bảo vệ nó tạo ra nhiều điều ác, khiến cho chúng ta phải thọ chịu khổ từ kiếp này đến kiếp khác không hề dứt, trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi.

Nhờ giáo pháp của đức Phật dạy, chúng ta mới hiểu rõ các pháp trong thế gian là do các duyên hợp mà thành, chứ không có một vật gì thường hằng vĩnh cửu, đức Phật nói: “Nếu còn có một vật gì thường hằng như một chút xíu đất trong móng tay Ta thì con người không thoát khổ và đạo Ta cũng không xuất hiện ở đời”.

Hiện giờ, chúng ta đã ngộ được lý duyên khởi ấy, nhưng tu cho thân, thọ, tâm, pháp, lục căn, lục trần, lục thức thật sự không phải là ta, của ta, thì phải tu hết sức và còn phải siêng năng, chuyên cần, tinh cần, tinh tấn và với một nhiệt tâm tha thiết tìm cầu sự giải thoát. Nếu không nỗ lực tu hành thì tất cả những thứ này chúng ta đều cho là thật có, là ta và của ta.

Khi muốn phá thân kiết sử này, ta phải sống một đời sống giới hạnh đầy đủ, phải độc cư trọn vẹn suốt 3 năm đến 5 năm, chứ không phải nói suông được với các pháp này. Hằng ngày phải tu cho đúng pháp, đúng cách, đúng căn cơ đặc tướng, nếu tu không đúng pháp, đúng cách, đúng đặc tướng căn cơ thì sẽ hoài công vô ích. Tất cả các pháp ấy vẫn bị dính mắc, đều là của ta, là ta. Nói thì rất dễ, nhưng bỏ cái ta và của ta rất là khó.

Tu cho đúng pháp của đức Phật dạy thì nghiệp quả của thân không còn ý nghĩa gì cả, vì chuyển nghiệp quả khổ thành nghiệp quả phước báo, nên thảnh thơi, an lạc và vô sự, còn tu sai thì muôn đời nghìn kiếp nghiệp thân cứ tiếp tục mãi tái sanh luân hồi và phải chịu thọ khổ vô lượng kiếp.

Nói các pháp không phải là ta, của ta thì dễ, nhưng tu tập để đến chỗ không còn là ta, của ta thì không phải dễ như trên đã nói. Chỗ này cái ta, của ta cần nên lưu ý: đây chỉ là một triết thuyết lý luận chơi, chứ không thể thực hiện được cái không ta của ta được. Người ta gán nhận cho đạo Phật là đạo vô ngã, nhưng thực ra chúng ta nghiên cứu kỹ lại đạo Phật thì đạo Phật là đạo “hữu ngã thiện pháp”“vô ngã ác pháp”. Do vậy đức Phật đã xác định có hai lộ trình: “Có hai đường đi, một là đường ác, hai là đường thiện, người làm ác từ đường ác đến chỗ khổ, người làm lành dạo chơi đường lành đến chỗ vui”. (Tăng Nhất A Hàm tập 3 trang 498). Đã đi trên con đường thiện thì làm sao gọi là vô ngã được? Thì làm sao gọi là không ta, không của ta được?

Do những điều trên đây, mà chúng ta suy ngẫm và tư duy biết rất rõ các pháp của đức Phật thực hiện được, còn tất cả các pháp của kinh sách phát triển và Thiền Đông Độ chỉ là những lý thuyết suông như: “Phật Tánh, vô ngã, vô sở đắc, ngã pháp đều không”, đó là những điều không thể thực hiện được.

Trích Đường về xứ Phật tập XIII
Trưởng lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây

Tinh thần khai sáng

Mưu cầu cái ăn, cái mặc, chỗ ở ổn định dựa vào hoạt động của khối óc và cơ thể là lẽ thường tình ở con người.

(...) Tất nhiên, đối với con người việc tự lập kiếm kế sinh nhai rất quan trọng. Người xưa thường dạy: "Hãy kiếm sống bằng chính mồ hôi của mình". Thế nhưng theo tôi, cho dù chúng ta có làm đúng theo lời dạy này thì cũng chưa phải là đã làm đúng trách nhiệm và nghĩa vụ với tư cách là con người. Lời dạy này mới dừng lại ở chỗ răn người ta làm người thì đừng để thua kém muông thú và cũng chỉ dạy có thế.

Các loài chim chóc, muông thú, tôm cá, côn trùng... tự chúng không kiếm mồi được sao? Ví như loài kiến chẳng hạn. Loài kiến không những biết kiếm mồi mỗi ngày mà còn biết làm hang, làm tổ, tích trữ mồi trong suốt mùa đông giá rét.

Vậy mà trên đời này, có không ít người, hành vi của họ cũng chỉ ngang với đàn kiến thôi mà cũng tự mãn.

(...) Nhưng, tôi lại hoàn toàn không nghĩ rằng loài người với tư cách là chúa tể của muôn loài - mới có được kết quả nhỏ nhoi như vậy mà đã coi là hoàn tất mục đích đích thực của cuộc đời.

Giải quyết được cái ăn, cái mặc, chỗ ở mà đã mãn nguyện, đã cảm thấy hài lòng rồi thì hóa ra cuộc đời con người trên thế gian này chỉ đơn thuần là được sinh ra rồi chết đi thôi hay sao? Tình trạng lúc anh ta chết đi có khác gì lúc được sinh ra. Tức là quanh quân vẫn chỉ là chuyện sao cho có nhà cửa, có cuộc sống ổn định và có của ăn của để nữa. Vẻn vẹn chỉ có vậy. và nếu đến thế hệ con cháu, cũng lặp đi lặp lại y hệt cuộc sống của anh ta thì dù có trải qua hàng trăm đời, làng xóm thị trấn nơi anh ta đã sống xưa thế nào nay chắc cũng vậy, không chút thay đổi.
Trích Khuyến học -Fukuzawa Yukichi

Giới trẻ Việt Nam hiện nay rất ư là “sành điệu”. Thế giới tranh nhau mua ipod, nội trong một tuần, ipod đã xuất hiện tại Việt Nam. Cả nước Mỹ lên cơn sốt vì PlayStation 3, Việt Nam cũng đâu tầm thường, cần thì cứ rao trên mạng là có người cung cấp ngay. Một nha sĩ Việt kiều Mỹ nói với tôi: “Ngày lễ Valentine ở Việt Nam cũng hoành tráng, không thua kém gì Mỹ”.

Trào lưu mua sắm hiện đại, sành điệu làm cho tôi cũng cảm thấy choáng ngợp, cứ ngỡ như mình đang sống trong một thế giới phẳng - một thế giới toàn cầu hóa không còn khoảng cách về biên giới mà Thomas Friedman mô tả. Thế giới có gì mình có đó, ở Việt Nam có thiếu gì đâu.

Thế nhưng một anh bạn của tôi là một PhD chuyên ngành kinh tế học ở Nhật kể lại một câu chuyện làm tôi suy nghĩ. Số là trong một cuộc trò chuyện có một đồng nghiệp của anh nói một câu rất bâng quơ: “Thanh niên bên đây được Fukuzawa khai sáng rồi, chừng nào thanh niên bên đó được khai sáng?”.

Anh bảo: “Về đến nhà ngồi vắt tay lên trán ngẫm nghĩ thì mới thấy thấm thía câu nói đó”. Tôi cũng phải suy nghĩ rất nhiều về câu đó bởi vì tôi biết Phúc Ông là ai và ông đã khai sáng, giúp cho dân tộc Nhật Bản phát triển như thế nào.

Fukuzawa Yukichi, tên theo âm tiếng Việt gọi là Phúc Trạch Dạ Cát nên còn gọi là Phúc Ông, là một nhà tư tưởng, giáo dục đã khai sáng cho tầng lớp thanh niên Nhật Bản lúc bấy giờ. Những tư tưởng về chính trị, xã hội, kinh tế mà Fukuzawa truyền bá là một căn nguyên phát triển của Nhật Bản cận hiện đại.

Trước một thực trạng giáo dục chỉ coi trọng hình thức bên ngoài, chỉ chú trọng đến việc dạy đọc/viết, nghĩa là chỉ quan tâm đến việc truyền bá kiến thức mà không quan tâm đến sự khuyến khích phát triển tư duy sáng tạo và độc lập, coi trọng chân lý và nguyên tắc, Fukuzawa đã dám “vượt lên chính mình” kêu gọi người dân hãy theo đuổi nền giáo dục thực học của phương Tây, dựa trên nền tảng khoa học và kỹ thuật.

Quan niệm của ông là học để thực hiện tốt hơn công việc của mình đang làm, để từ đó góp phần xây dựng đất nước chứ không phải học để có bằng cấp cao, để ra làm quan.

Fukuzawa là người đưa ra nguyên tắc nổi tiếng: "Độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân", tức là một xã hội muốn phát triển phải dựa trên những cá nhân có khả năng tư duy độc lập và sáng tạo, chứ không phải dựa vào chính phủ. Ông khuyên thanh niên tự tin vào sức mạnh cá nhân, sự suy nghĩ độc lập sáng tạo, mà không phụ thuộc vào sức mạnh của người khác, sự chỉ đạo từ bên trên. Nghĩa là hãy tự tin vào chính mình, đừng trông chờ, ỷ lại vào sự trợ giúp của chính phủ, đừng than van mà hãy bắt tay “làm một cái gì cho quê nhà tôi”.

Có thể nói không ngoa rằng nếu có Phúc Ông thì không có Nhật Bản ngày hôm nay. Ông đã giúp cho thanh niên Nhật Bản “thoát khỏi trạng thái vị thành niên” nghĩa là dám tin vào tư duy độc lập của mình mà không bị phụ thuộc hay ràng buộc bởi tư duy của người khác.

Trở lại với câu hỏi của diễn đàn: “Còn bạn, bạn đã chuẩn bị những gì? Khả năng ngoại ngữ, tin học, kiến thức chuyên môn, văn hóa, khả năng ứng xử, sự năng động... và gì nữa?”. Tôi cho rằng cái mà tôi và nhiều bạn trẻ khác đang thiếu chính là một tinh thần “khai sáng”, đó là tinh thần dám suy nghĩ một cách độc lập, tự tin vào khả năng của bản thân để có thể thực hiện được ước mơ và hoài bão của mình.

Rất nhiều, sẽ không thể biết hết và nói hết, nhưng cũng có thể chỉ tóm gọn lại trong một chữ: Cơ hội. Trong cuốn Thế giới phẳng đang gây xôn xao dư luận, Friedman đã viết một câu ngắn gọn và chí lý “Cơ hội đến với người luôn sẵn sàng”.

Và các bạn, hẳn các bạn cũng mong muốn mình có thể nắm bắt được nhiều cơ hội mới. Với những bạn trẻ đã đủ tự tin: tôi đang sẵn sàng - có lẽ đang rất háo hức đón chờ những thử thách phía trước. Song có người chắc rằng vẫn còn e ngại: tôi không đủ sức cạnh tranh với những bạn trẻ nước ngoài, những du học sinh VN khi mà vài năm nữa, tôi phải đứng trước nhà tuyển dụng song song với họ....

Vậy, theo bạn, chúng ta cần phải được trang bị những gì để có thể biết đâu là cơ hội và có cách nắm bắt lấy nó! Hãy cùng TTO chia sẻ sự chuẩn bị của mình và những cơ hội bạn đang tìm kiếm, bởi tất cả chúng ta đang và sẽ cùng với nhau nắm tay tiến bước ra thế giới...

Duy Linh
Nguồn: Tuổi trẻ

Ý chí tự do (free will)

Con người có quyền được lựa chọn và quyết định mọi suy nghĩ, mọi hành động, mọi kế hoạch cho mình hay không? Hay là do “Thượng Đế” sắp đặt trước. Nói một cách triết học là: “Con người có ý chí tự do hay không?” (Free will or not free will? Predetermined or not predetermined?)

Một việc xảy ra do ý trời (sự sắp đặt của vũ trụ) hay do ý người (sự tự do dùng ý chí của ta để sắp đặt sự việc). Ngôn ngữ Việt thường dùng chữ “thiên định” để ám chỉ một sự việc do trời, hay do quy luật vũ trụ, sắp đặt trước; và dùng chữ “nhân định” để ám chỉ một sự việc do chính ý chí của ta sắp đặt và quyết định. Cụ Nguyễn Du có lúc thì nhấn mạnh yếu tố thiên định, đến yếu tố nghiệp, như:

”Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng nên trách trời gần trời xa
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao”

Nhưng lại có lúc cụ lại nói như một lời an ủi:

“Có trời mà cũng có ta”

Hoặc: “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều!”

Vậy thì thế nào? Vũ trụ lập trình mọi sự kiện, mọi biến cố (thiên định), hay con người ta tự quyết định lấy số mệnh của mình (nhân định), hay là… năm mươi -năm mươi?

Trong suốt chiều dài lịch sử đây là một câu hỏi đau đầu, một vấn đề rất gai góc liên hệ đến mọi tôn giáo, mọi triết học, mọi khía cạnh nhân văn, xã hội, luật pháp, đạo đức v.v… Có vô số những lời giải đáp, có vô số những câu trả lời, đưa đến vô số những quan điểm và nhận định hoàn toàn trái ngược nhau.

Trong đời sống hàng ngày có vẻ như ta rất tự do. Ta muốn đi, đứng, nằm, ngồi, hay làm bất cứ việc gì đó, tất cả là do quyết định của ta, tức là do ý chí (will, volonte’) của ta. Nhưng có đôi khi ta lại thấy dường như không phải vậy. Ngay cả đối với bản thân ta nhiều khi, rất nhiều khi, ta chẳng có quyết định gì được cả.

Ta không muốn già, không muốn bệnh, nhưng cơ thể vẫn cứ già, cứ bệnh. Hoặc ta rất muốn có đủ trí thông minh để đối chọi với đời, hoặc ta rất muốn hoàn tất một dự định, hoặc ta rất muốn thành đạt; nhưng muốn là một chuyện, còn có thực hiện được không lại là một chuyện khác. Cầu thủ tiền đạo đến trước khung thành đối phương, rất muốn sút vào goal, tất cả cổ động viên hàng trăm ngàn người đều muốn như thế, nhưng muốn là một chuyên, banh có đi vào lưới hay không đó là chuyện khác. Rõ ràng: Man proposes but God disposes! Con người dự tính nhưng Thượng đế quyết định!

Từ hiểu biết về vấn đề vô thức, nghiệp, sự quy định sinh học của genes, khiến ta khó chứng minh được rằng con người ta có quyền tự do lựa chọn trong ý nghĩ và hành động của mình. Rồi trong thế kỷ này, thuyết Big Bang càng ngày càng được kiểm chứng. Nghĩa là sự thành lập vũ trụ tùy thuộc vào những hằng số lúc ban đầu, đưa đến một diễn tíến nhất định (determined process) để hình thành thế giới chúng ta. Chính đây là luận điểm mạnh mẽ nhất, chứng minh chúng ta đã bị lập trình từ trước. Lập trình từ cơ thể sinh học đến cơ chế tư duy, hành vi ứng xử v.v…

Về mặt Pháp luật, tất cả các bộ luật đều bắt con người phải chịu trách nhiệm về hành động của mình (trừ khi bác sĩ xác nhận bị bệnh tâm thần). Về mặt tôn giáo, nhiều tôn giáo lớn cho rằng con người ta có ý chí tự do (free will), có thể làm những gì mình muốn, có thể quyết định những lựa chọn của mình. Vì có ý chí tự do nên con người phải chịu trách nhiệm về tất cả những hành động của mình. Tín đồ Catholic phải chịu trách nhiệm về quyết định việc mình theo Chúa hay theo Satan, lên thiên đàng hay xuống địa ngục. Ngay cả Phật giáo cũng có những luân điểm như vậy. Anh phải làm điều thiện và tránh điều ác. Những lời dạy như vậy phổ biến trên hầu hết các tôn giáo, các bộ luật, các nhà xã hội, các nhà đạo đức…

Về mặt thế gian, luật pháp phải đòi hỏi con người có ý chí tự do, đòi hỏi con người phải chịu trách nhiệm với hành động của mình. Đó là chuyện đương nhiên, nếu không thì còn gì luật pháp, còn gì an ninh trật tự. Về mặt đạo đức, nếu anh không chịu trách nhiệm về tội lỗi của anh thì xã hội sẽ ra sao?

Về mặt tôn giáo cũng vậy? Những tôn giáo lớn, thường cũng đều cho rằng con người phải chịu trách nhiệm với hành động của chính mình, điều này gián tiếp cho rằng con người có ý chí tự do. Từ quan điểm này, tín đồ thường nguyện làm điều thiện tránh điều ác, nguyện làm điều này, nguyện tránh điều kia. Nhưng “nguyện” là phải dùng tới ý chí, nếu ý chí của tôi được tự do thì tôi mới thực hiện lời nguyện được. Ngay ở đây, một câu hỏi phải được nêu lên: Liệu con người ta thực sự có ý chí tự do để quyết định mọi hành động của mình hay không?

Ta thấy rằng tính tất định của vũ trụ, luật nhân quả, nghiệp, vô thức, genes đã chi phối, quy định toàn bộ hiện hữu của con người. Nghĩa là những nhận thức này đưa tới những hệ luận mâu thuẫn với phần lớn các quan điểm về tự do ý chí đang phổ biến trong xã hội con người. Tự do ý chí của con người dường như là nhận thức phổ thông và phổ biến. Tự do ý chí dường như là một chấp nhận hiển nhiên, không cần chứng minh. Vì thế, bài viết chỉ đưa ra đây một vài ví dụ cho quan điểm “con người không có tự do của ý chí”:

– Kinh cựu ước: Mỗi một sợi tóc rụng cũng là ý của chúa (tất cả mọi hiện tượng mọi sự kiện xảy ra là do ý chúa). Không hiểu sao Cựu ước nhận thức như vậy, mà đến Tân ước và nhà thờ hiên tại thì con người phải chịu trách nhiệm về hành động của mình. Đáng lẽ ra “ổng” làm “ổng” chịu chứ.

– Cả Do thái giáo lẫn Hồi giáo cũng rất lúng túng khi phải giải thích về ý chí tự do. Họ cố gắng giải thích sao cho có sự quân bình giữa quyền quyết định tối cao của thượng đế với cái ý chí tự do của mỗi con người, giống như giải pháp của cụ Nguyễn Du.

– Triết học tây phương cũng đau đầu về vấn đề này. Những khuôn mặt lẫy lừng như Kant, Nietzche, Schopenhauer, Hume, Spinoza và nhiều người nữa cũng đều cho là vũ trụ và con người đều bị quy định trước (predetermined) như vậy có gì còn được gọi là ý chí tự do? Triết gia Đức Schopenhauer viết:

“Nếu một hòn đá đang bị ném bay trong không trung mà nó biết suy nghĩ thì nó cũng nghĩ là nó đang bay bằng ý chí tự do theo quỹ đạo mà nó muốn.”

Hòn đá vô tri vô giác nếu có ý thức thì điều đầu tiên nó mơ ước là có được tự do trong hành động của mình, huống hồ là con người một sinh vật có ý thức! và luôn luôn tự hào về mình. Chính vì nỗi khao khát này mà rất nhiều người muốn chứng minh con người có ý chí tự do, có quyền quyết định và chịu trách nhiệm với hành động của mình.

– Sáu phái Triết học Ấn độ hoặc công khai hoặc không công khai cũng đều phủ nhận cái cho là Ý chí tự do.

– Mục Kiền Liên, đệ tử Phật, người rất nhiều thần thông và pháp thuật cuối đời bị một đám đông người của giáo phái khỏa thân bao vây và đánh hội đồng tan xương nát thịt cho đến chết. Bạn bè nói chuyện với thần thức của Mục Kiền Liên:

– Sao ông lại để chịu chết như vậy, những thần thông đệ nhất của ông đâu? Sao không tàng hình, hoặc đằng vân bay đi, mà đứng đó đưa lưng chịu đòn?

– Các ông chưa hiểu nghiệp là gì! Lúc nghiệp đổ ào ào tới, thần thông cũng chẳng xoay chuyển nổi!

Về Ý chí thì mình muốn làm mọi cách để sống nhưng nghiệp thì bắt mình chết, ai cũng biết điều đó. Câu chuyện Mục Kiền Liên chỉ dù là huyền thoại, nhưng sự xuất hiện của câu chuyện đó trong lịch sử Phật giáo chứng minh rằng đã có ý nghĩ về sự bất lực của con người trước nghiệp, trước định mệnh.

Tính tất định của vũ trụ, luật nhân quả (law of cause and effect), nghiệp, genes, là những cái quy định hình dạng cơ thể, trí thông minh, cho cả đến toàn thể vân mệnh một cá nhân. Sự chứng minh và tranh luận về quan điểm này, sẽ vượt quá khuôn khổ bài viết. Nếu ai đã tìm hiểu căn kẽ, và đã tin ở sự quy định đó, thì quả thực khó thấy được cái phần tự do trong mọi tư duy và hành động của mình. Tôi cũng khao khát tự do như bạn, tôi cũng muốn chứng minh rằng, dù bị nghiệp quản thúc, bị genes quy định nhưng tôi vẫn có tự do ý chí để thực hiện những nguyện ước của tôi. Nhưng thực sự là không thể được, thực sự rất khó tìm được chứng minh cho cái tự do của tôi.

Có người nói tình trạng bị quy định (predetermined) và ý chí tự do (free will) là hai vấn đề khác nhau. Ta phải phân ra làm hai lãnh vực, lãnh vực vật chất thì bị quy định, còn lãnh vực tinh thần thì tự do. Tiếc rằng lý luận vừa nêu rất khó thuyết phục, bởi vì tách thế giới ra làm hai phạm trù độc lập không phù hợp với tính thống nhất hiển nhiên của vạn vật.

Có người nói Cơ học lượng tử (quantum physics) chứng minh rằng dù thế giới vật lý có bị quy định (predetermined) bởi những hằng số nào đi nữa thì vẫn có những sai lệch xác suất (probability) do tính bất định của hạt. Nghĩa là trong thế giới hạt (micro world) không có sự qui định tuyệt đối. Nghĩa là thế giới vĩ mô mà ta đang sống (macro world) cũng không hẳn bị qui định tuyệt đối. Tuy nhiên những chống chỏi như thế đều rất yếu về mặt lý luận. Ví dụ như nói cơ học lượng tử bế tắc trước sự bất định của hạt thì đó là tại vì cơ học lượng tử bế tắc chứ biết đâu một nền cơ học khác thì không bế tắc và lại tuyên bố không có cái gì là bất định. Theo tôi nhìn vấn đề từ quan điểm vật lý là rõ ràng nhất:

Nếu vũ trụ được hình thành theo một quy trình nhất định với những hằng số (constants) được tự nhiên lựa chọn trước, thì mọi hiện hữu, mọi sự kiện của thế giới, xảy ra sau đó, tất yếu cũng đều diễn ra theo một diễn trình không thể thay đổi. Từ vận động vĩ mô của vũ trụ đến từng hành động hay suy nghĩ của một cá thể cũng đã đều được lập trình. Thuyết này gọi là tất định luận (determinism). Theo tất định luận, trên thế giới này không có gì gọi là tự do ý chí hay ý chí tự do cả.

Nếu bạn kể rằng, ngày xưa, có lần bạn thất bại trong cuộc sống, nhưng nhờ ý chí mạnh mẽ mà bạn đã đứng dậy, vươn lên, vượt qua được nghịch cảnh để trở thành con người thành đạt hôm nay. Nếu bạn tin rằng diễn trình này chứng minh bạn đã có tự do ý chí, thì xin thưa: Toàn bộ diễn trình đó, sự thất bại ban đầu, nỗ lực phấn đấu vượt khó sau đó và sự thành đạt hôm nay, tất cả đã được lập trình. Tất cả mọi hiện hữu, mọi diễn biến đều đã được định trước, kể cả sự xuất hiện ý chí mạnh mẽ của bạn lúc đó.

Thế sao thực tế là lúc nào tôi cũng cảm thấy dường như mình có tự dọ quyết định điều này điều nọ. Tình trạng “cảm thấy” này được giải thích như sau: ví dụ như có một con Robot được lập trình sao cho, trước một tình thế, nó phản ứng được với mười cách ứng xử khác nhau. Ta cho rằng con Robot này rất thông minh, nhưng ta biết nó không có ý chí tự do, vì tất cả mười cách phản ứng cùa nó đã được lập trình sẵn, nó không biết đến cách phản ứng thứ mười một và hơn nữa.

Nhưng nếu một nhà lập trình siêu việt trong tương lai viết được một phần mềm, sao cho con Robot có thể có đến vô số những lựa chọn, thì chắc bạn không dám gọi nó là Robot nữa. Lúc ấy Robot sẽ thông minh không khác người sản xuất ra chúng. Và lúc ấy con Robot cũng không chịu nhận mình là Robot, chúng sẽ nói chúng có ý chí tự do, chúng sẽ tự quyết định sự tồn tại của chúng, chúng sẽ làm một cuộc nổi dậy chống lại con người. Phim khoa học giả tưởng (science fiction) mà bạn xem trên TV chắc chắn có một giá trị nhất định.

Trường hợp con người cũng vậy, do tương tác duyên khởi trùng điệp, con người có một số quá lớn những lựa chọn trước một tình huống. Do đó ta luôn luôn có cảm giác như được tự do trong những lựa chọn hoặc quyết định của mình. Mà không biết rằng ngay từ lúc khai thiên lập địa, ở những phút đầu tiên của Big bang, toàn bộ hiện hữu và tiến trình vận động của vũ trụ đã bị quy định. Lúc nào protein được thành lập, lúc nào xuất hiện sinh vật đơn bào, lúc nào xuất hiện sinh vật đa bào, lúc nào có con người đầu tiên, sinh lý cơ thể con người vận hành thế nào, tư duy con người vận hành theo những phản xạ ra sao… Tất cả đều được định trước.

Khi nào hình thành xã hội, cấu trúc xã hội ra sao, khi nào chiến tranh, khi nào hòa bình tất cả đều được lập trình trước. Nhưng con người, sinh vật sinh sau đẻ muộn trong suốt chiều thời gian thăm thẳm đó, luôn luôn tin mình độc lập với tự nhiên và quyết định hết mọi diễn tiến của lịch sử loài người. Trong cuộc đời riêng tư của mình, thì con người còn lại tin chắc hơn nữa về sự tự do của nó. Sở dĩ thế, vì thiên nhiên đã lập trình cho con người rất nhiều lựa chọn trong cách ứng xử của nó.

Tại sao đa số con người tin tưởng ở ý chí tự do, tin tưởng mình có khả năng lựa chọn, mà lại có thiểu số rất ít người lại đặt dấu hỏi nghi ngờ về cái tự do này. Đây là thiểu số bi quan (pessimistic)? Đúng, tất cả các triết gia đã tìm thấy sự bất lực của con người, tìm thấy sự không tự do trong ý chí con người, đều nhận rằng mình là kẻ bi quan. Nhưng sự thật rõ ràng, không phải cứ lạc quan là chân lý. Nếu nhanh nhạy, ta sẽ thấy ngay, chính các triết gia đó mới là những người khao khát tự do nhất. Họ là thiểu số muốn tìm đến cái tự do tuyệt đối, cái tự do tuyệt đối mà đám đông không dám nghĩ tới và thực sự cũng không có khả năng nghĩ tới. Rất tiếc là các triết gia Tây phương luôn đặt vấn đề mà lại thường bất lực khi tìm giải pháp cụ thể.

Đạo học đông phương cũng đối mặt với vấn đề tự do ý chí, câu trả lời của đạo sư Vivekananda có thể là một trong những ví dụ cho minh triết của đông phương:

“Tự do ý chí” tự thân nó là một cụm từ mang những nghịch lý. Không thể có tự do ý chí. Vì ý chí là cái ta nhận thức được, mà cái ta nhận thức được, nghĩa là nó phải hiện hữu trong thế giới này. Bất cứ cái gì hiện hữu trong thế giới thì phải chịu chi phối của thời gian, không gian, luật nhân quả. Muốn tìm thấy tự do, phải vượt qua thế giới này.

“Therefore we see at once that there cannot be such thing as Free-Will; the very words are a contradiction, because will is what we know, and everything that we know is within our universe, and everything within our universe is moulded by conditions of time, space and causality…To acquire freedom we have to get beyond the limitation of this universe; it can not be found here.” (Free will in theology, Wikipedia)

Thế giới chúng ta đang sống bị quy định bởi hai chiều thời gian và không gian. Tất cả hiện hữu, hay hiện tượng, đều xuất hiện và diễn tiến theo một quá trình nhất định, chi phối bởi luật nhân quả. Người ta gọi đây là “thế giới nhân quả”. Trong thế giới nhân quả không thể có tự do ý chí.

Vũ trụ quan Phật giáo quan niệm có hiện hữu của vô lượng thế giới. Kinh Hoa Nghiêm gọi là “thế giới Hoa Nghiêm”. Trong đó có những thế giới không nằm trong vũ trụ của Vật lý học hiện đại, những thế giới không xuất hiện theo diễn trình Big Bang, những thế giới mà lý trí con người không thể nhận thức được. Vũ trụ quan Phật giáo còn phân biệt trong Tam giới và ngoài Tam giới. Lý trí hữu hạn chắc chắn không hình dung được khái niệm “Tam giới” của Phật giáo. Lý trí hữu hạn chẳng thể biết giới hạn Tam giới là thế nào. Nhưng chúng ta có thể biết chắc một điều, thế giới nhân quả nằm trong tam giới. Cứu cánh tối hậu của đạo Phật là vượt qua Tam giới, để đạt đến Niết Bàn. Niết bàn nằm ngoài tam giới. Do đó chỉ khi nào mức tiến hóa tâm linh vượt qua tam giới, vượt qua nhân quả, ta mới tìm thấy tự do tuyệt đối.

Cuối cùng là một cách nhìn rõ ràng nhất, cho thấy bản chất không tự do của ý chí. Đó là nhận ra mối quan hệ giữa ý chí và bản ngã. Đối với Phật giáo, “ngã” không tồn tại một cách độc lập, ngã không có tự tính. Cho rằng có một “bản ngã” tức có một cái ta, đó là một ảo tưởng. Trong chân lý tuyệt đối, “ngã” không có thực. Tất cả chân lý về “ngã” làm cho con người trần thế chơi vơi. Tương tự như thế với “ý chí”, cái xuất phát từ “ngã”. Ý chí xuất phát từ bản ngã (cái tôi), cái không có tự tánh, nên ý chí do đó cũng là giả hợp. Ý chí cũng chỉ là ảo tưởng hệt như chủ nhân của nó tức là bản ngã. Điều này càng làm cho con người trần thế hoảng loạn hơn nữa. Cho nên cần phải hiểu rõ toàn bộ vấn đề bản ngã hay ý chí trong nhận thức minh triết nhất.

Bài viết này cố gắng đưa ra một số lý luận về “ảo tưởng của bản ngã” hay “ý chí không tự do” trong ánh sáng của nhiều nguồn minh triết, và nhất là của đạo Phật, chẳng qua là muốn tự định hướng trên con đường tu tập. Căn bản của Đạo Phật là sự thực hành. Câu trả lời cho vấn đề “ảo tưởng của bản ngã” hay “ý chí không tự do” không chủ yếu nằm trong sự tranh luận. Trong quá trình tu tập, thực hành và thành tựu, hành giả (practitioner) sẽ tự tìm ra lời giải đáp cho mình.

Friday, January 2, 2015

KHÔNG AI ĐƯỢC QUYỀN ĐỨNG TRÊN PHÁP LUẬT!

Người công giáo Việt nam không thích chính quyền Việt nam? Đó là quan niệm sai lầm! Chả riêng gì Việt nam mà người công giáo trên khắp thế giới đều như vậy!


Không phải họ cho rằng chính quyền xấu, cũng không phải họ mất gốc. Sự thật là với họ, chúa là đấng tối cao, không ai cao hơn được. Cho nên các đức cha khi là đại diện của chúa trời sẽ phải cao hơn tất cả những người khác, kể cả tổng thống, chủ tịch nước, thủ tướng vân vân...

Phải vô cùng khó khăn họ mới có thể chấp nhận được việc một ông đức cha nào đó bị ra tòa vì tội phản bội tổ quốc hay chống phá cách mạng, giết người, hiếp dâm trẻ em, vi phạm pháp luật. Họ cho rằng, các đức cha của họ còn phải cao hơn cả một ông quan tòa mới nhậm chức được dù là vài chục năm hay vài năm.

Với họ: Chẳng có lý do gì mà một đức cha chỉ chấp nhận nghe lệnh từ chúa trời mà lại phải lên trình diện một ông chủ tịch phường, cái chức cỏn con, chẳng là gì so với thiên mệnh của đức cha ấy.

Thiên chúa đứng trên tất cả, với họ là vậy, kể cả pháp luật!

Họ không chấp nhận rằng, tôn giáo cũng phải chịu sự quản lý của pháp luật chứ không thể nào đứng trên pháp luật. Cho nên khi nước Anh đòi tự phong vương, khôn chấp nhận tuân thủ theo Vatican, ngay lập tức Tây ban nha thừa hành lệnh của giáo hoàng sang Anh trừng phạt và đã bị một bài học thích đáng. Rồi sau này tới Đức và nhiều quốc gia khác đang từng bước buộc Vatican phải chấp nhận luật chơi!

Duy nhất một số quốc gia, bao gồm cả Việt nam, nơi đó các con chiên vẫn chưa chấp nhận sự thật đó. Với họ, thiên chúa là cao nhất, không gì sánh nổi.

Đã tới lúc người công giáo Việt nam phải chấp nhận luật chơi! Thiên chúa của các vị cũng không thể đứng trên quyền lợi dân tộc!

Linh Nguyễn

Điều gì khiến chúng ta quay cuồng vì đồng tiền?

Điều gì khiến cho người ta quay cuồng với cuộc sống đến vậy? Kẻ nghèo lăn lộn với mưu sinh vì cái dạ dày đã đành, người khá giả cũng lặn ngụm trong vòng quay danh lợi. Vì lẽ gì mà nhiều người phải tối mắt tối mũi để kiếm tiền?

Cho dù tham lam là đặc tính cố hữu của con người, nhưng có lẽ không phải vì thế. Phải chăng nhiều người trong chúng ta “cày” ngày “cày” đêm là vì con? Nếu có chút gì đó vì bản thân thì đó chính là sức khỏe.

Hóa ra việc làm, giáo dục và y tế nó tác động tới con người ta ghê thật! Vươn lên để làm giàu cần khuyến khích, nhưng điên cuồng bằng mọi giá thì chứng tỏ xã hội đó đang có gì đó không ổn. Và cái “không ổn” ấy, tựu trung lại, liên quan đến việc làm, giáo dục và y tế?

“Hy sinh đời bố củng cố đời con” không chỉ là câu bông lơn cửa miệng mà nó đang được thực hiện ráo riết và triệt để. Là một nước Á Đông, chúng ta không có thói quen để con cái “tự bơi” khi tới tuổi 18 như các nước phương Tây. Và nền giáo dục của ta, đến thời điểm này, cũng chưa nhấn mạnh yếu tố tự lập. Con cái trưởng thành có gia đình riêng nhiều khi vẫn cậy nhờ bố mẹ hoặc được bố mẹ tự nguyện bao cấp.

Đời sống có chút cải thiện, cái ăn không còn thúc bách thì nỗi lo cho sự học nổi lên. Tiền trường là nỗi kinh hoàng của nhiều gia đình đầu năm học. Nhà khá giả thì tìm cách cho con vào trường điểm hoặc đi du học. Mọi người đều đồng tình: Đầu tư cho con là đầu tư bền vững. Và mọi người cũng đều thừa nhận: Muốn tìm được việc làm có thu nhập cao thì càng phải đầu tư vào việc học.

Thực ra lo cho con học cũng chỉ vì cái đích cuối cùng là việc làm. Việc làm thời suy thoái kinh tế đã hiếm thì chớ, những chỗ “mát mẻ”, dễ kiếm tiền thì không phải ai cũng thò chân vào được. Và thế là chỉ còn hai lựa chọn, hoặc là kiếm tiền thật nhiều để chi phí cho những chỗ làm “thơm tho”, hoặc là phải tạo điều kiện để con học giỏi hơn những ứng viên giỏi khác để lọt mắt xanh nhà tuyển dụng.

Với nền giáo dục trong nước èo uột như hiện nay thì đang có một cuộc chạy đua cho con đi du học. Đây là sự lựa chọn sáng suốt nhưng đồng thời cũng là cỗ máy xay tiền khổng lồ.

Như vậy, dù học trong nước thì chi phí cũng không nhỏ. Hiến pháp 2013, Điều 61 vẫn quy định tiểu học không thu học phí nhưng thực tế lại có quá nhiều các khoản phí khác phát sinh.

Xã hội càng phát triển, con người càng quan tâm đến sức khỏe. Khi chính sách bảo hiểm y tế chưa thỏa mãn được người bệnh, năng lực của bệnh viện còn hạn chế, còn nhiều tệ nạn…, thì không một ai yên tâm. Họ cần phải có thật nhiều tiền để phòng thân. “Vào viện không có tiền là chết” đừng xem là câu nói đùa.

Khi không phải quá lo cho việc học, việc làm; lo cho sức khỏe bản thân và gia đình lúc ốm đau, thì lúc đó người ta cũng bớt dần đi cái suy nghĩ tích cóp tài sản, tiền bạc; bớt đi cái tham vọng ngoi lên chiếc ghế quyền lực và củng cố các mối quan hệ với mục đích không trong sáng. Còn như hiện nay, nhiều người luôn quay cuồng để kiếm “một cục tiền” lo cho con cái, để phòng thân lúc về già hay khi sa cơ lỡ vận. Trong vòng xoáy man dại đó đôi lúc khiến người ta bất chấp tất cả.

Trong xã hội, các lĩnh vực đều gắn kết chặt chẽ và tác động qua lại. Song không phải ngẫu nhiên mà nhiều quốc gia đưa giáo dục, y tế, việc làm vào nhóm phúc lợi xã hội. Họ càng ngày càng làm tốt các lĩnh vực phúc lợi này vì nó giúp ổn định xã hội, giải phóng nguồn lực, kích thích và khơi nguồn cho những hoạt động lành mạnh, tích cực trong xã hội. Còn người dân thì yên tâm công hiến khi đã có trong tay bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp thất nghiệp, bảo hiểm y tế, còn giáo dục phổ thông được miễn phí hoàn toàn.

Theo VOV

Con người và xã hội đương đại với những khủng hoảng

Chưa bao giờ nhân loại lại phải đương đầu với lắm tệ nạn xã hội, và hiện trạng phức tạp như ngày nay. Hằng ngày có không biết bao nhiêu cảnh tượng đau lòng khủng khiếp, xấu xa bại hoại diễn ra trên thế giới và trong xã hội mà chúng ta hoặc chứng kiến hoặc được báo chí truyền hình đã truyền tin đăng tải.

Nào là chiến tranh khủng bố, nào là giết người cướp của, nào là xì ke ma túy, nào là bạo động biểu tình. Rồi thì, sự trừng phạt của thiên nhiên do môi sinh bị tàn phá, sự bùng nổ của những căn bệnh thế kỉ, sự đau đớn của những nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da cam. Thêm vào đó, hiện tượng li hôn, phá thai, tự tử, đạo đức xuống cấp, và nhiều tệ nạn xã hội khác đang ngày càng gia tăng đến mức báo động.

Tất cả những hiện trạng này cho thấy rằng con người và xã hội hôm nay đang đứng trước những khủng hoảng về tư tưởng, đạo đức, đặc biệt là về một nếp sống đẹp, và những khủng hoảng này mang tính chất toàn cầu chứ không phải riêng của một hay chỉ vài xã hội quốc gia cá biệt nào.

Khủng hoảng tư tưởng

“Tư tưởng không mang đến tri thức như những nhà khoa học, tư tưởng không mang đến sự khôn ngoan hữu ích cho phương thế hành xử trong cuộc sống, tư tưởng không giải quyết bất cứ ẩn ngữ nào của thế giới, tư tưởng không mang đến tức khắc những sức mạnh cho hành động”.

Nhưng, tư tưởng thật sự quan trọng, bởi nó vạch ra mục đích và hướng dẫn thái độ sống của con người. Con người có sống tốt đẹp hay không, xã hội có được ổn định hay không đều bắt nguồn từ tư tưởng. Nói như Hòa thượng Thanh Từ:

“Động cơ chính gây nên tội ác hoặc khiến con người đầu ngục nhớp nhơ trong biển sanh tử là tư tưởng. Ngược lại tạo vô lượng phước đức, đưa con người đến quả thanh tịnh giải thoát cũng do tư tưởng. Tư tưởng thủ một vai trò trọng yếu nhất trong đời người. Người nên, hư, tốt, xấu, tiến, thối... đều do tư tưởng quyết định”.

Điều này có nghĩa là, con người không thể có một đời sống cao cả giá trị, nếu không có một tư duy tốt đẹp, đúng đắn; xã hội sẽ không được ổn định nếu bị hướng dẫn bởi các hệ tư tưởng lệch lạc sai lầm. Và ngày nay, nhân loại với những thảm họa khôn lường ấy, phải chăng chính là hệ quả bởi sự khủng hoảng một hệ tư tưởng nhân văn làm nền tảng cho sự phát triển và tồn tại của xã hội?

Hỏi đã hàm nghĩa trả lời. Hãy nhìn xã hội loài người mà xem, tại sao con người ta lại dễ dàng tự tử? Tại sao có quá nhiều người lảng phí và hủy hoại đời mình bằng các cuộc rượu chè cờ bạc, xì ke ma túy? Rõ ràng tư tưởng của họ đang khủng hoảng. Họ mất phương hướng sống, sống không có lí tưởng, không có mục đích, sống chới với giữa dòng đời trăm ngã, không tìm ra được ý nghĩa và giá trị đích thực của cuộc đời. Chính vì thế, đối với hạng người nầy, cuộc đời quả thật vô vị. Do đó họ dễ dàng kết liễu đời mình chỉ vì những chuyện “chẳng đâu vào đâu”. Trường hợp của N.V. Tâm sau đây là một điển hình.

Chuyện kể rằng, trưa hôm đó Tâm đi đám cưới người quen, tới chiều về nhà nồng nặc mùi rượu nên bị mẹ la “đã không tiền không lo mần ăn mà còn nhậu hoài!”. Tâm tự ái ra sau nhà lấy dây treo thắt cổ, không kịp trăng trối.

Rõ ràng là một cái chết lãng. Nhưng, thế giới nầy đâu chỉ có một N.V.Tâm mà còn nhiều N.V.Tâm như thế. Nguyên nhân tại đâu? há chẳng phải do sự bất ổn của tư tưởng mà ra? Các vấn đề còn lại như xì ke ma túy, rượu chè cờ bạc, và các tệ nạn xã hội khác cũng vậy, đều là biểu hiện của những người sống mất định hướng, không có một lí tưởng sống.

Mặt khác, khủng hoảng tư tưởng còn đuợc nhìn thấy ở những con người có lí tưởng có mục đích, nhưng mà lí tưởng và mục đích vị kĩ, thấp hèn, và tàn bạo. Đây chính là động cơ thúc đẩy các cuộc chiến tranh đẩm máu, khủng bố bạo động và sự hãm hại lẫn nhau trong cuộc sống hằng ngày. Đúng như lời của Hòa thượng K.Sri Dammanada:

“Là một con người, chúng ta phải có mục đích cho cuộc sống. Kẻ không theo đúng con đường Chân chánh của đời sống sẽ không bao giờ nhìn thấy mục đích của cuộc đời và nếu không giữ một vài nguyên tắc cao thượng, kẻ đó sẽ trở nên   nguy hiễm cho xã hội. Không nghi ngờ gì, các nhà khoa học, tâm lý học đã mở rộng tầm tri thức cho chúng ta, nhưng họ đã không thể cho chúng ta một mục đích sống mà những nguyên tắc thánh thiện có thể đem đến.”

(As human beings we must have an aim in our life. A peson not observing a righteous way of life and will never find the aim of life and if he does not uphold some noble principles he can even become a danger to society. No doubts scientists and psychologists have widened our intellectual horizon, but they have not likewise been able to give us a purposse in life, which only noble principles could do.)

Vậy, vấn đề đặt ra ở đây là con người không chỉ sống có lí tưởng, có mục đích, mà còn phải là những lí tưởng và mục đích cao cả chân chánh. Đây là điều kiện cần và đủ để con người sống xứng đáng là một con người. Từ đó tạo dựng một xã hội ổn định hơn và trật tự hơn. Thế nhưng thời nay con người ít sống với lí tưởng và mục đích như thế. Và đó là lí do khiến cho xã hội loài người ngày càng trở nên hỗn loạn và phức tạp.

Có lẽ xã hội đang thiếu vắng một tư tưởng hệ đúng đắn để chỉ đạo tư duy và nếp sống của con người. Mặc dù thế giới hôm nay có rất nhiều hệ tư tưởng, nhưng hầu hết các hệ tư tưởng ấy cũng đang rơi vào khủng hoảng, ngay cả các hệ tư tưởng được xem là “ Vị Nhân”như là hệ tư tưởng triết học, hệ tư tưởng khoa học, hay hệ tư tưởng tôn giáo học. Điều nầy cũng dễ hiểu, bởi lẽ trong khi thế giới đang đang đòi hỏi một hệ tư tưởng đúng đắn để chỉ đạo và hướng dẫn tư tưởng con người hướng về Chân- Thiện- Mỹ, thì triết học, khoa học, và một số tôn giáo học lại không làm được như thế. Chúng ta sẽ tìm hiểu sơ về tôn chỉ của ba hệ tư tưởng này để thấy rõ sự bất lực của nó trong thế giới hôm nay.

Tư tưởng triết học thì chỉ giải quyết được những thắc mắc nội tâm và nhu cầu tri thức của con người, như là trả lời câu hỏi “giữa vật chất và ý thức cái nào có trước cái nào có sau và cái nào quyết định cái nào” cũng như “con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?”. Điều nầy có ý nghĩa gì đối với hiện trạng rối ren của thế giới? Sau đây là nhận định của Thích Tâm Thiện :

“... Tư duy triết học quả là một tiến bộ của nhân loại. Song, những chủ đề mà tư duy triết học quan tâm, tìm kiếm như các chủ thuyết về duy tâm luận khách quan, chủ quan, ý chí kinh nghiệm, trực giác v.v... đều là những viễn kiến của tri thức hữu hạn của con người. Do đó mỗi chủ thuyết đều bị giới hạn bởi khái niệm, ngôn từ và nhất là bởi những thiên kiến. Tuy nhiên cái khuyết điểm lớn nhất của tư duy triết học là ở chổ tính chất giả định của nó hoàn toàn bất lực trong việc định hướng một con đường đi vào chân lí và hạnh phúc thật sự cho con người. Vì với con người, hạnh phúc là chân lí của đời sống hiện hữu chính là đối tượng thực thụ ngìn năm mà con người đi tìm kiếm. Vì thế, trước khát vọng thống thiết của con người: chân lí hạnh phúc, mọi cơ cấu của các luận triết trên đều rơi vào tha hóa”.

Nào riêng gì triết học, mà dưới sự thành tựu và phát triển của khoa học kĩ thuật, con người càng bị tha hóa nặng nề hơn và “toàn diện” hơn. Nói như thế không có nghĩa là chúng ta phủ nhận vai trò của khoa học. Nhưng sự thật là khoa học càng tiến bộ thì thế giới càng có nhiều biến động hỗn loạn. Điển hình như là sự ô nhiễm môi trường do chất thải từ các nhà máy, con người sát hại lẫn nhau thông qua các vũ khí hết sức hiện đại... Vụ khủng bố có tính chất lịch sử vào ngày 1-9-2001 tại Hoa Kì, các cuộc chiến tranh đẩm máu ở Apganistan, ở Irac v.v...tất cả đều có liên quan đến sự tiến bộ của khoa học kỉ thuật. Có thể nói rằng khoa học không những không giải quyết được những khủng hoảng của thế giới mà còn làm cho thế giới tăng thêm sự khủng hoảng.

Vậy, triết học, khoa học, không phải là cơ sở để ổn định thế giới đang hỗn loạn, thế thì tôn giáo có làm được chăng?

Chúng ta biết rằng, tôn giáo là điểm tựa cần thiết cho tinh thần của con người. Nhưng hầu hết các tôn giáo đều ru ngủ con người trong ảo tưởng bằng các thuyết thần linh định số, hay sự tồn tại của một đấng toàn năng. Điều này ở một mặt nào đó nó có lợi thật sự vì dù sao nó cũng cho con người một niềm tin để sống. Nhưng mặt khác nó làm tê liệt ý thức vươn lên để hoàn thiện nhân cách của con người, đồng thời nó khiến con người sống buông xuôi phó mặc. Đó là chưa nói đến các dị giáo cuồng tín như là các giáo phái “thiên niên kỉ”. Nhìn vào các dị giáo nầy ta mới thấy con người bị khủng hoảng tư tưởng đến mức độ nào.

Nói tóm lại, khủng hoảng tư tưởng là một bi kịch của cuộc sống, vì nó đưa xã hội loài người rơi vào hai cực đoan: một là sống phó mặc, bất cần đời, sa đọa và trụy lạc; hai là sống tham vọng, đấu tranh, bạo tàn và tội ác. Hệ quả của hai lối sống nầy là đạo đức con người bị suy thoái trầm trọng. Cho nên có thể nói rằng, liền theo sự khủng hoảng tư tưởng là khủng hoảng đạo đức.

Khủng hoảng đạo đức

Đạo đức là điều kiện không thể thiếu trong cuộc sống con người, là cơ sở chuẩn mực để con người được gọi là Người đúng với ý nghĩa đích thực của nó. Thế mà ngày nay đạo đức con người bị suy thoái trầm trọng. Cái gọi là đạo lý, là lương tâm, là tình người, càng ngày càng ít được quan tâm; để rồi sự hận thù, tranh chấp, ác độc, và tàn bạo lan tràn khắp mọi nơi.

Trong gia đình, cái đạo đức luân lí bị đảo lộn. Con cái thay vì “một lòng thờ mẹ kính cha” thì giờ đây lại xuất hiện cái tệ nạn chửi mắng, hành hung, thậm chí có kẻ nhẫn tâm giết chết người đã sanh ra mình. Vợ thì âm mưu hãm hại chồng để tự do qua lại với người đàn ông khác, chồng thì chỉ một chút giận hờn mà công khai dùng bạo lực đối với vợ.

Nhà trường, nơi được xem là nền tảng, là cơ sở cho sự hình thành và phát triển đạo đức thì giờ đây bị xúc phạm đáng kể. Một số học sinh rơi vào nghiện ngập tiêm chích, dẫn đến trộm cắp, thậm chí giết người cướp của. “Những thiên thần của thế giới” nầy thế là trở thành tội phạm của quốc gia. Hiện tượng trò đánh thầy cũng không phải là không có. Ở các nước phương Tây, nhất là ở Mỹ, học sinh tự do mang súng vào trường, chúng đe dọa, hành hung giáo viên, nếu những người này la rầy hoặc cho chúng điểm kém.

Ngoài xã hội, người ta mưu hại lẫn nhau để tranh giành danh vọng và địa vị. Hai chữ đạo đức hầu như bị lãng quên.

Đạo đức bị khủng hoảng, có những con người sống đời sống của những con quái vật, mang thân người mà hoàn toàn mất hết tính người. Đó là những kẻ giết người không gớm tay, xem sự giết chóc chỉ là trò chơi giải trí. Sự khủng bố tàn khốc vào ngày 1-9-2001 như trước đã nêu là một minh chứng vậy.

Trong lịch sử thế giới, có bao giờ con người lại ăn thịt đồng loại mình, thế mà ngày nay lại có mới là điều đáng nói. Sự thật này đã xảy ra trên đất nước Philipines mới hồi tháng 8 của năm (2004) nầy. Chuyện kể rằng, có bốn người sau khi giết người họ hàng của mình rồi dùng dầu hỏa và lá dừa để quay thịt người ấy. Ăn xong, họ đem số thịt còn lại “phục vụ” cho khách mời đám cưới ( vốn xỉn nên không hay biết gì).

Tóm lại, trong thế giới hôm nay, vấn đề đạo đức bị khủng hoảng trầm trọng. Từ châu Mỹ, châu Âu, cho đến tận châu Á; từ thế giới, xã hội, cho đến tận gia đình; từ đời thường, báo chí, cho đến tận phim ảnh...đâu đâu cũng thấy những hiện trạng suy thoái đạo đức, bại hoại gia phong. Đến nỗi, xem phim ảnh cũng khiến cho người ta cảm thấy căng thẳng và sợ hãi. Sau đây là lời tâm sự của nhà báo Đoha Chams, ông ta than phiền rằng, những triệu chứng hoảng sợ bắt đầu xuất hiện kể từ khi ông ta rinh chiếc ti vi vào phòng, ông phải nhiều đêm mất ngủ và mơ thấy những giấc mơ khủng khiếp bởi những hình ảnh cực kì bạo lực, cực kì xấu xa, và cực kì nhảm nhí mà ông đã được xem từ đó. Những hình ảnh ấy được Đoha Chams tường thuật như sau:

“Bấm remote ở beirut, bạn có thể thấy gì? Trên kênh đầu tiên, một thằng nhóc bị quỉ ám đang rình lúc trăng tròn để “thịt” cha mẹ nó. Tôi dừng lại hơi lâu ở kênh thứ hai, bởi vì ở đây có robert de niro (tài tử gạo cội Mỹ). Ông ta sắm vai chính trong một bộ phim có mấy anh em trai bị bà mẹ xúi quẩy ăn nằm với một cô gái trước khi “thịt” cô ta. Kênh kế tiếp có những sinh vật ngoài hành tinh với cái đầu và đôi tai dài ngoẵng, chỉ phản ảnh duy nhất ý niệm về “ người ngoài hành tinh” của các đạo diễn mỹ. Rồi tôi bấm kênh khác, thấy một đám diễu hành mà những người tham gia đều mặc đồ liệm. Đó là tin tức nói về cuộc trình diễn các xác chết ở Iraq xen lẫn với cuộc họp báo của tổ chức Ân xá quốc tế tố các lính Anh giết hại thường dân nước nầy. Bấm tiếp romote, tôi sang đén kênh tử vi của Rifaat al-Assad( bác của tổng thống syria), rồi đến một mộ phim nhiều tập của Mexicô, trong đó một ả đẹp ác lấy một anh chàng bô trai vừa mới li dị với cô bạn thân (cũng đẹp ác) của ả, trong khi bà mẹ chồng (đẹp dữ dội) tìm cách thủ tiêu ả. Kênh kế tiếp chiếu xác những binh lính Isreal bị hành quyết sau khi đột nhập giải gara. Kênh sau đó phát một bộ phim nhiều tập của Ai cập, trong đó mơn mớn niềm kiêu hãnh”bốn vợ”của nam giới trung lưu Ả rập”.

Đó là một bức tranh thu nhỏ về những “gương mặt đen của” xã hội đương đại. Chúng ta có thể cho rằng đó chỉ là phim ảnh, nhưng nó phản ánh đúng hiện thực của một xã hội xuống cấp về đạo đức.

Đạo đức là nét đẹp muôn thủa của con người. Nó là điều kiện đầu tiên cần phải có để con người xây dựng một nếp sống nhân bản, cao quý- Một nếp sống đẹp - Cho nên, một khi đạo đức bị khủng hoảng, thì nếp sống đẹp cũng bị khủng hoảng vậy.

Nói tóm lại, khủng hoảng tư tưởng làm cho con người mất thăng bằng trong cuộc sống, điều nầy có ảnh hưởng rất lớn đến đạo đức luân lí làm người, xã hội do đây thiếu vắng những nếp sống đẹp, xã hội mà thiếu vắng những nếp sống đẹp là động cơ cho các tệ nạn và bạo lực hoành hành. Chúng ta biết, đời người có ý nghĩa và giá trị, gia đình được hạnh phúc êm ấm, xã hội ổn định và trật tự, thế giới an lạc và thanh bình...tất cả đều do con người biết sống và sống đẹp. Thế mà ngày nay mọi nếp sống đẹp dần dần bị thiếu vắng. Các đạo lí vốn rất cao quý mà người Việt Nam thường quan tâm nhắc nhở như:

“Kính trên nhường dưới ”

“Thương người như thể thương thân”

“Lá lành đùm lá rách”

“Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”

. v.v.., đã bị mai một dần.

Xã hội thiếu đi sự tương thân tương ái, con người phần nhiều sống theo chủ nghĩa “sống chết mặc bay”, “mạnh ai nấy sống”. Nói chung, đạo đức và tình người ít được chú trọng. Các lối sống lịch sự, lễ độ, đức hạnh, nhân từ...thật đẹp biết dường nào, thế mà ngày nay chẳng có là bao. Người ta xung đột nhau bằng ánh mắt, ngôn từ, và hành động: nhìn nhau bằng cái nhìn ác cảm, thù địch; nói năng thì toàn những lời “bất hảo” làm nản lòng người; hành động thì trái với chân lí, trái với chuẩn mực xã hội, làm cho quan hệ giữa người và người ngày càng trở nên xấu đi. Đây quả là vấn đề hết sức nan giải mà con người và xã hội đương đại đang phải đối đầu. Nếu xã hội loài người cứ tiếp tục với những nếp sống như thế, thì không biết rồi thế giới nầy sẽ đi về đâu? Cho nên vấn đề cấp thiết được đặt ra bây giờ là, mọi người phải cùng nhau xây dựng nếp sống đẹp, vì đây là giá trị tồn tại của xã hội loài người. Song, muốn được như vậy, xã hội đòi hỏi phải có một triết lí nếp sống đẹp đúng đắn chung nhất để làm cơ sở chỉ đạo cho tất cả.

Chân Huệ Minh

Cách thức tu tập xả tâm

Muốn trau dồi tâm xả các pháp thì ta phải làm sao? Hãy tìm một nơi thanh vắng, tịch mịch như trong rừng, gốc cây, hang đá, khe núi, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, bóng mát, trong chòi lá để tập xả các pháp. Ở ngay trung tâm thành phố thì làm sao xả được?

Sau khi ăn cơm độ hai tiếng đồng hồ, khi thức ăn đã tiêu hóa, lúc không thấy no, ta mới bắt đầu tu tập: ngồi kiết già, lưng thẳng, an trú, đặt niệm trước mặt, quán sát:


Con người ta sinh ra từ sắc dục. Nó là con đường sanh tử, luân hồi, cho nên ta phải lấy nó làm đối tượng quán chiếu. Nó là con đường đưa đến đau khổ cho ta và cho người. Thương yêu, cưới nhau, rồi sinh con đẻ cái, lo nuôi nấng cho con lớn khôn, rồi dựng vợ, gả chồng cho nó. Cả một đời đau khổ! Vậy mà người ta cứ chạy theo sắc dục. Quả là vô minh! Quả là ngu si! Ta phải như lý tác ý: “Sắc dục là con đường sanh tử của muôn loài, con đường đau khổ từ kiếp này sang kiếp khác. Ta ph ải xả bỏ, từ khước, thoát ly, ra khỏi, từ giã, không nên để tâm vướng mắc nó nữa.” Ngồi yên lặng một lúc thì ta lại tác ý xả nữa, xả hoài cho đến khi nào ta thấy tâm ta hoàn toàn sạch hết thì sự tu tập mới viên mãn.

Đức Phật dạy như thế mà thôi, riêng Thầy, rút ra từ kinh nghiệm bản thân, Thầy dạy cho các con để tu tập rốt ráo, để thấy con đường giác ngộ thênh thang. Nếu không đặt niệm trước mặt, không dùng pháp hướng như lý tác ý thì khó mà xả được tâm này. Nó chờ cơ hội để bùng lên như lửa. Ta phải tu tập hoài để cho nó thấm nhuần tận xương tủy mới thôi. Chớ có tưởng ngồi im lặng một lúc thấy khinh an, hỷ lạc mà hài lòng. Hàng ngày các con phải siêng năng trau dồi, tu tập câu này để đoạn tuyệt, dứt tận tâm ái dục. Bản thân chúng ta sinh ra từ cha mẹ ta cũng là do tâm này, cho nên ta cũng không dễ gì mà dứt được tâm này.

Nếu câu này mà chưa đạt được kết quả (hãy còn dục) thì ta hướng tâm như lý tác ý: "Sắc dục là bất tịnh, là uế trược, nhớt nhao, hôi thúi, khó chịu vô cùng, tạo muôn ngàn tật bệnh, tai ương, và truyền nối nhau nhân quả luân hồi từ kiếp này sang kiếp khác, không bao giờ dứt, một người để lại muôn người khổ, nối tiếp nhau vô cùng vô tận. Ta phải xả bỏ, xa lìa, viễn ly vĩnh viễn, xem nó như rắn độc, ung nhọt, cho nó là hiểm nguy nhất, là tai họa, là ác độc, là bệnh truyền nhiễm, nan y, khó chữa. Dứt khoát từ bỏ!" Câu sau mạnh hơn, như truyền lệnh thì may ra ta mới có thể xa lìa. Cuộc đời tu hành là cả một sự rèn luyện, trau dồi chứ không thể nói suông được. Nhắc xong là ta ngồi đó để lặng tâm, giữ tâm thanh thản. Một lúc sau ta lại nhắc nữa, nhắc hoài như đập những nhát búa để cho tâm dần dần thấm nhuần, trau dồi tâm, xả sạch sắc dục, thấy sắc dục là ta hoảng sợ, không dám nghĩ tới. Nếu không thì nó sẽ ngủ ngầm, tạm thời nằm yên, nhưng có dịp là nó len lén ngắm nhìn (người nữ). Tu tập được thì thấy nó như rắn độc, là bệnh tật, là khổ đau, không còn cảm giác thích thú nữa.

Trong kinh Tứ Niệm Xứ có dạy trên thân quán thân, nhưng đây là dạy chung chung, người tu tập chưa nắm vững. Thí dụ Phật dạy trên thân quán thân để khắc phục tham ưu của mình mà mình không biết lúc nào khắc phục tham ưu, lúc nào khắc phục bất tịnh. Ở đây ta xả cái tâm sắc dục, tâm ái bằng cách đặt niệm trước mặt, tức là trên thân của ta quán thân, quán thân mình và quán các pháp bất tịnh. Sau này có dịp Thầy sẽ giảng rõ hơn, dùng câu pháp hướng nào để phá vỡ, cái nào mà ta đang bị vướng mắc. Người đọc kinh sách Phật, không hiểu mà tu tập, nay pháp này, mai pháp khác, không có kết quả cụ thể, càng tu càng chán nản, lầm đường, lạc vào pháp tu của ngoại đạo mà cứ tưởng là pháp Phật.

Tóm lại, muốn xả tâm vô lượng ly sắc dục thế gian thì ta phải siêng năng trau dồi tâm xả của ta. Hàng ngày không được biếng trễ thì mới xả ly được. Hãy tinh tấn, chớ có phóng dật theo nó, nghĩa là luôn luôn tinh tấn, ngăn chặn, nhất là đối với nữ sắc. Đó là điều tiên quyết quan trọng. Đừng có nhìn gương mặt người nữ, đừng có nhìn tướng tá, làn da người nữ, mắt, môi của người nữ. Phật dạy: Ta không thấy có một pháp nào lôi cuốn người nam bằng nụ cười, ánh mắt, làn da, hương thơm của người nữ. Vậy muốn tập xả tâm này thì ta không được phóng tâm theo nó, đừng chạy theo nó. Ráng tập luyện xa lìa nó như vậy độ ba tháng sau quý vị sẽ thấy kết quả rất tuyệt diệu. Nếu quý Thầy tu tập mà hôm sau gặp các bà, các cô mà nói chuyện huyên thuyên thì thà rằng trở về nhà cưới vợ cho xong, ngồi tu cho có hình thức làm gì, vô ích.

2. Xả tâm vô lượng của báu, vàng bạc của cải thế gian:

Xả tâm vô lượng là xả tất cả (vô lượng) các pháp, mà tiền bạc châu báu là thứ khó xả nhất. Bởi vậy phải tu tập, nhắc đi, nhắc lại nhiều lần. Ta nghe chuyện ông Bàng Long Uẩn đem hết của cải, vàng bạc đổ hết xuống sông, nhưng có mấy ai làm được? Có người cho rằng ông ta ngu quá, tại sao không cho người khác? Đó là suy nghĩ không đúng. Ta đã biết nó là tai họa, ta cố chừa bỏ mà ta lại mang cái khổ, cái họa cho người khác hay sao? Ông Bàng Long Uẩn thấu rõ điều ấy nên ông vứt bỏ, không nuối tiếc.

Ta phải ngồi kiết già, lưng thẳng, đặt niệm trước mặt, dùng pháp như lý tác ý câu này: "Tiền bạc, của cải, châu báu là những thứ vật chất lôi cuốn ta rất mạnh, làm cho tâm ta ưa thích, say mê mà chạy theo, tạo ra biết bao điều tội ác. Người nông dân khó nhọc mới có hạt gạo cho ta ăn, lưỡi cày đã cắt đứt biết bao nhiêu côn trùng, rồi thuốc trừ sâu, diệt cỏ ... Đó là cái nghề lương thiện mà còn mang nghiệp sát, huống hồ là những nghề không lương thiện, lường gạt, hãm hại nhau vì từng đồng bạc mà xâu xé giết hại nhau." Nên lấy câu trạch pháp này mà trau dồi nhiều lần để tâm ta thấm nhuần.

Tiền bạc của cải, châu báu thế gian là tên chủ độc tài, sai bảo ta làm bất cứ cái gì ta cũng mờ ám vâng theo, tạo ra rất nhiều tội lỗi. Vậy ta phải từ giã, xa lìa, ông chủ này để thoát kiếp nô lệ. Chính nó bắt ta hút thuốc, uống rượu, cờ bạc, tạo nhiều điều tội lỗi.

Những kẻ xa lìa tiền bạc, của cải, danh lợi mới là bậc chân tu. Khi họ cất chùa to là họ bị đồng tiền sai sử. Ta phải ghi nhớ điều này: người tu sĩ không nô lệ cho ông chủ tiền bạc. Nếu các tu sĩ mà còn cất giữ tiền bạc, tiếp nhận của cải vật chất thế gian càng nhiều thì càng ăn ngủ không yên (sợ vua tịch thu, chính phủ nghi ngờ, kẻ gian vào, trộm cướp hãm hại) mạng sống như chỉ mành treo chuông. Vì vậy ta phải xa lìa, dứt bỏ chúng. Phải ghi nhớ mãi câu pháp hướng, như lý tác ý để ta vĩnh viễn xa lìa vật chất chế gian, trau dồi tâm xả vô lượng.

Đó là xa lìa của cải, tài sản lớn. Người tu thì không ham tài sản, của cải lớn, nhưng có người lại kẹt vào tài sản, của cải nhỏ như cái y, cái bát, cố cất giữ cho riêng mình.

Tùy theo đặc tướng của mỗi người mà lựa chọn một trong hai pháp hướng kể trên. Hoặc có thể dùng câu pháp hướng sau đây: "Tài sản, của cải, vật chất chế gian là rắn độc, ung nhọt, truyền nhiễm. Có ngày ta sẽ bị rắn độc cắn, hoặc bị bệnh truyền nhiễm. Ta hãy xa lánh nó như bị bệnh cùi; đừng cất giữ, đừng tích trữ." Tóm lại, cần trau dồi, tu tập tâm này cho đến khi thấm nhuần mới mong viễn ly được tâm đắm nhiễm tiền bạc, châu báu thế gian.

3. Xả vô lượng tâm danh: Danh là tiếng khen, tiếng ca ngợi, tán thán, tốt đẹp, chứng ngộ, chứng đạo, được trao truyền quan chức, trao truyền tâm ấn, cấp bằng này, cấp bằng nọ, Đại Đức, Sư Bà, Sư Trưởng, Hòa Thượng, Thượng Tọa, Giám Đốc, Phó Giám Đốc, Viện Trưởng, Phó Viện Trưởng, Viện Chủ, Pháp Chủ, thiền đức, cao tăng, giới đức, thánh hiền, thần, thánh, tiên, Phật. Ai mà không muốn làm trụ trì? Ai mà không mong làm Pháp Chủ, Viện Trưởng? Khi được danh thì người ta thích thú, nên bị thu hút chạy theo danh. Có người quá cuồng loạn, rồi thất vọng, tự tử. Có người công danh không thành, tình yêu bị phụ rẫy nên vào chùa đi tu. Có kẻ mơ được cái danh nhỏ như làm thầy thông, thầy ký, thầy giáo, cô giáo (còn hơn là làm đầy tớ bị người ta xem thường). Có người làm phó đội trưởng mơ làm lên đội trưởng; khi làm đại tá thì mặt cứ ngẩng lên trời, nghênh ngang chẳng coi ai ra gì. Thật ra những người có quyền có chức cũng là con người như ta. Họ cũng có niềm vui, nỗi buồn, bệnh hoạn, khổ sở như bao nhiêu người khác. Vậy thì tại sao lại phải khúm núm trước kẻ quyền uy? Việc gì mà ta phải sợ hãi?

Có người đi làm từ thiện, kêu gọi người ta đóng góp, rồi cầm tờ giấy khen để khoe thiên hạ là mình đã cúng chùa bao nhiêu tiền, giúp cho bao nhiêu viện mồ côi, đã bao nhiêu lần tạc tượng, đúc chuông, v..v... Nhưng thử hỏi tâm họ có thật từ thiện không? Hay là mở miệng ra thì mắng chửi người như tát nước? Vậy thì ta thương người ở chỗ nào? Chạm tự ái họ là họ muốn giết ta. Có người thì đến đâu cũng có tiền hô hậu ủng, có năm, mười chiếc xe chạy theo hộ tống?

Tóm lại, danh là thứ dục nuôi lớn bản ngã con người. Bản ngã lớn lên theo cái danh vọng, địa vị của người ta. Hôm qua còn làm đầy tớ, ngày nay làm quan thì cái mặt cứ vênh váo. Như người đánh xe ngựa cho Thừa Tướng Yến Anh, anh ta cứ tưởng mình là Thừa Tướng, nên đi đâu cũng quát tháo, đánh đuổi người ta. May mà anh có bà vợ biết điều, đã sửa đổi tâm tánh anh. Bởi vậy ta phải thường xuyên như lý tác ý: "Tâm con người ai mà không háo danh. Phải đánh cho nó gục xuống, đừng bao giờ để cho nó có cơ hội vùng lên." Đến phần thực hành, chúng ta cần phải lưu ý, tâm chuyên nhất cảnh. Ta phải chọn một nơi thanh vắng, như bãi tha ma, sơn lâm, đống rơm, chòi lá, gò mả, đồng trống, gốc cây, gộp đá. Sau khi ăn cơm xong, nghỉ ngơi độ hai giờ, ta ngồi thẳng lưng, như lý tác ý. Thí dụ:

- "Danh là một dục lạc ảo giác, nuôi lớn ngã mạn, khiến tâm ta thường đau khổ, hay tranh cãi, lý luận, phiền não. Ta hãy xả bỏ, từ bỏ, chỉ biết có tu hành thanh tịnh tâm để ra khỏi sanh tử, luân hồi mà thôi."

- "Danh là tên giặc hão huyền không có thật. Nó thường lôi cuốn tâm ta tỏ ra những hạnh xấu, hiu hiu, tựđắc, tự cao, tựđại, cống cao, ngã mạn. Ta hãy xem như không có thật. Ta chỉ là một con người như bao nhiêu người khác, một con người rất tầm thường mà thôi."

- "Danh là một thứ dục lạc, vô hình, thu hút, cám dỗ ta rất mạnh, khiến cho ta thêm ngã mạn, cống cao, do đó sanh ra ngũ triền cái (tham, sân, si, mạn, nghi). Danh khiến cho triền miên đau khổ, vậy ta ph ải cương quyết từ bỏ, viễn ly, xa lánh cái danh."

 - "Danh là một dục lạc có một ma lực vô hình, cám dỗ, lôi cuốn con người vào trong sanh tử luân hồi. Vậy ta từ phải bỏ, viễn ly, xa lánh cái danh dù bất cứ trường hợp nào."

Người tu sĩ lãnh đạo tăng đoàn mà lãnh cái danh vào chùa là lãnh rắn độc, rắn sẽ cắn chết chúng tăng. Vậy người tu sĩ phải xa lánh cái danh, cái lợi để cứu lấy chúng tăng, và cứu lấy Phật giáo. Hàng ngày ta phải đặt niệm trước mặt, hướng tâm như thế, không khéo thì bản ngã ta nó đồ sộ thêm lên theo cái danh ấy. Người tu sĩ phải ghi nhớ là trong năm pháp dục lạc thì danh là hơn cả, khó trị vô cùng. Phải đập nhẹp nó, trừ khử nó. Đừng để cho nó vùng lên, và điều khiển ta.

4. Xả tâm vô lượng tâm ăn:

Làm người ai mà không thích ăn ngon. Xả cái ăn không có nghĩa là ta ăn muối, mà chính là xả cái tâm tham ăn. Nó là một dục lạc lớn trong đời ta. Nên nhớ ăn để mà sống, chớ không phải sống để mà ăn. Hãy quán cái ăn như uống thuốc, như trị bệnh ghẻ lở.

Ăn mà thấy ớn, thấy ngán, là bị dục lạc cám dỗ. Ăn mà thấy ưa thích cũng bị dục lạc cám dỗ. Chừng nào không ưa thích ăn ngon, không chê thức ăn dở, không ngán, không ớn là không bị dục lạc ăn cám dỗ.

Tóm lại, ăn là thứ dục lạc ghê gớm (do thức ăn tiếp xúc với vị giác) tạo nên sự ưa thích, cám dỗ khó cưỡng lại. Phàm phu không học thánh pháp và tùy pháp nên thường bị ngã gục trong mặt trận cám dỗăn uống này. Chỉ có bậc tu hành, giữđúng giới hạnh mới thoát ra được. Thí dụ lâu ngày không ăn đường thèm quá, thấy ai mời một ly sữa là phóng tới lấy ngay. Thèm chua, nghe người ta tả trái me chua cũng đủ chảy nước miếng, huống hồ là nghe người ta ăn, nhai nhóp nhép.

Muốn không thèm ăn thì phải thường như lý tác ý để cho thành tựu. Bị cám dỗ bởi cái kẹo, ly nước chanh, hay một viên sinh tố (vitamin) C, hoặc viên thuốc có dạng kẹo (kẹo ho) còn mang tội ăn phi thời, huống hồ là ăn các thức ăn khác. Người tu hành phải diệt trừ cái tâm tham ăn, làm chủ cái ăn, không ăn phi thời. Tu thiền mà ăn một ngày ba bữa thì chừng nào mới làm chủ được sống chết? Người nào còn chạy theo dục lạc ăn, ăn phi thời là phi phạm hạnh, là ngạ quỉ, quỉ sa tăng.

Phần đông các tu sĩ ngày nay, từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc đều bị quỷ dục lạc ăn cám dỗ và lôi cuốn xuống địa ngục. Không khắc phục được ma dục ăn thì làm gì tu được chánh thiền, chánh định! Tu sai một hào ly là cách xa đạo giải thoát một ngàn dặm. Đi tìm đạo giải thoát mà tự trói mình trong ăn uống thì giải thoát ở chỗ nào? Người ở thế gian bị lôi cuốn vào cái ăn đã đành, người tu sĩ không giải thoát được cái ăn không thấy xấu hổ sao? Như vậy thì làm sao giải thoát sinh tử? Có người nhập thiền định không ăn uống từ bảy ngày cho đến một tháng mà không chết (sau đó phục hồi dần cơ thể, sinh hoạt lại bình thường). Nhập thiền định một ngày là làm chủ sống chết một ngày, nhập được một tháng là làm chủ sống chết được một tháng.

Người tu làm chủ sanh, già, bệnh, chết, ưu bi, sầu khổ là chỗ nào? Đó là chỗ lìa được ba cái dục danh, sắc, lợi nói trên. Ở đây, lìa cái ăn tức là lìa sống chết. Người tu sĩ phải từ bỏ tài sản nhỏ, tài sản lớn, bà con quyến thuộc nhỏ, bà con quyến thuộc lớn, từ bỏ danh lợi thế gian, quyền tước lớn, nhỏ, để sống thiểu dục, tri túc (ba y một bát). Đó là sống như lời Phật dạy: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành thì mới giải thoát được sanh, già, bệnh, chết, ưu bi, sầu khổ, chấm dứt luân hồi.

5. Xả vô lượng tâm ngủ:

Ngủ là một trong năm thứ ngũ dục lạc, khiến cho ta thích thú, ham ngủ. Ngủ cũng là trạng thái ngu si, mê muội, bần thần, dã dượi, lười biếng. Cho nên người lười biếng là người ham ngủ. Ăn chơi, trác táng, cờ bạc, rượu chè, thức khuya, làm việc quá nhiều cũng sanh ra buồn ngủ.

Trong việc tu tập thiền định thì ngủ có nhiều cấp độ:

Hôn trầm: Ngồi một lúc là gục xuống, rồi lại ngẩng lên.

Thùy miên: Cúi đầu xuống, quẹo cổ qua một bên và ngủ thiếp đi.

Hôn tịch: Lúc mê, lúc tỉnh, mơ mơ, màng màng. Thí dụ: Ý tu tập đếm hơi thở mà lúc nhớ, lúc quên.

Vô ký: Chợt quên. Khi quên thì tâm không còn tỉnh giác, vọng niệm liền khởi.

Ngoan không: Vô ký kéo dài là ngoan không, còn gọi là không ngơ. Ngoan không là nguyên nhân phát sinh ra trí tuệ tưởng giải.

Phật dạy người mới tu phải tu Chánh Niệm Tỉnh Thức, kinh hành nhiều, (làm cho sức tỉnh thật mạnh), trên thân quán thân, theo hành tướng ngoại để sức quán cho vững, và không rơi vào hôn trầm, thùy miên, hôn tịch, vô ký. Không lo tu tập tỉnh thức mà lo ngồi kiết già, quán hơi thở, đặt đề mục, ngồi quá lâu, cơ thể mỏi mệt, thì hành giả sẽ thiếp dần trong trạng thái mỏi mệt, mất khả năng suy tư, làm cho ngu si, tu hành lạc nẻo mà không hay biết. Cho nên tất cả những loại ngủ này đều gọi chung là si thiền, si định. Người tu theo tà thiền, định tưởng thường rơi vài năm loại ngủ này, không sao tránh khỏi.

Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Xem thêm: Ba đức (nhẫn nhục, tùy thuận, bằng lòng); Ba hạnh (ăn, ngủ, độc cư) 
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây