Monday, February 2, 2015

CẢNH GIÁC VỚI BỘ PHIM PHẢN ĐỘNG “THẢM HỌA ĐỎ BỘ MẶT THẬT CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM”

Sau khi âm mưu xây dựng bộ phim “Người Cộng sản Việt Nam” với ý đồ để chính những người cộng sản nói về Đảng Cộng sản không thực hiện được do thiếu nguồn tài liệu thuyết phục và không thể tập hợp đủ số ý kiến phỏng vấn, số cầm đầu tổ chức LLCQ đã chuyển hướng, thực hiện bộ phim với tiêu đề mới “Thảm họa đỏ - Bộ mặt thật của Đảng Cộng sản Việt Nam” nhằm mục đích hạ bệ hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh, xuyên tạc đường lối, chính sách, tình hình chính trị - xã hội trong nước.


Bộ phim dài 90 phút, gồm 04 phần: 
(1) “Tập đoàn vong bản - tay sai ngoại bang”: xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng bị chi phối và rập khuôn từ Liên Xô cũ và Trung Quốc. 
(2) “Băng đảng sát nhân”: hạ uy tín Đảng Cộng sản Việt Nam, vu cáo Đảng đàn áp các đối tượng “bất đồng chính kiến”. 
(3) “Đảng cướp”: xuyên tạc Đảng “cướp” quyền lãnh đạo, tài sản và quyền tự do, dân chủ của nhân dân, áp đặt chế độ “độc tài”.
(4) “Một tập đoàn bán nước”: xuyên tạc một số vụ việc liên quan vấn đề chủ quyền lãnh thổ. Nguồn tư liệu chúng sử dụng trong phim chủ yếu là những hình ảnh được tán phát trên mạng Internet về phong trào cải cách ruộng đất, vụ “Nhân văn giải phẩm”, vụ giàn khoan HD981, các cuộc biểu tình chống Trung Quốc, trong và ngoài nước… kèm theo các đoạn clip phỏng vấn số đối tượng chống đối từng có tiền sử xâm phạm ANQG Việt Nam như Bùi Tín, Nguyễn Hữu Lễ, Đặng Xương Hùng, Tô Hải, Vi Đức Hồi… Từ đó, thể hiện lời bình xuyên tạc chính sách của Đảng, kích động, cổ vũ hoạt động chống Việt Nam.

Về phương thức, thủ đoạn tuyên truyền và tán phát bộ phim, LLCQ chú trọng đầu tư vào các buổi trình chiếu ra mắt phim ở các địa bàn có đông người Việt sinh sống nhằm vừa giới thiệu, tặng đĩa phim vừa vận động gây quỹ. Chúng dự kiến sẽ đồng loạt trình chiếu phim tại Nam California (Mỹ), Sydney (Úc), Toronto (Canada) và Paris (Pháp) vào ngày 11/01/2015. Sau khi trình chiếu ra mắt tại các nước sẽ cho đăng tải miễn phí bộ phim trên Internet qua trang mạng của đài “Đáp lời sông núi”. Bên cạnh đó, chúng sẽ ngụy trang, lồng ghép nội dung phim “Thảm họa đỏ” vào phần giữa các DVD ca nhạc để tán phát vào Việt Nam.

Việc số đối tượng cầm đầu tổ chức phản động LLCQ xây dựng bộ phim “Thảm họa đỏ - Bộ mặt thật của Đảng Cộng sản Việt Nam” nằm trong “chiến dịch Sự thật” được chúng phát động từ năm 2008 nhằm đả phá, bội nhọ hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh và lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta, xuyên tạc tình hình trong nước. Mặc dù luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của bộ phim không mới, đến thời điểm hiện tại cũng chưa gây được sự chú ý của cộng đồng người Việt Nam ở trong và ngoài nước nhưng việc chúng tán phát bộ phim vào thời điểm ta đang chuẩn bị tiến hành Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc sẽ ít nhiều tạo dư luận tiêu cực về tình hình chính trị - xã hội trong nước.

Một lần nữa chúng tôi khuyên các bạn hãy tỉnh táo khi tiếp nhận thông tin, đặc biệt là tin của lũ phản động luôn tìm cách phá hoại chống phá Đảng và nhà nước ta đưa ra.

Hãy nói không với bộ phim “Thảm họa đỏ - Bộ mặt thật của Đảng Cộng sản Việt Nam”!

Phong Linh

Khắc phục tâm vô ký

Hỏi: Kính bạch Thầy, khi quét sân hoặc đi kinh hành, con có nhắc tâm chia tuần tự 3 loại định tu tập. Định Chánh Niệm Tỉnh Giác, Định Niệm Hơi Thở, kết hợp hành động của Thân hoặc bước chân, Định Vô Lậu? Con tu như vậy có đúng không? Dù có nhắc tâm, nhưng khi thực hiện thường bị quên do tạp niệm vô ký, Vậy con phải khắc phục như thế nào?

Đáp: Tu tập xả tâm theo đạo Phật là phải kết hợp bốn loại định:

1. Định Chánh Niệm Tỉnh Giác (định ngăn ác pháp).
2. Định Niệm Hơi Thở (định ngăn ác pháp).
3. Định Vô Lậu (định diệt ác pháp).
4. Định Sáng  Suốt (định thư giãn, trạng thái chân lý).

Trong một thời tu tập trên bốn chỗ thân, thọ, tâm và pháp của chúng ta, thường có những hiện tượng sanh ra trên đó, Khi mỗi ác pháp sanh ra một trên bốn chỗ này thường tạo ra chướng ngại khiến cho bốn chỗ này bất an. Muốn cho bốn chỗ này được an ổn thanh thản, an lạc và vô sự  thì phải tùy theo các pháp đã tu học trên đây áp dụng để diệt những ác pháp để đem lại sự bình an cho thân , thọ, tâm và pháp. Nếu không có ác pháp sanh ra trên bốn chỗ này thì chúng ta dùng pháp tác ý ngăn ác pháp, nhưng khi chúng ta sử dụng công sức nhiều để tu tập không phù hợp với đặc tướng của mình nên thường bị hôn trầm, thùy miên và vô ký. Đó là thời gian tu tập chưa phù hợp với đặc tướng của mình. Biết như vậy con phải tu ít trở lại để tu tập có chất lượng tỉnh thức cao, không còn bị rơi vào vô ký nữa.

Xét qua sự trình bày tu tập những loại định của con thì con tu tập không sai, chỉ sai là tu hơi nhiều quá sức tỉnh thức của mình. Muốn không bị rơi vào vô ký thay vì con tu 1 giờ thì con nên tu lại 30’, thay vì con tu 30’ thì con tu lại 15’. Chừng nào con thấy sự tỉnh thức của mình trong suốt thời gian tu tập mà không có một chút nào vô ký thì con nên tăng thời gian lên. Nhưng khi tăng thì con chỉ tăng lên từ 5’ chứ đừng có tăng nhiều quá mà sức tỉnh thức không đủ thì con sẽ bị rơi vào vô ký nữa.

Vô ký là thiếu sự tỉnh thức, vì thế mà pháp môn của đức Phật dạy chúng ta tu tập tỉnh thức bằng THÂN HÀNH NIỆM là một pháp môn tuyệt vời, nếu chúng ta biết cách tu đúng đặc tướng thì chúng ta có sự tỉnh thức ngay liền, phá sạch hôn trầm, thùy miên, vô ký.
Tóm lại nếu tu tập đúng cách của Thân Hành Niệm thì phá tâm si ám rất dễ dàng. Hôn trầm, vô ký, thùy miên là những trạng thái của tâm si, cho nên tâm tỉnh thức có thì tâm si ám bị triệt tiêu, tâm si ám bị triệt tiêu thì chánh niệm mới hiện tiền, có chánh niệm thì ác pháp không xen vào được, ác pháp không xen vào được thì tâm hồn thanh thản, an lạc và vô sự, mà tâm hồn thanh thản, an lạc và vô sự thì đó là giải thoát của Phật giáo.

Trích Đường về xứ Phật X
Trưởng lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây

Sunday, February 1, 2015

Tàm quý

Tàm là mắc cỡ, xấu hổ trước mặt mọi người về một việc làm sai trái của mình.

Quý là tự mình cảm thấy xấu hổ về việc làm sai trái của mình mặc dù không có ai thấy, hay biết.

Người muốn giữ gìn giới luật mà không biết xấu hổ thì không bao giờ giữ gìn giới luật được. Cũng như người muốn tu thiện pháp mà không biết xấu hổ thì không bao giờ tu thiện pháp được.

Người muốn giữ gìn đức hạnh làm người, làm Thánh mà không biết xấu hổ thì chẳng bao giờ giữ gìn đức hạnh được. Người muốn tu hành giải thoát mà không biết xấu hổ thì không bao giờ có giải thoát được.

Nếu con người không có tàm quý thì con người chẳng khác nào một loài cầm thú, chẳng còn luân thường đạo lý gì cả. Nếu sống trong ác pháp làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sanh mà không biết xấu hổ (tàm quý) là loài ác thú chớ không phải là con người; và tệ hơn nữa, họ là ác quỷ.

Nếu một vị tỳ kheo tăng và một vị tỳ kheo ni phạm giới, phá giới, bẻ vụn giới mà không biết xấu hổ (tàm quý) là loại bọ chét trong lông thú vật, chứ không phải là tu sĩ, đệ tử Đức Phật; và tệ hơn nữa, họ là loài Ma Vương cùng với ma chúng đang diệt Phật giáo.

Tóm lại, tàm quý (xấu hổ) là một pháp môn rất cần thiết cho người đời cũng như cho những người tu sĩ quyết tìm đường cứu mình thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, và luân hồi. Nếu con người mà không biết xấu hổ thì có khác nào là một con thú, và luân thường đạo lý trên thế gian nầy sẽ đảo lộn. Người ta sẽ chà đạp lên nhau vì miếng ăn, sự sống, và vật chất. Lúc ấy, loài người chỉ là một loài thú thông minh, tình người sẽ không còn trên hành tinh nầy nữa, và chiến tranh sẽ không bao giờ chấm dứt.

Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sưu tập (tạm thời) sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã download từ các trang web trên, bạn có thể tải về: Click tại đây

Bánh da lợn khoai môn - Xuân Hồng

banhKhoaiMon

Xuân hồng mời cả nhà ăn bánh da lợn khoai môn nhen. 
Bánh béo dẻo mềm mại, vị ngọt vừa phải, thơm nứt mùi khoai môn ngon tuyệt.

Vật liệu:

  • 1 gói bột năng, mỗi gói 14 oz
  • 3/4 cup bột gạo
  • 2 lon nước cốt dừa mỗi lon 14 oz
  • 1 cup nước lọc
  • 2 cups đường cát
  • 1/4 muỗng cà phê muối
  • 1 gói vanilla sugar
  • 3 muỗng canh nước lá cẩm hoặc chut xiu màu tím
  • 1 chén khoai môn cao thái sợi (có thể hấp chín tán nhuyễn)

Cách làm:

Hòa tan nước cốt dừa, nước, đường, muối, vanilla
Cho bột năng, bột gạo vô hòa tan bột
Chia hỗn hợp bột làm 2 phần. 1 phần cho nước lá cẩm vào, một phần để bột trắng. Cho khoai môn vào phần màu nào cũng được
Cho khuôn vào xửng và múc bột từng lớp hấp chín. Mỗi lớp hấp khoãng 15 phút và muốn bánh bao nhiêu lớp thì đổ bột hấp bấy nhiêu lớp
Bánh để thật nguội mới ăn.

banhKhoaiMon2

https://vi-vn.facebook.com/pages/Xuan-Hong/221444441386532

Đạo đức minh mẫn sáng suốt

Là đạo đức biết tôn trọng mình, tôn trọng người bằng cách không đem các chất có hại vào cơ thể khiến cho cơ thể suy nhược, làm cho đầu óc không còn sáng suốt, mất đi sự minh mẫn nhận định các sự việc bằng ý thức như người bình thường. Đó là các thói quen uống bia, uống các loại rượu, ăn uống các thực phẩm có men say như cơm rượu, hút thuốc, hút xì ke ma túy, uống các loại thuốc ngủ, uống các loại thuốc giúp bớt đau có chất mócphin trong đó, uống cà phê, uống trà, kể cả dùng dầu xanh và các chất kích thích, v.v..

Người không có đạo đức minh mẫn thường hay la lối, nói năng không ý tứ, không suy nghĩ, không biết tôn trọng người khác, hay nóng giận mang tính hung bạo dễ dàng gây sự và rất liều mạng, chân đi đứng loạng choạng, tay thì múa may lung tung, đầu thì lắc qua lắc lại, thân thể thì như cọng bún.

Các chất độc trên ảnh hưởng đến não bộ rất nhiều làm cho trí não kém đi, mất trí nhớ dần dần, tánh hung bạo tăng dần vì không còn biết kềm chế cơn sân giận của mình, dễ dàng bị lôi cuốn vào các dục lạc thế gian, luôn thích những cảm giác êm ái, mềm mại, thích nghe những lời dịu ngọt êm tai cho nên rất dễ bị dụ dỗ. Họ không còn phân biệt được thiện và ác, tà hay chánh nữa.

Việc chung đụng tiếp xúc với mọi tầng lớp xã hội hằng ngày, con người khó tránh bị những phong tục, tập quán của xã hội huân tập vào. Ví dụ như tại Việt Nam, mỗi chiều sau những giờ làm việc mệt nhọc đại đa số đàn ông đều kéo nhau tụm lại thành từng nhóm rủ nhau vào các quán bia, rượu. Có đủ mọi quán rượu bia cho mọi tầng lớp người trong xã hội từ người đạp xích lô, công nhân viên thường, các trưởng phó phòng, giám đốc hay khách nước ngoài. Có tiền là sẽ có đủ rượu bia cho những người đó. Do đó mà tai nạn nhiều là do uống rượu bia. Cãi vã, đánh lộn, chửi mắng, đâm chém nhau cũng do từ rượu bia. Hạnh phúc gia đình tan nát vợ chồng ly dị, con mất cha hoặc mẹ cũng do rượu bia. Cha mẹ mất con cái cũng do hút xì ke chích ma túy. Rồi con cái cần tiền hút sách cho nên về nhà ăn cắp tiền của cha me, đi ăn cướp giựt đồ, ăn trộm, chém mướn, giết thuê. Ôi thật là thảm thương cho những con người không có đạo đức minh mẫn.

Những người thích uống rượu bia không thể nào không tránh được giết hại chúng sanh, vì khi uống rượu bia thì phải có cái gì để làm mồi, mà mồi đây là thịt các loài chúng sanh, họ săn lùng đủ mọi loài vật trên thế gian này từ con côn trùng gián, dế, bò cạp, rắn, ba ba cho đến các loài vật quý hiếm, và họ còn tự hào khoe khoang là đã ăn các loài vật đó rồi. Thật là tội nghiệp cho những người bị vô minh che lấp không có tình thương chúng sanh một chút nào cả. Vậy thì hỏi tại sao mà không bị bệnh này, bệnh kia.

Do đó, những người này rất khó thuyết phục họ về đạo đức, vì muốn sống có đạo đức thì phải đi ngược lại những gì họ đang làm. Chỉ có khi họ được biết họ đang bị bệnh gần chết sống không bao lâu nữa thì họ mới chịu từ bỏ những thói quen xấu đó, nhưng lúc đó thì đã trễ rồi vì lúc đó các bộ phận cơ thể bên trong người họ gần như bị hủy hoại do các chất có hại trên như gan thì cháy hết, phổi nám rỗ nhiều chấm đen, thận thì yếu hư không lọc được các chất bẩn nữa, mật thì hư, huyết áp thì quá cao trung bình là 14-18, tiểu đường cao, v.v..

Ngày nay với cách sống như vậy đã ăn thâm vào đầu óc lớp trẻ là phải biết uống bia rượu khi ra đời. Vì sao? Vì chỉ qua ly bia hay ly rượu người ta mới bắt đầu bàn chuyện làm ăn, giao kèo, mánh mung, nhờ cậy, biếu tặng, hối lộ. Họ chỉ nghĩ đến danh và lợi chứ họ có nghĩ đến cái hại của các chất kích thích đó đâu. Có người thì vì miếng ăn hằng ngày mà đi làm cái nghề uống rượu thay thế cho giám đốc. 

Có phải chăng đời quá khổ và buồn tẻ mà con người tìm đến những cảm giác hưng phấn khác, họ cũng biết hút thuốc, uống rượu bia là có hại nhưng nếu không dùng các chất kích thích như vậy thì họ có cảm giác như thấy trống trải, tẻ nhạt. Đó là những thứ dễ dàng kiếm được khi cần đến mà không cần phí sức, còn danh, lợi, sắc thì phải mất thời gian và công sức nên khó hơn. Do đó đại đa số con người ít ai tránh được sự cám dỗ của các loại chất kích thích này.

Ai ai cũng biết rõ cái hại của rượu, bia, thuốc lá. Con mong sao đến lúc nào đó nhà nước ta cũng thấy điều này mà quyết định đóng cửa những nhà mày sản xuất thuốc lá, rượu, bia và cấm kinh doanh các sản phẩm trên.

Người có đạo đức minh mẫn sẽ không bao giờ đụng đến các chất có hại trên, không quyến rũ hay cám dỗ người khác sử dụng nó và phải nên khuyên răn người khác từ bỏ những chất kích thích này.

Để tránh rơi phạm vào đạo đức thiếu minh mẫn ngoài việc thấy những tác hại của chúng, chúng ta còn nên tránh các duyên đưa dẫn đến dùng các chất kích thích này. Ví dụ như tránh xa những người dùng và buôn bán các chất kích thích này, không tàng trữ, buôn bán các chất kích thích, tránh ở gần những khu buôn bán các chất kích thích, tránh tham gia vào các tiệc tùng chiêu đãi như đám cưới, đám dỗ, sinh nhật, đám ma, ăn tân gia, v.v.., tránh tụ họp bạn bè, không cho tặng kính biếu rượu, thuốc lá, bia cho mọi người.

Người có đạo đức minh mẫn nên dùng thời gian rãnh rỗi của mình quán chiếu những hành động lời nói, suy nghĩ hằng ngày của mình để thấy rõ thiện ác, giữ tâm luôn sống trong thiện pháp, nghĩa là luôn giữ tâm thanh thản, an lạc và vô sự thì lúc đó đâu có cảm thấy buồn chán và tẻ nhạt.

Con nhớ lại lúc xưa kia cuộc sống của con không rời khỏi chai rượu, hằng ngày con đều uống rượu, mỗi tối khi ăn cơm là có ly rượu bên cạnh, trong nhà lúc nào cũng có rượu bia để khi bạn bè đến thì có cái để vui với bạn bè. Con lấy rượu làm niềm vui, để giải buồn, để khoe khoang mình không thua kém ai, để giải sầu, để chữa bệnh cảm, bệnh ho, bệnh ho đàm và đau nhức. Con còn lý luận cứ nghĩ rượu là nước thì uống dễ dàng không còn khó nữa và khuyên mọi người như vậy. Rồi dần dần con thấy trí nhớ không còn minh mẫn nữa, dễ sân giận với mọi người, nói năng không ý tứ, nói những lời nói hung dữ thô bạo, không có tính người gì cả như một người không có giáo dục, không phân biệt được việc đúng sai, phải trái nữa, tay run run khi cầm đũa ăn mà không sao kềm được, bản ngã càng ngày càng cao, không còn biết tôn trọng ý kiến của ai hết, chỉ nhìn thấy cái sai của người khác, luôn phê bình, chê bai ý kiến của người khác. Nghĩ lại thì thật đáng thương cho con lúc đó.

Rồi từ từ con nhận ra sức khoẻ kém dần đi, khả năng uống rượu không còn như cách đó 5 năm nữa, và thấy rõ hơn những tác hại của rượu bia khi nghe nói nhiều người uống rượu bia mà bị tai nạn xe, gan cháy và chết sớm. Con lúc đó mới cảm thấy được sự vô thường của vạn vật, nhưng chưa có khái niệm cụ thể mà mới chỉ biết sơ sơ khái quát thôi.

Còn bây giờ từ khi biết được đạo đức minh mẫn thì con thấy rất hạnh phúc, con không còn cần phải lo mua rượu, sắm rượu nữa, mà coi nó như thuốc độc, không bao giờ nghĩ là mua những thứ độc đó đem tặng cho bà con, bạn bè nữa, không đi dự các tiệc tùng, tụ họp cùng bạn bè ăn uống nữa. Sức khỏe thì càng ngày càng hồi phục lại, tay không còn run, chân không còn yếu và lưng không còn đau nữa. Vì không còn uống rượu cho nên bạn bè, bà con cũng không mời đi chơi cho nên tránh được những nơi đông người tụ tập do đó tránh được các duyên xấu.

Ước mong sao cho tất cả mọi người nhận thức được tai hại khi tiếp xúc với các chất độc trên, và ta hãy luôn nhắc tâm “Rượu, bia, thuốc lá, v.v.. là thuốc độc giết người, tâm ham muốn các chất độc này là ác phải lui đi”.

“BIỂU TÌNH MẠNG” THƯƠNG HIỆU CỦA NHỮNG CON HỢM

Để không kém cạnh với trò “tôi không thích ĐCSVN” của Lã Việt Dũng, thì những người “tàn quân” của khối 8406 cũng tổ chức riêng cho mình một chiến dịch mới mang thương hiệu “xóa bỏ điều 4 hiến pháp”. Nghe qua thì tưởng là hay hó lắm, nó vẫn quanh quẩn mấy cái trò mèo của giới dân chủ mà thôi. Nào là đàn áp tôn giáo, nào là đàn áp bất đồng chính kiến, nào là không có “tự do mồm”, nào là không có tự do đi lại, nào là xóa bỏ điều luật 79, 88, 258 tất cả những gì giới dân chủ đem đến cho chúng ta bao nhiêu năm nay vẫn là những bài cùn như vậy.






Chẳng có gì mới chỉ có hình thức là thay đổi như chong chóng, tôi tự hỏi chứng cớ lịch sử về sự thật về sự bạc nhược của VNCH đánh mất biển đảo đã rành rành, ấy vậy mà vẫn có những con hợm vẫn cố gắng lấp liếm đi sự bạc nhược đó, rồi đổ cho chính quyền cộng sản (không biết là chính quyền đấy là chính quyền nào, có rất nhiều chính quyền cộng sản).

Những con hợm này đổ lỗi sự phát triển đất nước là do chính quyền cộng sản làm cho dân nghèo đói, quốc gia tụt hậu. Tôi tự hỏi rằng sao không nhìn vào bản chất của con người dân Việt rồi hãng phán đến chuyện lớn hơn nhỉ, người Việt Nam thích kiếm tiền nhưng không chăm chỉ, người Việt uống bia top đầu thế giới, năng xuất làm việc của Việt Nam bằng 1/5 lao động Malaysia, 2/5 Thái Lan và 1/15 Singapore. Giờ thì đừng đổ lỗi cho cộng sản nhá, các cụ bảo rồi “có làm thì mới có ăn, không dưng ai dễ mang phần đến cho”, ở Việt Nam đâu thiếu những con người vượt lên khỏi nghèo khó, là bởi vì họ chăm chỉ suy nghĩ vận động đôi tay và khối óc để phát triển vượt khó, thế nên câu chuyện đói nghèo phải đánh giá ở tất cả các góc độ và nhiều yếu tố.

Câu chuyện tự do dân chủ thì phải hỏi tại sao ông đứng đấy chụp ảnh mà không bị ai ngăn cấm, xóa bỏ điều 4 để làm gì? Giả sử xóa bỏ đi thì thiết lập nên một chế độ thân phương Tây thì đồng nghĩa với việc phương Tây sẽ đổ một số tiền rất lớn để đưa Việt Nam phát triển, đồng thời các ông cũng phải chịu những điều kiện về việc mất quyền “tự chủ về chính trị”. Giả sử Mẽo bắt các ông đưa con cháu của mình đi đánh IS thay Mẽo thì các ông có đưa không?

Nài mất nước vào tay Trung Cộng á! Nhìn lại lịch sử đi kể từ khi Đảng lãnh đạo đi xem bao nhiêu vụ đánh nhau với tàu rồi, đỉnh điểm còn chiến tranh biên giới, rồi trận CQ88 ai là người tổ chức đánh trả Trung Quốc thế. Rồi đến khi bình thường hóa thì đã bao giờ lãnh thổ của Việt Nam nó rõ ràng như thế chưa? Ngay cả khi các nước láng giềng của Trung Quốc cũng chưa thể có biên giới lãnh thổ rõ ràng như thế đâu.

Những con hợm này phán rằng “ĐCSVN trong gần 70 năm qua (từ 2/9/1945 đến nay), đã gây bao đau thương cho đồng bào và thiệt hại cho Đất nước." Cụ thể là  nếu đặt những con hợm này vào những ngày của nạn đói lịch sử, rồi được cướp kho thóc cứu đói thì không biết chúng sẽ nghĩ thế nào nhỉ, lúc chiến tranh thì chúng nó chạy sang nước ngoài để sung sướng, rồi đến khi hòa bình thì đòi quyền lãnh đạo sao?

Nghĩ tới bọn “tự do mồm” này thì lại làm tôi nhớ đến câu chuyện “trên tỉnh A xảy ra một cuộc biểu tình chống Trung Quốc, họ hô vang khẩu hiệu “Trung Quốc cút khỏi biển đông, Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam” và thế là cuộc biểu tình này thu hút được rất nhiều người tham gia để cổ động cho phong trào yêu nước. Nhưng khi mở một cuộc vận động ký tên đi Trường Sa bảo vệ biển đảo, thì kết quả rất đáng buồn là không có một ai kí tên để đi lính bảo vệ Trường Sa cả”

Tưởng

Văn hóa xuống cấp- vì đâu?

Nếu cho rằng đất nước ta hiện nay đang bị "loạn chuẩn" văn hóa thì sự "loạn chuẩn" này có một phần do sự trớ trêu của lịch sử để lại. Lịch sử văn hóa dân tộc Việt Nam nhìn từ phương diện này có thể nói đó là một bi kịch. sự kiện nóng

Hà Nội ư? Có riêng gì Hà Nội...?

Kinh tế phát triển, đời sống vật chất của người dân nhìn chung được nâng lên so với thời kỳ "chưa mở cửa". Thế nhưng ở chiều ngược lại, đời sống văn hóa tinh thần lại có chiều hướng "đi xuống" đến mức "báo động đỏ".

Đây là nhận định chung của khá nhiều người, trong đó có những "chuyên gia văn hóa", những người đang giữ trọng trách "định hướng" và "tuyên truyền" văn hóa của đất nước đến mọi tầng lớp nhân dân.

Nhiều người còn thẳng thắn lên án và "định danh" những biểu hiện lệch lạc trong lối sống, lối sinh hoạt của một bộ phận không nhỏ người dân (nhất là lớp trẻ) hiện nay là: Suy đồi về đạo đức, hay xuống cấp về văn hóa, nói chung.

Và đỉnh điểm cho thực trạng đau lòng này, có lẽ là vấn đề đang được dư luận cả nước quan tâm, mổ xẻ, tạo thành một diễn đàn trao đổi sôi nổi trên báo điện tử VietNamNet gần đây: Vì sao có một bộ phận không nhỏ người Hà Nội- những người đang sống ngay tại Thủ đô "nghìn năm văn hiến" của cả nước lại có những biểu hiện "xuống cấp" về văn hóa đến mức "không thể tin dù đó là sự thật"? Thế thì nguyên nhân nào đưa đến thực trạng này? Và những ai phải chịu trách nhiệm chính?

Bị kịch do... lịch sử để lại?

Trước hết cần khẳng định, vấn đề "suy đồi về đạo đức" hay "xuống cấp về văn hóa" của một bộ phận người dân hiện nay không chỉ ở riêng Thủ đô Hà Nội mà còn khá phổ biến, như hiện trạng đau lòng của xã hội.

Có nhiều nguyên nhân đã được các "chuyên gia văn hóa" đưa ra. Tuy vậy với góc nhìn cá nhân, người viết xin mạo muội góp vào một ý kiến chia sẻ dưới đây.

Từ góc nhìn văn hóa- lịch sử, có thể nói, Việt Nam trước khi có mặt của người Pháp là một xã hội thuần nông nghiệp. Mọi vấn đề tổ chức thể chế chính trị, tổ chức đời sống, văn hóa có phần chịu ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc từ  văn hóa Trung Hoa.

Điều này tất yếu dẫn đến mọi "chuẩn mực" văn hóa của người dân trong xã hội được xác lập dựa trên cơ sở nền tảng là những học thuyết, tư tưởng, văn hóa mà nổi bật nhất là học thuyết Nho giáo của Khổng Tử.

Khi người Pháp đặt chân lên và dần dần thiết lập sự thống trị trên toàn lãnh thổ (bởi "chủ nghĩa thực dân") thì như một lẽ tất yếu, nền tảng văn hóa chịu ảnh hưởng của người Trung Hoa trước đây bị phá vỡ.

Xã hội Việt Nam khi đó bị phân hóa thành 2 xu hướng. Xu hướng tiến bộ ra sức cổ vũ và ủng hộ văn hóa phương Tây (vừa du nhập vào). Xu hướng bảo thủ thì cho rằng cần phải lên án, đồng thời ra sức bảo vệ những giá trị văn hóa được xem là "truyền thống".

Đây có thể xem là "sự xáo trộn và mất ổn định" hay nói cách khác là "loạn chuẩn" văn hóa đầu tiên trong xã hội Việt Nam trong quá trình vận động và phát triển.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản (lấy tư tưởng Mac-xit làm nền tảng trong mọi đường hướng) trong suốt một thời kì dài "đánh thực dân (sau này là "đánh đế quốc") - phong kiến" giành độc lập và thống nhất đất nước, gần như những vấn đề liên quan đến văn hóa phương Tây, văn hóa thời phong kiến bị lên án, xóa bỏ.

Dù muốn dù không, ở giai đoạn này chúng ta cũng đã thừa nhận có những sai lầm, vì đã đồng nhất giữa những giá trị văn hóa của nhân loại (phương Tây và phương Đông) với những gì ta cho là tàn tích phản động, phong kiến cần xóa bỏ.

Và đây chính là lần "loạn chuẩn văn hóa" lần thứ 2 của chúng ta trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước.

Từ khi "mở cửa" cho đến nay, có thể nói tuy nhiều vấn đề của đất nước (trong đó có văn hóa) đã được nhìn nhận theo chiều hướng tích cực hơn.

Nhưng cơ bản nhìn chung, xã hội vẫn còn bị phân hóa bởi 2 xu hướng: Ủng hộ văn hóa phương Tây, phê phán lên án quyết liệt những vấn đề liên quan đến văn hóa Trung Hoa (coi đó là xiềng xích nguy hiểm) vốn đã ăn sâu vào tận xương tủy của rất nhiều người Việt Nam.

Ngược lại là xu hướng xem những giá trị văn hóa bị ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Hoa là "tinh thần", là "bản sắc", là "truyền thống" văn hóa dân tộc cần phải giữ gìn, phát huy.

Khoan bàn đến chuyện ủng hộ xu hướng nào. Tuy nhiên có thể nói, đây cũng là biểu hiện rõ ràng cho thấy, chúng ta vẫn còn bị "xáo trộn và mất tính ổn định" ở việc xác lập những giá trị riêng mang tính cốt lõi, nền tảng trong xu hướng hội nhập phát triển của đất nước.

Với thế giới mở, sự bùng nổ thông tin của thời đại ngày nay thì sự xáo trộn và mất ổn định, thậm chí mất kiểm soát những giá trị văn hóa vốn góp phần làm nên "hồn cốt" của dân tộc đang ngày một trở nên đáng lo và bức thiết hơn bao giờ hết.

Thế nhưng điều đáng tiếc là vấn đề này chúng ta lại ít chú ý. Có lẽ do quá tập trung cho việc phát triển kinh tế, ổn định đời sống vật chất mà quên việc chăm lo đời sống tinh thần, nuôi dưỡng tình cảm và tâm hồn Việt?

Từ những vấn đề trên có thể nói, đây là sự trớ trêu của lịch sử, khi dân tộc bị đặt vào những "tình cảnh ngặt nghèo" trong quá trình vận động và phát triển. Ở góc nhìn văn hóa, hậu quả của những sự "loạn chuẩn" văn hóa kéo dài này, đã vô tình gây nên sự hoang mang đối với người dân.

Điều đáng nói, chỉ trong một thời gian ngắn nhưng có quá nhiều sự thay đổi và "xáo trộn" nên người dân thật sự không cách nào thích ứng cho kịp. Họ cảm thấy hoang mang, mơ hồ, thậm chí mất phương hướng trước những vấn đề của cuộc sống khi không "dựa vào đâu", "tin vào ai" để xác lập cho bản thân một thái độ ứng xử phù hợp, đúng đắn.

Đây chính là một trong những nguyên nhân căn bản và sâu xa nhất gây nên những sự "lệch lạc" hay "xuống cấp" và "suy đồi" văn hóa đạo đức trong xã hội ta hiện nay.

Vì vậy, đề cập đến những hiện tượng đó trong xã hội  mà không xem xét đến yếu tố này như một nguyên nhân căn bản, sẽ khó lý giải và tìm ra những giải pháp khắc phục có hiệu quả.

Ví như "suy đồi đạo đức" hay "xuống cấp văn hóa" không chỉ diễn ra ở Thủ đô Hà Nội mà là ở khắp nơi trên đất nước, nhưng tại sao Hà Nội lại là nơi bị dư luận "điểm danh" đâu tiên? Thật ra, cũng không khó để lý giải chuyện này.

Thứ nhất, do Hà Nội là Thủ đô, là trung tâm, đầu não của đất nước- nơi hội tụ tinh hoa văn hóa một quốc gia mà còn như thế thì dù muốn dù không cũng phải chịu sự "phán xét" trước tiên.

Bên cạnh đó, so với các địa phương khác, phải chăng Hà Nội là nơi mà theo nhiều người thì sự "xuống cấp" và "suy đồi" đạo đức, văn hóa là trầm trọng nhất.

Nói điều này, không phải nhằm mục đích chê bai người dân Thủ đô mà trước hết, nên xem đây là sự "phản tỉnh" cần thiết để mọi người dù đang sống ở bất kỳ nơi đâu cũng hiểu rằng, nguy cơ "suy đồi" văn hóa là có thật. Nguy cơ đó đang hàng ngày rình rập chúng ta.

Bởi Hà Nội với tư cách là Thủ đô, là thủ phủ của đất nước nên gần như tất cả những vấn đề liên quan đến chính sách văn hóa thì Hà Nội sẽ bị ảnh hưởng và tác động một cách trực tiếp và mạnh mẽ nhất.

Điều đó cũng có nghĩa sự xáo trộn và mất ổn định trong việc xác lập những giá trị văn hóa của dân tộc xảy ra, qua các chặng đường lịch sử như đã phân tích ở trên thì Hà Nội là nơi bị ảnh hưởng nhiều nhất.

Nói cách khác, ở bất cứ thời kỳ nào, hoàn cảnh nào, nếu những chính sách văn hóa của nhà cầm quyền ban hành mà đúng đắn, lành mạnh thì người dân Thủ đô khi ấy sẽ là người "hưởng lợi" nhiều và trước nhất.

Còn ngược lại nếu những chính sách văn hóa sai lầm hay tiêu cực thì cũng chính người Hà Nội chứ không phải người dân địa phương khác phải gánh lấy hậu quả.

Tóm lại, nếu cho rằng đất nước ta hiện nay đang bị "loạn chuẩn" văn hóa thì sự "loạn chuẩn" này có một phần  do sự trớ trêu của lịch sử để lại. Lịch sử văn hóa dân tộc Việt Nam nhìn từ phương diện này có thể nói đó là một bi kịch.

3. Trách nhiệm thuộc về ai?

Nếu nói sự “xáo trộn và mất ổn định” của những giá trị văn hóa do lịch sử để lại là nguyên nhân sâu xa gây nên sự “loạn chuẩn” hay “suy đồi” văn hóa của con người hiện nay thì cũng cần thừa nhận còn một nguyên nhân trực tiếp đã gây nên thảm cảnh này? Vậy nguyên nhân trực tiếp ấy là gì? Xác định rõ nguyên nhân này cũng đồng nghĩa với việc chỉ ra trách nhiệm xã hội đối với thực trạng bát nháo và suy đồi về văn hóa trong xã hội hiện nay.

Trong bài viết Trách nhiệm văn hoá là trách nhiệm chung,[2] GS Trần Hữu Dũng khái quát lại có “ba thành phần” phải có “trách nhiệm đối với văn hóa” đó là: người “sản xuất văn hóa”, người “phê bình văn hóa” và người “tiêu thụ văn hóa”. Từ góc nhìn này, có thể nói, “sự xuống cấp và suy đồi văn hóa, đạo đức” xã hội hiện nay, ngoài nguyên nhân khách quan do lịch sử để lại thì một nguyên nhân không kém phần quan trọng khác đó là do chính những con người hiện tại, cụ thể là những người đang nắm trọng trách định hướng và tuyên truyền văn hóa trong bộ máy nhà nước (những “người sản xuất và phê bình văn hóa” như cách nói của giáo sư Trần Hữu Dũng). Bởi văn hóa vốn chỉ có ý nghĩa và giá trị với người đang có mặt, đang thụ hưởng vì thế dù muốn dù không tất cả chúng ta đang có mặt ở đây đều không thể chối bỏ trách nhiệm này. Tuy nhiên, cũng cần phải xác định rõ thành phần nào phải chịu trách nhiệm chính chứ không thể nói trách nhiệm xã hội một cách chung chung được. (Mặt khác, cũng cần phải thấy rằng tuy “người tiêu thụ văn hóa” cũng là một thành phần phải chịu trách nhiệm về sự “xuống cấp” văn hóa nhưng theo tôi ở nước ta đại bộ phận những “người tiêu thụ văn hóa” hiện nay vốn là những người dân ít có điều kiện và cơ hội phát biểu những vấn đề văn hóa “lớn lao” so với hai thành phần “người sản xuất và phê bình văn hóa” vì thế ở đây chúng tôi chủ yếu nhấn mạnh đến trách nhiệm của hai thành phần này mà thôi).

Rõ ràng đến thời điểm này phải thừa nhận một điều những người đang nắm giữ trọng trách “sản xuất và phê bình văn hóa” đang rất lúng túng và lơ là trong việc xác lập những cái gọi là “chuẩn mực văn hóa” của dân tộc trong sự vận động và phát triển của đất nước. Nghiêm túc mà nói đến nay, những cái gọi là “tinh hoa” văn hóa dân tộc vốn đã bị xáo trộn và mất ổn định qua từng chặng đường lịch sử vẫn chưa được xác lập lại sao cho thật thuyết phục, tránh rơi vào cực đoan, phiến diện. Cụ thể, phải làm sao xác lập những giá trị văn hóa căn bản nhất góp phần làm nên “diện mạo” của dân tộc để mọi người dân thật sự tin tưởng và xem đó như những giá trị văn hóa mang tính nền tảng, một “cứu cánh của tâm hồn” trong cuộc sống nhất định họ phải hoàn thiện một cách tự giác; những giá trị văn hóa thật sự mang lại niềm tự hào cho người dân trong quá trình hội nhập, giao lưu với bạn bè thế giới; và để bạn bè thế giới nhìn vào là nhận ra đó là giá trị văn hóa xuất xứ từ Việt Nam… Thật đáng tiếc, tất cả những vấn đề này thời gian qua lại ít được chú trọng, ít được xem xét một cách nghiêm túc và thấu đáo. Xin được minh chứng sự “lúng túng” này qua một số biểu hiện sau:

Thứ nhất, nói về những giá trị làm nên “bản sắc” và “cá tính” riêng của dân tộc cho đến nay hầu như trong đường hướng xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ mới dường như chúng ta vẫn mới dừng lại ở việc hô hào một cách rất chung chung thông qua những khẩu hiệu cổ động vốn chỉ để đọc cho nhau nghe trong những cuộc họp và giăng mắc đầy khắp các hàng cùng ngõ hẻm trên khắp nẻo đường đất nước. Tiêu biểu là khẩu hiệu mà bất kỳ người người Việt Nam nào cũng được ít nhất vài lần nghe hay được nhắc nhở buộc phải nghe, đó là: “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”. Đây là khẩu hiệu rất hay nhưng rõ ràng là quá mơ hồ. Bởi thế nào là “nền văn hóa tiên tiến”, thế nào là “đậm đà bản sắc dân tộc”? “Tiên tiến” ở đây là gì, “bản sắc dân tộc” chỗ này là gì? Mỗi người dân trong cuộc sống cần suy nghĩ, hành động như thế nào thì đất nước mới thật sự có được “nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”? Có ai xác định và nói một cách thật cụ thể những điều này để ít nhất hình thành một “cẩm nang” đưa vào trường học như một pháp lệnh buộc ngành giáo dục phải rèn luyện cho các em học sinh qua từng cấp học chưa? Nhất là xem đó như là một “chiến lược” trong việc xây dựng và đào tạo con người phục vụ đất nước trong tương lai? Để các em trước khi nhận tấm vé thông hành là công dân chính thức của đất nước thì nhất định những giá trị văn hóa kia phải thấm vào xương tủy?

Hay chúng ta đã làm gì để mỗi người dân qua từng thế hệ đều thấu hiểu, tự hào với ý thức tôn trọng giữ gìn một cách tự giác nhất những giá trị truyền thống, những “tinh hoa” văn hóa làm nên “hồn cốt” của dân tộc ở từng “bộ môn” cụ thể một cách thật thuyết phục chứ không “vì lợi ích nhóm”, vì sự háo danh, sĩ diện hão… mà thêu dệt nên. Ví như: tinh hoa văn hóa của dân tộc trong văn chương nghệ thuật, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, âm nhạc… là gì, có những tác phẩm nào, văn nghệ sĩ nào là đáng tôn vinh nhất?; tinh hoa văn hóa trong lịch sử, quân sự, khoa học là ai, công trình gì, chiến công gì…?

Nhà thơ Chế Lan Viên vốn được xem là người làm thơ “giàu chất trí tuệ và triết lý” ấy mà lại viết ra câu thơ khái quát về dân tộc, theo tôi là chua xót và đau đớn quá:

“Chạnh thương cô Kiều như đời dân tộc.
Sắc tài sao mà lắm truân chuyên” (Đọc Kiều – Chế Lan Viên)

Khoan bàn đến chuyện “chiều sâu tư tưởng” của nhà thơ ở đây là gì nhưng trước hết, thi sĩ nỡ nào lấy cô Kiều (một cô gái bán hoa – mà có người không đồng cảm gọi là con đĩ) để so sánh với cả dân tộc như thế liệu có ổn không về mặt văn hóa? “Đời dân tộc”, “tinh hoa” dân tộc liệu có giống như “đời” của một cô nàng (cho dù có tài sắc đi nữa nhưng cũng thể phủ nhận sự thật trong cuộc đời mình cô đã “sống làm vợ khắp người ta”?). Chế Lan Viên vì quá yêu cô Kiều hay thầm xót xa cho dân tộc mà lại hạ bút thế này?

Một ví dụ cụ thể như trên để thấy, lâu nay chúng ta cứ nói, cứ hô hào về “tinh hoa”, về “bản sắc” văn hóa dân tộc nhưng nói thế nào cho thật sự thuyết phục, cho mọi người dân (nhất là những người trẻ) đều cảm thấy tự hào và xem đó như cứu cánh của tâm hồn họ thì gần như vẫn rất mơ hồ!

Thứ hai, trong khi vẫn chưa xác lập, vẫn chưa chỉ ra đâu là những giá trị văn hóa cốt lõi làm nên “cá tính” riêng của dân tộc để người dân noi theo nhưng chúng ta lại không thôi phát động các phong trào mang tính bề nổi. Không khó để nhận ra bất cập này qua việc khắp các hang cùn ngõ hẻm; từ thành thị đến nông thôn đâu đâu cũng thấy gắn những bảng hiệu: “cơ quan văn hóa”, “khu phố văn hóa”, “hẻm văn hóa”, “phường văn hóa”, “xã văn hóa”, “thôn văn hóa”, “làng văn hóa”, “gia đình văn hóa”… Thế nhưng nghịch lý ở chỗ là đâu đâu cũng thấy kêu gọi phấn đấu “xây dựng và giữ vững danh hiệu… văn hóa” ấy nhưng trên thực tế thì hoàn toàn ngược lại, tức là đâu đâu cũng đầy dẫy những biểu hiện của sự “suy đồi văn hóa”.

Tương tự vậy, trong khi người dân nhất là lớp trẻ vẫn đang mất phương hướng trong việc xác lập “chuẩn mực văn hóa” của dân tộc để làm hành trang ứng xử với cộng đồng thì “những người sản xuất và phê bình văn hóa” lại mạnh ai nấy bày tỏ tính “duy ngã độc tôn” về vấn đề này đến mức cực đoan. Người thì bảo thủ cho rằng tất cả những gì liên quan đến người Việt mình (hay của địa phương mình) cũng đều tốt đẹp hơn so thiên hạ; cái gì của mình cũng là “nhất”. Cho nên mới có những câu “văn mẫu” rất sáo rỗng, đại loại như: “dân tộc VN có truyền thống…”; “người dân VN có truyền thống…”, “người phụ nữ VN có truyền thống…”, “thanh niên VN có truyền thống…”; “người Hà Nội là thanh lịch nhất”; “Nghệ An là đất địa linh nhân kiệt”,“Nghệ Tĩnh là đất học”, “Cần Thơ là trung tâm văn hóa vùng Đồng bằng sông Cửu Long”…. Trong khi đó, những người theo xu hướng “cởi mở” hơn thì không ngận ngại phủ nhận và xổ toẹt những giá trị văn hóa cha ông.

Có thể nói, hậu quả của những việc làm này vô tình đã gây ra những “phản ứng ngược” rất tai hại vì chỉ càng làm cho người dân nhất là các bạn trẻ càng thêm rối tung, rối mù hơn. Những người có cơ hội đi đây đi đó, trải nghiệm cuộc sống nhiều sẽ bất ngờ nhận ra tại sao người Việt mình tự nhận có nhiều “truyền thống tốt đẹp” thế kia nhưng sao trong quá trình xây dựng, đất nước vẫn cứ nghèo nàn lạc hậu; “văn hóa xuống cấp”; còn thiên hạ chẳng thấy họ hô hào có nhiều “truyền thống tốt đẹp” như mình nhưng sao đất nước họ lại giàu mạnh, người dân họ rất có văn hóa? Những người khác thì thấy, dân tộc mình cũng “không đến nỗi nào” nhưng sao có người lại phủ nhận và lên án gay gắt, quyết liệt? Vì thế, càng làm cho họ thêm hoang mang và mất phương hướng vì không biết “tin vào ai”, không biết “dựa vào đâu”, “chuẩn mực nào” để hành xử sao cho không bị xem là “lạc hậu”, “cổ hủ”, “trì trệ” đồng thời lại không bị “ném đá” là “lai căng”, “mất gốc”…

Những chuyện như thế này lâu dần sẽ gây sự hoài nghi và mất niềm tin trong dân chúng ngày một tăng lên. Một khi người ta không tin thì người ta sẽ không theo và chắc chắn sẽ chọn một cách hành xử khác (có thể tích cực nhưng cũng có thể là rất tiêu cực).

Thứ ba, nói đến trách nhiệm trong việc xác lập, ổn định và tuyên truyền những giá trị, những chuẩn mực của văn hóa dân tộc hiện nay không thể không nhắc đến vai trò của ngành giáo dục. Bởi giáo dục chứ không phải môi trường nào khác chính là nơi trực tiếp “sản xuất” và gieo những hạt mầm văn hóa đầu tiên góp phần hình thành nhân cách, bồi bổ tâm hồn cho con người. Thế nhưng đáng tiếc thay dường như bản thân ngành giáo dục hiện nay vẫn chưa thật sự ý thức hết tầm quan trọng của vấn đề này! Vai trò và trách nhiệm của ngành giáo dục hiện nay đang bị bóp méo, có thể nói đây là “sự tha hóa trong môi trường lẽ ra rất văn hóa”. Giáo dục gì mà chỉ chăm chăm hướng đến việc “dạy để có thành tích”, “học chỉ để thi” cộng với việc xã hội “xem trọng bằng cấp hơn năng lực” không những đã vô tình không ươm, không gieo được những hạt giống tâm hồn cao đẹp mà còn nhanh chóng làm cho nó bị thui chột, héo úa, cằn cỗi hơn. Cho nên, hậu quả là các bạn trẻ tuy chưa rời ghế nhà trường nhưng những suy nghĩ lệch lạc do nghèo nàn về văn hóa tâm hồn; sẵn sàng cư xử bạo lực với bạn mình ngay trong lớp học; sẵn sàng “chết” vì “thần tượng” nào đó xa lắc xa lơ bên xứ người; hay thậm chí bắt chước người lớn tạo scandal để được nổi tiếng…

Cuối cùng, trong thời đại bùng nổ công nghệ truyền thông hiện nay, nói đến trách nhiệm văn hóa đất nước cũng không thể không nhắc đến vai trò của hệ thống truyền thông báo chí, nước nhà. Báo chí vừa là sản phẩm văn hóa đồng thời cũng là phương tiện để tuyên truyền văn hóa thế nhưng thật đau lòng mà nói, nền báo chí của chúng ta hiện nay chẳng khác gì một cái chợ đầy rác rưởi rất bẩn thỉu. Người dân nhất là các bạn trẻ vốn đã không được trang bị những chuẩn mực văn hóa cần thiết giờ lại bị tiêm nhiễm những thứ rác rưởi ấy thì thử hỏi văn hóa không “loạn”, không “xuống cấp”, không “suy đồi” mới là chuyện lạ. 

4. Thay lời kết

Con người muốn được xem là “có văn hóa” nhất định phải trải qua một quá trình rèn luyện, bồi đắp lâu dài trong một môi trường văn hóa ổn định, lành mạnh. Để xảy ra sự “loạn chuẩn” hay “lệch lạc” văn hóa như hiện nay ngoài những nguyên nhân do lịch sử để lại thì phần nhiều là do cách “ứng xử” của chúng ta hiện nay (đặc biệt là hai thành phần “sản xuất” và “phê bình” văn hóa). Để kết thúc bài viết này xin mượn ý kiến của GS Trần Hữu Dũng như một lời chia sẻ và đồng cảm như sau: “Chúng ta thường trách nhà nước không nâng đỡ đúng mức, thậm chí đã kềm chế tiến bộ văn hoá, song nghĩ cho cùng, không một nhà nước nào có thể “sản xuất” văn hoá. Tất nhiên sự “can thiệp” mạnh tay của nhà nước vào văn hoá, mà lại không có một nâng đỡ nào đáng kể, là một điều đáng phàn nàn. Nhà cầm quyền, nhất là những người có trách nhiệm đối với sinh hoạt văn hoá, phải nhận trách nhiệm của mình đối với hậu thế. Chúng ta cũng thiếu những nhà văn hoá lớn. Song không ai trong chúng ta là vô can. Chúng ta quá dễ dãi với văn hoá hạ cấp, chúng ta quá thờ ơ, dửng dưng với văn hoá có chất lượng. Chúng ta không bảo tồn di sản văn hoá dân tộc. Và nói thẳng, đôi khi chúng ta, mỗi chúng ta, có những hành động thiếu văn hoá!”[3]


[1] Xin mời đọc thêm loạt bài của các nhà văn, nhà báo, nhà văn hóa… bàn luận về vấn đề này trên báo điện tử Vietnamnet thời gian qua như: “Chỉ có Hà Nội mới có “văn hóa chửi”, “Tôi sợ mặt trái văn hóa hà Nội”, “Vì sao Hà Nội xấu xí như vậy?”; “Dân hà nội khinh tiền và người có tiền như thế nào?;“Văn hóa xuống cấp, Hà Nội như một cái chợ?”; “Hà Nội chưa bao giờ thanh lịch?”,“Thủ đô nghìn năm văn hiến và… “văn hóa bãi bia”… sẽ thấy rất rõ điều này.
[2] Trần Hữu Dũng, 2012, Trách nhiệm văn hóa là trách nhiệm chung, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số Xuân
[3] Trần Hữu Dũng, như trên.