Saturday, February 7, 2015

Ý thức có mấy loại?

Hỏi: Kính xin Thầy giảng cho chúng con được rõ về ý thức có đến mấy loại? Và ý nào cần phải phát triển ý nào cần phải dừng? Kính xin Thầy từ bi chỉ dạy.

Đáp: Có hai loại ý thức:

1/ Ý thức thiện.
2/ Ý thức ác.

Ý thức thiện cần phải phát triển.

Ý thức ác cần phải ngăn diệt

Theo kinh Tứ Chánh Cần Phật đã dạy: “Ngăn ác diệt ác, sanh thiện tăng trưởng thiện”. Kinh Pháp Cú Phật dạy: “Các pháp ác chớ làm, nên làm các pháp thiện”.

Nhờ biết được ý thức có hai loại nên Đức Phật mới dạy chúng ta tu tập luôn luôn phải ngăn và diệt ý thức ác, không được nuôi dưỡng và tăng trưởng nó, khi nó đến thì phải diệt tức khắc ngay liền, diệt sớm chừng nào tốt chừng nấy, vì càng diệt sớm thì tâm càng được giải thoát sớm, sớm phút nào tốt phút nấy. Bởi vì đạo Phật là đạo giải thoát mà để pháp ác trong tâm thì làm sao được gọi là tu theo đạo Phật. Đó chính là mục đích pháp hành của đạo Phật là vậy.

Pháp hành như vậy được đức Phật gọi là phương pháp tu tập thiền định (Định tư cụ). Vậy pháp tu tập thiền định của đạo Phật là pháp ngăn diệt ác pháp trong tâm. Khi nào không còn ác pháp trong tâm thì người ấy nhập định, chứ không giống như loại thiền định ức chế tâm của tà giáo ngoại đạo.

Ý thức thiện vô lậu của đạo Phật thì không ngoài tâm thanh thản, an lạc và vô sự, vì thế đức Phật bảo phải tăng trưởng và kéo dài ra cái ý thức này. Đó là một phương pháp tu tập giải thoát tuyệt vời mà không có một pháp thiền nào sánh kịp. Chính ý thức thanh thản, an lạc và vô sự là trạng thái sung mãn của Tứ Niệm Xứ; là trạng thái bất động của thân tâm không bị một ác pháp nào tác động vào được. Con đường tu hành theo Phật giáo chỉ cần chứng đạt được chân lí này cũng đủ mãn nguyện cho một đời tu tập của chúng ta không uổng. Hãy cố gắng lên các bạn ạ! Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông. Phật pháp không khó vì tu tập, mà khó vì lòng người chẳng muốn lìa tham, sân, si.

Buông xuống đi! Hãy buông xuống đi!
Chớ giữ làm chi có ích gì?
Thở ra chẳng lại còn chi nữa.
Vạn pháp vô thường buông xuống đi!

Đời người là như vậy, có buông bỏ hay không buông bỏ, mọi vật đều buông bỏ chúng ta mà đi. Ngày mai khi xuôi tay vào lòng đất thì chúng ta mới thấy Phật pháp là chân thật, không lừa đảo ai hết. Phải không các bạn?

Trưởng Lão ThíchThông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây

Canh kiểm - Kim

Hôm vừa rồi có Cô  Phật Tử chỉ cho Kim cách nấu canh kiểm, lần đầu tiên ăn canh kiểm thấy lạ miệng và ngon, nên muốn chia sẻ cùng các bạn.

canhKiem

Nguyên liệu:

  • Khoai môn
  • Khoai lang bí
  • Bí rợ
  • Oyster mushroom
  • Bắp cải
  • Cà rốt
  • Bầu
  • Cà chua
  • Tàu hũ ky
  • Đậu hũ
  • Đậu phộng
  • Gia vị: muối, đường, bột nêm chay, nước tương, chao, chili bean sauce

canhKiem2

Cách làm:

- Khoai môn, khoai lang, bí rợ, bầu gọt vỏ rửa sạch cắt miếng hơi dày độ 2 cm.

- Oyster mushrooms, cà chua, bắp cải... rửa sạch cắt miếng vừa ăn.

- Cà rốt gọt vỏ, rửa sạch, cắt khoanh.

- Đậu hũ rửa sơ để ráo cắt quân cờ vừa ăn.

- 1 gói đậu phộng: 1/2 ngâm nước, nấu mềm, bóc vỏ rửa sạch, đậu còn lại rang vàng với chút muối bóc vỏ, đâm đậu vừa nhỏ, đừng nát quá.

- Tàu hũ kỵ ngâm nước 10 phút rửa sạch, vớt ra xé miếng vừa.

- Bắc nồi lên bếp cho tí dầu vào, dầu nóng cho cà chua, khoai môn, bí rợ, cà rốt, bầu, nấm  vào.

- Nêm  muối, đường, dầu hào, nước tương, bột nêm chay, 1-2 muỗng cà phê chili bean sauce, và 2-3 cục chao tán nhuyễn, đảo đều.

- Khi tất cả đã thấm, đổ nước soup chay hoặc nước lã vào nồi rau củ đang nấu, chờ nước sôi cho khoai lang, bắp cải, đậu hũ, đậu phộng, tàu hũ kỵ vào để lửa nhỏ, nấu các thứ cho vừa mềm. Nêm nếm lại cho vừa ăn, cách nêm nếm mặn lạt tùy theo khẩu vị của mọi người.

canhKiem3

- Khi ăn múc ra tô, rắc đậu phộng rang và ngò lên trên, món này ăn nóng với bún hoặc cơm.

Chúc các bạn ngon miệng với món canh kiểm này nhé.

Kim

Từ những câu tục ngữ xưa

Những câu tục ngữ xưa – chứ không phải tục ngữ hiện đại – nhưng hình như tính bất nhất và tính khôn vặt của người Việt được phản ánh trong đó không xưa một chút nào. Nó vẫn vậy, tươi rói, sống động và đặc biệt phổ biến trong lối suy nghĩ, lối ứng xử của người Việt ngày hôm nay.

Nếu có đủ sự hiểu biết, thời gian đầm mình trong sách vở cũng như trong thực tế đời sống, và cả sự dũng cảm đương đầu với cái khó, có lẽ người viết sẽ phải tính đến chuyện cho ra đời một công trình nghiên cứu đồ sộ nhằm trả lời câu hỏi: tính cách/nhân cách văn hóa thực sự của người Việt là gì? Tuy nhiên, tài vốn sơ trí vốn đoản, vả lại trong khuôn khổ của một bài báo, thì đó là điều muôn lần bất khả.

Vì thế, người viết sẽ tự giới hạn công việc của mình chỉ ở một nội dung thôi, đó là “lẩy” ra một vài nét trội (tôi sẽ học theo cách của tác giả Bá Dương khi ông viết cuốn Người Trung Quốc xấu xí), nhưng trên cơ sở đọc kho tàng tục ngữ Việt Nam. Tại sao lại tục ngữ? Trên bìa bốn cuốn Tục ngữ Việt Nam do Nguyễn Cừ biên soạn và giới thiệu, có viết: “Tục ngữ là sản phẩm tinh thần tập thể của nhân dân lao động. Đó là sự tổng kết cao nhất về kinh nghiệm sống, nhân sinh, ứng xử, đạo đức và cả trong lao động sản xuất, dự báo thiên nhiên” (NXB Văn Học, 2008). Cách hiểu này không xa mấy so với những cách hiểu về tục ngữ trong các công trình nghiên cứu, các giáo trình về văn học dân gian có uy tín (của Vũ Ngọc Phan, Chu Xuân Diên, Đinh Gia Khánh, Nguyễn Xuân Kính v.v...). Nó cho thấy rằng, không gì khác, tục ngữ Việt vừa là túi khôn của người Việt, vừa là kết tủa tâm tính, sắc thái tinh thần, diện mạo nhân cách của người Việt. Tục ngữ Việt, có thể nói, chứa đựng trong nó những cái gì chung nhất, mang tính phổ quát nhất, phản ánh rõ ràng nhất những nét đậm trong tính cách của người Việt.

Chân lý có một hay có nhiều?

Trước hết, phải nói tới tính bất nhất của người Việt như nó được thể hiện qua kho tàng tục ngữ. Bất nhất có thể hiểu là sự lệch pha, thậm chí là sự trái ngược, trong quan niệm, trong cách hành xử của con người, dù vẫn là tình huống ấy, bối cảnh ấy, đối tượng được nói đến ấy. Khảo sát/ đọc tục ngữ Việt Nam, không ít phen chúng ta sẽ phải “ngớ” người ra trước những biến đổi – như một con tắc kè hoa – trong thái độ ứng xử của người Việt.

Hãy thử đặt câu “Một giọt máu đào hơn một ao nước lã” (hoặc câu “Họ chín đời còn hơn người dưng”) bên cạnh câu “Bán anh em xa mua láng giềng gần”. Hãy thử đặt câu “Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào” bên cạnh câu “Đời trước đắp nấm, đời sau ấm mồ”. Hãy thử đặt câu “Hàng xóm tối lửa tắt đèn” bên cạnh câu “Cháy nhà hàng xóm, bình chân như vại” v.v và v.v...

Cặp thứ nhất: câu đầu khuyên người ta coi trọng những mối quan hệ cộng đồng thân tộc, câu sau lại khuyên người ta coi trọng những mối quan hệ cộng đồng xã hội. Cặp thứ hai: câu đầu nhấn mạnh vào tính độc lập, khả năng tự chịu trách nhiệm về cuộc đời mình của mỗi thế hệ, câu sau lại nhấn mạnh vào mối liên hệ nhân - quả trong hành động giữa các thế hệ. Cặp thứ ba thì mới thật kỳ lạ làm sao: câu đầu dạy rằng hàng xóm láng giềng phải biết quan tâm giúp đỡ lẫn nhau khi hoạn nạn cơ nhỡ, câu sau lại “xui” người ta mặc kệ nhau lúc xảy ra chuyện!

Tôi chỉ lấy ba ví dụ, thực tế thì chúng ta có thể “lẩy” ra vô số ví dụ như vậy từ kho tàng tục ngữ Việt Nam, nhất là ở mảng tục ngữ về quan hệ gia đình – xã hội. Đến mức thậm chí có thể khẳng định: ở mảng tục ngữ này, nếu có một câu mang ý nghĩa A, thế nào cũng phải có một câu mang ý nghĩa -A, như cực đối lập không thể thiếu của A! Nếu chúng ta quan niệm rằng mỗi câu tục ngữ là một bài học về đạo đức hoặc ứng xử, hay nói cho mạnh mẽ hơn - một chân lý, thì chẳng phải là các chân lý đang lớn tiếng cãi lộn nhau đó sao? Và, điều này có nhiều khả năng sẽ đưa đến một hậu quả: nếu người Việt Nam nào đó muốn đi vào kho tàng tục ngữ Việt Nam, muốn tìm ở tục ngữ một chỉ dẫn hoặc một niềm tin xác quyết nào đó cho hành vi ứng xử của mình trong đời sống, có thể anh ta sẽ rất hoang mang, không biết phải theo cái nào, phải làm thế nào mới đúng? Vậy, đâu là bí mật ở đây?

Bí mật, có lẽ nằm trong kiểu tư duy “mềm”, tư duy với biên độ co giãn cao của người Việt. Kiểu tư duy này không cần biết đến nguyên tắc “dĩ nhất quán chi” (lấy một cái mà bao trùm tất cả) mà đức Khổng Tử đã dạy, và nó càng không thèm quan tâm đến tính hệ thống, tính logic chặt chẽ như kiểu tư duy khách quan lạnh lùng của triết học phương Tây. Nói một cách hơi vu khoát: năng lực tư duy trừu tượng của người Việt nói chung chỉ cao đến mức có thể nắm bắt được những tình huống cụ thể, những quan hệ cụ thể, những phương diện cụ thể mà thôi, không nâng sự phán đoán của mình lên thành nguyên tắc phổ quát được. Vì thế mà các chân lý của chúng ta cứ cãi lộn nhau!

Diễn đạt cho dễ hiểu: chân lý chỉ có một, đã là chân lý thì trong trường hợp nào cũng đúng, nhưng chúng ta, những người Việt, ưa thích sự đồng tồn tại của nhiều chân lý khác nhau. Để, trong những khoảng thời gian khác nhau, những chân lý khác nhau ấy – về cùng một đối tượng – sẽ được lấy ra và sử dụng cho phù hợp với những mục đích cụ thể khác nhau của chúng ta.

Hãy thử hình dung: một người đang gặp khó khăn, về tiền bạc chẳng hạn, nếu anh ta được một người bà con xa giúp đỡ, câu “Một giọt máu đào hơn một ao nước lã” sẽ trở thành câu đầu miệng, nhưng nếu người giúp anh ta là người hàng xóm không có quan hệ máu mủ ruột rà gì, thì không gì hợp cảnh hơn câu “Bán anh em xa mua láng giềng gần” (trong những trường hợp như thế này, tính bất nhất tỏ ra rất gần với chủ nghĩa cơ hội và tinh thần thực dụng: “Gió chiều nào, che chiều ấy”). Thử thoát ra khỏi thế giới của tục ngữ, nhìn vào thực tế lịch sử dân tộc, chúng ta sẽ thấy rằng đây cũng chính là đặc điểm trội trong cách ứng xử của người Việt. Tôi xin dẫn ra một ví dụ.

Năm Đinh Mùi 1427, sau khi chiến thắng quân Minh xâm lược, Lê Thái Tổ đã chỉ đạo Nguyễn Trãi thảo hai bản văn cực kỳ quan trọng: Bình Ngô đại cáo và Biểu cầu phong. Bản văn đầu là ta viết cho ta, nên đến cả Hoàng đế Tuyên Tông nhà Minh cũng bị xem thường rất mực: “Thằng nhãi con Tuyên Đức”. Bản văn sau là ta viết cho địch – một kẻ địch tuy thua nhưng cực kỳ hùng mạnh – thì vẫn “thằng nhãi con” ấy, nhưng lại được ca tụng rất mực: “Cúi nghĩ bệ hạ là bậc thánh thần văn võ, trí tuệ thông minh, đức hiếu sinh đây đó thấm đều, lòng nhất thị xa gần không khác...” (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí. Bản dịch của Viện Sử học. NXB Giáo Dục 2008. Tập II, tr. 544). Có hai chân lý xem ra tốt hơn là chỉ có một chân lý!

Thông minh hay láu cá?

Tiếp theo, phải nói tới tính khôn vặt của người Việt, như nó được thể hiện qua tục ngữ. Khôn vặt, nghĩa là chỉ nhìn thấy cái lợi be bé trước mắt, và chỉ là cái lợi cho bản thân mình mà thôi. Người khôn vặt, thường là người thông minh theo kiểu láu cá. Anh ta nhận định tình huống rất nhanh, và cũng rất nhanh để đưa ra cách xử lý sao cho có thể thu lợi nhiều nhất cho mình, bất chấp việc mối lợi ấy được đánh đổi bằng sự thiệt hại của người khác.

Tục ngữ Việt Nam có khá nhiều câu “xui” người ta khôn vặt như vậy: “Trâu chậm uống nước đục”, “Ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau”, “Ăn sau là đầu quét dọn” v.v... Không gì khác, những câu tục ngữ trên chính là sự chỉ dẫn cho người ta con đường ngắn nhất để trục lợi: tranh cướp. Mang cái vẻ khách quan đến mức gần như “trong suốt” – nghĩa là chỉ nêu hiện tượng, không bình luận – thế nhưng chúng lại bày ra trước mắt người đọc một thứ quan hệ nhân quả rất sòng phẳng, rất logic: nếu anh chỉ làm thế này, thì anh sẽ nhận được chỉ thế này. Nếu không nhanh tay, anh sẽ chỉ nhận được phần thiệt về mình. Bằng “khôn ngoan” ra, biết đi trước thiên hạ, anh sẽ hưởng lợi và đẩy phần thiệt cho những người khác.

Để chứng minh cho cái tính khôn vặt kiểu này, không gì tốt bằng hãy cứ nhìn vào sự phát triển kịch phát của thị trường chứng khoán Việt Nam vài năm trước. Có mấy “nhà đầu tư” có những hiểu biết sơ đẳng về thị trường chứng khoán? Có mấy “nhà đầu tư” định “đầu tư” một cách tử tế, hay là chỉ nhanh tay trong việc mua cổ phiếu sao cho rẻ nhất, rồi bán ngay khi có thể để kiếm chênh lệch, bán qua bán lại đến lúc mớ cổ phiếu chỉ còn là đống giấy lộn? Có mấy nhà “đầu tư” đã kịp nghĩ đến sự phát triển chung của nền kinh tế quốc dân?

Tính khôn vặt của người Việt còn có những biến thể khác, in dấu trong tục ngữ.

Biến thể 1: nếu không nhanh tay tranh cướp để hưởng lợi được, thì ít ra, anh cũng phải biết cách giảm thiểu rủi ro cho mình, bằng việc lảng tránh đương đầu với những khó khăn, quay lưng lại hoặc đi đường vòng trước những thách thức: “Một sự nhịn, chín sự lành”, “Tránh voi chẳng xấu mặt nào”, “Lắm người yêu hơn nhiều kẻ ghét”, “Biết tay ăn mặn thì chừa, đừng trêu mẹ mướp mà xơ có ngày”, “Chú bạo chú khốn, tôi dát tôi trốn, tôi hãy còn đây” v.v... (Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vương từng nói về chuyện này: tục ngữ Việt Nam dạy con người Việt Nam cách biết sống... hèn!).

Biến thể 2: anh cần phải biết cách nắm cho chặt, giữ cho chắc quyền lợi của mình, của gia đình mình, của cộng đồng mình, và chỉ cần quan tâm đến điều đó thôi, mọi thứ quyền lợi khác của những người khác đều không đáng phải để ý: “Ăn cây nào rào cây ấy”, “Lệnh làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ”, “Ai có thân người ấy lo, ai có bò người ấy giữ”, “Thừa người nhà mới ra người ngoài”, “Thương, cái xương chẳng còn”, “Thương người thì khó đến thân” v.v...

Biến thể 3: anh cần phải biết một trong những phương cách tốt nhất để giữ an toàn cho mình, đó là xóa bỏ sự tồn tại độc lập của cá nhân, chạy trốn vào tập thể, lấy tập thể và cơ chế chịu trách nhiệm liên đới của chủ nghĩa tập thể làm thành lũy, làm lá chắn: “Lụt, thì lút cả làng”, “Toét mắt là tại hướng đình, cả làng toét mắt riêng mình ai đâu”, “Dại đàn còn hơn tốt lỏi”, “Xấu mặt xin tương, cả phường cùng húp” v.v... (Về điểm này, nhiều nhà nghiên cứu, từ giác độ xã hội học, dân tộc học, sử học v.v..., đã lý giải bằng cách chỉ ra căn tính tiểu nông của người Việt Nam, những con người được cố kết và bị chi phối rất chặt bởi những quan hệ cộng đồng huyết tộc, quan hệ Làng – Họ, nếu muốn diễn đạt theo cách khác).

Từ kho tàng tục ngữ của người Việt, nói chung, có thể đọc ra khá nhiều nét trội trong tính cách của người Việt được “găm” vào đó. Tôi mới chỉ nói đến tính bất nhất và tính khôn vặt mà thôi, dù rằng thực ra có thể và cần phải liệt kê nhiều hơn thế. Nhưng chỉ thế thôi đã thấy gợn lên một mối lo: những câu tục ngữ xưa – chứ không phải tục ngữ hiện đại – nhưng hình như tính bất nhất và tính khôn vặt của người Việt được phản ánh trong đó không xưa một chút nào. Nó vẫn vậy, tươi rói, sống động và đặc biệt phổ biến trong lối suy nghĩ, lối ứng xử của người Việt ngày hôm nay. Với những “phẩm chất” ấy, đến lúc nào mỗi người Việt Nam mới trở thành một công dân thế giới đích thực, cho dẫu không phủ nhận được là rất nhiều người trong số chúng ta đang sở hữu và sử dụng thành thạo các phương tiện của nền văn minh hiện đại không thua kém gì ai? Đây là câu hỏi chắc chắn không dễ trả lời.

Nguồn: Daibieunhandan.vn.

Friday, February 6, 2015

Tâm bất động không phải là tâm kham nhẫn

Hỏi: Mục đích của Tứ Niệm Xứ là giữ gìn tâm thanh thản, an lạc và vô sự. Nghĩa là tâm phải bất động trước các pháp ác và các cảm thọ xuất hiện. Vậy khi các ác pháp và các cảm thọ xuất hiện con nhắc câu tác ý là để tâm bất động trước các ác pháp và các cảm thọ, chứ không phải là để đuổi các ác pháp và các cảm thọ đó đi.

Vì theo con hiểu Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức là vô thường, khổ và vô ngã. Vậy thì ta không nên để tâm dính mắc vào các ác pháp và các cảm thọ đó, nghĩa là không cần phải cố gắng tiêu diệt hết các cảm thọ và các ác pháp, chỉ cần nhắc tâm không bị dính mắc vào những ác pháp đó thôi. Và đừng để cho có tâm ham muốn xuất hiện kể cả ham muốn diệt các ác pháp và các cảm thọ, hoặc là tu như thế này thì sẽ có kết quả như thế này, là diệt được cái này. Nếu con còn lý luận như thế thì con nghĩ con vẫn còn lẩn quẩn trong ảo tưởng.

Đáp: Những lý luận của con ở trên đây là con đã chịu ảnh hưởng của các hệ phái phát triển, những lý luận này trong kinh sách phát triển rất đầy đủ, đó là những lý luận lẩn quẩn không lối thoát. Cho nên, diệt dục cả thiện lẫn ác thì con người là đá, là vật vô tri vô giác, diệt dục cả thiện lẫn ác là không đúng nghĩa của Phật giáo.

Đạo Phật ai cũng biết: “Ngăn ác diệt ác, sinh thiện tăng trưởng thiện” là đường lối tu tập của Phật giáo. Do đó, chúng ta biết diệt dục ác, chứ dục thiện còn giữ lại. Cho nên, đạo Phật là đạo diệt ngã xả tâm ly dục ly ác pháp nhưng diệt ngã ác, xả tâm ác, ly dục ác, ly ác pháp, chứ không diệt ngã thiện, không xả tâm thiện, không xả dục thiện, không ly thiện pháp. Vì thế đạo Phật mới chấp nhận Bát Chánh Đạo và không chấp nhận Bát Tà Đạo. Cho nên, đạo Phật có bờ bên này và bờ bên kia; bờ bên này là ác, bờ bên kia là thiện. Vì thế, đạo Phật có hai lộ trình: một là lộ trình thiện; hai là lộ trình ác.

Do chỗ tà, chánh, thiện, ác này mà đức Phật đã chỉ cho chúng ta biết có bốn chân lý của đời người. Đó là đức Phật gợi ý cho chúng ta hướng về sự thoát khổ. Hướng về sự thoát khổ tức là muốn thoát ra mọi sự khổ đau, nếu diệt hết lòng ham muốn thì lấy cái gì để tu tập hay biến mình thành cây đá thì có lợi ích gì cho mình cho người.

Do ý muốn mà con người càng ngày càng tiến bộ trên hành tinh này về khoa học, kỹ nghệ, thông tin v.v..; do ý muốn thoát khổ nên các tôn giáo trong đó có Phật giáo mới có mặt trên hành tinh này. Vì thế, Pháp của Phật là pháp môn tu tập để “muốn” làm chủ sanh, già, bệnh, chết; muốn giải thoát ra khỏi mọi sự khổ đau của kiếp làm người, nếu không có ý muốn thoát khổ thì chúng ta đi tu để làm gì? Nghe đạo Phật nói diệt dục (Diệt Đế) là các con điên đảo hiểu biết một cách sai lạc, diệt hết tâm dục là thành tựu đất đá, tu hành để thành đất đá thì còn có nghĩa gì là con người nữa phải không con?

Nếu hiểu nghĩa như vậy là không đúng nghĩa của Phật giáo. Vì mục đích của Phật giáo là làm chủ nghiệp nhân quả và các cảm thọ. Cho nên, trong Tứ Niệm Xứ dạy: “Trên thân quán thân để khắc phục tham ưu ở đời, trên thọ quán thọ để khắc phục tham ưu ở đời, trên tâm quán tâm để khắc phục tham ưu ở đời, trên pháp quán pháp để khắc phục tham ưu ở đời”. Khắc phục có nghĩa là làm cho hết đau chứ không phải chỉ có giữ tâm bất động không. Mục đích của đạo Phật là chỗ tâm bất động, nhưng tâm bất động trong sự làm chủ nghiệp và các ác pháp bằng Tứ Thần Túc chứ không phải bất động trong sự chịu đựng của các ác pháp và sự chịu đựng của các cảm thọ.

Cho nên, sự hiểu biết của con như vậy là sự hiểu biết theo kinh sách phát triển, là sai không đúng nghĩa của Phật giáo.

Đức Phật dạy:

“Thiên thượng thiên hạ
Duy ngã độc tôn
Nhất thiết thế gian
Sanh, lão, bệnh, tử”

Tạm dịch:

Trên trời, dưới trời
Khắp trong thế gian
Con người là duy nhất
Làm chủ: sanh. già, bệnh, chết

Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sưu tập (tạm thời) sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã download từ các trang web trên, bạn có thể tải về: Click tại đây

Nhục thân

Hỏi: Kính thưa Thầy! Trong sách Đường Về Xứ Phật Thầy có đề cập đến những vị tu thiền để lại nhục thân. Theo Phật Giáo người tu sĩ để lại nhục thân là không đúng với chủ trương của Đạo Phật. Người tu thiền để lại nhục thân không từ trường, chỉ khi nào nhập định mới có từ trường. Vậy con có những giả thuyết như sau:

- Thứ nhất: ướp xác bằng các hình thức, nhưng khi chết có thể rất đau đớn, không thể ngồi trong tư thế kiết già.

– Thứ hai: dùng thuốc tự tử trong tư thế ngồi kiết già thì phải lấy dây bó thật chặt, nếu không trước khi chết, dãy dụa cơ thể ngả nghiêng không thể ngồi ngay thẳng.

– Thứ ba: Phải có một pháp môn nào đó, họ tự tại ra đi trong tư thế kiết già. Và như vậy họ cũng làm chủ được sự chết. Con vô minh cúi mong Thầy chỉ dạy.

Đáp: Đức Phật nhìn thân người là một chất bất tịnh hôi thối do các duyên hợp lại, thường thay đổi tạo nhiều khổ đau, nên thân người không có gì quý báu.

Người tu hành không hiểu mục đích của Đạo Phật, nên thường nghĩ ra những điều kỳ lạ để bảo chứng sự tu hành của mình chứng đạo.

Thưa các bạn! Mục đích của Đạo Phật là chỗ bất động tâm trước pháp ác và các cảm thọ, chứ không phải để lại nhục thân, xá lợi v.v.. hoặc ngồi thiền năm bảy ngày, tịnh chỉ hơi thở hoặc thị hiện thần thông biến hóa tàng hình, v.v…

Trong kinh sách Phật không có dạy cách thức tu tập để lại nhục thân và xá lợi, chỉ có các vị Tổ bày đặt ra để lừa đảo người khác khiến cho tín đồ mê tín hiếu kỳ cúng dường nhiều tiền bạc để thụ hưởng ngồi trong mát ăn bát vàng và xây cất chùa to Phật lớn làm nơi du lịch tham quan để thu lợi nhiều hơn nữa.

Nghệ thuật ướp xác để lại nhục thân bằng mọi hình thức khác nhau hoặc xá lợi, đó không phải mục đích của Đạo Phật như trên đã nói. Để lại nhục thân và xá lợi là hình thức của ngoại đạo, là trò lừa đảo bằng con đường thiền ức chế tâm như: thiềnYoga, thiền ông Tư, ông Tám, Thiền Tông Trung Hoa, Mật Tông Tây Tạng, v.v…

Thường thấy cái lạ và cái kỳ đặc là cho người đó tu chứng đạo là sai, người làm trò ảo thuật có tu chứng đạo không? Người chui qua Vạn Lý Trường Thành, người chôn trong đất, dìm trong nước không chết, người đi trên lửa không cháy, những người ấy có chứng đạo không? Chứng đạo sao còn háo danh biểu diển những trò ảo thuật như vậy?

Chứng đạo là làm chủ sanh, già, bệnh, chết, sống đúng giới hạnh chuyển hóa nhân quả ác, biến thế gian thành cõi Cực Lạc Thiên Đàng.

Phật Giáo có mục đích tu chứng rõ ràng, cụ thể, không có mơ hồ trừu tượng, không có thần thông ảo thuật, nên không chấp nhận những trò lừa đảo này. Xin các bạn lưu ý đừng để ngoại đạo lường gạt.

Trích Đường Về Xứ Phật tập II
Trưởng lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây

Thursday, February 5, 2015

Canh khổ qua chay - Kim

canhkhoqua

Nguyên liệu: 

  • khổ qua
  • đậu hũ
  • bún tàu
  • nấm mèo
  • boa-rô băm nhuyễn
  • muối, tiêu, đường, bột nêm chay

Cách làm:

- Khổ qua rửa sạch, xắt khúc, dùng muỗng cà phê cho vào ruột trái khổ qua lấy hết hạt ra, rửa sạch và để ráo, chần sơ qua nước sôi.

- Đậu hũ trụng qua nước sôi, bóp nhuyễn, vắt ráo nước. Đậu hũ nên vắt ráo nước để không bị rã.

- Bún tàu, nấm mèo ngâm nước khoảng 10 phút, vớt ra thái nhỏ.

- Hành boa-rô rửa sạch, băm nhỏ.

- Cho tất cả bún tàu, nấm mèo và boa-rô vào tô đậu hũ. Nêm tí muối, tiêu, hạt nêm chay. Đeo bao tay, dùng tay bóp cho các nguyên liệu trộn đều và thấm gia vị.

- Dồn nhân vào khổ qua.

- Nấu sôi độ 1 lít nước (có thể dùng nứơc lèo chay nấu sẵn càng ngon), cho khổ qua vào, nêm tí muối, bột nêm chay, để lửa to cho nước sôi lên, vớt bọt và bắt đầu để lửa nhỏ cho khổ qua mềm. Vớt bọt thường xuyên và không đậy nắp nồi để nước dùng trong. Khi khổ qua mềm thì nêm nếm lại cho vừa khẩu vị rồi tắt bếp.

* Có thể rắc tí  tiêu và hành ngò vô nồi canh nếu thích.

Chúc các bạn nấu món canh khổ qua chay thật ngon nhé.

Kim

Đạo và đời

Muốn thành tựu được lòng tin tịnh tính sâu sắc, quý vị phải suy nghĩ cho kỹ và so sánh giữa cuộc sống "Đời" và cuộc sống "Đạo". Đời có cuộc sống theo Đời, Đạo có cuộc sống theo Đạo.

Sự sống theo Đạo là đi ngược lại sự sống theo Đời, Đạo thì buông xả ra, Đời thì ôm lấy vào, cho nên quý vị đừng tưởng cuộc sống Đời và cuộc sống Đạo giống nhau.

Không, hoàn toàn không! Không giống nhau một chút nào cả. Người tu sĩ Đạo Phật có cuộc sống như thế gian, nghĩa là có vợ, có con, sống chạy theo danh lợi, ăn ngủ phi thời, là những người cư sĩ trọc đầu, chứ không phải là một vị Tỳ kheo xuất gia đệ tử của Đức Phật, họ diệt Phật Giáo chết cũng giống như trùng trong lông sư tử sẽ diệt sư tử.

Người tu sĩ Phật Giáo sống như người thế gian ăn ngủ phi thời, không buông xả vật chất, tâm dễ dính mắc sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Ngũ triền cái luôn luôn che mờ trí tuệ họ, Thất kiết sử thường trói buộc như dây xích sắt khiến họ khó vẫy vùng, nên họ đã trở thành Ma Ba Tuần. Vì thế, làm sao sống đúng Phạm hạnh, ly dục ly ác pháp được? Làm sao nhập Tứ Thánh Định, làm chủ sanh tử, chấm dứt luân hồi được? Làm sao nhập Định Vô Lậu xả tâm diệt ngã chấm dứt khổ đau? Làm sao nhập Định Bất Động Tâm sống thanh thản an lạc và vô sự ?

Nếu một người tu sĩ mà còn có lối sống như thế gian thì không thể nào tu hành theo Đạo Phật được, đó là những kẻ mượn chiếc áo Phật Giáo tìm miếng cơm để sống, chỉ biết lừa đảo tín đồ mê muội để sống bằng mồ hôi nước mắt của người khác.

Có người lầm hiểu Đạo Phật cho rằng, chỉ cần biết được pháp môn tu tập, chớ không phải do sự sống đúng Phạm hạnh. Hiểu như vậy là hiểu sai, hiểu như vậy có nghĩa là sự sống và sự tu tập là hai lối khác nhau: niệm Phật, tụng kinh, bái sám, niệm chú, ngồi Thiền trước điện Phật có ăn nhập gì vào cuộc sống đâu? Đó là cái hiểu về tu hành nông cạn, của những người tâm còn tham đắm quá nhiều vật chất, đời không muốn bỏ mà đạo lại muốn thêm.

Đạo Phật vốn tu nghĩa là sống, sống biết sửa sai, sửa quấy những lỗi lầm, biết ngăn chặn không làm những điều ác, biết xa lìa mọi cám dỗ vật chất thế gian, biết tiết độ trong ăn uống ngủ nghỉ, biết thiểu dục tri túc đối với đời sống, biết phòng hộ mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý của mình, biết giữ chánh niệm để tâm được thanh thản, an lạc và vô sự.

Lấy cuộc sống Đạo của những bậc chân tu đem so sánh với cuộc sống người thế gian, bên nào khổ, bên nào thoát khổ?

Khi đã so sánh như vậy, ta mới thấy đời sống con người thật khổ, khổ như thật, đời sống xuất gia tu hành phóng khoáng như hư không, không gì trói buộc được, không gì làm động đến tâm họ được.

Khi đã thấu rõ cả hai cuộc sống ta mới quyết định chọn một trong hai con đường này. Nếu không so sánh, không thể thấu rõ, mà vội vàng chọn lấy con đường tu thì e rằng chúng ta nông nổi bồng bột đến chừng vào Đạo đã trở thành một tu sĩ thì chừng đó tiến thối lưỡng nan.

Đời sống Đạo rất khó, không phải dễ như mọi người lầm tưởng. Rồi đây, cuộc sống Đạo chẳng ra Đạo, Đời chẳng ra Đời, chết cũng dở, sống cũng dở.

Lấy cuộc sống của mọi người mà suy ngẫm cuộc sống của mình. Đời sống trong gia đình đầy rẫy những triền phược, biết bao dây mơ rễ má trói buộc, biết bao nhiêu vật chất cám dỗ và lôi cuốn vào đường tội ác. Đường đời đầy dẫy ô nhiễm và uế trược, biết bao chông gai và hố thẳm của ác pháp đang chờ đón, càng suy ngẫm chúng ta mới thấy rằng, đời sống con người sinh ra là để khổ, khổ thật.

Chúng ta mới lớn lên chưa lập gia đình, đời còn tươi đẹp giống như một giấc mơ, ăn rồi đi học, chẳng lo nghĩ gì hết, đói no có cha mẹ lo. Đến khi lớn lên một chút, biết ham muốn, biết xài tiền, biết ăn chơi vui đùa, chớ chưa biết khổ là gì nên thường rủ rê bạn bè uống rượu, cờ bạc rồi đánh nhau, hoặc đua xe gắn máy, gây tai nạn giao thông, gãy chân, gãy tay, có khi mất mạng. Bây giờ, mới thấy khổ nhưng cái khổ đó có thấm vào đâu.

Đến khi lập gia đình, chừng đó mới thấy cái khổ của đời sống con người: vợ con, tiền bạc, nhà cửa và những vật dụng tiêu thụ hàng ngày.

Khi cha mẹ còn sống, có thiếu hụt cái gì thì ông bà giúp đỡ cho, đến khi cha mẹ mất, chẳng còn ai giúp đỡ, tự mình phải lo lấy cuộc sống của mình, trên vai chất gánh nặng phải lo toan đủ thứ, thế mà vợ con đâu biết, nên đâu phải lúc nào cũng ngọt ngào với mình, vợ con cũng phải có những tư tưởng riêng, lối sống ưa thích riêng do những đặc trưng riêng biệt, mình cũng vậy. Cho nên, sống với nhau đâu phải lúc nào cũng hợp nhau được.

Do sự khác biệt đó, nên trong nhà thường có sự lục đục, rầy rà trái ý nhau, làm cho tâm mình bất toại nguyện, phiền não, chớ đâu phải sung sướng gì. Nếu không nhẫn nhục, tùy thuận với nhau thì gia đình là một địa ngục tại trần gian.

Càng tư duy suy nghĩ, ta càng thấy đời sống khổ đau, quá khổ, không có gì là hạnh phúc nhưng nó lại trói buộc chặt hơn bất cứ một thứ gì. Chẳng hạn, đang sống chung với nhau có một người chết, thử hỏi những người còn sống có buồn khổ không? Chắc chắn không ai là không đau khổ. Hai vợ chồng ngồi trong mâm cơm vừa ăn vừa nói chuyện hàng xóm, rốt cuộc gây gổ nhau thì thử hỏi có vui sướng gì không? Thấy thế, đời sống có vui sướng gì? Hai vợ chồng sống chung với nhau không tiền không bạc, vợ thì ham muốn cái này cái kia, do đó vợ chồng cãi cọ hờn giận nhau...

Thế mới biết đời khổ, khổ mọi điều, nhưng ở đời người ta đâu biết, đâu thấy cái khổ đó, người ta chỉ thấy cái ảo ảnh bề ngoài tưởng là hạnh phúc như đôi vợ chồng trẻ ngồi trên chiếc xe hơi bóng loáng, hoặc trên chiếc xe Honda, hình ảnh này thật là hạnh phúc nhưng lòng dạ họ đang khổ nào ai biết. Một người nghèo nói: "Tôi nghèo không có cơm ăn áo mặc, tôi quá khổ", nhưng người giàu có lại nói: "Tôi có tiền có bạc, tôi lại còn khổ hơn nữa, tôi ngủ không yên sợ trộm cắp". Đó là, mọi thứ khổ đau ưu não của cuộc đời.

Ở gần nhau con gà, con vịt, con chó, con heo qua lại đã xảy ra những trận gây gổ, làm náo loạn cả xóm làng. Con cái chơi giỡn với nhau, vì bênh con đã xảy ra chuyện lớn, kẻ đi tù, người nằm nhà thương còn hai gia đình thì hận nhau mãi, chuyện nhỏ mọn lặt vặt đó, đã khiến cho đời người bất an, bất toại nguyện.

Nhìn lại, đời sống xuất gia phóng khoáng như hư không, không có một vật gì trói buộc, không có một hoàn cảnh nào làm dao động tâm, tâm hồn rộng lớn như đất trời, bao dung tất cả mọi thứ, dơ xấu bất tịnh cũng chẳng buồn, tốt đẹp quý báu như vàng bạc ngọc ngà cũng chẳng mừng vui.

Bởi vậy, thật khó cho những người còn sống ở trong gia đình không thể thực hiện sống theo pháp hạnh đầy đủ hoàn toàn, trắng bạch như vỏ ốc của những người xuất gia.

Đem so sánh giữa hai đời sống thế gian và xuất thế gian. Đời sống thế gian suốt đời nô lệ cho vật chất, đời sống xuất thế gian hoàn toàn cởi bỏ ách nô lệ vật chất, vì thế nên không còn một vật gì hết, chỉ còn ba y một bát, tối ngủ yên giấc, không sợ trộm cắp gì cả, không sợ hư hao gì hết, bởi vì còn có gì nữa đâu mà hư hao, nhà cửa cũng không, gia đình cũng không, lấy gì mà sợ vợ đói con khát.

Cuộc sống người xuất gia là như vậy nên tâm hồn an vui thanh thản và hoàn toàn hạnh phúc. Tâm hồn trong trắng như vỏ ốc, không có vật gì làm hoen ố, ác pháp không làm dao động được tâm.  Họ sống độc cư, độc bộ, độc hành nhưng lại biết hòa mình trong mọi cuộc sống của người khác bằng đức nhẫn nhục, tùy thuận, bằng lòng.

Từ chiếc áo của người cư sĩ chúng ta đem so sánh với chiếc áo của người xuất gia, ta nhận xét, người cư sĩ tu theo Đạo Phật hoàn toàn khó giải thoát như người xuất gia, chỉ giải quyết được cuộc sống bằng Thiện pháp và không thể thực hiện được sự làm chủ sống chết bằng Thiền định.

Khi quán triệt cuộc sống Đời và Đạo, ta mới thấu rõ người tu sĩ Đạo Phật không thể sống theo dục lạc thế gian, không thể sống có vật chất tài sản được mà phải xa lìa viễn ly tất cả, buông bỏ xuống hết, không chùa to tháp lớn, không ti-vi, tủ lạnh, không xe hơi, xe tốt, không điện thoại di động v..v, sống đời thiểu dục tri túc, ba y một bát, hằng ngày sống một bữa ăn, không ăn uống lặt vặt phi thời, đi khất thực nuôi thân, chẳng thân chẳng sơ với ai, chẳng tiền chẳng bạc, chẳng danh chẳng lợi, ai hỏi Đạo thì chỉ thẳng, chẳng nói, chẳng dạy điều mê tín gạt người.

Vì thế, cuộc sống Đời và cuộc sống Đạo không thể giống nhau được, giống nhau thì không phải Đạo.

Ở đây, trong tu viện có tu sĩ và cũng có cư sĩ, nam có, nữ có nhưng sự cân nhắc tu hành quả thật chỉ có buông bỏ mà quý vị chưa hoàn toàn buông bỏ sạch trong. Chúng tôi biết rất rõ quý vị nghe chúng tôi giảng để hiểu biết, chớ sự thật tu hành để giải thoát cảnh trần lao đau khổ thì quý vị không đủ ý chí cương quyết và khả năng hành trì được.

Người có quyết tâm đi tìm sự giải thoát thì phải gan dạ, gọt bỏ râu tóc, mặc y áo xấu xa, cắt đứt dây mơ rễ má tình cảm với gia đình, cha mẹ, anh em chị em ruột thịt, vợ con và người thân quyến thuộc, lại còn phải bỏ tất cả tài sản của cải châu báu vàng bạc. Có đoạn dứt được như vậy, thì con đường Thiền định của Đạo Phật mới tu tập được, có tu tập được Thiền định (Tứ Thánh Hiện Tại An Lạc Trú Định) thì mới làm chủ được sự sống chết, mới tịnh chỉ được các hành trong thân.

Sự tu hành này, nó không đơn giản mà phải tu tập hết sức. Các Thầy phải tự suy nghĩ, các hành đang hoạt động trong thân của chúng ta như: tim đập, gan, phèo, phổi, thần kinh đang hoạt động không ngừng nghỉ, hơi thở đang ra vô tự động, da đang bài tiết. Tất cả, những sinh hoạt này đang tạo ra một sức sống cho thân mạng chúng ta. Thế mà, tu tập Bốn Thánh Định chúng ta điều khiển làm cho nó ngưng hoạt động, thì đây không phải là một việc dễ làm. Nếu tâm của chúng ta chưa thanh tịnh, chưa ly dục ly ác pháp, còn thương, còn ghét, còn giận, còn hờn, còn tham muốn vật này vật khác, chưa đoạn lìa tình cảm thế gian thì chắc chắn quý Thầy không thể thực hiện được, không thể làm chuyện vĩ đại này được.

Giáo lý của Đức Phật đã vạch ra con đường tu hành rất rõ ràng, lấy nhân quả làm nòng cốt đối tượng cho sự tu tập, vì thế thay đổi nghề nghiệp ác là hành động đầu tiên trau dồi thân tâm thiện (Chánh Nghiệp) kế đến, chúng ta lần lượt tu tập những hạnh bố thí cúng dường, để xả bỏ lòng ích kỷ hẹp hòi, để xa lìa lòng ham muốn nhiều của mình và hàng ngày còn trau dồi đức nhẫn nhục, tùy thuận, bằng lòng trong mỗi đối tượng, mỗi hoàn cảnh, mọi sự việc. Chính những sự tu tập này, đã mang đến cho quý vị và gia đình một sự an vui hạnh phúc tuyệt vời. Người cư sĩ chỉ cần tu tập bấy nhiêu đây, cũng đủ đem lại một cuộc sống an lành hạnh phúc mà hầu hết mọi người trên thế gian này đều mơ ước, chỉ có những người chưa biết an phận thì con đường tu tập này không phù hợp.

Nếu không có Đạo Phật chỉ đường vạch lối giải thoát cho loài người thì loài người đi tìm hạnh phúc trong ảo tưởng, đó chỉ là một giấc mơ đẹp mà thôi.

Ở đây, chúng tôi xin lưu ý các bạn: Đời và Đạo không thể đi chung nhau một đường, mà hai nẻo rõ ràng: Đời là đau khổ, Đạo là giải thoát; Đời thì ôm vào tất cả, Đạo thì buông ra chẳng còn một vật. Đó là Đạo và Đời đã xác định rõ như vậy. Vì thế, mà các bạn quan sát biết rõ người tu đúng và người tu sai, người nào tu theo đúng chánh pháp của Đạo Phật; người nào tu sai lạc vào tà pháp của ngoại đạo, thì các bạn không còn lầm.

Trích "Đường về xứ Phật" tập 1
Trưởng lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây