Tuesday, July 21, 2015

Bạn có bị mắc căn bệnh “chán học”?

Bạn có bị mắc căn bệnh “chán học”?

Dưới đây là một bài viết về giáo viên Việt Nam trong cuốn sách “cải cách giáo dục Việt Nam” của một học giả người Nhật đã từng sống ở Bắc Giang 3 năm từ 2004 đến 2007. Mình đang viết luận văn tốt nghiệp, đọc thấy hay quá, dịch ra để mọi người cùng suy ngẫm. Nội dung bài này nói về

1. Lý do vì sao nghề giáo ở Việt nam lại được tôn kính.
Có 2 lý do để ông khẳng định nghề giáo ở Việt Nam được mọi người kính trọng. Lý do thứ nhất ông cho rằng, từ xa xưa người Việt Nam bị ảnh hưởng của nho giáo từ trung quốc cụ thể là tư tưởng của Khổng Tử và Lão Tử. Lý do thứ 2 đó là do tỷ lệ học lên đại học ở Việt Nam những năm 90 là cực thấp ( 1995: 2%) vì thế, dưới con mắt một người dân thường, Người giáo viên là một nhà tri thức, một con người ưu tú xuất sắc. Những gì giáo viên nói là chuẩn mực, là chính xác.Tuy nhiên nó dẫn đến hệ luỵ đó là khiến giáo viên nhầm tưởng rằng mình thực sự giỏi giang, tự đề cao mình, và quên mất đi việc nỗ lực để trở thành người thầy tốt hơn.

2. Người thầy Việt Nam sử dụng QUYỀN LỰC, tiêu diệt hứng thú học tập của học sinh.
Ông chỉ ra sự sai khác giữa QUYỀN UY NGHIỆP VỤ và QUYỀN LỰC CÁ NHÂN. Người giáo viên Việt Nam nhầm tưởng QUYỀN UY mà họ sẵn có chính là QUYỀN LỰC CỦA CÁ NHÂN mình. QUYỀN UY của người thầy được tiếp nhận mà ông nhắc đến chính là “sự cuốn hút bởi tính cách của người thầy khiến tự trong thâm tâm mình các em học sinh ngoan ngoãn lắng nghe.” Tuy nhiên, người giáo viên Việt Nam sử dụng QUYỀN LỰC CÁ NHÂN để bắt ép học sinh phải ngoan ngoãn nghe theo. Trong bài có một đoạn văn ông viết như sau: “Những tiếng động uy hiếp “rầm” phát ra từ chiếc thước kẻ được đập xuống bàn hay bảng đen, hay những lời de dọa như “không nghe lời thì tao sẽ cho mày điểm xấu, hạnh kiểm yếu…” Vô tình khiến học sinh bị dồn vào hoàn cảnh phải nghe theo người thầy mà không nói được gì. Bằng chứng là việc chúng ta bắt gặp bóng dáng của rất nhiều học sinh khi đến giờ ra chơi, đồng loạt đổ xô ra sân trường, hưng phấn đùa vui, hét ầm ĩ cư như là giải tán được sự áp lực vậy. Đó chính là khoảnh khắc khiến chúng ta cảm nhận được rằng,những đứa trẻ đã phải nín nhịn những cảm xúc,chúng phải tham gia giờ học trong hoàn cảnh bị áp bức dồn nén như thế nào.”

Đọc đến đây làm mình nhớ lại thời còn là học sinh. Mình sợ trường học, sợ học bài, sợ kiểm tra (miệng, 15 phút, 1 tiết, học kỳ..),và không biết mình học để làm gì. Hứng thú học tập của mình hoàn toàn bị tiêu diệt bởi những ngày tháng sợ hãi. Liệu những người thầy của chúng ta đang thực sự mong muốn điều tốt cho học sinh? Hay vô hình chung, họ đang sử dụng quyền lực của mình để gây ra căn bệnh di căn “chán học”, căn bệnh này âm ỉ cho đến khi trưởng thành và phát tác mạnh mẽ. Người lớn sẽ chẳng có năng lực học tập nữa, con người sẽ chết đi và mang theo căn bệnh đó.

PS: Mình học tiếng nhật là do có sự hứng thú với nó, sự hứng thú luôn khiến tự bản thân mình phải tìm kiếm cái mới, khám phá điều mới.Do đó để học tốt tiếng nhật thì việc yêu thích nó là yếu tố quan trọng hàng đầu. Các clip của mình tuy ngắn và còn nhiều thiếu sót tuy nhiên hy vọng rằng nó sẽ gây được cảm hứng cho các bạn.

-----
Quyền lực và vị trí mang tính xã hội cao của Nhà Giáo Việt Nam

Nhà giáo là một nghề đáng tôn kính ở Việt Nam. So với các nước phát triển trong đó có Nhật Bản, khi chỗ đứng của nhà giáo đang bị rớt đài thì “Việt Nam” khiến chúng ta phải ghen tị khi đem ra so sánh. Lý do trước tiên có lẽ đó là đạo đức quan(cách nhìn về đạo đức) của người dân Việt Nam. Việt Nam từ xưa đã chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc,ngay cả dưới thể chế quốc gia hiện tại là Xã Hội Chủ Nghĩa, tư tưởng nho giáo, cụ thể là tư tưởng của Khổng Tử và Lão Tử đã thấm nhuần trong ý thức của mọi người. Kính “nhân nghĩa hiếu trung”, yêu gia đình, trọng “quan hệ thầy trò”, tôn trọng quan hệ trên dưới theo tuổi. Việc ý thức rằng giáo viên là thầy của tất cả mọi người chứ không chỉ là thầy của học sinh được lan rộng toàn xã hội.

Ngoài ra có thể nêu lên đặc tính ưu tú của người thầy.Những năm trở lại đây, tỉ lệ học tiếp lên trung học hay đại học có tăng lên, tuy nhiên từ trước tới nay, tỉ lệ học tiếp lên đó luôn ở tình trạng rất thấp trong một thời gian dài. Ví dụ, Tỷ lệ học sinh học sinh hoàn thành xong giáo dục trung học năm 1999 là khoảng 32%, ở giáo dục đại học chỉ có 2 %. Trong hoàn cảnh như thế, những người thầy tốt nghiệp trung học, tốt nghiệp cao đẳng, hay tốt nghiệp đại học, sẽ trở thành những người ưu tú xuất sắc có học vấn quá cao so với một người bình thường. Như thế, việc coi người Thầy là nhà trí thức đã ngấm sâu vào trong tiềm thức của mọi người.Đặc biệt, ở những vùng nông thôn hay vùng sâu vùng xa, khuynh hướng này rõ nét hơn, người Thầy tồn tại với tư cách là người hướng dẫn của cả vùng, và nhận được sự kỳ vọng lớn. Tôi thường bị bất ngờ bởi cách viết, cách nói chuyện của các giáo viên Việt Nam. Cách nói chuyện trong giờ học không có từ thừa, và được lựa chọn một cách cẩn thận. Giọng nói rõ ràng, không lưỡng lự, do đó rất dễ nghe. Ngoài ra, những chữ viết trên bảng đẹp như là đánh máy từng chữ một, toàn bộ bảng đen cứ như là một nghệ thuật bởi một loại chữ viết. Việc này được luyện tập khắt khe trong quá trình tập huấn và giảng dạy, vì thế đây sẽ là lý do lớn để minh chứng tính ưu tú của giáo viên dưới con mắt của một người bình thường, lý do để được kính trọng.

Có thể nói rằng, trong xã hội mà giáo viên được sự kính trọng từ mọi người ở Việt Nam thì nghề “nhà giáo” được bảo vệ bởi sự tín nhiệm. Từ trước tới này, người thầy luôn được coi là người có nhân cách, người tuyệt vời, người giỏi giang. Việc sinh ra tín ngưỡng, tuyệt đối cho rằng “những gì người đó nói là đúng” chắc chắn không phải là hiếm. Ví dụ như việc, các thầy cô giáo ở nông thôn và khu vực miền núi, họ trở thành trung tâm luôn cố gắng nỗ lực để đưa học sinh đến trường, khai sang tri thức “vệ sinh công cộng” hay việc đóng góp lớn cho sự phát triển mang tính kinh tế, mang tính xã hội của khu vực v.v…
Và những người Thầy như thế là những người luôn cống hiến,họ không làm bẩn sự uy quyền trong nghề nhà giáo, họ mang trách nhiệm lớn để đáp ứng một điều gì đó tới niềm tin cháy bỏng từ mọi người. Tuy nhiên, trong thực tế nó không phải toàn những mặt tốt như vậy. Việc tác dụng phản ngược lại với điều tốt đó có trong sự tín nhiệm của người thầy là sự thực. Và nó trở thành vấn đề giáo dục lớn hiện nay của giáo dục Việt Nam. Chúng ta cùng tìm hiểu tới việc uy quyền mang tính nghề nghiệp của người thầy gây tác dụng phụ như thế nào.

Như tôi đã nói ở phần trước, giờ học ở Việt Nam được diễn ra đơn giản theo như chương trình giảng dạy, đúng tiến độ đã được quy định trong giáo án, theo những gì viết trong sách,bằng phương pháp đã được đưa ra trong sổ giáo án dành cho giáo viên.Ở đây, người thầy không có cơ hội phát huy tính sang tạo, tính độc lập, và hầu như không có quyền xử lý, phán đoán một cách tự chủ theo ý mình. Mối quan tâm của giáo viên chỉ hướng đến việc dạy học nội dung đã được quy định theo trình tự đã được quyết, mà không thể hướng đến việc học sinh quan tâm gì, thích gì,và đã hiểu gì.Đối với học sinh những giờ học như vậy sẽ làm giảm hứng thú tới việc học tập và khó nói rằng nó có sức hút. Nếu như giờ học như vậy diễn ra ở đất nước chúng ta, chắc chắn nó sẽ không còn là giờ học nữa, học sinh chắc chắn sẽ nói chuyện với nhau, sẽ ngủ gật hay đứng dậy đi quanh phá rối. Ngược lại, học sinh Việt Nam luôn hướng lên bảng và nghe giáo viên giảng bài.Chắc chắn trong thâm tâm có nhiều học sinh nghĩ rằng là “ thật là nhàm chán, sao ko mau hết giờ nhỉ…”. Thế nhưng, bề ngoài thì giờ học đã được hình thành. Điều này không liên quan đến việc vô thức hay không vô thức, đây là do người thầy luôn chèn ép học sinh. Những tiếng động uy hiếp “rầm” phát ra từ chiếc thước kẻ được đập xuống bàn hay bảng đen, hay những lời de dọa như “không nghe lời thì tao sẽ cho mày điểm xấu” Vô tình khiến học sinh bị dồn vào hoàn cảnh phải nghe theo người thầy mà không nói được gì. Bằng chứng là việc chúng ta bắt gặp bóng dáng của rất nhiều học sinh khi đến giờ ra chơi, đồng loạt đổ xô ra sân trường, hưng phấn đùa vui, hét ầm ĩ cư như là giải tán được sự áp lực vậy. Đó chính là khoảnh khắc khiến chúng ta cảm nhận được rằng,những đứa trẻ đã phải nín nhịn những cảm xúc,chúng phải tham gia giờ học trong hoàn cảnh bị áp bức dồn nén như thế nào.

Tôi buộc phải nói rằng, các giáo viên như thế này đã lạm dụng uy quyền mang tính nghiệp vụ sẵn có trong nghề nhà giáo. Phần lớn các giáo viên đã nhầm tưởng rằng uy quyền mang tính nghiệp vụ của nghề giáo là quyền lực có sẵn trong cá nhân họ. Tóm lại, họ nhầm tưởng rằng việc tin yêu của mọi người đối với thầy giáo là “Người thầy là nhân vật đáng kính trọng”, “việc thầy giáo nói là đúng” sang thành là “Tôi là nhân vật đáng kính trọng”, “Điều tôi nói là đúng”. Có thể nhận thấy ở đây, đó là sự chuyển dịch từ “uy quyền”mang tính nghiệp vụ sang “quyền lực”mang tính cá nhân. Cần thiết phải giải thích về quyền lực và uy quyền một lần nữa để chúng ta rõ ràng hơn. Bình thường, chúng ta có khuynh hướng phủ định từ “uy quyền” và khi nói đến “người thầy mang uy quyền” thì chúng ta lại nghĩ rằng người thầy có gì đó xấu xa. Tuy nhiên, do từ uy quyền và quyền lực pha trộn vào nhau vì thế chúng ta có cảm giác như vậy. Nếu như phân biệt được rõ ràng ý nghĩa thực sự của 2 từ này thì chúng ta sẽ hiểu được rằng “người thầy mang uy quyền” sẽ không phải là thứ bị phủ định. Theo như OKADA(một nhà giáo dục học Nhật Bản), việc liên quan mang tính quyền uy đối với học trò của thầy giáo tức là, không phải là lời nói hay hành động mang tính ý đồ hay không của người thầy, ma là do bị sự cuốn hút bởi tính cách của người thầy khiến tự trong thâm tâm mình các em học sinh ngoan ngoãn lắng nghe.

Tôi phủ định việc nói rằng “nếu là giáo viên thi bất cứ ai cũng duy trì mối quan hệ mang tính uy quyền với học sinh”. Vì Chủ thể cảm nhận quyền uy mãi nằm ở phía học sinh, chắc chắn nó không phải là thứ do một phía giáo viên tạo ra. Học sinh sẽ đánh giá nhiều khía cạnh như lời nói, hành động, tri thức, nhân cách của người giáo viên, nếu đánh giá người giáo viên đó là tuyệt vời thì tự bản thân học sinh sẽ tiếp nhận uy quyền đó.

(lược)….

Chúng ta cùng nhau quay lại câu chuyện nhà giáo Việt Nam. Ở Việt Nam nghề nhà giáo nhận được uy quyền mang tính xã hội cùng với tính ưu tú trong suốt chiều dài lịch sử của mình. Bởi thế, chỉ cần trở thành giáo viên thì họ được nhìn nhận bằng ánh mắt tôn kính và tin tưởng của mọi người, cho dù năng lực cá nhân không hề có. Trong nhiều tình huống, họ luôn cho rằng những lời của thầy cô giáo là đúng, dần dần họ tiếp nhận điều đó cho dù giáo viên có đưa ra ý kiến sao đi chăng nữa thì họ chẳng có một chút hoài nghi.Tình trạng này nếu cứ tiếp tục kéo dài thì sẽ xảy ra việc người Thầy nhầm tưởng rằng “mình giỏi giang”, kênh kiệu, và không thèm nỗ lực.Kết cục, năng lực của người thầy không những dậm chân tại chỗ mà con rơi vào tình trạng nguy hiểm, ngày tháng cứ dần trôi đi mà họ không tự ngộ nhận ra điều đó. Cảm giác như việc này bị thúc đẩy nhiều hơn bởi tính tuyệt đối tuân thủ giáo trình giảng dạy mà tôi đã nêu ở phần trước. Phía sau những lời phát ngôn của thầy cô như “Tôi dạy đúng theo như giáo trình giảng dạy” thì nó còn bao gồm ý nghĩa là “Tôi tổ chức hoạt động giáo dục đúng như chính phủ ban hành, chẳng có gì là sai. Đối với học sinh, những gì tôi nói trong giờ giảng là những điều chắc chắn chúng phải nhớ. Vì thế tôi phải chỉ đạo khắt khe hơn để cho chúng nhớ”. Nói cách khác, “vì tôi giảng dạy theo giáo trình mà chính phủ uỷ thác, do đó học sinh phải tuân thủ tuyệt đối theo tôi.” Những giờ học của người thầy không hề quan tâm tới sở thích tính tò mò của học sinh mà dạy theo một hướng như thế này chắc chắn không thể lôi kéo được học sinh. Cộng với việc thúc ép bằng quyền lực của mình sẽ khiến các em sẽ dần mất đi hứng thú cho việc học tập và không thể tập chung được nữa. QUYỀN UY mang tính nghiệp vụ của nhà giáo vốn có bị chuyển sang quyền lực bởi sự hiểu nhầm lớn của người giáo viên, nó rơi vào sự vô tuần hoàn, trở thành vấn để nan giải, phức tạp trong chế độ giáo dục Việt Nam.

Yoshitaka Tanaka – trích trong cuốn “cải cách giáo dục Việt Nam” -2008



Ảnh của Nguyen Van Dung.

Tản mạn về văn minh và văn hoá

Tản mạn về văn minh và văn hoá


Ngày xưa các cụ thường bảo người Tây chỉ hơn ta vì họ giỏi cái văn minh cơ khí, chứ còn phương Đông nghìn năm thâm trầm và huyền bí, nền văn trị, dùng văn để giáo hoá con người, tức là văn hoá của ta chẳng dày gấp mấy lần xứ họ.
Và cứ thế, lo ta có đặc thù, sắc thái riêng, mọi chính sách quốc gia cũng vì thế mà phải cắt xén gọt giũa cho phù hợp với người ta. Tựa như lá, cành, thân, rễ, từ ngàn đời nay thói quen sống, tư tưởng, cách người Việt Nam chúng ta nhìn và đối xử ở đời, tất cả những nguồn hành vi ứng xử âý đã tạo nên văn hoá như một cái cây dẻo dai và rắn chắc gắn với số phận dân tộc chúng ta. Chúng ta nghèo và lạc hậu, cũng một phần vì cái nền văn hoá cổ kính của chính dân tộc chúng ta.
Ngày nay, chỉ còn mười năm nữa nước ta đến hạn phải thực hiện giấc mơ lớn “công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, tức là đuổi theo cái văn minh cơ khí từ phương Tây. Từ tàu cao tốc đến điện hạt nhân, nhiều đời dành dụm hoặc nhờ vào tiền vay không chóng thì chầy nước ta sẽ có đủ những thứ tối tân ấy. Xưa cái ô tô về quê là cả làng ra xem, nay hàng triệu chiếc đang chen lấn trên đường, chủ xe giữa phố đông đôi khi tủi thân mãi bị xua đuổi mà chẳng kiếm được một chỗ khả dĩ để đậu xe. Xe hơi là sản phẩm văn minh cơ khí, nhập vào nước ta không quá khó, song liệu khuôn mặt lấp ló sau chiếc vô lăng tối tân ấy có đủ văn hoá để hành xử trong hỗn độn giao thông ngày nay, đó mới là điều đáng bàn.
Công nghiệp hoá không chỉ là tàu cao tốc với điện hạt nhân, ứng xử của con người Việt Nam cũng cần phải phù hợp với văn minh công nghiệp. Liệu văn hoá người dân nước ta, tự hào nghìn năm, trong vòng mười năm nữa, đã sẵn sàng cho những điều kiện sống mới mà người ta mong là hiện đại. Liệu tới khi ấy dân tộc chúng ta đã quen xếp hàng, quen xả rác đúng nơi quy định, biết dừng trước đèn đỏ và nhường nhịn khi tham gia giao thông? Liệu cho tới khi ấy học sinh có bớt hung hãn khi tới trường, tội phạm có giảm, trong nô nức lấn đường chào đón ngày Giáng sinh của Đức Chúa từ phương Tây có còn ai chạnh lòng lo khói hương ngày Tết.
Dùng văn hoá để giáo hoá, nếu theo cách hiểu ấy hành vi ứng xử có giáo dục không chỉ thuộc phạm vi quản lý và trách nhiệm của riêng ngành văn hoá. Thêm nữa, giữ lấy ứng xử có văn hoá không thể chỉ bằng những lễ hội và sự kiện, bằng những bằng khen và danh hiệu khu phố văn hoá, làng văn hoá, gia đình văn hoá. Lễ hội, tín ngưỡng là việc của dân gian, hình như Nhà nước nếu muốn góp phần vào giáo hoá dân chúng cần phải lo làm những công việc đúng chức năng hơn.
Khó có thể ngồi chờ cái cây văn hoá ngàn đời với âm dương ngũ hành, tục lệ và vô tận những thói quen tự diễn biến, tự đổi thay cho hợp với văn minh cơ khí ước mong sẽ đạt được vào mười năm tới. Từ truyền thống văn trị, trọng tình, Nhà nước phải tác động và những hành vi ứng xử của con người qua những chuẩn mực đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện và ép buộc thực hiện. Những chuẩn mực ấy không có gì tốt hơn là luật pháp.
Hai mươi năm yêu lấy thị trường, chợ đã đông vui với nửa triệu công ty và doanh nghiệp, tư nhân đã góp tới 48% GDP trên đất nước này. Hai mươi năm từng bước hợp thức hoá sở hữu tư nhân, nay những ông chủ mới đã dần hiện rõ mặt. Chỉ có điều văn minh công nghiệp không chỉ có được bởi kinh tế thị trường và sở hữu tư nhân. Chủ thay khuôn mặt mới song luật chơi cua rmuôn đời chưa thật mới. Nếu pháp luật chỉ là thành luỹ bảo vệ người giàu và có thế lực, chúng ta sẽ mau chóng có tàu cao tốc và điện hạt nhân, song một nền công lý đảm bảo công bằng về cơ hội cho bất kỳ ai vẫn chưa thể đến với dân tộc chúng ta.
Vì lẽ ấy, trên hành trang vươn tới văn minh công nghiệp hoá, tự hào với ngàn năm văn trị, song xin đừng quên những thành tố khác đảm bảo cho quốc gia bền vững. Đó chính là xã hội công dân với hàng triệu công dân tích cực tham gia xây dựng và giám sát chính quyền. Đó cũng chính là một chế độ thượng tôn pháp luật, như cách đây hàng thế kỷ những người ái quốc Việt Nam đã từng mong “bảy xin hiến pháp ban hành, trăm điều phải có thần linh pháp quyền ”.
Tia Sáng


Monday, July 20, 2015

VỀ CÁI GỌI LÀ “CHIẾN DỊCH TỔNG TUYỆT THỰC” CỦA ĐÁM RẬN

Đám rận chủ đã tiến hành nhiều hành động chống đối điên cuồng với cái tên mỹ miều là “chiến dịch nhân quyền” để chống lại chính quyền Hà Nội. Được biết chiến dịch này đã được thực hiện vừa qua và kết thúc trong tháng 6 với sự thảm hại khi sự gào thét của đám rận chỉ được nhận lại ở sự hờ hững của cộng đồng người Việt ở nước ngoài.


Giờ đây, ngày 25/7/2015 này đám rận tiếp làm thêm cú “mã hồi” để vớt vát lại những thua lỗ mà chúng đã bỏ ra trong chiến dịch nhân quyền trước đây. Vì thế Lam Hồng có đôi điều ý kiến nhận diện về chiến dịch này của đám rận.


Thông cáo báo chí của đám rận chủ nhằm vận động cho các tù nhân lương tâm cùng tuyệt thực


- Về thực chất của chiến dịch:

Theo như sự rêu rao của đám rận thì chiến dịch này được tiến hành với chiêu bài là Tổng Tuyệt thực. Như vậy là sau những đám anh chị hổ báo ở trong nước như Lê Quốc Quân, Tạ Phong Tần thì đến lượt những chị em râu ria vô danh khác cũng được đánh đồng trong cái kịch bản tuyệt thực này.

Hơn nữa, đây là kịch bản đã được đám rận chủ sử dụng rộng rãi trong thời gian qua, sau khi chụp ảnh và lên lều báo thì chúng lại đâu vào đấy. Thế mới thấy quyết tâm tuyệt thực của đám rận chỉ là hình thức và chẳng có anh chị nào vì tuyệt thực mà giảm được cân nào.

- Về quy mô và thời gian:

Chiến dịch tổng tuyệt thực sẽ được tiến hành vào 8h sáng ngày 25 đến 8h sáng ngày 26 tháng 7. Như vậy chỉ có một ngày ngắn ngủi để tuyệt thực mà thôi, mới nghe thôi ai cũng có thể hiểu là một ngày để phục vụ cho hình thức đánh bóng tên tuổi không hơn kém.

Ngoài ra, về quy mô của chiến dịch này có vẻ rộng lớn hơn khi chúng mạnh mồm dám bảo thực hiện trên toàn thế giới. vậy thử đặt câu hỏi là ai biết được và ai là người tổ chức cho chúng tuyệt thực đây, hay chỉ là nhóm những kẻ điên khùng ở nước ngoài vài chục người cùng tụ lại để hội họp và bàn luận những cách để kiếm tiền từ quan thầy nước ngoài.

- Do đó có thể suy ra mục tiêu của đám rận như sau:

Ngoài những mục tiêu mang tính lừa đảo như để cho thế giới biết về thực tế dân chủ nhân quyền ở Việt Nam và gây sức ép lên chính quyền nhằm thả những người bị coi là “tù nhân lương tâm” thì bản chất thực của chiến dịch hướng tới đó là kiếm sự hậu thuẫn của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, gây sức ép để đưa Việt Nam vào danh sách những nước cần quan tâm đặc biệt về dân chủ nhân quyền.

Thâm độc hơn thông qua chiến dịch này chúng có thể thấy được thuốc thử với sự phản ứng của chính quyền Việt Nam trong nỗ lực ngoại giao thời gian qua thì việc có những người phản đối như vậy thì chính quyền Hà Nội có thể dễ ăn dễ nói với Mỹ và EU không trong vấn đề dân chủ nhân quyền.

Chính vì vậy, việc bỏ rơm và tự tay đốt lên ngọn lửa thâm độc này chỉ có đám rận và những tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam làm ra.

Do đó, nếu chúng ta thấy những hành động của đám rận đòi tuyệt thực để đòi dân chủ nhân quyền là hoàn toàn phi lý và vô giá trị, nếu không muốn nói điều đó có thể gây nên nguy hiểm cho sức khỏe con người.

Nên làm những việc có ích cho đất nước hơn là thắp nến ngày đêm và nằng nặc cầu nguyện nhớ về quá khứ, sống với thực tại và vì tương lai là điều hoàn toàn có thể làm được.

Kiên Hoàng

Sunday, July 19, 2015

NỖI ÁM ẢNH TRUNG HOA

Trung Quốc đang gây chiến với toàn thế giới!. Các quốc gia trên thế giới đang bày tỏ quan điểm không đồng tình trước những hành động của Trung Quốc trên toàn thế giới. Các nước lớn như Mỹ, Nga, Anh…bày tỏ những quan ngại nhất định trong quan hệ quốc tế. Các quốc gia nhỏ hơn thì tỏ thái độ dè dặt và cẩn trọng cao độ trước những hành động của Trung Quốc. 


Tham vọng bá quyền của Trung Hoa với Biển Đông

Về phía phương diện Nhà nước, Trung Quốc đã áp dụng chiêu bài “độc chiếm biển Đông” chèn ép các nước ASEAN để đạt được mục đích của mình. Trung Quốc coi thường pháp luật quốc tế ngang nhiên tiến hành cải tạo phi pháp các đảo nhằm duy trì quyền lực ở Biển Đông. Mục tiêu của Trung Quốc là tạo ra “sự đã rồi” trước khi kí kết COC. Các hành động trên chứng minh cho “tham vọng bá quyền” của giới lãnh đạo Trung Hoa.

Các công ty của Trung Quốc đi khắp thế giới với tư cách là những “cỗ máy gián điệp khổng lồ”. Các công ty điện tử của Trung Quốc đều dính nghi vấn hoạt động gián điệp. Các công ty xây dựng đã tàn phá tài nguyên thiên nhiên của hàng loạt các quốc gia châu Mỹ, Phi, Châu Á. Các công trình xây dựng do người Trung Quốc tiến hành đều mất an toàn, mau xuống cấp và hủy hoại tài nguyên vô cùng lớn. Đó là hệ quả tất yếu từ sự tham nhũng và các khoản lót tay dành cho giới chức trách ở các nước.

Người Trung Quốc đi đến đâu thì ở đó có sự “vô văn hóa đến đó”. Người Trung Quốc hợm hĩnh, vẽ, viết ngồi lên những bức tượng thiêng liêng ở khắp thế giới không còn xa lạ. Ở các nước, “ăn cắp ý tưởng”, “đạo ý tưởng” bị lên án mạnh mẽ. Nhưng, người Trung Quốc thì ngược lại, họ tự hào rằng “thế giới có gì thì Trung Hoa có cái đó”. Nên chúng ta sẽ có thể dễ dàng bắt gặp Cung điện Mùa Đông, Tháp Effel, Đấu trường La Mã cổ đại, Tháp nghiêp Pisa, Tượng Nhân sư…ở nơi nào đó trên mãnh đất Trung Hoa.

Trung Quốc trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng của thế giới bởi tham vọng bá quyền và văn hóa dị biệt của họ.

Nhưng lịch sử cũng đã chỉ ra rằng: Khi nào nội tại Trung Hoa gặp những bất ổn thì họ sẽ lôi kéo “ngọn cờ dân tộc” bằng cách gây hấn với các quốc gia khác.

Ngọc Tuấn

Saturday, July 18, 2015

27/7 - NGÀY KHÔNG THỂ NÀO QUÊN!

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng nỗi đau vẫn chưa nguôi ngoai trong hầu hết các gia đình Việt Nam. Hậu quả của chiến tranh thật ghê gớm nó đế lại di chứng nặng nề cho những cựu chiến binh giờ tóc đã ngã màu sương muối, những bà mẹ mong ngóng tin con chưa về dù một nắm xương tàn đế bớ nguôi ngoai. Thế hệ kinh qua cuộc chiến người còn, người mất, độ lùi của thời gian để cho chúng ta đủ suy ngẫm về những thế hệ đã ngã xuống cho ngày độc lập thống nhất non sông.


Thế là lại một ngày 27-7 nữa lại gần về, chúng ta những con người được sinh ra và lớn lên trong hòa bình phải tự nhắc nhở nhau về ngày này để chúng ta biết trân trọng, biết ghi nhớ công lao của các anh hùng liệt sỹ đã ngã xuống, các anh thương binh đã để lại một phần xương máu của mình trên chiến trường.

Sinh thời Hồ Chí Minh đã nói:

“Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe doạ, của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập, ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta? Đó là những chiến sĩ mà nay một số thành ra thương binh”. Trong thư cũng nhấn mạnh “Thương binh là những người đã hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào mà các đồng chí đó bị ốm yếu”. “Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy”.
“Khi nạn ngoại xâm ào ạt đến, nó như một trận lụt to. Nó đe dọa tràn ngập cả non sông Tổ quốc. Nó đe dọa cuốn trôi cả tính mệnh, tài sản, chìm đắm cả bố mẹ, vợ con của nhân dân ta. Trước cơn nguy hiểm ấy, số đông thanh niên yêu quý của nước ta đã dũng cảm xông ra mặt trận. Họ quyết tâm đem xương máu của họ đắp thành một bức tường đồng, một con đê vững để ngăn cản nạn ngoại xâm tràn ngập Tổ quốc, làm hại đồng bào. Họ quyết hy sinh tính mệnh để giữ tính mệnh đồng bào. Họ quyết hy sinh gia đình và tài sản họ để bảo vệ gia đình và tài sản đồng bào. Họ quyết liều chết chống địch để cho Tổ quốc và đồng bào sống. Họ là những chiến sĩ anh dũng của chúng ta. Trong đó có người đã bỏ lại một phần thân thể ở mặt trận, có người đã bỏ mình ở chiến trường. Đó là thương binh, đó là tử sĩ...”

Và ngày mai

Khi thế hệ đã giành được độc lập, tự do đã khuất núi, thế hệ được sinh ra trong hoà bình và ấm no đứng trên đôi chân của mình, nắm trong tay vận mệnh của đất nước, liệu họ có biết quý trọng những gì mình đang có, liệu họ có biết ơn và lắng nghe những lời răn dạy của cha ông đi trước, liệu ngày mai họ có làm được những điều xứng đáng với những mồ hôi, xương máu của ngày hôm qua.

Nguyện cho linh hồn các anh an nghỉ đời đời!
Công lao các anh muôn đời gi nhớ vinh quang này thuộc về các anh.

Linh Nguyễn

Friday, July 17, 2015

THUẬT NGỮ CƠ BẢN CỦA PHONG THỦY

Thuật ngữ cơ bản của Phong Thủy

Thuật phong thủy có một số thuật ngữ thường dùng, lý giải mất nhiều thời gian. Nay liệt kê một số và giải thích sơ lược:

Bát sơn (8 núi): 
Càn sơn, Khôn sơn, Ly sơn, Tốn sơn, Chấn sơn, Đoài sơn, Khảm sơn, Cấn sơn; Dùng bát quái phối hợp với Sơn để đoán cát hung (lành dữ).

Bát phong (8 gió): 
Gió của các phương hướng trước, sau, trái, phải, hai vai, hai chân (cộng là 8 hướng); Bát phong chủ lành dữ của người.

Tam nguyên (3 nguyên): 
Chu kỳ một ngày của phong thủy là 180 năm, Giáp Tý thứ nhất 60 năm là thượng nguyên, Giáp Tý thứ hai 60 năm là trung nguyên, Giáp Tý thứ ba 60 năm gọi là hạ nguyên, Gọi gộp là tam nguyên.

Hạ thủ sa: 
Còn gọi là Hạ quan, Hạ tý, Bất kể là Đông Tây Nam Bắc, hễ xuất thủy về một phương thì đều gọi là hạ thủ. Hễ hạ thủ mà có Sa, thì kết phát. Chỉ cần ở hạ thủ một núi đón được núi thượng thủ (thượng thủ sơn) đi qua, là đất kết (cát địa). Dòng chảy trước huyệt rẽ trái là hạ thủ. Dòng chảy trước huyệt rẽ phải, thì bên phải là hạ thủ. Dòng chảy trước huyệt qui bên phải, thì bên phải là hạ thủ. Nếu tả tý nhất sơn nghịch thủy dài hơn hữu sơn, ôm lấy sơn thủy bên phải; nếu hữu tý nhất sơn, nghịch thủy dài hơn tả thủ, ôm lấy sơn thủy bên trái, thì gọi đó là nghịch quan, chủ tài lộc. Nếu như hạ thủ núi ngắn, ôm không kín thượng thủ sơn, thì trở thành huyệt giả. Hạ thủ trùng điệp, chen chúc, thì kết càng to. Hạ thủ mà không thoáng, thì không tìm huyệt làm gì nữa.

Thổ tinh sơn: 
Lời quyết: “Thổ tinh cao, to, dầy và đoan trang, nhìn dáng sống trâu tựa bình phong”.

Thiên bàn: 
Tức la bàn, hoặc la kinh. Hồ Trọng Cung (Tống) trong “Vi hàng mạn du cảo – Đàm tinh lâm hán lưu thuật thi”, viết: “Quân bần mãi thuật ngã mãi văn (bác nghèo phải hành nghề phong thủy, tôi bán văn chương), Quân bần tự ngã bần nhất phân (bác cũng như tôi, nghèo rớt mùng tơi). Quân hiệp thiên bàn tẩu hồ hải (bác cặp nách chiếc la bàn đi khắp nơi), ngã huề phá nghiên đăng thanh vân” (tôi xách nghiên vỡ bay lên trời xanh). Đối lại thiên bàn là địa bàn. Thiên bàn dùng để đo ánh nắng mặt trời.

Khai sinh phần (sinh phần): 
Người chưa chết đã tìm đất để xây phần mộ.

Mộc tinh sơn: 
Câu quyết: “Mộc tinh lừng lững thấy mà kinh, đổ xuống đất người ta thấy như một cây gỗ nằm ngang”.

Nguyệt kị: 
Nông lịch (âm lịch), ngày mồng 5, 14, 23, là những ngày nguyệt kỵ. Chiếu theo hào tượng và cửu cung, thì mồng 1 đến mồng 9, tuần tự vào cung 1 đến cung chín, mồng 5 là trung cung, vị trí của sao cao nhất, chí tôn, làm việc gì cũng không nên. Từ mồng 10 đến 19, tuần tự nhập cung 1 đến cung 9, ngày 14 là trung cung. Từ đó suy ra, ngày 23 cũng là trung cung, đều phải hồi tự (tránh).

Phụ Mẫu sơn: 
Núi nguy nga sau huyệt.

Thiếu Tổ sơn: 
Núi gần huyệt. Hỏa địa chổ đất nhà dễ bị cháy.

Hỏa tinh sơn: 
Lời quyết: “Hỏa tinh tác tổ tự liên hoa (hỏa tinh là tổ thì như hoa sen), tham cự tương thừa tể tướng gia (tham lớn nên đảm nhiệm công việc của tể tướng)”.

Thủy khẩu sa: 
Núi hai bên thủy khẩu. Thủy khẩu không có sa, thì dòng nước chảy tuột đi, không tốt (cát). Chỗ thủy khẩu, núi ken nhau dày đặc như hàm răng chó, như đàn hạc đứng thành bầy, quẩn quanh, trùng điệp, dài hàng mấy chục dặm, thì đại cát. Nếu có Hoa biểu, Hãn môn, La tinh, Bắc thần thì càng tốt. Loại địa hình này biểu thị dòng chảy tình ý hướng nội, đi một bước ngoảnh lại nhìn, không nỡ rời xa.

Thủy mạch: 
Dòng chảy, như mạch lạc trong cơ thể người, vì vậy mà có tên.

Thủy Dương: 
Bờ Bắc của nước (sông). Xưa gọi mặt Nam của sơn, bờ Bắc của thủy là dương, mặt Bắc của sơn, bờ Nam của thủy là âm.

Thủy đáo cục: 
Nước chảy vào minh đường, gần trước huyệt.

Thủy tinh sơn: 
Lời quyết: “Thủy tinh sóng vỗ ngang trời, hoặc trên đất bằng thì uốn khúc như rắn”.

Lục thập Giáp Tý: 
Ghép lần lượt theo thứ tự thập can, thập nhị địa chi – Người xưa dùng để ghi thời gian là chủ yếu. Lục thập Giáp Tý hết một chu kì thì trở lại từ đầu. Đó là: Giáp tý, Ất sửu, Bính dần, Đinh mão, Mậu thìn, Kỷ tỵ, Canh ngọ, Tân mùi, Nhâm thân, Quý dậu, Giáp tuất, Ất hợi, Bính tý, Đinh sửu, Mậu dần, Kỷ mão, Canh thìn, Tân tị, Nhâm ngọ, Quý mùi, Giáp thân, Ất dậu, Bính tuất, Đinh hợi, Mậu tý, Kỷ sửu, Canh dần, Tân mão, Nhâm thìn, Quý tỵ, Giáp ngọ, Ất mùi, Bính thân, Đinh dậu, Mậu tuất, Kỷ hợi, Canh tý, Tân sửu, Nhâm dần, Quý mão, Giáp thìn, Ất tỵ, Bính ngọ, Đinh mùi, Mậu thân , Kỷ dậu, Canh tuất, Tân hợi, Nhâm tý, Quý sửu, Giáp dần, Ất mão, Bính thìn, Đinh tỵ, Mậu ngọ, Kỷ mùi, Canh thân, Tân dậu, Nhâm tuất, Quý hợi.

Bình tiêm: 
Lỗ huyệt (táng khẩu).

Bình dương: 
Nơi bằng phẳng mà có nước. Đất núi thì phải đứng mà xem, đất bằng thì phải nằm mà xem. Trước địa huyệt ở đất bằng thì phải miên cung thủy (cánh cung đặt nằm), phía sau huyệt thì phải là phản cung thủy (dòng nước như cây cung đặt ngược). Bình dương hay nhất là nghịch thủy sa, vì răng bình dương nước nhiều, chảy thẳng, chảy thẳng mà có nghịch thủy sa thì sẽ có nước xoáy, chảy trở lại. Xem lành dữ ở bình dương như thế nào? “Ngũ ngôn kim cú” viết: Muốn hiểu đất bình dương, thì phải xem dòng chảy bị đẩy như thế nào. Dòng nước bị chảy về kho chứa thì phải phát phú, quý, thọ, đinh. Phân biệt giả long (rồng giả), chân long (rồng thật) như thế nào? Thì nhìn rõ lỗ huyệt. Các dòng nước đều tụ về một chỗ, tung cao là hình thật. Muốn xem long có chân huyệt, thì phải xem đỉnh quý nhân. Lâm quan là chủ yếu, chức vị đến tam công. Cách tìm rồng ở bình dương là ở dòng nước chảy quanh, chổ các dòng gặp nhau thì chính là tụ long. Bên trái thuộc trưởng phòng quan, phía sau cao, phía trước nghiêng, biệt phòng trung bị tổn thương, thì con cả bị tai họa trước tiên. Bên phải thuộc tiểu phòng quan, trước thấp sau cao vỗng thì chết yểu và bại tuyệt khó cưỡng. Phía trước thấp thì nghèo túng, phía sau cao thì chết cả nhà (tuyệt nhân đinh) . Trước, sau, trung phòng đứng, bại tuyệt họa nẩy sinh. Trước, giữa, trái, phải thấp, các phòng nghèo đến cùng; Sau, giữa, trái, phải cao, thì nhà nào cũng hiếm người (ít con cháu).

Bình cơ: 
San nền; chăng giây, đóng cọc phân lô.

Chính trâm: 
Kim Tý Ngọ (kim chỉ Nam) của La bàn.

Khứ thủy: 
Trước huyệt nước chảy đi.

Long: 
Có sơn long, thủy long, ý nói có thể biến hóa.

Long huyệt: 
Nơi kết tụ khí mạch của núi, hợp với xây cất nhà cửa, mồ mả. Tưởng Bình Giai trong “Bí truyền thủy long kinh” viết: “Hoành cung long huyệt sinh vinh hiển (long huyệt nằm ngang cung pháy phú quý). Tả hợp xuyên long chủ phát tài (kết hợp được xuyên long thì phát tài).

Long hổ: 
Hai sa phải và trái bên cạnh huyệt. Cao thấp to nhỏ gần xa phải tương ứng mới hợp cách. Hễ tròn trịa mà cao vút như thái dương, thái âm thì gọi là nhật nguyệt hiệp chiếu: Như đứng xếp hàng, như bút cắm trên giá, như cờ cắm từng dãy thì gọi là Văn vũ thị tùng; ở trái phải hữu long thì gọi là Thiên ất đại ất; ở trái phải chỗ dưới ghềnh thì gọi là thiên hồ, thiên giác; ở trái phải tiền triều, thì gọi là kim ngô chấp pháp; ở trái phải minh đường, thì gọi là Thiền quan địa trừu; ở trái phải thủy khẩu thì gọi là Hoa biểu hãn môn.

Bắc thần: 
Núi nham thạch ở giữa thủy khẩu, cao vài nhẫn, hình thù kì quái, to giống Bắc thần, nhỏ thì giống La tinh, Bắc thần chủ đại quý Tục ngữ có câu: “Một Bắc thần quản vạn binh, phò mã công hầu rạng uy danh”. Hình dáng Bắc thần như sư tử, kì lân, như phượng bay, như tiên hạc, như mãnh hổ, như rồng cuốn.

Tù tự hình (hình chữ Tù: ngoài chữ khẩu trong chữ nhân): 
Địa hình bốn bề vây kín; không có đường ra. Câu quyết: “Bốn mặt nước vây quanh, gọi là bị cầm tù. Vận may thì mới phát một tí, vận rủi thì không nên cơm cháo gì. Ở chỗ góc, sát mép nước thì còn khả dĩ, nếu ở chính giữa thì chỉ có buồn phiền. Thầy thiên văn chớ nói rằng đó là đất hình bàn cờ, vì hễ ra quân là tướng bị mất đầu”.

Thổ táng: 
Phía trước nhô ra.

Động thổ: 
Đào móng xây nhà mới.

Thiết tiêu: 
Lập đạo tràng cầu xin phù hộ. Thiết tiêu ba ngày, gọi là tam triều, thiết tiêu năm ngày gọi là ngũ triều.

Giao khâm: 
Giới han.

Trạch triệu: 
Giáp giới bốn bên của phần mộ.

Hợp thọ mộc: 
Người chưa chết đã đóng quan tài.

Hoa biểu: 
Núi hình thù kỳ lạ ở giữa thủy khẩu, như cột cờ bên ngoài đại sảnh, do vậy bên trong thủy khẩu là đất phú quý.

Nhạc sơn: 
Núi làm nền phía sau huyệt, dùng để chẩm huyệt (huyệt gối đầu lên). Nhạc sơn có ba “cách”: Một là đặc nhạc, từ xa trườn đến, sừng sững áp sát huyệt. Hai là tá nhạc, chắn ngang sát huyệt không cho khoáng (trống trải). Ba là hư nhạc, tuy có núi nhưng tán loạn, xa lắc, thì đó là đất dữ huyệt giả, không thể dùng. Còn có tả nhạc, trung nhạc, trường nhạc, đê nhạc  (núi thấp), cao nhạc, đa nhạc v.v... rất nhiều “cách”. Về hình tượng, chỉ cần cao ráo, có tính chất che chở, không rỗng, khuyết, thì là “cách” tốt nhất.

Dương can: 
Số lẻ của thiên can, tức  Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm.

Dương trạch: 
Nhà ở, Thành trấn, Miếu vũ v.v...

Âm thần: 
Số lẻ của địa chi, tức Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất.

Dương sai: 
Trong lục thập Giáp Tý, Kỷ Mão, Kỷ Dậu là âm thần, tam thần trước Âm thần là Dương thần, lần lượt trước Kỷ Mão là Bính Tý, Đinh Sửu, Mậu Dần; trước Kỷ Dậu là Bính Ngo, Đinh Mùi, Mậu Thân.

Dương thác: 
Âm lịch tháng giêng ngày Giáp Dần; tháng hai ngày Ất Mão; tháng ba ngày Giáp Thìn; tháng tư ngày Đinh Tỵ; tháng năm ngày Kỷ Tỵ; tháng sáu ngày Đinh Mùi; tháng bảy ngày Kỷ Mùi; tháng tám ngày Canh Thân; tháng chín ngày Tân Dậu; tháng mười ngày Canh Tuất; tháng mười một ngày Quý Hợi; tháng mười hai ngày Quý Sửu, là các ngày Dương thác không nên làm gì.

Dương phá âm xung: 
Âm lịch tháng sáu ngày Quý Sửu; tháng mười hai ngày Đinh Mùi, là Dương phá âm xung, không nên làm gì.

Âm thác: 
Trong lục thập Giáp Tý, thì: Giáp Tý, Giáp Ngọ là Dương thần. Ba thần trước Dương thần đều là Âm thác, lần lượt trước Giáp Tý là Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi, lần lượt trước Giáp Ngọ là Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý Tỵ.

Âm can: 
Các số chẵn của thiên can, tức Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý.

Âm trạch: 
Đất mộ, mồ mả.

Âm thần: 
Các số chẵn của thập nhị chi, tức Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi.

Âm vị: 
Âm lịch tháng ba ngày Canh Thìn, trăng đóng tại Thìn, tháng chín ngày Giáp Tuất, trăng đóng tại Tuất, đều là Âm vị mọi sự đều không hợp.

Âm yếm: 
Nghi thức cúng tế người chết “Lễ ký – Tăng Tử” chép: “Vị thành niên mà chết thì không được tế, nói gì đến âm yếm, dương yếm?” Chú thích: “Tế người chết đã thành niên, bắt đầu thiết điện tại nơi sâu trong nhà, rồi rước thi thể ra phía trước điện, gọi là âm yếm, sau khi dựng thi hài lên, chuyển đến xó (góc) tây bắc trong nhà, gọi là dương yếm”.

Âm long: 
Phương vị quái khí được số âm thì gọi là âm long. “Hiệp kỷ biện phương thư”, quyển 33 viết: “Thập nhị tịnh âm long, thích hợp với dung âm khóa; Thập nhị tịnh dương long, thích hợp với dương khóa.”

Âm đức: 
Ngầm ban đức cho người, còn gọi là Thần nguyệt nội âm đức.

Âm tiền: 
Có người cho rằng: Người ta sau khi chết cần tiền tiêu ở âm phủ, nên làm tiền giấy.

Lai long: 
Chủ sơn (chủ về núi). Gốc gác của long mạch Triệu Dữ Tự đời Tống tại “Tân thoái lục”, viết: “Chu Văn Công (Hy) thường đàm luận với khách về thuyết phong thủy, nhân đó nói: “Kỳ châu phong thủy rất đẹp, các núi lẩn trong mây, lai long (rồng đến) đấy !” Ngô Khưu Thụy đời Minh trong “Vân Bích ký” viết: “Gò trước mặt có một chỗ đất tốt, lai long (rồng đến chầu) khứ mạch (mạch vươn đi) kề núi thấp chầu núi cao, chỗ nào cũng hợp cách”.

Cáo huyệt: 
Thông báo cho thân hữu, ngày nào đưa đám, an táng tại đâu.

Tác táo: 
Quy tắc đắp bếp thời cổ. Năm dương (dương niên) thì bếp quay mặt hướng tây, năm âm (âm niên) thì bếp quay mặt hướng nam. Kiểu bếp thì có quy tắc như sau: Dài bảy thước chín tấc, dưới ứng với Cửu châu, trên ứng với Bắc đẩu, rộng bốn thước, ứng với bốn mùa. Cao ba thước, ứng với tam tài (thiên, địa, nhân). Cửa bếp rộng một thước hai tấc, ứng với 12 giờ, đắp (hoặc gắn) hai lưỡi búa, ứng với nhật nguyệt. Lỗ bếp to tám tấc, ứng với bát phong.

Khởi tán: 
Thường gọi là thập kim. Khởi, nghĩa là đào đắp Kim tinh (phần mộ), tán, nghĩa là chôn hài cốt.

Thôn táng: 
Co lại về phía sau.

La tinh: 
Phía trong hàng rào thủy khẩu, nổi lên một gò bằng đá hoặc đất, có ý nghĩa như ngôi nhà, bốn bên có nước bao bọc, loại địa hình như vậy gọi là La tinh. Gò đá là tốt nhất, thứ đến gò đất. Hình dáng nhọn, tròn, ngay ngắn, vuông, dẹt đều đẹp. La tinh có thật và giả; La tinh thật có đầu, có đuôi, đầu ngược thượng lưu, đuôi thả theo dòng chảy. Chọn được chổ đất này, tất đại phú quý.

La thành viên cục: 
Huyệt có chầu phía trước, đỡ phía sau, bốn bên nối tiếp nhau; La thành, nghĩa là núi giăng như bức thành. Viên cục, như tam viên tinh trong thiên văn, bảo vệ ngai vàng. La thành và Viên cục là chỉ các rặng núi hộ vệ xung quanh. Tục ngữ có câu: Ôm ấp vây quanh không chổ hở, nghiễm nhiên trở thành một trời đất riêng. Hình thể này là đại cát.

Cô phong độc tú: 
Một núi lẻ loi chầu trước huyệt. Nghe nói, long kỵ cô độc, nên không kết (bất cát).

Kim tinh sơn: 
Câu quyết: Kim tinh hình thể tròn trịa, cong cong như nữa vầng trăng, đẹp đẽ khôi ngô như chàng nghĩa sĩ, oai hùng uy vũ nắm binh quyền.

Quan quỷ cầm diệu: 
Tên bốn loại sa, phát ra dư khí ở phía trước, sau, trái, phải của chân huyệt, phía trước là quan, phía sau là quỷ. Quan tinh (sao quan) phía ngoài huyệt, sinh ra từ long hổ ôm ngang đằng sau án sơn, sau lưng có núi quay ngược hướng về phía trước. Quan tinh phải quay đầu lại, không được đứng sững. Quỷ tinh, sinh ra từ sau lưng núi chính và núi xòe ra từ phía sau huyệt. Có tác dụng gối cho huyệt Quỷ tinh không được cao quá, vì cao quá sẽ lấy mất vượng khí của huyệt. Cầm tinh là núi đá ở giữa thủy khẩu. Cầm tinh ở bên trái bên phải minh đường hoặc trong nước, chầu vô huyệt như có tình. Nếu như cầm tinh cao tới hai, ba trượng, hình dáng như cây măng, cây hốt, như cá bơi rồng lội, thì quan làm đến cực phẩm. Diện tích núi là đá sắc nhọn, to, nằm ngoài khuỷu chân long hổ, bên trái, bên phải huyệt. Không có sao quan thì không quý, không có sao thủy thì không phú (giầu), không có sao Cầm thì không vinh (vẻ vang), không có sao Diệu thì không bền.

Thần sơn tọa: 
Quả núi lớn trước huyệt, dòng nước chảy đi. Ca dao: “Thủy khẩu một núi như hổ nằm, quay đầu lại không cho mọi người qua lại. Cao vút chắn đường, nước khó chảy, tên gọi núi này: Thần sơn tọa”.

Thụ tạo: 
Xây dựng nhà cửa, thành quách, đền chùa, kho tàng.

Tu tạo: 
Sửa chữa, hoàn thiện. Chú trọng tọa hướng trung cung, phía lưng thì cửa sau nhỏ, phía mặt (hướng chính) thì cổng to, trung cung lấy sảnh đường làm chuẩn.

Tu sơn: 
Tu tạo sau nhà (phòng ốc).

Tu hướng: 
Tu tạo trước nhà.

Tu phương: 
Tu tạo hai bên sườn nhà.

Tu trung cung: 
Tu tạo các phòng vây quanh phòng giữa.

Loan đầu: 
Hình thế sơn mạch.

Hiệp: 
Nơi sơn mạch đứt rồi lại tiếp tục, hai núi kẹp hai bên. Gió thổi nước xối, hiệp là dữ.

Thai tức sơn: 
Núi kéo dài như một đường.

Cữu: 
Quan tài.

Hàn môn: 
Hai núi đối mặt nhau ở thủy khẩu, như bảo vệ cửa ngõ, phát của quý.

Án sơn: 
Núi gần và nhỏ trước huyệt, có nghĩa như quý nhân ngồi trước án xem xét chính lệnh. Án sơn như ngọc kỷ (bàn bằng ngọc) hoành cầm (cây đàn đặt ngang), các dáng: Ngay ngắn, tròn trịa, đẹp đẽ, mầu sắc rực rỡ, bằng phẳng, tề chỉnh, ôm vòng, có tình cảm đểu tốt.

Tân chủ: 
Hai núi đối diện nhau. Lời quyết: Tân (khách) phải có tình, chủ phải thật lòng, nếu chủ và khách không nhìn mặt nhau thì biết rằng đất này vô duyên.

Phá thổ: 
Đào đất xây mộ.

Khởi cơ định tảng: 
Tảng là viên đá chân cột. Bắt đầu đào móng, cố định đá tảng. Cố định xong đá chân cột thì hình thể đã được xác lập.

Tức đạo: 
Nội thủy khẩu.

Chư gia ngũ hành: 
Tức chính ngũ hành, phương đông Mộc, phương nam Hỏa, phương tây Kim, phương bắc Thủy, trung ương Thổ.

Triều sơn: 
Núi ở xa mà cao phía trước huyệt, có nghĩa như chủ và khách đối diện nhau, thành hình thế thiên nhiên triều cống, chủ đại phú quý.

Triều thủy: 
Dòng chảy đặc biệt trước huyệt nếu khuất khúc, quanh co, mềm mại thì cát (lành). Một gáo triều thủy có thể cứu vãn cảnh bần hàn.

Tạ thổ: 
Công trình xây dựng xong, hoặc chôn cất xong, cử hành lễ tạ.

Táng khẩu: 
Tức Kim đẩu khẩu. Kết huyệt có ngang, chéo (chếch), thẳng, nhưng đều có vị trí trong chữ thập ở thiên tâm, vị trí giữa chính là táng khẩu.

Giải trừ: 
Thu dọn lau rửa nhà cửa để giải trừ tai ách.

Phùng trâm: 
Chỉ kim nằm giữa kẽ Nhâm Tý và Giáp Ngọ.

Tụ thủy: 
Nước tụ lại. Nước vốn động đều hay là ở chỗ tĩnh, tĩnh tất tụ lại. Thủy triều không phải là nước tụ. Nước tụ tất có tài nguyên.

Lậu đạo: 
Ngoại thủy khẩu.

Giải thích các thuật ngữ: 
Tích khí phải xem trăng sao, giang sơn chọn điều tốt lành. Người thông hiểu có cách đặt tên theo hình thế. Hình dung núi trập trùng, thì có tên sơn long. Chỉ nước chảy dài mãi, có tên là thủy thành> Lai lịch thì gọi là tổ là tông, nguyên như lúc khởi đầu. Để ở thì gọi là Trạch là Triệu, có thể về đấy, ở đấy. Gọi là Hiệp thất, tức huyệt ẩn sâu mà không lộ. Gọi Phò môn có nghĩa là bảo vệ minh đường. Gọi Nguyên khiếu, tức đạo là bãi cát. Gọi Nuyên trung, tức lậu đạo (tiểu thủy khẩu) có đá trôi. Gọi mắt biển, tức vô cùng thoáng đãng. Gọi Thiên hồ, tức vừa rộng vừa phẳng. Gọi Phản trụ, tức bỏ chủ mà đi. Gọi Đằng điên, tức kết đỉnh mà chưa ở lại. Gọi Thổ thiệt, tức mồm miệng chưa đầy. Gọi Biển hung, tức định thoát đi mà không có dây. Gọi loạn y thường ăn mặc lung tung, vì núi không rõ nét. Gọi hoàng đao lũng (gác ngang đao) vì dải núi nhọn hoắt. Gọi Hàm tu (e thẹn) vì bờ ruộng cao ngang mày. Gọi Áp tư (ôm của), vì như một đống trứng gà xếp liền nhau. Gọi Sai nha, vì hành động bậy bạ. Gọi Đằng mạn (dây leo), vì thân mềm oặt. Gọi Uyển diên (uyển chuyển) vì hình thế hồi cung (quay lại ôm lấy). Gọi Huyền bạo (thác đổ từ trên cao xuống). Gọi Triều tông (chầu tổ) vì các sông chảy vào biển. Gọi Nhập miếu (vào trong miếu), vì linh thiêng, đem lại hảo vận. Vậy là đều lấy ý nghịch ý, lấy tình đo tình. Huống hồ những nơi sâu xa và mông lung ấy, từng không có căn cứ, kích thước nào cả. Nếu không công tâm thì không thể làm rõ, nếu không sáng suốt thì không nhận ra hình. Đắc đạo thì trở nên chí diệu, giỏi tính toán thì đạt tới tinh vi.

Lược trích theo“Quản thị địa lý chỉ mông”

TRÒ HỀ RẬN CHỦ: TUNG TIN VỊT, BÓP MÉO SỰ THẬT GÂY HOANG MANG QUẦN CHÚNG!

Thời gian qua, không biết do đói ăn quá hay sao mà đám “rận chủ” ra sức dẫy dụa la ó với hy vọng được hưởng vài khúc xương từ ngoại bang, tuy nhiên càng dẫy dụa la ó thì chúng càng để lộ ra sự ngu dốt và bản chất thật sự của chúng là nói láo ăn tiền và chẳng hề có lòng yêu nước chỉ luôn chờ mong cho đất nước loạn thì chúng thừa cơ hưởng lợi. 

Xin điểm lại những trò hề của chúng gần đây: 

Đầu tiên là về việc của Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh, mới đây bác Phùng Quang Thanh sang Pháp để phẫu thuật cắt bỏ khối u trong phổi, thế nhưng đám “rận chủ” tung tin là bác Phùng Quang Thanh bị "ám sát" và xác được quàn ở bệnh viện Bạch Mai, và đủ mọi chuyện ly kỳ như trong phim, bọn này ngu tới nỗi bịa chuyện mà cũng không biết cách bịa sao cho khéo, 1 quan chức cấp cao như Bộ trưởng Quốc Phòng nếu bị ám sát là chuyện kinh thiên động địa chứ đâu phải là chuyện con nít, vậy mà tại sao giới truyền thông từ Việt Nam cho tới nước ngoài chẳng có ai hay biết việc này chỉ có cái bọn ngồi núp sau bàn phím như chúng là biết?


Tung tin, bịa đặt thông tin về sức khõe Đại tướng Phùng Quang Thanh


Thứ hai là chuyện "sắp chiến tranh", chúng đưa lên hình ảnh vận chuyển xe tăng, hình xe thiết giáp ở Gò Vấp rồi hư cấu ra nào là "có đánh nhau ngoài khơi Đà Nẵng", nào là "đụng độ quân sự với Campuchia", nào là "Trung Quốc pháo kích vào Đà Nẵng", lố bịch hơn chúng lấy hình ảnh bạo loạn ở 1 nhà tù tại Venezuela rồi nói là "đụng độ quân sự giữa Việt Nam và Campuchia", lấy hình ảnh các trực thăng của Trung Quốc bay biểu diễn rồi nói là "trực thăng của Việt Nam bay ra Phú Quốc", bọn này ngu tới nỗi không hiểu rằng một khi đất nước có chiến tranh thì sẽ có thông báo khẩn cấp trên toàn quốc, mọi hoạt động xã hội sẽ thay đổi để ứng phó, đằng này, tại sao những chuyện động trời như thế chẳng ai biết chỉ có đám “rận chủ” chúng nó là biết, qua chuyện này đám “rận chủ” cũng để lộ ý đồ của chúng là mong muốn nổ ra chiến tranh , vì chúng hy vọng có thể lợi dụng tình cảnh chiến tranh loạn lạc nhằm cướp chính quyền .

Thứ ba nữa là việc trang Web của Đảng đăng lên bài viết này: http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx… . Trong đó có đoạn:

"ba nhóm cộng sản của Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ dưới sự lãnh đạo của người sáng lập của nó là đồng chí Nguyễn ái Quốc, đã bị ám sát vào giữa năm 1932 trong các nhà tù địa ngục của Hồng Công."

Thế là đám “rận chủ” mừng như vớ được vàng, chúng tung tin lên là Nguyễn Ái Quốc thật sự đã chết vào năm 1932 và Bác Hồ sau năm 1932 là ... “gián điệp Tàu.” Không biết là bọn “rận chủ” vì quá ngu hay là cố tình giả ngu để nói láo mà không hiểu rằng bài báo trên chỉ nói là Nguyễn Ái Quốc bị ám sát chứ không hề nói là "chết", chẳng lẽ bất cứ ai bị ám sát thì chắc chắn sẽ chết chứ không thể nào thoát chết được sao ?

Chỉ qua vài vụ như trên thì đám rận chủ đã tự làm rơi mặt nạ của chúng xuống rồi. dân chủ gì? Yêu nước gì? Chỉ là 1 bọn du côn, suốt ngày tung tin vịt, nói láo ăn tiền, chẳng xây dựng đất nước mà mong cho đất nước có chiến tranh. Để rồi xem sắp tới đây chúng nó lại giở ra thêm trò hề gì mới.

Nguyễn Tuấn