Friday, September 26, 2014

Tự tử

Hỏi: Kính bạch Hòa Thượng! Nếu như có một người già ốm bệnh hoạn sống dở chết dở, muốn tự mình hoặc nhờ người giúp đỡ chấm dứt cuộc sống của mình để không khổ mình và phiền khổ mọi người, Vậy người này có phạm tội tự sát không? Có phải là trốn nghiệp không? Và nếu có người giúp đỡ có bị tội không?

Đáp: Người tự tử là người có tội giết người mặc dù mình tự sát vẫn có tội như giết người khác, tội giết mình còn nặng hơn tội giết người khác, cũng như tội làm khổ mình còn nặng tội hơn tội làm khổ người. Vì chính mình, mình còn làm khổ cho mình thì có ai mà mình từ bỏ. Tội tự giết mình còn mang thêm một cái tội nữa là tội trốn tù. Người giúp cho người tự tử là người có tội tòng phạm giết người.

Người già ốm bệnh hoạn sống dở chết dở, nên tự mình hoặc nhờ người khác để chấm dứt cuộc đời. Đối với luật nhân quả thì người đó tránh né trốn tội và như vậy tội còn nặng hơn.

Luật nhân quả rất công bằng khi một người làm ác thì phải trả quả khổ. Già, ốm, bệnh hoạn sống dở chết dở là đang trả những quả mà trước kia mình đã gieo nhân ác. Sao bây giờ vội tự sát để tránh quả khổ này ư? Nếu tránh được quả khổ thì làm sao còn có luật công lý và công bằng được? Đừng nghĩ rằng chết là hết khổ, chết là một sự tiếp nối trong đau khổ hơn. Nếu tự sát chết cho hết khổ, điều này không bao giờ có được. Luật nhân quả không phải lấy cái chết là hết tội được, đối với luật pháp thế gian chết là hết tội, nhưng với luật pháp của nhân quả thì chết sẽ tiếp tục trả quả khổ kế tiếp và tội còn nặng hơn. Tại sao vậy?

Tại vì khi tự sát, mình mắc tội giết người và còn thêm một cái tội nữa là tội trốn tù. Cho nên kẻ tự sát là kẻ trốn nghiệp, những người tự sát như vậy là những người hèn nhát trước cái khổ mà trốn tránh, không dám nhìn thẳng cái khổ, không dám lấy cái khổ làm niềm vui cho mình, không dám lấy cái khổ để trả nghiệp, không biết chuyển khổ làm vui, chuyển họa làm phước, xưa đức Phật dạy:

“Đứng lại thì chìm xuống
Tiến tới thì trôi dạt
Chỉ có vượt qua”.

Kẻ gặp khổ mà đứng lại là kẻ hèn nhát chỉ biết kêu khóc, rên la, than thân, trách phận, oán trời trách người, làm như vậy có lợi ích gì? Hoặc vào chùa cúng bái, tế lễ, cầu xin thì cũng chẳng bao giờ giải quyết được gì? Hoặc trốn bỏ đi tu vào chùa thì những người này có tìm sự giải thoát chỗ nào được, đó là hạng người tránh né.

Kẻ gặp khổ cầm dao tự sát, hay uống thuốc độc hoặc thắt cổ, nhảy sông trầm mình tự tử, đó là những người trôi dạt, những người hèn nhát, những người này bị nhân quả xỏ mũi, những người này nô lệ cho nhân quả, những người này vô đạo đức thiếu ý chí làm người.

Người ta cứ nghĩ rằng khi chết là hết khổ, sự thật không phải thế, khổ là do nhân quả, ăn ở chẳng lành khiến cho bao nhiêu người khác khổ, vì thế mà phải thọ quả khổ để đền trả những điều mình đã làm ác và như vậy không phải là đạo lý. Tại sao làm cho kẻ khác khổ bây giờ lại trốn tránh? Một đời dám ăn thịt chúng sanh, biết bao nhiêu xương máu và sự đau khổ của loài vật khác đã đem vào cuộc sống của mình mà bây giờ không dám nhìn thẳng sự khổ ấy? Không dám vui nhận sự khổ ấy? Cớ sao lại phải tự tử. Tự tử đâu có nghĩa là thoát khổ mà còn phải thọ khổ gấp trăm ngàn lần. Tại sao vậy ?

Vì tự tử tội ác chồng lên tội ác, các phật tử đừng nghĩ rằng mình tự giết mình là vô tội. Đối với luật nhân quả không có thời gian và không gian, nó chỉ biết có thiện và ác mà thôi, vì không có không gian nên nó trừng phạt quý vị chịu khổ đau trong nhiều thân và nhiều kiếp; vì không có thời gian nên sự thưởng phạt của nó liên tục không gián đoạn, nên quý vị bỏ thân này thì lại tiếp tục thân kia để chịu khổ đau và cái khổ đau này lại chồng lên cái khổ đau khác nữa.

Người tự tử đối với luật nhân quả được xem là tội giết người, phải xử phạt tội như xử phạt kẻ cố sát, còn thêm một tội nữa là tội trốn pháp luật (luật định của nhân quả).

Người giúp đỡ cho người tự tử cũng là có tội tòng phạm giết người. Một lời nói khiến cho người ta chết là tội giết người. Rầy mắng con cái khiến con cái tự tử là tội giết người. Vợ chồng rầy rà cãi vã khiến chồng hoặc vợ tự tử đều là tội giết người.

Tóm lại, người tử tự là người trốn luật nhân quả, là con người không thể nào trốn luật nhân quả được, dù trốn bất cứ nơi đâu cũng không thể thoát khỏi, trốn luật nhân quả càng trốn luật nhân quả là bị luật nhân quả chi phối nặng thêm tức là thọ khổ nhiều hơn nữa, chỉ có điều duy nhất là tâm bất động trước luật nhân quả là đã chuyển được nhân quả.

Hỡi các phật tử! Tất cả những sự đau khổ tận cùng của sinh mạng con người, nếu ai không dao động tâm, thì thân tâm người ấy sẽ mát lạnh, chính người ấy đã chuyển được nhân quả của người ấy, người ấy thoát khổ.

Bởi vậy người tự tử là người ngu si tự mình làm khổ thêm cho mình, tạo thêm tội ác cho mình, Đức Phật dạy: “thọ là vô thường” có gì mà chúng ta phải sợ, vì thọ có khi có, có khi không, có gì mà chúng ta lo sợ, mà tự tử phải không quý vị.

Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây

Thursday, September 25, 2014

Tám Bài Kệ Chuyển Hoá Tâm/Eight Verses of Training the Mind - Geshe Langri Thangpa

geshe-langri-thangpa

TÁM BÀI KỆ CHUYỂN HÓA TÂM

Eight Verses of Training the Mind
by Geshe Langri Thangpa

Tâm Bảo Đàn chuyển Việt ngữ
nhân Pháp Hội do Đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết giảng vào tháng 10, 2014 tại Boston, MA

༄༅། །བློ་སྦྱོང་ཚིག་བརྒྱད་མ་བཞུགས་སོ། །

བདག་ནི་སེམས་ཅན་ཐམས་ཅད་ལ། །
ཡིད་བཞིན་ནོར་བུ་ལས་ལྷག་པའི། །
དོན་མཆོག་སྒྲུབ་པའི་བསམ་པ་ཡིས། །
རྟག་ཏུ་གཅེས་པར་འཛིན་པར་ཤོག །

གང་དུ་སུ་དང་འགྲོགས་པའི་ཚེ། །
བདག་ཉིད་ཀུན་ལས་དམན་བལྟ་ཞིང༌། །
གཞན་ལ་བསམ་པ་ཐག་པ་ཡིས། །
མཆོག་ཏུ་གཅེས་པར་འཛིན་པར་ཤོག །

སྤྱོད་ལམ་ཀུན་ཏུ་རང་རྒྱུད་ལ། །
རྟོག་ཅིང་ཉོན་མོངས་སྐྱེས་མ་ཐག །
བདག་གཞན་མ་རུངས་བྱེད་པས་ན། །
བཙན་ཐབས་གདོང་ནས་བཟློག་པར་ཤོག །

རང་བཞིན་ངན་པའི་སེམས་ཅན་རྣམས། །
སྡིག་སྡུག་དྲག་པོས་ནོན་མཐོང་ཚེ། །
རིན་ཆེན་གཏེར་དང་འཕྲད་པ་བཞིན། །
རྙེད་པར་དཀའ་བས་གཅེས་འཛིན་ཤོག །

བདག་ལ་གཞན་གྱིས་ཕྲག་དོག་གིས། །
གཤེ་བསྐུར་ལ་སོགས་མི་རིགས་པའི། །
གྱོང་ཁ་རང་གིས་ལེན་པ་དང༌། །
རྒྱལ་ཁ་གཞན་ལ་འབུལ་བར་ཤོག །

གང་ལ་བདག་གིས་ཕན་བཏགས་པའི། །
རེ་བ་ཆེ་བ་གང་ཞིག་གིས། །
ཤིན་ཏུ་མི་རིགས་གནོད་བྱེད་ནའང༌། །
བཤེས་གཉེན་དམ་པར་བལྟ་བར་ཤོག །

མདོར་ན་དངོས་སམ་བརྒྱུད་པ་ཡིས། །
ཕན་བདེ་མ་རྣམས་ཀུན་ལ་འབུལ། །
མ་ཡི་གནོད་དང་སྡུག་བསྔལ་ཀུན། །
གསང་བས་བདག་ལ་ལེན་པར་ཤོག །

དེ་དག་ཀུན་ཀྱང་ཆོས་བརྒྱད་ཀྱི། །
རྟོག་པའི་དྲི་མས་མ་སྦགས་ཤིང༌། །
ཆོས་ཀུན་སྒྱུ་མར་ཤེས་པའི་བློས། །
ཞེན་མེད་འཆིང་བ་ལས་གྲོལ་ཤོག །

ཅེས་པ་འདི་ནི་དགེ་བཤེས་གླང་ཐང་པ་རྡོ་རྗེ་སེངྒེའི་གསུང་ངོ༌།། །།

1. Với quyết tâm thành tựu mục đích tột cùng cao cả
Làm lợi lạc hết thảy chúng hữu tình,
Tâm hạnh trân quý còn hơn cả viên bảo châu như ý,
Nguyện luôn yêu thương giữ gìn tất cả mọi chúng sinh.

1. With a determination to achieve the highest aim
For the benefit of all sentient beings,
Which surpasses even the wish-fulfilling gem,
May I hold them dear at all times.

2. Mỗi khi gặp gỡ tiếp xúc bất kỳ ai,
Con nguyện coi mình là kẻ thấp kém nhất.
Sâu thẳm tận đáy lòng, con nguyện xin tôn trọng,
Và kính quý người khác như những bậc tối cao.

2. Whenever I interact with someone,
May I view myself as the lowest amongst all,
And, from the very depths of my heart,
Respectfully hold others as superior.

3. Trong mỗi một hành động, con nguyện tự soi xét,
Và ngay khi các cảm xúc ô nhiễm vừa dấy khởi,
Gây ra phiền não, hại mình, hại người,
Con nguyện tức thì đối diện và phá tan tâm ô nhiễm ấy.

3. In all my deeds, may I probe into my mind,
And as soon as mental and emotional afflictions arise --
As they endanger myself and others --
May I strongly confront them and avert them.

4. Bất kỳ khi nào nhìn thấy kẻ ác trược,
Bị thống trị bởi bao phiền não và tiêu cực,
Con nguyện mở lòng thương quý kẻ ấy,
Như kho tàng châu bảo hiếm hoi vừa khám phá.

4. When I see beings of unpleasant character
Oppressed by strong negativity and suffering,
May I hold them dear -- for they are rare to find --
As if I have discovered a jewel treasure!

5. Lại khi có kẻ do lòng ganh tị,
Đối xử tàn tệ, vu khống hay nhục mạ con,
Nguyện con nhận chịu hết mọi thua thiệt,
Và trao cho họ mọi thắng lợi vẻ vang.

5. When others, out of jealousy,
Treat me wrongly with abuse, slander and scorn,
May I take upon myself the defeat
And offer to others the victory.

6. Ngay cả khi có kẻ con đã từng giúp đỡ,
Hoặc là người con từng kỳ vọng rất nhiều,
Nay đối xử tệ mạt làm tim con tan nát,
Nguyện con vẫn xem họ chẳng khác nào bậc tôn sư.

6. When someone whom I have helped,
Or in whom I have placed great hopes,
Mistreats me in extremely hurtful ways,
May I regard him still as my precious teacher.

7. Tóm lại, dù là trực tiếp hay gián tiếp,
Con nguyện xin dâng hiến mọi phúc lạc
Đến tất cả chúng sinh mẹ hiền,
Và nguyện xin thay họ cam chịu mọi đớn đau khổ não.

7. In brief, may I offer benefit and joy
To all my mothers, both directly and indirectly,
May I quietly take upon myself
All hurts and pains of my mothers.

8. Nguyện tất cả các hạnh nguyện kể trên
Không bị tám pháp thế gian tầm thường làm cho ô nhiễm.
Nguyện con nhận ra mọi sự đều chỉ là hư huyễn,
Tâm không dính mắc, thoát khỏi mọi ràng buộc thường tình.

8. May all this remain undefiled
By the stains of the eight mundane concerns;
And may I, recognizing all things as illusion,
Devoid of clinging, be released from bondage.

http://thuvienhoasen.org/a19617/tam-bai-ke-chuyen-hoa-tam

Chương Trình Giảng Pháp Của Đức Đạt Lai Lạt Ma Tại Wang Theater Boston October 30, 2014 9am-3pm

Wednesday, September 24, 2014

Cần tuyên chiến với căn bệnh hình thức

Chủ nghĩa hình thức là một khái niệm được sử dụng trong triết học, đạo đức học, văn học nghệ thuật.…nhằm chỉ hiện tượng chú trọng đến cái bên ngoài hơn nội dung bên trong.

Trong triết học, chủ nghĩa hình thức là cơ sở cho một số lí thuyết đạo đức, trong đó, sự nghiên cứu các yếu tố lôgic hình thức bằng cách này hay cách khác chiếm ưu thế so với sự phân tích nội dung và bản chất xã hội của đạo đức. Trong văn học nghệ thuật, chủ nghĩa hình thức dựa trên sự tuyệt đối hoá, mĩ học hoá hình thức, coi khoái cảm thẩm mĩ là cái gì đó không bị ràng buộc bởi các tư tưởng xã hội, bởi các lợi ích cơ bản của đời sống, bởi lí tưởng thẩm mĩ và lí tưởng xã hội…

Trong đời sống xã hội ta hiện nay, chủ nghĩa hình thức đã biến thái và trở thành căn bệnh hình thức. Dấu hiệu của bệnh hình thức là chỉ chú trọng tạo nên cái hình thức hào nhoáng, lộng lấy bên ngoài để che đậy nội dung bên trong nghèo nàn, đơn điệu, chất lượng thấp hoặc không có gì. Bệnh hình thức là sự bất cập, thậm chí đối ngược giữa giá trị thực và thông tin được thông báo. 

Đáng lo ngại là bệnh hình thức đã và đang trở thành căn bệnh trầm kha của xã hội, len lỏi vào tất cả các lĩnh vực, các khu vực, các ngóc ngách của xã hội, từ sinh hoạt chính trị đến kinh tế, từ văn hóa đến giáo dục, từ cấp độ cộng đồng đến gia đình và cá nhân.

Căn bệnh hình thức gắn liền với căn bệnh thành tích, với hội chứng “đánh bóng” tên tuổi, thậm chí để che giấu những điều không minh bạch hoặc gắn liền với âm mưu “hợp lý hóa” để tư lợi, tham nhũng. Căn bệnh hình thức còn có thể do tâm lý sĩ diện tiểu nông làng xã lạc hậu sinh ra. Trong những trường hợp này, những người chủ trương và thực hiện muốn “cho bằng chị bằng em”, họ không nhận thức được giá trị thực của các sự kiện, việc làm mà họ chủ trương, quyết định và thực hiện.

Căn bệnh hình thức là làm những việc không đáng làm, không nên làm; là đáng làm bé nhưng lại làm to; là nói hay, nói tốt nhưng làm thì dở, là cố ý đánh lừa cộng đồng về bản chất của sự việc. Căn bệnh hình thức cố tình tạo nên các giá trị ảo, phẩm chất ảo để đánh lừa xã hội.

Căn bệnh hình thức hiện nay đang có dấu hiệu trở thành căn bệnh mãn tính, rất khó chữa nếu không nói là vô cùng khó chữa. Nếu không triệt bỏ kịp thời, căn bệnh hình thức sẽ tạo nên tập tính dối trá của nhiều người, nhiều nhóm người, của cả xã hội. Căn bệnh hình thức không chỉ đánh lừa nhận thức, tình cảm, luật pháp, làm rối loạn các chuẩn mực văn hoá, thẩm mỹ, đạo đức và pháp lý mà còn làm tiêu hao một lượng thời gian và vật chất vô cùng lớn của xã hội, của đất nước.

Căn bệnh này đang có trong rất nhiều người, nhóm người, nhiều cộng đồng, nhiều tổ chức, đoàn thể dưới vô vàn hình thức biến thái khác nhau. Căn bệnh này không làm chết ai ngay tức thời nhưng sẽ huỷ hoại dần văn hoá, đạo đức của dân tộc.

Đã đến lúc cả xã hội cần tuyên chiến với căn bệnh hình thức! 

Trẻ em và ước mơ

Khi không có mơ ước, con người trở nên tầm thường và đáng thương, yếu ớt như một con vật non nớt giữa trái đất. Không có ước mơ, con người mất đi mục đích sống và trở nên vô phương hướng giữa cuộc đời. Khi không có ước mơ, con người trở nên tẻ nhạt và cô đơn giữa vô vàn đồng loại.

Ước mơ, nói cho to tát là tư tưởng, nói cho đơn giản là khao khát, khát vọng  hay dễ hiểu hơn nữa là những mong muốn của con người. Cụ thể, đó là những mục tiêu lớn nhỏ của cuộc sống khi còn ở dạng tiềm năng để thực hiện. Người có ước mơ và sống để theo đuổi ước mơ là con người thật nhất. Còn khi chính bản thân mình cũng không biết mình đang muốn gì, đang mơ ước gì, thì đó chưa thành con người hoàn chỉnh.

Phật Thích Ca là người nhận ra sự quan trọng của ước mơ và dành cả đời để theo đuổi, kiếm tìm con đường đi đến hạnh phúc cho nhân loại. Khi còn là một thái tử, sống xa hoa trong hoàng cung, ông vẫn chưa cảm thấy mình là một con người hoàn chỉnh. Những gì ông muốn đều được đáp ứng: quyền lực, danh vọng, nhà cao, vợ đẹp… mọi thứ đều không thiếu. Nhưng chính vì quá đầy đủ, lại ít tiếp xúc với cuộc sống thường dân bên ngoài nên ông không biết mình đang thiếu gì, cần gì và muốn gì. Sau này, khi ngộ ra chân lý, Phật mới biết, đó là những tháng ngày bất hạnh nhất của cuộc đời mình. Bất hạnh đó chính là thiếu ước mơ. Khi Phật đang là thái tử, đi ra ngoài, thấy sự đói khổ của người dân- là con dân của chính mình, ông rơi nước mắt vì thương họ. Nhưng sau đó, khi suy nghĩ lại, ông thấy họ đói khổ, nghèo khó, bệnh tật nhưng họ vẫn là con người. Chính trong sự thiếu thốn, họ biết mình cần gì, mong gì và mơ ước gì. Do vậy mà cuộc sống của họ có sự cố gắng, sự chờ đợi và sự mong mỏi. Điều đó làm cho cuộc sống của người dân có ý nghĩa hơn. Và ông nhận ra, những người dân đói khổ kia đang sống hạnh phúc hơn chính thái tử vì họ có ước mơ.

Từ câu chuyện của Phật, hôm nay, nhân ngày cả thế giới hướng về con trẻ, xin được nói vài câu chuyện liên quan đến con em chúng ta.

Tôi có một người anh làm kinh doanh và rất thành đạt. Cả hai vợ chồng anh đều có vai vế và thu nhập cao, nhà to đẹp, xe hơi loại sang, trong nhà luôn có vài người giúp việc. Hai vợ chồng có một cậu quý tử rất kháu khỉnh và ngoan ngoãn. Vì tương lai cậu quý tử nên anh chị cho cháu vào học ở trường cao cấp mà học phí đến cả ngàn đô. Đã vậy, hai vợ chồng anh rất bận rộn nên thuê hẳn một chiếc taxi quen làm nhiệm vụ đưa đón con đi học. Trong nhà, thằng bé không thiếu một thứ đồ chơi nào, từ đồ rẻ tiền đến loại cả chục triệu, cứ có trên quảng cáo thì có trong phòng của cậu. Những gì cậu thích chỉ cần yêu cầu là bố mẹ đáp ứng ngay mà chẳng cần để ý đến giá cả hay chuyện cậu chơi được bao lâu thì chán. Mọi thứ ăn uống và chơi của nó, bố mẹ đều mặc định là phải tốt nhất, an toàn nhất. Ngay cả việc bạn bè, cậu cũng bị kiểm soát, không được ra ngoài ngõ chơi với mấy bạn ở đường phố. Nhiều khi trò chuyện, cả anh lẫn chị đều nói một câu ngắn gọn và đầy đủ nhất: “Thì cả đời anh chị lăn lộn kiếm tiền cũng để lo cho cu cậu chứ cho ai”.

Có lẽ nhiều người cũng nghĩ giống như vậy, và thầm mong làm được như vậy. Nhưng cuộc sống đâu chỉ có thế. Công việc bận rộn nên anh chị ít có thời gian dành cho thằng bé. Khi cả hai vợ chồng về đến nhà thì con đã ngủ. Còn khi rời khỏi nhà thì con chưa ngủ dậy. Cả ngày có khi chỉ kịp hỏi người giúp việc về diễn biến trong ngày của con. Khổ thân cậu bé là cả ngày chỉ biết đến đồ chơi, biết mặt người giúp việc và chú lái xe. Đến trường cũng chỉ vài người bạn chẳng khác gì cậu. Cuộc sống với nó càng thêm buồn chán vì những thứ nó muốn thì nó đều có. Và chính nó cũng không còn biết mình muốn thêm cái gì.

Một câu chuyện khác, cùng cơ quan tôi có gia đình một chị có cô con gái cũng đã học lớp 4. Vì hai vợ chồng đều làm trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học nên hy vọng con cái sau này nối nghiệp mẹ cha. Thế là một kế hoạch học tập của con gái được bố mẹ đưa ra bài bản và chặt chẽ như… một công trình nghiên cứu. Từ rạng sáng học ngoại ngữ, sáng và chiều học ở trường, trưa đọc sách văn học, tối học ở trung tâm, khuya về còn phải đọc sách rồi mới đi ngủ. Ứng với chương trình học đó là một khối lượng sách vở lên đến cả hơn chục cân đè lên đôi vai nhỏ bé của nó. Bố mẹ nó theo đuổi tư tưởng “học-học nữa-học mãi” khiến con bé ngày càng gầy gọc, xanh xao.

Có lẽ còn vô vàn câu chuyện của nhiều gia đình trong thành thị hiện nay ở Việt Nam tượng tự như câu chuyện của hai gia đình trên. Xưa nay, vào những dịp lễ liên quan đến trẻ em như tết Trung thu, Quốc tế thiếu nhi… chúng ta thường quan tâm đến các cháu nhỏ có hoàn cảnh khó khăn, mồ côi, bệnh tật… Điều đó là chính đáng bởi một chút vật chất nhỏ giúp đỡ cho những gia đình, những đứa trẻ không may mắn là một việc tốt nên làm. Nhưng cũng không nên quên rằng, những thiếu thốn tinh thần trong xã hội hậu hiện đại này cũng đáng sợ không kém những thiếu thốn vật chất trong xã hội cũ.

Nhìn nhận lại hai câu chuyện trên để nhìn về tương lai gần và xa hơn một chút của đất nước ta bởi một ngày không xa, những đứa trẻ hôm nay sẽ là người chủ của đất nước. Một con người trưởng thành và có đủ năng lực kiến tạo cuộc sống, từ khi bé họ đã cần được vun trồng một đời sống tinh thần tốt đẹp, có ước mơ, hoài bão và có nghị lực để thực hiện ước mơ của mình. Người lớn đừng nhân danh bề trên mà áp đặt vào cuộc sống của con trẻ. Một mối nguy lớn nhất đe dọa trẻ nhỏ hiện nay là sự cơ giới hóa tâm hồn, cơ giới hóa tinh thần và sự cơ học hóa tính cách. Vậy nên, chuyện nuôi con, dạy con bây giờ không phải là một vấn đề bản năng mà cần có tri thức, phương pháp hợp lý. Chỉ nuôi con bằng thế giới vật chất như trường hợp anh chị tôi kể trên hay dạy con bằng những kế hoạch học tập triền miên như người đồng nghiệp của tôi, vô hình chung đã làm hại chính đứa con yêu quý của họ, tước đi những động lực sống của chúng. Trẻ con hôm nay cần rất nhiều thứ, trong đó có tình yêu tương từ bố mẹ, gia đình, sự chia sẻ với bạn bè, sự tôn trọng của xã hội. Và đặc biệt, trẻ em cần những ước mơ đẹp và cần được mọi người tôn trọng ước mơ đó. Nếu không có ước mơ, trong tương lai, những con búp bê, robot tinh tế và đẹp đẽ sẽ thay thế những đứa trẻ đáng yêu.

ĐẾN ÁO MƯA CÔNG AN VIỆT NAM, “VIỆT TÂN” CŨNG ĐEM RA XUYÊN TẠC

Từ ngày 19/9, lực lượng CSGT Thủ đô Hà Nội được trang bị mẫu áo mưa mới bằng chất liệu polime có phản quang và chống thấm nhằm phục vụ tốt hơn cho cán bộ chiến sĩ khi làm việc dưới trời mưa. Việc trang bị những công cụ, phương tiện cho lực lượng cảnh sát khi làm nhiệm vụ là điều cần thiết, để đảm bảo cho việc hoàn thành tốt nhiệm vụ trong điều kiện thời tiết khó khăn.


Câu chuyện đơn giản là thế, nhưng khi qua mắt bọn phản động “Việt Tân” chúng nhìn sự việc hoàn toàn khác. Áo mưa lực lượng cảnh sát Việt Nam vừa ra mắt, trên trang phản động “Việt Tân” đăng ngay bài với tiêu đề : “Nhìn áo mưa của Tàu và CSGT Việt Nam giống nhau quá nhỉ, Phải làm cho giống chứ! để Việt Nam chuẩn bị từ từ... sát nhập Đại gia đình Trung Quốc vào năm 2020”. Thế hóa ra cái tư duy của mấy thằng đứng đứng đầu tổ chức khủng bố này nhỏ mọn thế sao ? Vì sao cứ thích đi xuyên tạc thế mới bằng lòng. Thế tại sao mẫu áo mưa của cảnh sát Anh cũng màu giống như vậy, chắc hẳn 2020 Anh cũng sáp nhập vào đại gia đình Trung Quốc chăng ? (Hình ảnh minh họa phía dưới) 

Có lẽ rằng Công an Việt Nam là đối tượng được tổ chức bán nước Việt Tân tập trung huy động tối đa nguồn nhân lực để bôi nhọ, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, vai trò của lực lượng trọng yếu bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân. Xâu chuỗi sự kiện, bạn đọc có thể dễ dàng nhận ra âm mưu gây chia rẽ giữa quần chúng với lực lượng trọng yếu này, kích động sự đối lập giữa lòng yêu nước của “dân oan”, “rận chủ” và lòng yêu nước của “lực lượng Công an” từ đấy quy kết bản chất của chế độ, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi đa nguyên đa đảng. Xuyên tạc từ những sự việc nhỏ nhất để gây mất niềm tin trong quần chúng nhân dân.

Trò phá hoại tư tưởng của “Việt Tân” đã quá cũ, dường như chúng càng xuyên tạc, càng khiến cho cộng đồng nhận ra được bản chất xấu xa, đen tối của chúng.

Quê Choa


Tuesday, September 23, 2014

Tôi chỉ là Ashkenazy! Hay quốc nạn loạn chức danh, học vị

Tôi xin được bắt đầu bài viết này bằng một câu chuyện có thật xảy ra ở TP Hồ Chí Minh vào năm 1995. Chuyện như sau: Trong một chuyến đi bằng đường hàng không, do trục trặc, nghệ sỹ Piano lớn của thời đại chúng ta là Vladimir Ashkenazy đã phải dừng lại ở TP HCM hai ngày.

Tất nhiên một nghệ sỹ lớn như Ashkenazy khó lòng mà không bị phát hiện ra trong thế giới nhiều thông tin này. Và ông đã được mời tổ chức một buổi hoà nhạc nho nhỏ cho những người hâm mộ. Với sự khiêm tốn vốn có ở những người vĩ đại, ông chỉ muốn biểu diễn ở phòng nhỏ trong Nhạc viện TPHCM và chủ yếu dành cho một công chúng hẹp, trong giới nhà nghề. Việc này tất nhiên được nhạc viện thành phố chú ý ngay và họ muốn biến chuyến thăm bất đắc dĩ này quảng cáo thêm cho uy tín của nhạc viện.

Người lãnh đạo nhạc viện lúc đó là một giáo sư, tiến sỹ, nghệ sỹ nhân dân đã dẫn đầu một nhóm giáo sư, tiến sỹ của nhạc viện TPHCM đón tiếp Ashkenazy.

Trong buổi tiếp, sau khi trân trọng giới thiệu với Ashkenazy từng thành viên của ta với đầy đủ chức danh, học vị, thì việc mà phía ta muốn hỏi ông ta, để đưa vào programe (tờ in chương trình) và giới thiệu khi biểu diễn là: Ashkenazy là gì? Thạc sỹ, tiến sỹ, giáo sư hay là gì gì hơn thế nữa ? Và câu trả lời là: Tôi chỉ là Ashkenazy.

Tưởng khách không hiểu. Chủ lại hỏi lại và gợi ý thêm cho dễ hiểu hơn: chắc một nghệ sỹ lớn như ông thì phải có tham gia giảng dạy, vậy khi đó chức danh và học vị của ông là gì? Câu trả lời vẫn không thay đổi: Tôi chỉ là Ashkenazy.

Ô hay! Lạ cái ông này, cỡ như ông ta ít nhất cũng phải có một chức danh gì chứ? hay ông ta giấu? Và cuộc gặng hỏi vẫn tiếp tục. Tuy vậy, truy mãi, cuối cùng, dù đông người, ta đã phải chịu thua một mình ông, vì câu trả lời vẫn chỉ có thế, dù đã được pha thêm chút khó chịu: Tôi chỉ là Ashkenazy!

Cách giới thiệu một cuộc hoà nhạc ngày nay và cái tên cha sinh mẹ đẻ

Trên thế giới thì hàng trăm năm nay, khi giới thiệu một buổi biểu diễn nhạc chuyên nghiệp (hoặc in trên bìa CD) chỉ đơn giản như sau, ví dụ:

1/Về tác giả: Sonate số 2, giọng Si giáng thứ của F.Chopin.

2/Về biểu diễn: Piano: V. Ashkenazy

Cách đây khoảng trên hai chục năm, ở Việt Nam ta cũng tương tự như vậy. Nhưng bây giờ thì khác xa rồi, thường họ sẽ giới thiệu theo công thức như sau:

1/ Về tác giả: Tên tác phẩm, của + Chức danh (giáo sư, phó giáo sư) + học vị (tiến sỹ, thạc sỹ) + Danh hiệu (nghệ sỹ Nhân dân, nghệ sỹ ưu tú. Nhà giáo Nhân dân, nhà giáo ưu tú). + Giải thưởng (giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng nhà nước) + Chức vụ quản lý (Chủ tịch, Giám đốc, Hiệu trưởng, Viện trưởng...) + tên tác giả

2/ Về biểu diễn: Độc tấu + tên nhạc cụ, do + Chức danh (giáo sư, phó giáo sư) + học vị (tiến sỹ, thạc sỹ) + Danh hiệu (nghệ sỹ Nhân dân, nghệ sỹ ưu tú. Nhà giáo Nhân dân, nhà giáo ưu tú) + Giải thưởng (giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng nhà nước) + Chức vụ quản lý (Chủ tịch, Giám đốc, Hiệu trưởng, Viện trưởng...) + tên người + biểu diễn

Mời bạn đọc thử lắp những chức danh, danh hiệu này trước những tên tuổi như: Mozart, Beethoven, Chopin ….. hoặc: Karajan, Rubinstein, Horowitz vv… bạn sẽ thấy nó hài hước tới mức nào ngay. Thêm bất cứ cái gì trước những cái tên đó, đều là một sự xúc phạm khó tha thứ. Bản thân nó đã là vàng mười. Sự sâu sắc luôn mộc mạc, giản dị. Ngược lại với sự son phấn loè loẹt, hàng mã.

Và không chỉ dừng lại ở các cuộc biểu diễn, mà ngay cả trong các cuộc họp hành, hiếu hỷ. Khi mời ai lên phát biểu, người ta cũng luôn luôn phủ đầu làm tối tăm mặt mũi cử toạ bằng một tràng dài các chức danh, học vị, chức vụ quản lý, chức vụ Đảng, cuối cùng mới đến tên người. Điều này dần dần đã thành thói quen, gây sự thiếu thân thiện và tủi phận với những kẻ chỉ có cụt lủn mỗi cái tên cha sinh mẹ đẻ. Họ cảm thấy hẫng như mình thiếu hẳn một cái đuôi.

Cuộc họp nội bộ ngày xưa thì giản dị: “Mời anh Trí” hay “Mời chị Tuệ” lên phát biểu. Chỉ vỏn vẹn có 3 từ thôi, mà sao thân mật, ấm cúng và hiệu quả biết bao. Còn bây giờ thì phải khoảng trên dưới 30 từ. Cũng theo công thức trên, ta lại cùng nghép thử, ví dụ:

Xin kính mời + chức danh + học vị + toàn bộ danh hiệu đã được phong + toàn bộ giải thưởng đã được tặng + toàn bộ chức vụ quản lý, chức vụ Đảng đang có + Ông(Bà) + họ tên đầy đủ + lên phát biểu.

Mời bạn tham khảo thêm tên và tước hiệu của cụ Phan Thanh Giản (1796-1867) một đại thần triều Nguyễn phong kiến như sau: Hiệp biện Đại học sỹ, lãnh Lễ bộ thượng thư, kiêm quản Hộ bộ ấn triện, sung Kinh diên giảng quan, sung Cơ mật viện đại thần, kiêm Quốc tử giám sự vụ, kiêm quản Văn thần phò mã đô uý, Phan Thanh Giản, tự Tĩnh Bá, hiệu Ước Phu. (50 từ)

Ôi, nếu cụ sống lại và đến dự một cuộc họp nội bộ của chúng ta ngày nay, và được ta giới thiệu cụ với đầy đủ chức danh như trên, thì chắc cụ rất hãnh diện. Vì lũ con cháu chúng ta sao mà giống thời các cụ thế! tiếp nối được truyền thống cha ông xưa. Và vẫn đang liên tục phát triển.

Đây là hiện tượng phổ biến trên toàn quốc khoảng hai chục năm nay chứ không chỉ riêng ở một đơn vị nào, và nó vẫn còn đang phát triển theo hướng rườm rà hơn nữa. Tôi sợ với đà này, một ngày nào đó, ngay trong gia đình, bố mẹ, con cái, vợ chồng… hoặc bạn bè gặp nhau ngoài phố, khi gọi nhau cũng phải kèm theo những danh hiệu rườm rà đã kể trên thì thực là rồ dại.

Vậy bạn đọc nghĩ sao về những hiện tượng này? Bản chất của những hiện tượng này là gì?

Một cuộc chạy đua chức danh trên toàn quốc “trồng lúa thu hoạch khoai”

Ta tự hào về chế độ ưu việt xã hội chủ nghĩa (mà hiện nay chỉ có người dân ở một số ít nước được hưởng là: Triều Tiên, Cu ba, Lào và Trung Quốc) mọi người đều bình đẳng. Nhưng thực chất thì người ta đang dựa theo chức quyền để phân chia đẳng cấp, quyền lợi, tất nhiên chức càng cao, bổng lộc càng lớn.

Lúc sống đã vậy, tận tới lúc chết chôn ở đâu cũng có tiêu chuẩn dựa theo chức tước. Vì thế cả xã hội đều trọng chức quyền. Mà muốn có chức quyền thì cần có bằng cấp, cộng thêm danh hiệu Đảng viên, là người ta có thể tiến thân, có thể trở thành lực lượng lãnh đạo với nhiều bổng lộc mà không cần phải có thực lực.

Đó là nguyên nhân sâu xa đã và đang dẫn đến việc nhiều kẻ cơ hội đổ xô đi săn bằng cấp bằng mọi giá. Đua bằng cấp, chức danh chứ không đua tài năng. Bởi đua tài năng, cuộc đua dưới ánh mặt trời, thì khó hơn nhiều, dễ lộ chân tướng và dễ bị thua. Bao nhiêu sức lực, thời gian và tiền bạc đáng ra để tập trung làm chuyên môn, làm nghề thì lại bị phung phí vào các cuộc đua tranh lấy bằng cấp. Nhìn vào con đường để trở thành thạc sỹ, tiến sỹ hiện nay ở nước ta đã bị biến chất. Nhiều người có lòng tự trọng không khỏi ngại ngùng và muốn lánh xa.

Bản thân bằng cấp và chức danh chân chính, lương thiện thì rất có ích cho xã hội. Trước kia, số giáo sư, tiến sĩ ở ta không nhiều, nhưng đó là những tên tuổi như: Đào Duy Anh, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Mạnh Tường... Còn ngày nay thì đúng là “Ta tự hào đi lên. Ôi Việt Nam” giáo sư nhiều đến mức có thể “ra ngõ gặp giáo sư”. Với thực trạng này thì nền học thuật của nước nhà có nguy cơ trở thành hữu danh, vô thực.

Trong lĩnh vực biểu diễn âm nhạc chuyên nghiệp, để chơi đàn, hát, làm được concert thì khó quá, muốn thế phải rèn luyện hàng ngày, phải hy sinh rất nhiều mà lại không oai bằng rẽ ngang đi làm tiến sỹ, đơn giản hơn, chóng được thăng chức với nhiều bổng lộc hơn.

Kết quả là: mục đích cuối cùng và duy nhất của âm nhạc là tiếng đàn, tiếng hát, những buổi concert và viết những tác phẩm âm nhạc chuyên nghiệp thì dần dần không còn ai làm, thay vào đó là rất nhiều tiến sỹ âm nhạc ra đời. Có được cái bằng tiến sỹ, phần lớn không ai chơi đàn và hát nữa. Tiền của nhân dân bỏ ra đào tạo họ để mang lại tiếng đàn tiếng hát cho đời đã trở thành vô ích vì sai mục đích. Trồng lúa thì lại thu hoạch khoai!

Hướng dẫn làm luận văn tiến sỹ chéo ngành chéo nghề

Ở hầu hết các trung tâm đào tạo đại học của Việt Nam trên toàn quốc hiện nay, để có được chức danh thạc sỹ, tiến sỹ, phải có người hướng dẫn viết luận văn, luận án. Đó là các giáo sư, phó giáo sư. Nhưng để đào tạo ra càng nhiều, càng nhanh và để “phổ cập” học vị thạc sỹ, tiến sỹ, người ta đã sử dụng các giáo sư hoặc phó giáo sư nghề này, hướng dẫn luận văn cho các thạc sỹ, tiến sỹ nghề khác.

Tuy cùng là một ngành, nhưng càng lên cao, càng phải chuyên sâu, và cùng một ngành nhưng rất nhiều nghề hoàn toàn khác nhau. Ví dụ như trong ngành thể thao thì môn cờ tướng với bắn súng hoặc đấm bốc, không hề có liên quan đến nhau. Hoặc trong ngành điện ảnh thì nghề viết kịch bản và nghề tạo khói lửa, cũng không hề có liên quan. Nghề nào cũng vậy. Nên dù biện minh rằng, đó là “hướng dẫn phương pháp luận” thì cũng chỉ là ngụy biện, và không thể chấp nhận được.

Thử tưởng tượng trong cùng ngành y. Giáo sư chuyên nghề phụ khoa lại đi hướng dẫn luận văn cho tiến sỹ chuyên nghề nha khoa thì có được không? Bởi vì hai bộ phận này của cơ thể chúng ta là hoàn toàn khác nhau, có những chức năng hoàn toàn khác nhau. Vậy mà chéo ngành chéo nghề vẫn vô tư hướng dẫn đã trở thành bình thường từ lâu.

Vậy xin hỏi cấp trên có biết vấn đề này không? Với những sự hướng dẫn như vậy, những bản luận văn đó có giá trị gì không? Và trong việc này liệu có thể tránh được tiêu cực không? Có được cái bằng cấp ấy, có đáng tự hào để mời mọi người đi khao “rửa bằng” không? Có lẽ sự “rửa bằng” nghĩa đen lại chính xác hơn vì nó vốn không được sạch sẽ cho lắm.

Theo chúng tôi, cấp bộ hãy cho dừng ngay kiểu hướng dẫn trái ngành trái nghề như hiện nay ở hầu hết các cơ sở đào tạo trên cả nước. Và cho rà soát lại tất cả các luận văn thạc sỹ, tiến sỹ đã có. Nếu không phải do người hướng dẫn có cùng chuyên môn thì cho thu hồi lại, và các luận văn đó phải được làm lại, với sự hướng dẫn của các giáo sư cùng chuyên ngành và công khai việc này trong giới chuyên ngành.

Các danh hiệu, giải thưởng, câu chuyện cười ra nước mắt
 Vườn hoa chỉ có 2 loại hoa

Định kỳ một hai năm gì đó, ta có những đợt phong tặng danh hiệu nghệ sỹ ưu tú, nghệ sỹ Nhân dân và trao tặng các giải thưởng Nhà nước và giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Việc này không phải do người Việt Nam ta nghĩ ra, mà do chúng ta học tập từ Liên Xô cũ. Họ phong nghệ sỹ Công Huân, nghệ sỹ Nhân dân, giải Xtalin, giải Lê Nin về văn học nghệ thuật ( ví dụ Giao Hưởng số 11 của Shotstakovich được giải Xtalin năm 1953 vv…).

Sau khi Liên Xô tan vỡ, họ đã bỏ thói quen đã có từ hàng chục năm này. Rất nhiều cách tổ chức dập theo kiểu Liên Xô cũ như: nền kinh tế có kế hoạch, hành chính bao cấp, phân phối theo tem phiếu v.v… ta đã bỏ. Nhưng không hiểu vì sao cái thói quen trao những danh hiệu và giải thưởng văn học nghệ thuật học từ họ thì ta lại vẫn duy trì, bởi nó là một phần đồng bộ trong tư duy cấu thành chế độ bao cấp, cơ chế xin cho?

Lịch sử dân tộc ta đã chứng minh bằng máu và nước mắt một quy luật là: những chính sách dập khuôn theo ngoại bang sớm muộn rồi cũng gây những hậu quả xấu, thậm chí là những thảm hoạ dân tộc.

Về việc phong danh hiệu nghệ sỹ, hãy để chính những nghệ sỹ, bằng tài năng, họ làm nên tên tuổi riêng của mình (như Ashkenazy) thì nó mới có giá trị thực, bền lâu và duy nhất. Không ai có thể ghen tỵ với ai được, vì không ai giống ai. Hàng ngàn nghệ sỹ tài năng, thì sẽ có hàng ngàn cái tên khác nhau, có giá trị khác nhau, giống như vườn hoa với muôn hoa, muôn màu khoe sắc, chứ không phải chỉ có 2 loại hoa ưu tú và nhân dân.

Mà muốn được hưởng các danh hiệu này, phải làm đơn xin, cùng sự “vận động” để được phong (ban) tặng từ trên xuống. Trong hoàn cảnh đất nước ta tệ nạn xã hội tràn lan. Khó có thể tránh khỏi nhiều sự tiêu cực trong sự ban tặng danh hiệu, nếu vẫn giữ kiểu cơ chế ban phát như cũ.

Về việc trao giải thưởng Nhà nước và giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT, đây cũng là một kiểu cơ chế xin cho với những thành phần Ban giám khảo hoàn toàn được chỉ định từ trên, với những tiêu chí chấm giải tuỳ hứng. Người xin trao giải cũng phải làm đơn và “vận động”.

Riêng trong ngành nhạc đã xảy ra những câu chuyện cười ra nước mắt xung quanh việc trao giải thưởng này. Điển hình là trong đợt đua tranh phong tặng năm 2006 (đây nên là đợt phong tặng cuối cùng) cả nước đều biết tới những chuyện “đồng nghiệp tương tàn” mà báo chí gọi là “cơn địa chấn trong làng nhạc”. Nếu ta lại cứ tiếp tục trao giải thì không ai có thể khẳng định rằng những cơn “địa chấn” sẽ không trở thành “động đất”!

Nói tóm lại: Nhà nước ta nên bỏ lối tư duy kiểu dập theo Liên Xô cũ này!

6. Kết

Hãy để cho mọi người đánh giá tài năng và giá trị con người qua công việc. Dù anh có độn vào trước cái tên của anh hàng trăm danh vị đi nữa mà sản phẩm anh làm ra cho xã hội không có, hoặc tồi, hoặc có hại, thì khác nào gỗ mục được sơn son thếp vàng?

Một xã hội lành mạnh và có tương lai, là một xã hội biết tôn trọng những tài năng và những giá trị thực, bất kể họ có hay không có bằng cấp danh vị cao, tiền của nhiều, chức tước lớn.

Đối với người làm nghề nhạc chuyên nghiệp, thì đó là tiếng đàn, tiếng hát của người biểu diễn và tác phẩm của người sáng tác. Anh hãy tự hào về điều đó, và hãy gắn nó với cái tên cha sinh mẹ đẻ, chứ không phải là những thứ bằng cấp, danh hiệu (mà ở nước ta hiện nay của rởm nhiều hơn thật) và chức vụ quản lý anh đang có, đó chỉ là những thứ son phấn nhất thời.

Bảng giá trị tưởng như là chân lý đơn giản và hiển nhiên này lại đang bị lật ngược. Nguyên nhân chủ yếu là do bệnh thành tích, cơ hội, trọng bằng cấp, trọng chức quyền. Nó đang làm tê liệt trí tuệ Việt Nam. Phải chăng nó là một trong ba loại giặc đang đe doạ sự tồn vong của dân tộc mà Hồ Chí Minh đã nói, đó là: diặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm? Với tiềm năng trí tuệ thế này, rồi dân tộc Việt Nam ta sẽ đi đến đâu? “Một dân tộc dốt, là một dân tộc yếu” (Hồ Chí Minh)

Là một người hoạt động trong nghề nhạc, tôi thấy cần phải viết bài này chỉ vì trách nhiệm công dân, với mong muốn nền học thuật nước nhà - nhất là âm nhạc - ngày càng trở nên lành mạnh và thực chất hơn. Tôi không nhằm vào bất cứ ai và cũng mong đừng ai giật mình bởi tôi luôn luôn kính trọng sâu sắc những giáo sư, tiến sỹ, thạc sỹ chân chính. Tuy không nhiều, nhưng họ có lương tri và trình độ chuyên môn thực sự. Tôi chắc rằng những người này sẽ ủng hộ những ý kiến trên của tôi.

Vì chúng ta đã nói dối quá nhiều và quá lâu rồi, nên những lời nói tử tế bây giờ lại trở nên hài hước. Tuy vậy - dù chỉ nhỏ bé như con Dã Tràng - tôi vẫn muốn nói rằng: Đừng sợ thay đổi vì chỉ nghĩ tới quyền lợi của bản thân, hãy nghĩ tới một tương lai tốt hơn cho tất cả. Đừng sợ ánh sáng, sợ thuốc đắng và sự thật.

Để kết bài viết này tôi xin mượn một câu Kiều của: [Giáo sư, tiến sỹ] Nguyễn Du (xin tạ tội với bậc tiền nhân vì sự xúc phạm này):

“Mượn màu son phấn đánh lừa con đen”

Chữ “Con đen” ở đây được hiểu là những người dân bình thường

Bệnh… “nổ”

Khoe khoang một cách lố bịch hiện đang trở thành căn bệnh trầm kha của nhiều người, làm rối loạn nhiều thang giá trị...

Hồi còn bé tí, sống ở thời bao cấp, tôi còn nhớ mãi hình ảnh bố mẹ mình trở dậy lúc trời còn tờ mờ sáng, “lén lút” quấn con cá trắm 3 kg vào manh chiếu và dặn dò chúng tôi không được nói với ai, để bố mẹ đem cá về biếu ông bà.

Nhưng trẻ con chúng tôi, chỉ giấu được lúc ấy. Khi trời sáng rõ, tụ tập chúng bạn, có gì lại khoe với nhau tuồn tuột. Đứa thì khoe được ăn thịt gà, nhưng bố mẹ lách thịt bằng kéo; đứa thì khoe được ăn bánh nướng, bánh dẻo nhưng chỉ ăn ở trong nhà… Nói chung là đủ thứ mà theo bọn trẻ chúng tôi, lúc bấy giờ là những món sơn hào hải vị. Nhưng mà lạ một điều là đứa nào cũng bảo “bố mẹ tớ dặn không được nói với ai”.

Lớn hơn một chút, tôi mới hiểu là sống trong thời bao cấp, con người ta phải như vậy. Mọi người đều cảm thấy ngại, không dám khoe ra ngoài về sự khá giả bất thường của mình (dù chỉ là bữa cơm có thêm miếng thịt, miếng cá).

Rồi khi mở cửa, cái bệnh “ngại” của thời bao cấp tiêu dần và biến mất. Mọi người đã thoải mái hơn và không còn phải ngại vì mình giàu có, giỏi giang hơn người khác.

Nhưng khi xã hội càng phát triển, người ta lại phải sống cùng với một thứ bệnh đối lập hoàn toàn với bệnh “ngại” của thời bao cấp, bởi cái sự “nổ”, sự khoe khoang tưng bừng ở bất kỳ nơi đâu, bất kỳ chỗ nào.  Ở đâu người ta cũng không ngại khoe khoang về sự giàu có, về học vấn, bằng cấp, về cơ thể, về bất cứ thứ gì...

Ở ngoài đường, nhiều thiếu nữ thoả sức mặc quần cộc, cạp trễ, khoe giò, khoe mông mà nhiều người xung quanh phải quay mặt không dám nhìn. Khi bị phạt vì vi phạm giao thông, nhiều người rút điện thoại “chém gió” rằng quen sếp này, sếp nọ… cũng là để khoe khoang cái sự quan hệ rộng của mình.

Trên sân khấu, nhiều ca sĩ, diễn viên coi sự ăn mặc thiếu vải, khoe cơ thể và các vòng 1-2-3 là thể hiện sự gợi cảm cũng như bản lĩnh của người nghệ sĩ. Một số còn “tự nổ” cho rằng mình là sao, có đẳng cấp, thậm chí còn tổ chức cả những cuộc họp báo hoành tráng để “nổ” về bản thân. Còn nhớ, có cô diễn viên khoe được kinh đô điện ảnh Hollywood mời đóng phim, nhưng hàng năm sau phim mới ra mắt. Người hâm mộ căng mắt xem đi xem lại, mới phát hiện nữ diễn viên này có xuất hiện trên phim thật, nhưng là cảnh đi lại khoảng… vài giây.

Không chỉ nghệ sĩ mà nhiều vị quyền cao chức trọng cũng mắc bệnh “nổ”. Chẳng thế mà có chuyện ông Phó vụ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Lộc An, trong một buổi hội thảo về cơ chế điều hành giá xăng, khi phản biện lại cách tính giá xăng dầu, đã “lỡ miệng” khoe rằng, ông không giỏi toán lắm nhưng có đi thi toán quốc tế. Tại cuộc hội thảo, ai cũng “mắt tròn mắt dẹt” phục ông Phó vụ trưởng này lắm lắm. Nhưng khi kiểm tra lại từ Cục Khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục (Bộ GD-ĐT), thì không có tên ông này ở bất cứ đội tuyển dự thi Toán quốc tế nào của Việt Nam.

Rồi đến chuyện cả ông Thứ trưởng cũng khoe bằng cấp, mà đáng khoe nhất là tấm bằng Tiến sĩ… dởm. Trong các bản khai, ông Thứ trưởng này cam đoan đạt học vị Tiến sĩ tại Đại học Uppsala (Thụy Điển) nhưng cơ quan chức năng xác định ông chưa đạt học vị này.

Tệ hơn, một số quan chức còn khoe cả chức lên thiệp mời đám giỗ của cha mẹ mình…

Mới đây, dư luận lại ầm ĩ bởi sự khoe con một cách quá lố của một gia đình dự thi chương trình Tìm kiếm tài năng Việt Nam. Nếu như những người lớn trong gia đình này không quá “nổ” về con mình, thì việc cô bé 15 tuổi hát trong chương trình này cũng chỉ bình thường như mọi thí sinh khác. Nhưng chiêu khoe con của bà mẹ đã thực sự trở nên lố bịch, nào là cô bé từng đoạt giải này, giải nọ, hát được 6 thứ tiếng…,   khi khán giả được chứng kiến cô bé biểu diễn tài năng trên sân khấu.

Không những thế bà mẹ đã phản ứng lại Ban giám khảo bằng cách khoe thêm thành tích của con mình, làm cô bé lại càng tưởng mình là một “tài năng bị vùi dập”. Người chịu thiệt thòi lớn nhất sau sự lùm xum này vẫn là cô bé 15 tuổi, vì em chưa đủ lớn để chống đỡ được búa rìu dư luận và thoát ra khỏi ánh hào quang mà gia đình đã bao phủ quanh em.

Bệnh nổ, bệnh khoe khoang của nhiều người, nếu tìm hiểu rõ thì cũng có nguyên cớ của nó. Mà chủ yếu vẫn là việc chúng ta đang sống trong một môi trường quá trọng thành tích. Nói không thật, nói quá lên, nói  “phét”… nhiều khi lại kiếm được lợi. Đó là việc được tuyển dụng vào những chỗ béo bở, được thăng tiến nhanh hơn những người khác… Kể cả chuyện khoe khoang quá lố về cơ thể mình cũng là “chiêu” câu khách hoặc để bù đắp vào năng lực nghệ thuật có hạn của mình.

Trong trường học, ngay từ bé, trẻ con đã phải đánh đu với việc chọn trường, chọn lớp, học thêm, nếu không sẽ không có thành tích bằng chúng bạn. Thế mới có chuyện ngay từ cấp mẫu giáo, cha mẹ, ông bà phải mang chiếu, xếp hàng cả đêm để  xin học cho con.

Lên cấp tiểu học, sau một hai năm đầu, cô giáo còn uốn nắn các cháu về chữ viết. Còn lại bình thường mặc kệ các cháu, viết thế nào cũng được, thậm chí xấu đến mức không đọc được, nhưng đến kỳ thi viết chữ đẹp, gia đình lại sửng sốt vì… không nhận ra chữ con mình.

Còn mỗi khi đến kỳ thi học sinh giỏi, các em lại phải “cày” ra để học. Học ngày, học đêm, học bằng mọi giá, cốt mang được thành tích về cho trường.

Hàng ngày, hành giờ phải chứng kiến cái sự khoe khoang quá lố, tự nhiên, tôi lại lẩn thẩn so sánh rằng, sống ở thời bao cấp, có lẽ con người ta còn cảm thấy dễ chịu hơn bây giờ, khi mà bệnh “nổ” đang trở thành căn bệnh quá dễ lây lan, làm rối loạn rất nhiều thang giá trị./.
Hòa An/VOV online