Tuesday, December 30, 2014

Suy ngẫm về thói ích kỷ

Người ta cho rằng “khi thói ích kỉ trở thành lối sống của con người thì tình yêu thương và sự sẻ chia sẽ chỉ còn là những giá trị lạc lõng”. Chúng ta hãy cùng suy ngẫm một chút để thấy rằng: đằng sau vấn đề nổi cộm về một lối sống tiêu cực của con người, là bài học vô cùng quý giá và sâu sắc.

“Thói ích kỉ” trong nhận định trên nên được hiểu là lối sống thực dụng, vụ lợi, đặt quyền lợi, địa vị của bản thân lên trên hết, mà không coi trọng lợi ích của tập thể hay quyền lợi của người khác. Những người nhiễm “thói ích kỷ” nhất định thờ ơ với cộng đồng, thờ ơ với những người sống xung quanh. Bới tôn chỉ của họ là “đèn nhà nhà nào rạng nhà ấy”, “sống chết mặc bây”. Hơn thế nữa, họ sẵn sàng vì quyền lợi của mình mà bỏ qua lợi ích chung của tập thể, hoặc thậm chí là gây tổn hại cho người khác.

Rõ ràng, trong ý niệm của những người nhiễm “thói ích kỷ”, không thể nào tồn tại hai tiếng “sẻ chia”. Bởi “sẻ chia” và “ích kỷ” là hai xu thế đối nghịch nhau. Nếu “ích kỉ” nghĩa là chỉ biết đến bản thân mình, thì “sẻ chia” là hành động hướng về người khác, “thương người như thể thương thân”. Người có khả năng sẻ chia là người có tấm lòng nhân hậu, biết cảm thông và thấu hiểu. Thông qua sẻ chia mà trái tim được sưởi ấm, linh hồn được cứu rỗi, và người gần người hơn, nhân tính hơn.

Sống trong cộng đồng, sẻ chia là cần thiết. Nhưng tiếc thay, “thói ích kỷ” vẫn đang tồn tại như một xu thế của xã hội hiện đại, con người bị cuốn vào vòng xoáy của dành giật, bon chen và những toan tính vật chất. Nếu một ngày nào đó thế giới chỉ còn lại những người ích kỷ, thì đời sống còn gì ngoài những trao đổi, mua bán? Nếu mọi cá nhân đều vụ lợi, thực dụng thì bất kì điều gì người ta làm – “yêu”, ghét, cười, nói, ăn cắp, tặng quà, làm từ thiện hay dồn ép người khác vào đường cùng … – dù là việc gì đi nữa, tất cả chúng đều được thực hiện nhằm mục đích nào đó, với chủ ý nào đó.

Nơi mà ích kỷ trở thành lối sống của con người thì tình yêu và sự sẻ chia sẽ không còn đất sống. Người ta cũng yêu đó! Nhưng chỉ là “tỏ ra yêu”, “giả vờ yêu”, hoặc tự lừa bịp và ảo tưởng rằng mình yêu, để được thỏa mãn lòng tham hay những nhu cầu mà họ cố giấu. Nơi ấy, tình yêu và sự sẻ chia chỉ còn là “những giá trị lạc lõng”, con người tự đào mồ để chôn cất trái tim mình… Cuối cùng, giả vờ yêu cũng là điều khó nữa, sẽ có lúc trung tâm tình yêu co lại, con người đi đến lãnh cảm, lạnh lùng và khô cứng. Lạnh lùng và khô cứng – nên nhớ rằng đây là những tính chất của xác chết.

“Khi thói ích kỉ trở thành lối sống của con người thì tình yêu thương và sự sẻ chia sẽ chỉ còn là những giá trị lạc lõng”.

Đây là một nhận định đúng đắn, được nêu ra như là lời cảnh tỉnh cho tất cả mọi người, đặc biệt là những ai đã và đang nhiễm “thói ích kỷ”. Tuy nhiên, ta hãy đào sâu suy nghĩ thêm một chút. Liệu con người có thể sống hoàn toàn không ích kỷ? Và liệu bạn có sẵn sàng luôn nhận phần thiệt thòi về mình? Vì điều gì? Theo tôi, vấn đề không nằm ở chỗ bạn có nên giữ trong mình một chút ích kỉ hay không, quan trọng là chúng ta hạnh phúc và hài lòng với cuộc sống của mình. Ích kỉ hay hi sinh đều là không cần thiết. Một người ích kỉ chẳng khi nào vui được, anh ta đã lãnh cảm rồi, sao còn vui được nữa? Người biết cách hy sinh vì người khác thì có vẻ hạnh phúc hơn, nhưng sự viên mãn của anh ta không tràn đầy, niềm vui của anh ta không trọn vẹn. Anh ta cảm thấy thiếu vắng hay mất mát thứ gì đó. Nhưng vì anh ta hữu ích và có chút khác thường nên những con người kích kỷ xung quanh cứ ca tụng anh ta, khiến anh ta có cảm giác rằng mình đã đúng. Không nên ích kỷ và cũng không nhất thiết phải hy sinh, vậy thì điều gì còn lại?

Có một điều may mắn là “thói ích kỷ” không thuộc về bản chất ban sơ của chúng ta, và “hy sinh” cũng không là bản tính của ta. Chúng chỉ là những phẩm chất khả dĩ mà ta tiếp thu và bộc lộ trong quá trình sống. Bên trong một người ích kỷ – nếu chưa đi đến lãnh cảm – thường khởi lên những “tiếng nói nội tâm” khi anh ta làm điều gì đó trái với bản tính của mình. Và “tiếng nói” ấy rất nhỏ bé, tinh tế, thậm chí là phi ngôn ngữ. Anh ta có thể đối diện với nó hoặc phớt lờ nó. Và dù anh ta có nhận ra hay không thì nó vẫn có đó. Nắm bắt được “tiếng nói nội tâm” là dần bắt đầu sống thuận với bản chất của mình. Sống thuận với bản chất của mình thì những phẩm chất đẹp đẽ trong ta cũng tự nhiên hiển lộ. Một đứa trẻ thì sống một cách tự nhiên, không bị chia chẻ thành nửa này, nửa kia. Nó sống vì bản thân một cách toàn bộ. Đứa trẻ không biết hy sinh là gì, nó cho vì nó muốn thế, nó cho mà không hề bận tâm. Nó làm mọi thứ từ niềm vui của chính nó, hạnh phúc của chính nó; nó không làm thế vì người khác nên không cảm thấy mất mát chút nào. Đó là sự cống hiến cao cả nhất, vượt trên cả hy sinh… Không những thế đứa trẻ còn vượt lên khỏi tính ích kỷ nữa. Người ích kỷ là kẻ nông cạn, hắn chỉ biết đến vật chất, quyền lợi và hư vinh. Những thứ đó chính là mục tiêu của đời hắn. Đứa trẻ biết nhiều thứ quý giá hơn, như là tình yêu, như là sẻ chia… Đứa trẻ không chỉ sống vì quyền lợi, nó sống vì cuộc sống (và quyền lợi là một phần trong đó). Nếu gọi là ích kỉ thì đó là một sự ích kỉ toàn bộ, sự ích kỉ ở tầm cỡ hoàn toàn khác.

Vui thay ta sống hồn nhiên, không ưu phiền, không hy sinh mà hy sinh, ích kỷ mà không ích kỷ. Ta sống toàn vẹn với thân thể này, trí tuệ và trái tim này … Thế rồi ích kỷ tự tiêu. Thế rồi, tình yêu tràn đầy.

Thói quen “đổ xô” và “chen lấn”

Một lần đi họp ở Hà Nội, tôi đến sân bay Tân Sơn Nhất. Vì lúc này tình hình kẹt xe ở TP Hồ Chí Minh khá trầm trọng nên tôi cho tài xế rước tôi sớm đến sân bay. May là không kẹt xe nên thời gian chờ khá rãnh rỗi. Hơi “bị rãnh” tôi nhìn hành khách xếp hàng ở cổng ra máy bay. Chợt một cái đập vai làm tôi giật mình: một thằng bạn học hồi thời trung học mà ít có dịp chúng tôi gặp lại. Qua chào hỏi, nó (hiện làm ở Ban quản lý các khu công nghiệp của tỉnh) bảo mình với nó đi cùng chuyến bay và cùng . . . chờ bay. Thế là có bạn dể “tám” cho đỡ buồn. Ôi thôi đủ chuyện trên đời từ hồi còn đi học đến chuyện bây giờ. Nó chỉ tôi dòng người đang xếp hàng ở cổng ra máy bay. Một cảnh tượng rất nực cười: “đổ xô” và “chen lấn”. Và tôi chợt giật mình khi người bạn nói: “Tao đi nhiều nước trên thế giới, khi ra sân bay, hể thấy người Châu Á nào ở sân bay mà “lăng xăng”, “hấp tấp” thì chắc chắn là người Việt Nam”. Tôi trãi nghiệm lại và thầm động ý với nhận định trên của nó mà trong lòng không vui một chút nào cả.

Thói quen “đổ xô” và “chen lấn” trông nực cười thật và đáng suy ngẫm về một lối sống (hay là một thói xấu) của người Việt mình: sự “đổ xô” và “chen lấn” luôn hiện diện trong nhiều hoạt động đời sống và người ta không ai mảy may nghĩ rằng đó là một hình ảnh vô cùng xấu xí, thiếu văn hóa. Ở sân bay, ngay quầy làm thủ tục thôi đã có nhiều người chen ngang, lấn hàng rồi. Tới chỗ làm thủ tục hải quan, thay vì đứng chờ dưới vạch đỏ, người ta cứ lấn lên khiến nhân viên hải quan phải luôn miệng nhắc nhở. Thậm chí, khi đã có chắc chắn một chỗ ngồi trên máy bay rồi mà khi nghe loa thông báo: “Mời hành khách cao tuổi, phụ nữ có thai và trẻ em v.v…” là tất cả cứ ào ào đổ xô tới cửa boarding. Chỉ có tôi, bạn tôi và vài người khác là điềm nhiên ngồi đợi cho tới khi không còn ai mới ung dung đi vào, vừa không phài đứng chờ tới lượt mỏi cả chân, vừa thoải mái. Tại sao lại cứ phải ào ào lên khi mà đằng nào mình cũng lên được máy bay và chắc chắn có ghế ngồi?

Hôm nọ, chỉ một tin đồn là xăng tăng giá, thế mà người ta cũng đổ xô, chen lấn để mua xăng. Giống như lần trước tin đồn thiếu gạo khiến người ta ào ào chen nhau mua gạo. Chạy xe ngoài đường thấy ai cũng ào ào và luồn lách cốt sao cho xe mình vượt được người khác. Phần lớn nguyên nhân của các cuộc kẹt xe là do người lưu thông chen lấn và tự làm cản trở lẫn nhau.

Những ngày khuyến mãi của các Siêu thị hay Trung tâm điện máy, người ta xếp hàng và chen lấn từ sáng sớm để mua được món đồ mà chưa chắc đã là rẻ, có người còn bị móc mất điện thoại hay ví tiền trong khi chen nhau, thật lợi không bằng hại. Chen nhau không được về la làng lên là bị khuyến mãi lừa, mà không tự trách là tại sao mình tham lam ngu ngốc.

Những dịp lễ hội là dịp cư dân mạng lại xôn xao về những hành vì phản cảm thiếu văn hóa như vụ giẫm đạp nhau trên đường hoa Nguyễn Huệ, hay vụ phá ngày hội Hoa Anh đào ở Hà Nội. Mùa lễ hội những đền chùa, đình miếu đều chen chúc và giành giật, chẳng thấy còn chút gì là linh thiêng hết. Lễ khai ấn đền Trần, hội Chùa Hương, Hội bà chúa xứ núi Sam v.v… chỉ là dịp để khách hành hương hành xác nhau trong khổ sở, là dịp cho bọn buôn thần bán thánh trục lợi. Đâu đâu cũng thấy những biểu hiện của sự giành giật, bon chen, không ai chịu nhường ai.

Có lẽ tư tưởng: “trâu chậm uống nước đục”, hay “mội miếng giữa đàng bằng một sàng xó bếp” đã ăn sâu vào đầu óc người Việt nên người ta luôn muốn mình phải nhanh chân hơn kẻ khác, luôn muốn giành giật chút phúc lộc của giời? Thật không lý giải được.

Tôi có một đứa cháu 6 tuổi, vừa học hết Mầm non, chuẩn bị vào lớp Một. Cha mẹ cháu chạy hết gần 50.000.000 đồng để cháu được vào học trường Tiểu học điểm (dù cha mẹ cháu không mấy gì khá giả). Chạy được xong cha mẹ cháu đến khoe với tôi “thành tích” “chạy” đó mà còn nói thêm nhiều người khác giàu có nộp tiền nhiều hơn nhưng vẫn không được vì thiếu “quen biết”!. Tôi ậm ờ cho qua nhưng trong lòng chợt nghĩ mình hồi nhỏ đi học trường làng, cha mẹ nghèo con đông nên có “chạy” gì đâu (mà lúc đó không ai có khái niệm “chạy” đó) mà cũng học giỏi, thi đâu đậu đó. Chợt nhớ lời thằng bạn nói lúc “tám” ở sân bay: Bây giờ muốn được việc thì phải “chạy” từ lúc sinh cho đến lúc chết. Có bầu, đẻ phải “chạy nhà bảo sanh”; đi học phải “chạy trường, chạy lớp, chạy thầy; chạy điểm”; bệnh phải “chạy nhà thương, chạy thầy, chạy thuốc”; đi làm phải “chạy việc”; muốn thăng tiến phải “chạy chức, chạy quyền”; lỡ bị tội thì phải “chạy án”; mà có chết đi cũng phải “chạy chỗ chôn” . . .

Chỉ khi nhìn thấy những người Nhật trật tự xếp hàng nhận hàng cứu trợ sau cơn động đất, sóng thần mới thấy rõ ràng sức mạnh của giáo dục. Người dân Nhật được giáo dục về nền nếp và trật tự xã hội từ nhỏ, nên ý thức ấy đã ăn sâu trong họ. Còn người Việt mình, từ bé nhiều đứa trẻ đã được cha mẹ dạy một cách cố tình hay vô thức rằng: phải tranh giành, chen lấn, xô đẩy mới có được cái tốt hơn cho mình, vì thể tư tưởng ấy đã ăn sâu bén rễ và trở thành một lối sống xấu lúc nào không hay.

Có lẽ chẳng bao giờ người Việt mình thay đổi được những thói xấu làm hình ảnh Việt Nam trở nên “kỳ quặc” trước mắt những du khách nước ngoài. Nhất là giới trẻ ngày nay, được sinh ra và chiều chuộng trong nhung lụa, thì cái tính ích kỷ cá nhân còn tăng lên gấp nhiều lần, họ sẽ ít biết hy sinh vì người khác. Nhưng tôi vẫn mong sao có nhiều người biết nhìn ra thế giới và nhìn lại nước Việt mình, để thấy cần phải nỗ lực thay đổi. Thay đổi để chính bản thân mình tốt hơn, đất nước mình tốt hơn.

Monday, December 29, 2014

Cuộc đời nhiều lo âu, do đâu?

Biết ít nhưng vui nhiều
Đó là tặng vật
Cho cõi phù du…
Martin Heidegger - Bùi Giáng dịch
Vì đâu chúng ta luôn bận rộn, cuống cuồng, hối hả với những lo âu hằng ngày? Có phải phần lớn những phức tạp, rắc rối, những lo âu hằng ngày của chúng ta đều liên quan đến chuyện tiền bạc, nhằm giải quyết những nhu cầu vật chất hằng ngày? Mọi băn khoăn, suy nghĩ, thắc mắc, lo lắng… hàng ngày hàng giờ của chúng ta phải chăng chỉ xoay quanh những chuyện cơm ăn, áo mặc, nhà ở, phương tiện đi lại?

Câu hỏi trên khiến chúng ta phải nhìn nhận một thực tế: Tại sao con người ít khi biết đủ? Tại sao lúc nào cũng phải tìm cách thu gom, tích cóp? Phần lớn nguyên nhân lâu nay được quy cho lòng tham vô đáy của con người. Tuy nhiên, chúng tôi thiết nghĩ, nguyên nhân trước tiên là do nỗi lo sợ bị thiếu thốn.

Cuộc sống vốn dĩ là không thể biết trước! Chúng ta chỉ có thể biết những gì đã xảy ra trong quá khứ và những gì đang diễn ra ở hiện tại, còn cuộc sống tương lai sẽ như thế nào thì không ai dự đoán cụ thể hay chắc chắn được. Ngay cả khi chúng ta mong muốn một cuộc sống phẳng lặng bình yên, thì những bão giông của cuộc đời cũng có thể bất chợt đổ xuống đầu mình. Chính vì nỗi lo lắng rằng tương lai mình có thể gặp chuyện bất trắc, có thể lâm vào cảnh thiếu thốn mà con người mới luôn tìm cách thu gom, tích cóp.

Nhưng thu gom, tích cóp bao nhiêu cũng không cảm thấy đủ. Từ đây, khái niệm “lòng tham vô đáy” mới xuất hiện. Nhu cầu vật chất của chúng ta là không có giới hạn, thành thử lại càng phải thu gom, tích cóp để thỏa mãn nhu cầu của bản thân mình. Từ đó, cuộc sống trở thành những bon chen, giành giật không hơn không kém. Bạn thử nghĩ xem, cuộc sống của chúng ta trên cõi đời này chỉ vỏn vẹn có bao nhiêu năm – không dài lâu bằng cuộc sống của một loài cây cổ thụ nữa, nhưng tại sao lại phải vất vả, mệt mỏi đến thế? Làm sao để thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn này?

Vẫn biết rằng, cuộc sống quanh ta không thiếu gì những người còn nghèo khổ. Vẫn biết rằng, hằng ngày có biết bao nhiêu người lương thiện phải “đổ mồ hôi, sôi nước mắt” mà vẫn chưa đủ ăn. Về vấn đề này, chúng tôi sẽ đề cập đến trong một dịp khác. Ở đây, chúng tôi chỉ muốn nói đến những con người không hề bị áp lực của những gánh nặng cuộc sống. Họ vẫn có của ăn của để, không thiếu thốn chi. Thế nhưng, họ lại coi việc chạy theo nhu cầu vật chất là điều đáng quan tâm bậc nhất trong cuộc sống, ngoài ra không có điều gì khác đáng để quan tâm cả!

Ý nghĩa cuộc sống của bạn chắc chắn không thể đo đếm bằng khối lượng hay giá trị tài sản mà bạn sở hữu. Trong cuộc sống, mọi thứ luôn biến đổi. Ngày hôm nay tài sản nằm trong tay bạn, nhưng ngày mai nó có thể nằm trong tay người khác. Nhận thức được tính chất mong manh đó, biết nỗ lực tự giải thoát mình khỏi những ràng buộc của nhu cầu vật chất bao nhiêu, chúng ta càng dễ dàng cảm nhận ý nghĩa của cuộc sống bấy nhiêu!
Lại Thế Luyện

Thế giới trong ta...

Bước ngoặt quan trọng nhất trong tiến trình nhận thức của con người có lẽ là khi chúng ta bắt đầu nhận thức về chính bản thân mình. Thay vì đặt những câu hỏi về thế giới quanh ta, mỗi chúng ta đều có một thời điểm bất chợt nào đó quay nhìn lại chính mình và đặt ra những câu hỏi đại loại như “Ta là ai?”, “Tại sao ta sinh ra và chết đi?”, “Đời sống của ta có ý nghĩa gì?”...

Khi nhận thức về chính bản thân mình, chúng ta luôn vấp phải những trở ngại hầu như không thể vượt qua. Chẳng hạn, mọi phương thức hình thành các khái niệm mô tả mà ta đã từng áp dụng cho thế giới vật chất đều trở nên không phù hợp để mô tả về bản thân chúng ta. Khi nhận thức về một sự vật, ta luôn có thể thấy được sự vật ấy hình thành từ bao giờ, hình thành như thế nào, tồn tại trong bao lâu và sẽ hư hoại trong những điều kiện nào. Nhưng với tâm thức chúng ta thì hoàn toàn khác. Chúng ta không thể nói được là ta đã bắt đầu hiện hữu từ bao giờ. Tuy có mối tương quan với thể xác vật lý, nhưng ít người trong chúng ta tin rằng tâm thức ta chỉ bắt đầu hiện hữu từ lúc thể xác này sinh ra và sẽ biến mất hoàn toàn sau khi thể xác này tan rã. Có nhiều lý do để chúng ta không thể chấp nhận một quan niệm như vậy, nhưng ngay cả khi ta chấp nhận thì điều đó dường như lại sẽ làm nảy sinh hàng loạt nghi vấn khác...

Một trong những ưu thế lớn nhất của con người là chúng ta có ngôn ngữ và chữ viết. Nhờ đó mà kiến thức và kinh nghiệm của mỗi chúng ta đều có thể chia sẻ với tất cả những người cùng thế hệ cũng như lưu lại cho nhiều thế hệ về sau. Đồng thời, ta cũng thừa hưởng được vô số những kiến thức và kinh nghiệm của biết bao thế hệ trước đây.

Trong chuỗi trao truyền đó, đã có quá nhiều dữ kiện khiến ta không thể chấp nhận được giả thuyết về một tâm thức đoạn diệt, nghĩa là chỉ giới hạn hoàn toàn trong kiếp sống này. Gần đây nhất là hiện tượng tái sinh có chủ định của các vị Lạt-ma Tây Tạng. Không chỉ được nhiều người trực tiếp chứng kiến, các hiện tượng này còn được ghi chép cụ thể, kèm theo nhiều hình ảnh và có cả các đoạn phim cho phép người xem có thể kiểm chứng được tính xác thực của sự việc. Ngoài ra, người ta cũng ghi nhận được rất nhiều trường hợp đặc biệt của những trẻ em có khả năng nhớ lại chính xác một số chi tiết trong đời sống trước đây của chúng. Mặc dù khoa học hiện nay vẫn chưa giải thích được một cách cụ thể về nguyên nhân dẫn đến những trường hợp này, nhưng việc bác bỏ những sự kiện hiển nhiên như thế là điều không thể được.

Nhưng ngay cả trong trường hợp chúng ta không chấp nhận các sự kiện nêu trên và nhất định tin rằng đời sống con người chỉ giới hạn trong phạm vi của một kiếp sống, thì việc tìm ra một ý nghĩa cho sự hiện hữu của mỗi chúng ta trong cuộc đời lại càng trở nên khó khăn hơn. Lẽ nào chúng ta chỉ sinh ra và chết đi như một sự ngẫu nhiên? Và nếu như thế thì sự nỗ lực hoàn thiện bản thân hay xây dựng cộng đồng nào có ích lợi gì, vì tất cả rồi sẽ không còn ý nghĩa gì cả khi ta đã đi qua hết những năm tháng ngắn ngủi của cuộc đời này. Chỉ cần nghĩ đến điều đó thôi, có lẽ chúng ta đã có thể hoàn toàn mất đi tất cả những động cơ cần thiết cho đời sống. Và như vậy, trong một chừng mực nào đó thì đây là một cách suy nghĩ hết sức tai hại.

Trở lại với vấn đề ý nghĩa cuộc sống, hầu hết chúng ta hẳn không ai có thể hài lòng với cái vòng luẩn quẩn “ăn để sống và sống để ăn”. Khả năng nhận thức về cuộc sống và chính bản thân mình giúp ta thấy được nhiều ý nghĩa và mục tiêu cao cả hơn là việc chỉ đơn thuần kiếm sống qua ngày. Vì thế, việc đi tìm một lý tưởng cho đời sống hầu như có thể xem là bản năng tinh thần của hết thảy mọi người. Chúng ta khó lòng hình dung được một con người với khả năng tư duy nghiêm túc lại có thể chấp nhận một cuộc sống không mục tiêu, không lý tưởng.

Thế nhưng, mọi lý tưởng hay quan điểm sống dường như đều phải xuất phát từ nhận thức cơ bản nhất về chính bản thân ta, dựa trên mối quan hệ phân biệt giữa bản thân và thế giới chung quanh. Chính vì vậy mà nhân loại đã nảy sinh ít nhất là hai quan điểm khác biệt nhau như đã đề cập đến trong chương trước: duy tâm và duy vật.

Những người theo quan điểm duy vật không thể bác bỏ hoàn toàn quan điểm duy tâm, vì có những sự thật hiển nhiên đã từng xảy ra nhưng họ không thể giải thích được. Nhưng ngược lại thì những người duy tâm cũng không thể thuyết phục được những người duy vật, vì những gì họ tin nhận đã không được chứng minh cụ thể bằng cái gọi là “những quy luật khách quan”. Và do đó, tình trạng “đường ai nấy đi” trong cuộc tranh cãi bất phân thắng bại này có lẽ sẽ vẫn còn kéo dài dai dẳng không có hồi kết thúc.

Nhưng từ một góc nhìn khách quan và toàn diện hơn thì các quan điểm duy tâm hay duy vật thật ra đều không giúp chúng ta giải quyết được vấn đề quan trọng nhất của đời người, không giúp chúng ta nhận chân được ý nghĩa thực sự của cuộc đời. Hơn thế nữa, có vẻ như việc chạy theo các ý tưởng về duy tâm hay duy vật còn khiến cho rất nhiều người trong chúng ta bị lệch hướng.

Đức Phật đã gián tiếp chỉ cho ta thấy sự lệch hướng này khi ngài hoàn toàn không đề cập đến duy tâm hay duy vật mà chỉ nhấn mạnh vào sự phân tích và nhận hiểu về chính tâm thức con người. Như đã nói, cả hai quan điểm duy tâm và duy vật đều dựa trên ý niệm căn bản đầu tiên là phân biệt giữa chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức. Xuất phát từ sự phân biệt này, mọi hành vi ứng xử của ta đều hình thành xoay quanh một “bản ngã” được xem là trung tâm điểm và quan trọng nhất. Nói cách khác, dù là duy tâm hay duy vật thì “cái ta” vẫn là quan trọng hơn “người khác”, vẫn cần phải được quan tâm trước tiên. Và như vậy, sự khác biệt về quan điểm chỉ có thể dẫn đến những cung cách hành xử có phần nào đó khác biệt nhau, nhưng về nền tảng cơ bản thì lại không có gì khác biệt.

Và cái nền tảng cơ bản được xây dựng trên quan điểm về một “bản ngã có thật” đó chính là đầu mối của mọi sự khổ đau và bất ổn mà chúng ta luôn tự chuốc lấy về mình. Mọi sự công kích hay gây hại nhắm đến cái “bản ngã” đó đương nhiên được xem là đang nhằm vào ta, đang tấn công ta, và vì thế ta cần có những phản ứng thích hợp để tự bảo vệ.

Nhưng liệu cái “bản ngã” mà ta mặc nhiên thừa nhận đó có thực sự chính là ta? Đức Phật đã quán chiếu rõ về điều này và bằng kinh nghiệm thực chứng của bản thân, ngài dạy rằng cái “bản ngã” đó là hoàn toàn không thật có. Hơn thế nữa, sự nhầm lẫn cho rằng “bản ngã” đó thật có lại chính là nguyên nhân dẫn đến tất cả những ưu phiền khổ não trong đời sống. Trong kinh Pháp cú, đức Phật dạy rõ ý nghĩa này:

Con tôi, tài sản tôi,
Người ngu sinh ưu não.
Tự ta, ta không có,
Con đâu, tài sản đâu?
(Kinh Pháp cú, kệ số 62, bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu)

Khi ngay từ nền tảng cái “ta” đã là không có, thì làm gì có những hệ quả tiếp theo như “vợ con của ta”, “tài sản của ta”...? Và khi tất cả những thứ “của ta” đó vốn đã là không có, thì dựa vào đâu ta có thể khởi tâm tham đắm, vướng mắc? Như thế, mọi ưu sầu khổ não sẽ không còn lý do để sinh khởi, mở ra một cuộc sống ung dung tự tại mà không cần đến bất kỳ một phép mầu hay sự cứu rỗi nào.

Tiếc thay, một chân lý sáng tỏ như thế nhưng lại có rất ít người trong chúng ta có thể thực sự nghiêm túc nhận hiểu và làm theo. Vì sao vậy?

Đó là vì sự nhận hiểu về một “bản ngã thật có” đã ăn sâu trong tâm thức chúng ta từ nhiều đời, nhiều kiếp, đến nỗi ta hầu như đã mặc nhiên xem đó như một phần nhận thức không thể thay đổi! Hơn thế nữa, suy luận thông thường của chúng ta dường như rất ít khi chạm đến những điểm vốn là hoàn toàn không hợp lý trong sự hình thành khái niệm về bản ngã.
Nguyên Minh

Cái vòng luẩn quẩn

Có một thầy giáo trong trường đại học đã từng đứng trên bục giảng nói với gần trăm sinh viên, trong đó có ta rằng: “Sống để làm gì? Sống có phải là chạy vào trong cái vòng luẩn quẩn của cuộc đời mà chính chúng ta tạo ra?”

Để diễn đạt ý tứ trong câu nói đó, thầy nói tiếp:

-  “Ta sống để làm gì?

-  Ta sống để kiếm thật nhiều tiền.

-  Kiếm thật nhiều tiền để làm gì?

-  Kiếm thật nhiều tiền để ăn ở cho sướng.

-  Kiếm thật nhiều tiền để mua xe xịn đi cho sướng.

-  Kiếm thật nhiều tiền để có bạn gái đẹp yêu cho sướng.

-  Ăn ở cho sướng để làm gì?

-  Đi xe xịn để làm gì?

-  Bạn gái đẹp để làm gì?

-  Để kiếm thêm nhiều tiền hơn nữa.

-  Kiếm nhiều tiền hơn nữa để làm gì?

-  Lại để ăn ở cho sướng.

-  Lại để có được nhiều cái khác nữa cho sướng.

-  Sướng để làm gì tiếp?

-  Sướng lại để kiếm thật nhiều tiền nữa.

-  Rồi ta vô tình bị đẩy vào cái vòng luẩn quẩn mà mãi mãi không thoát ra được.”

Khi thầy nói tới đây, ta giật mình và thấy được sự lợi hại của “cái vòng luẩn quẩn”. Nhưng lúc đó, và có thể là bây giờ ta chưa hiểu biết được hết cái vòng luẩn quẩn đó tại sao lại khiến con người ta chìm đắm trong đó như một điều hiển nhiên mà mỗi người đều phải thế.

Đến bây giờ, nhìn những sự việc và con người xung quanh, ta lại hiểu thêm một chút về “cái vòng luẩn quẩn” đó.

Trong ta, tồn tại “thất tình lục dục”. Chính bởi vì có thất tình lục dục mà ta bị hút vào trong cái vòng luẩn quẩn đó.

Vì ta mong muốn tìm thấy vị ngọt – cái vị làm ta thấy một chút thỏa mãn. Một chút thỏa mãn đó lại mang lại cho ta vị ngọt. Mà ta không bao giờ biết thỏa mãn bao nhiêu cho đủ, ngọt bao nhiêu cho vừa nên ta lại tiếp tục tìm kiếm nó. Ta không thích vị đắng, vì chỉ một chút đắng cay thôi cũng làm ta thấy như tất cả sụp đổ. Chỉ một chút đắng cay thôi ta cũng để hết tâm tư và trí óc để suy nghĩ và nó lấn át gần như tất cả. Rồi ta lại luẩn quẩn.

Cái công cuộc tìm kiếm vị ngọt trong cuộc đời có thể làm cho ta vui vẻ, hạnh phúc nhưng cũng làm ta đau khổ và tuyệt vọng.

Ta vui khi vị ngọt đến với ta, ta tận hưởng được nó. Như khi ta có được người yêu đẹp, có được công việc tốt và kiếm được nhiều tiền, có được danh tiếng trong xã hội… Những điều này thật to lớn và đẹp đẽ trong tâm tưởng của ta, đến mức ta bị chúng che mờ đi đôi mắt mà vô tình không thấy những thứ khác liên quan tới ta, những thứ không phải chỉ là vị ngọt.

Nhưng khi cuộc sống không như ý muốn vì những lý do khách quan hay chủ quan, chỉ một chút vị đắng thôi cũng làm ta buồn khổ, than vãn và oán trách. Ta tuyệt vọng khi mất đi người yêu. Ta buồn chán khi không có được công việc và không có thu nhập cao, ta cảm thấy kém cỏi và bất tài khi không có tiếng nói… Ta bị một chút đắng đó làm quên đi những vị ngọt khác trong cuộc đời.

Ta giờ đây đã biết được rằng, muốn tránh được cái vòng luẩn quẩn đó thì không được để một điều gì đó là tất cả. Không thể đem niềm vui, hạnh phúc trong cuộc đời mà gắn với một điều gì đó và một điều gì đó nếu có mang lại sự đau buồn thì nó cũng chỉ là một nỗi buồn. Ta biết được rằng mất đi người con gái đã từng yêu không phải là mất đi người mình cần yêu trong cuộc đời, không có nghĩa là mất đi tình yêu. Vì tình yêu không phải chỉ là tình yêu nam nữ và càng không phải là chỉ yêu một người con gái. Không có được công việc và thành công ở hiện tại không phải là cả đời ta không có thành công. Hiện tại ta là một người tầm thường trong xã hội không có nghĩa ta tầm thường vời tất cả mọi người, vì chắc chắn răng ít nhất ta nhận được sự coi trọng bởi một ai đó và cũng không chắc chắn là cả đời ta sẽ tầm thường như vậy… Và tất cả những điều đó đều có trường hợp ngược lại.

Câu cuối cùng mà người thầy đó nói về cái vòng luẩn quẩn đó là: “Các bạn nên tìm niềm vui sướng từ những thứ thật đơn giản và cảm nhận nó. Sống như vậy đó!”  Đúng là chỉ cần đơn giản như vậy thôi, cứ sống một cách tự do tự tại về tâm hồn lẫn thể xác. Ta cần bỏ đi những điều làm ta cảm thấy gò bó, cần làm những gì ta muốn và ta không được để cuộc đời sắp xếp ta. Như vậy đó!

Nhưng ta biết và hiểu thêm về cái vòng luẩn quẩn đó như vậy, nhưng ta có thật sự thoát ra được chưa? Điều này ta thực sự không biết!

Bánh bò nướng chay - Kim

banhbonuongchay

Nguyên liệu:

-300g rice flour

-100g tapioca starch

-300ml nước ấm

-1 tsp dry yeast

-300g đường nâu

-300ml coconut milk/cream

-1 tsp vanila flavor

Cách làm:

- Cho bột năng, bột gạo, yeast với vanilla vô cái tô thật lớn rồi trộn chung với  nước ấm để nghỉ khoảng 2 tiếng.

- Cho đường vào nồi, chế nước cốt dừa vào, bắt lên bếp nấu cho tan đường, nhắc xuống để đường hơi nguội.

- Cho hỗn hợp nước đường này vào thau bột, trộn đều, xong đem ủ tiếp 2 tiếng khi thấy bột nổi bong bóng li ti là được.

- Bỏ khuôn vào oven preheat ở 350 độ F, sau khi khuôn đã nóng thì mở lò quét 1 lớp dầu vào khuôn rồi đổ hỗn hợp bột vào khuôn , (nhớ lấy cái rổ có lỗ nhỏ, múc bột chế từ từ vào khuôn để cho ra rễ tre). Dùng loại khuôn none stick càng tốt.

-  Nướng bánh từ 45 tới 55 phút, khi thấy mặt trên của bánh đã vàng, dùng tăm tre xâm vào bánh, thấy bột bánh không dính tăm là bánh đã chín.

Kim

Trống rỗng, hư vô

Cuộc sống con người hiện đại dường như được lập trình sẵn theo công thức: sáng đi làm, chiều tan ca. Giữa những bề bộn của đời sống đôi khi con người thường thấy buồn chán, trống rỗng. Dù có rất nhiều hoạt động, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí như xem ti vi, hát karaoke, leo núi, đi du lịch nhưng vẫn không thể bù đắp được sự trống rỗng trong tâm hồn, ta không biết làm thế nào để lấp đầy khoảng trống đó.

Cuộc sống con người hiện đại là vậy, cuộc sống người xưa cũng chẳng có gì khác và cuộc sống của con người tương lai cũng sẽ như thế. Vấn đề tại sao ta cảm thấy trống rỗng? Trống rỗng là cảm giác như thế nào?

Khi cơm ăn đã no, quần áo luôn đủ mặc, có nhà để ở, có xe cộ để đi lại, đời sống vật chất đã tạm thì con người sẽ ý thức đến mục đích đời sống là gì. Và khi một người không biết mình tồn tại trên thế gian này vì mục đích gì, người đó sẽ cảm thấy mình trống rỗng.

Trống rỗng, buồn chán chính là do con người không ngừng theo đuổi những thứ tốt hơn so với hiện tại. Những theo đuổi sẽ không có điểm dừng, nếu với tâm lý theo đuổi như thế đến khi cận kề cái chết người đó vẫn sẽ cảm thấy trống rỗng.

Hãy nhìn lại bản thân, tất cả đều đến từ mối quan hệ nhân quả: những gì có được bây giờ đều là do quá khứ tạo nên, tương lai có được những gì là do hiện tại mình làm. Khi một người sống không có mục đích, sống không ý nghĩa, họ sẽ thấy cuộc sống trống rỗng, thậm chí họ sống chỉ là một cái xác không hồn.

Nhân loại hôm nay đã tự soi vào mình để phát giác ra rằng: mình đang hiện hữu trong một nghiệp dĩ khổ đau, giữa một xã hội phi lý bất ổn, trong một vũ trụ vật lý vô nghĩa ma sát giới hạn khắt khe sinh mạng con người. Tâm trạng này đang vò xé con người, tạo ra một nguồn tư tưởng cô đơn tuyệt vọng!

Mọi tinh thần giá trị cũ đương bị con người bôi xóa. Hệ thống duy thần bị coi là lạc hậu. Hệ thống duy vật tàn ác phi nhân đã bị vượt dưới nhận thức toàn diện của nhân loại tiến bộ. Phong trào hiện sinh của thời đại thì quan niệm thân phận con người hiện hữu đầy khổ đau tuyệt vọng, cuộc đời là phi lý, buồn nôn, chẳng có chi là hiện hữu đích thực cả, và còn đặt con người, cuộc đời trước một sự kiện đã rồi, để phó mặc cho hư vô vây khốn, choán ngợp vũ trụ.

Do đó, nhân loại hiện nay đương trong vòng bế tắc, chưa tìm được tư tưởng chỉ đạo cho cuộc sống con người, nên đã, đương rơi vào trạng thái hoài nghi buồn chán: con người cảm thấy mình sống lạc lõng trong một vũ trụ vô thường ảo hóa, sống bằng kiếp người thống khổ mong manh, sống giữa một xã hội bất công cùng cực!

Ba mâu thuẫn của con người hiện đại

Con người hiện đại là một con người đầy mâu thuẫn. Do kinh tế phát triển, đặc biệt là ở các nước phương Tây, con người hiện đại trở thành giàu có, rất giàu có. Anh ta có TV, tủ lạnh, xe hơi, xe máy v.v… nhà cửa đàng hoàng. Thế nhưng, trái ngược với đời sống vật chất đầy tiện nghi ở bên ngoài, đời sống nội tâm của anh ta rất là nghèo nàn. Một đời sống nội tâm ngày càng trống vắng, mà anh ta tìm mọi cách lấp đầy, nhưng không thể. Không khác gì, đã khát nước mà lại ăn mặn.

Đấy là lý do của sự bùng nổ công nghiệp giải trí trong các nước, đặc biệt là những nước phát triển cao. Đây cũng là lý do dẫn tới những tệ nạn xã hội, tầm cỡ quốc gia và quốc tế. Ma túy, mãi dâm kể cả mãi dâm trẻ em v.v…rất thịnh hành ở các nước giàu có, những nơi con người có tất cả, chỉ trừ không có hạnh phúc, và đời sống nội tâm trống vắng, nghèo nàn. Đó là mâu thuẫn thứ nhất, đang làm cuộc sống của con người hiện đại rối bời, không còn có ý nghĩa gì nữa. Hưởng thụ cũng là một thứ giải trí. Con người hiện đại là con người hưởng thụ.

“Tôi không cần biết bản thân tôi là ai nữa, vì luôn luôn tôi bận hưởng thụ” Erich Fromm, nhà phân tâm học người Đức (1900) đã viết như vậy về con người hiện đại, trong bài “Điều kiệân con người hiện nay” (The present human condition) .

Con người hiện đại chỉ là cái máy hưởng thụ. Con người hiện đại biến thành con người máy. Đúng là con người máy không có nổi loạn, nhưng “nó sẽ trở thành những con quỷ, nó sẽ tiêu diệt thế giới của nó và bản thân nó, vì không thể chịu đựng hơn nữa sự buồn chán của một cuộc sống vô nghĩa”. Erich Fromm đã viết tiếp như vậy về tương lai của xã hội hiện đại và con người hiện đại. (Xem “The present human condition”, trang 77).

Và đây là mâu thuẫn thứ hai của con người hiện đại, một xã hội trong đó, máy móc làm việc thay người. Nhưng bản thân con người lại biến thành một cái máy, thường là bị chi phối bởi những dục vọng thấp hèn nhất của con người. Con người máy thật đáng sợ, vì nhàm chán cùng cực cuộc đời vô nghĩa, thậm chí, để trốn thoát tâm lý nhàm chán đó, có những ngươi đã chọn lối sống như súc vật!

“Con người chọn lối sống như súc vật là để tránh nổi đau khổ làm người”. Bác sĩ Samuel Johnson đã trả lời như vậy, khi được hỏi “Vì sao lại có những con người sống như súc vật?” (Xem “Buddhism and Money” (Phật giáo và đồng tiền)–David Leloy, trang 298, và “Buddhist Ethics and society” (Đạo đức Phật giáo và xã hội)).

Còn sau đây là mâu thuẫn thứ ba của con người hiện đại. Con người hiện đại biết nhiều thứ, và hiểu biết nhanh chóng với tốc độ điện tử. Biết nhiều và nhanh chóng đến mức không kịp lựa chọn và tiêu hóa những thông tin dồn dập tới với mình.

Biết nhiều như vậy, nhưng cái cần thiết thì lại không biết: Con người hiện đại không biết chung sống hòa bình với nhau, không biết tôn trọng những tín ngưỡng khác mình, những lý tưởng sống khác với mình, không chịu đựng nổi những phong tục tập quán khác với phong tục tập quán của mình.

Sưu tầm từ net

Văn hóa “Giả Vờ” ở Việt Nam

Sống trong một đất nước lúc nào cũng lo sợ bị “Ăn Cắp” và phải cố tập cho mình tính “Giả Vờ”… thật là “Đau Đầu”, “Nhức Óc”!!. Bài viết phiếm luận nầy rất hay vì nói lên đầy đủ những tệ trạng của một xã hội KHÔNG CÒN NHÂN TÍNH CON NGƯỜI.

Tôi không bênh vực những Tiếp viên Hàng không bằng lý do ngô nghê là họ phải đút lót để đựơc có việc làm trong Air VN, nên họ phải buôn lậu chuyển hàng ăn cắp để gỡ vốn chứ! Mà tôi thực sự thương hại họ, vì ” Quít trồng Giang Nam thì ngọt, trồng Giang Bắc lại chua!”

Ngay khi chào đời, họ đã bị sinh ra trong một bệnh viện “ăn cắp”: Bác sĩ, Y tá “ăn cắp” phong bì của bệnh nhân, “ăn cắp” thuốc tiêm chủng ngừa bằng cách chia phân lượng thuốc tiêm ra nhiều phần, không đủ tiêu chuẩn, “ăn cắp” thủy tinh thể nhân tạo của Mỹ, rồi thay thế bằng sản phẩm Ấn Độ để “ăn cắp” giá tiền sai biệt.

Khi lớn lên, họ lại đi học trong những trường học “ăn cắp”: Giáo sư “ăn cắp” công trình trí tuệ của người khác, học sinh, Sinh viên “ăn cắp” bảng điểm, “ăn cắp” bằng cấp dỏm bằng phong bì.

Khi bắt đầu bước vào xã hội, bước đầu tiên, họ đã bị Lãnh đạo “ăn cắp” tiền đút lót để được có việc làm, nên họ phải tiến vào quỹ đạo ăn cắp, họ ăn cắp dự án, ăn cắp đất của nông dân, họ ăn cắp tiền phạt giao thông, họ ăn cắp sinh mạng của người dân bằng tra tấn, nhục hình …..

Vì vậy, khi tôi nhìn thấy những cô Ca sĩ, Hoa hậu, Người mẫu, vênh váo khoe khoang quần áo, túi xách, giầy dép hàng hiệu, xe “khủng”, nhà “khủng”, tôi thương hại họ quá, họ cũng bị “ăn cắp” trinh tiết, bị “ăn cắp” phẩm giá, anh ạ! Tôi có con gái, và con gái tôi may mắn, được giáo dục tại trường học phân biệt điều phải, điều trái, được tôn trọng nhân phẩm.

Khi về Việt Nam, nhiều lần, xe người bạn chở tôi đi, bị công an thổi còi, rồi công an vòi vĩnh, xòe tay cầm tiền hối lộ. Tôi rơi nước mắt, họ còn nhỏ tuổi hơn con trai tôi. Con trai tôi có công ăn việc làm, nuôi con cái bằng chính sức lao động của mình, dạy con, làm gương cho con bằng chính nhân cách của mình. Những người công an trẻ đó cũng bị “ăn cắp” lương tâm, phải không anh?. Khi những người công an, đánh người, giết người, họ được bố thí trả công bằng vài bữa ăn nhậu, chút đồng tiền rơi rớt.

Khi những phóng viên, bẻ cong ngòi bút, viết xuống những điều trái với lương tâm, sự thật để được bố thí trả công bằng những nấc thang chức vị, những đồng lương tanh tưởi, nhà văn Vũ Hạnh đã gọi đó là “Bút Máu” đấy anh ơi!

Khi những quan tòa, đổi trắng thay đen, cầm cán cân công lý có chứa thủy ngân như trong truyện cổ Việt Nam, họ cũng bị “ăn cắp” nhân tính mất rồi!

Trong xã hội, toàn là “ăn cắp”, vậy thì kẻ cắp là ai? Ai cũng biết, nhưng giả vờ không biết, Vì Văn hóa “giả vờ” là đồng lõa cho xã hội ăn cắp.

Cán bộ lãnh lương 200 đô la một tháng, xây nhà chục triệu đô nhưng giả vờ” đó là công sức lao động tay chân, và trí tuệ, hay quà tặng của cô em “kết nghĩa”? Tôi muốn xin cô em đó cho tôi được làm “con kết nghĩa ” của cô ta quá. Thế mà có những Lãnh đạo, Ủy viên Trung Ương Đảng, Đại biểu Quốc Hội, Ban Nội Chính, Ủy Ban Điều Tra, Quan Tòa “Thiết Diện Vô Tư”, Phóng viên Lề phải, Thành Đoàn, Quân Đội Nhân Dân, Chiến sĩ Công An, Trí thức Yêu Nước, Việt Kiều Yêu Nước sẽ sẵn sàng giả vờ tin vào quà tặng của “cô em kết nghĩa” đó!

Còn có thể trong tương lai, sẽ có nhiều quan chức sẽ nhận được nhà “khủng”, quà tặng của ông anh kết nghĩa, bà chị kết nghĩa, ông bố kết nghĩa, ông cố nội kết nghĩa, khi không tìm ra con người nữa, sẽ tiếp theo con chó kết nghĩa, con trâu kết nghĩa nữa …

Công chúa mặc áo đầm hồng, ưỡn ẹo trên đôi giày cao gót hồng, đi thị sát công trường xây dựng, theo sau là một đoàn Chuyên viên già tuổi tác, thâm niên công vụ, nhưng ai nấy vui vẻ, hớn hở, giả vờ Công chúa là một Chủ tịch tài năng thiên phú, không cần đi học, không cần kinh nghiệm gì cả. Y như tên nhóc Bắc Hàn mặt búng ra sửa Ủn Ỉn, và đoàn tùy tùng Tướng già của thằng con nít đó vậy …

Toàn đảng đều “giả vờ” tin rằng các Hoàng tử, Công chúa đều là thiên tài không đợi tuổi, mặt trẻ ranh mà nhảy lên ngồi trên đầu các nhà cách mạng lão thành, và ai nấy đều “giả vờ” tán tụng khen thơm như múi mít!. Thượng bất chính, hạ tắc loạn:

“Thanh tra, thanh mẹ, thanh gì?
Hễ có phong bì thì Nó “Thank you”!

Tôi buồn lắm, có đôi khi quá tuyệt vọng, tôi tự hỏi, mình có nên quên mình là người Việt Nam như con đà điểu vùi đầu trong cát, như quả chuối ngoài vàng, trong trắng, vì tôi yêu nước Mỹ quá rồi. Nước Mỹ chưa, và có lẽ không bao giờ hoàn hảo, nhưng ở đây, ít nhất không ai có thể “ăn cắp” lương tâm, phẩm giá, và nhân tính của tôi. Tôi được sống như một “CON NGƯỜI” không phải chỉ “giả vờ ” “làm người” đang sống đâu …..

Theo FB Nhan Chinh