Wednesday, November 20, 2013

CÁCH HÓA GIẢI TRẺ KHÓC ĐÊM

Nguyên Nhân Trẻ Khóc Đêm Và Cách Hóa Giải
Có nhiều gia đình có con nhỏ ban ngày thì rất ngoan nhưng ban đêm thì lại hay khóc và có những đứa bé khóc như có người đánh. Sau khi xử lý bằng các mẹo và bằng phong thủy thì gia đình thấy trẻ không khóc đêm nữa và ngủ rất tốt.
 Thời gian vừa qua có rất nhiều cặp vợ chồng nhờ tác giả xem phong thủy nhà cửa cũng như việc giải thích và hóa giải hiện tượng con nhỏ hay khóc đêm.
Có những đứa bé rất ngoan, ngày ăn uống tốt, nhưng cứ đêm xuống là cháu bé khóc to và không ngủ, cũng có những bé cả ngày hay khóc và rất khó nuôi. Hiện tượng trẻ khóc đêm xẩy ra ở những bé mới sinh cho đến tận 2 tuổi. Và khi trẻ khóc đêm nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến sức khỏe của bé cũng như mọi người trong gia đình.
Nguyên nhân của hiện tượng trẻ khóc đêm?
- Theo chuyên gia phong thủy thì hiện tượng trẻ khóc đêm có 2 nguyên nhân chính sau:
1/. Giờ sinh của trẻ phạm vào giờ Dạ Đề
- Trẻ mà sinh vào giờ Dạ Đề thì hay khóc đêm, người hay mệt mỏi, hay co giật.
- Giờ Dạ Đề tính như sau:
+ Mùa Đông sinh vào giờ Mão ( từ 5h - 7h sáng)
+ Mùa Xuân sinh vào giờ Ngọ (từ 11h - 13h trưa)
+ Mùa Hạ sinh vào giờ Dậu ( từ 17h -19h tối)
+ Mùa Thu sinh vào giờ Tí (từ 23h - 1h đêm)
- Cách hóa giải: có 3 cách
+ Cách 1:  Lấy xác con ve sầu chấm vào miệng và chân (trai thì 7 lần, gái thì 9 lần) sau đó sao chín ròn rồi pha nước cho bé uống
+  Cách 2: Lấy cỏ mọc qua thành giếng đào mang về dấu người mẹ đặt xuống bên dưới giường.
+ Cách 3:Lấy 2 tờ giấy màu hồng có tẩm hương thơm để vào áo của bé ( 2 ngày) sau đó mang ra phun ít nước và chờ cho khô thì viết 2 chữ to kín giấy " Điệp An" và tẩm tiếp hương thơm. Xé làm 4 mành/ 1 tờ, mỗi mẹ con 1 nửa để vào người (1 ngày) sau đó đốt lấy tro bôi vào má, vào gót chân và ngực của bé.
 Vài ngày sau thì bé sẽ hết khóc ( Đây là bài thuốc mẹo trong dân gian rất hiệu quả mà lại có tác dụng nhanh)
2/. "Địa khí phong thủy" trong ngôi nhà rất yếu, có nhiều ác xạ và âm khí ( có vong )
- Có nhiều trường hợp khi xem giờ sinh của bé thấy không phạm giờ Dạ Đề nhưng đêm bé hay khóc và con thét lên. Chính vì thế sau khi kiểm tra đại khí của đất tại căn nhà thì thấy địa khí rất âm khí (nhiều tia ác xạ bắn lên trên nhà, nhà có quá nhiều tà khí, có nhà còn có vong hồn vảng vất bên ngoài vào). Chính do địa khí và nhà có nhiều tà khí nên trẻ hay khóc đêm mặc dù sinh không phạm giờ Dạ Đề.
- Cách hóa giải:
+ Dùng Cách thứ 3 như bên trên.
+ Trấn trạch lại ngôi nhà
+ Tẩy uế trừ tà
+ Nâng khí bằng đá phong thủy.

 Sau khi xử lý thì hai ngày sau trẻ hết khóc đêm và ăn uống rất tốt

Dầu Cháo Quẩy – Tổng hợp

ATC: Cùng một ngày mà có hai người giới thiệu món Dầu Cháo Quẩy. DS đăng bài này trước, ngày mai sẽ đăng cách làm kia sau. Dầu cháo quẩy ăn với cháo trắng hình như là đúng điệu nhất. Người Hoa thì ăn với sữa đậu nành nóng. DS thích ăn với cháo chay, bánh cuốn chay, bánh bò hay là ăn quẩy không cũng ngon lắm. Bài giới thiệu của Phan Cẩm Thượng, cách làm của cherryblossoms83 và công thức theo SDA. Mời các bạn cùng nghiên cứu.

image

Vài trăm năm nay, người Việt đã ăn “Dầu cháo quẩy,” nhưng chẳng bao giờ hỏi xuất xứ của nó và coi nó gần như một loại bánh ăn với cháo, mì, bún, phở. Một thứ cứng và ròn không mặn, cũng không ngọt, có vẻ tương phản với các món nấu có nước kia. Ăn với món nước có thể dùng bánh đa nướng như cháo Thanh Hóa, nhưng thế nào cũng không bẳng quẩy Tầu.

Vào thời Tống, bộ tộc Kim ở phương Bắc liên tục quấy rối Trung Hoa. Biết Nhạc Phi là một vị tướng tài ba có khả năng chống được xâm lược, quân Kim bèn mua chuộc tể tướng nhà Tống là Tần Cối ám hại Nhạc Phi. Nhạc Phi chết, người Trung Hoa mất nước, căm giận Tần Cối vô cùng, bèn đúc tượng hai vợ chồng Tần Cối quỳ trước mộ Nhạc Phi. Như thế chưa hả, người ta bèn nặn ra một thứ bánh bột mì cái ngắn cái dài gọi là hai con quỷ, tượng trưng cho vợ chồng Tần Cối, rán trong dầu (giống như hình phạt quẳng vào vạc dầu) rồi đem chiên (rán) cho hả dạ, gọi là "Dầu thiên quỷ," nói theo tiếng Quảng Đông là “Dầu cháo quẩy.” Dầu cháo quẩy ra đời từ đấy và trở thành món ăn kèm với cháo loãng không thể thiếu, nhưng ý nghĩa của nó cũng dần bị lãng quên.

Chiên quẩy là một nghệ thuật, mà cho đến nay người Việt vẫn không tài nào học được. Quẩy Tầu ròn tan, ruột gần như rỗng, các màng kết ngang nên làm cho nó cứng. Bí quyết nằm ở chỗ ủ bột theo thời tiết từng ngày. Và ngay cả người Tầu cũng thường ủ hỏng bột. Lúc đó họ phải cậy đến một chuyên gia đi chữa cho từng chậu bột, như bác sĩ đi khám bệnh vậy. Khi người Tầu phần đông đi khỏi Việt Nam họ mang theo cả bí quyết lạc rang, táo dầm, chí ma phu, ma thầy cố và dầu cháo quẩy. Người Việt cũng thường ăn quẩy, bèn tự chiên lấy. Quẩy Việt vừa to, vừa dầy, vừa nhẽo nhẹt chỉ như một thứ bánh bột mì chiên vụng. Sau 10 năm cải tiến, quẩy Việt đã ngon, ròn hơn, nhưng vẫn phải dùng nhiều bột và kết màng dọc. Nhưng người Việt vẫn còn chưa biết đến một tuyệt chiêu về quẩy nữa, đó là loại quẩy mềm, thường to như cái bánh mì, bên ngoài vàng nhưng bên trong trắng đặc, rất mềm và thơm ngon vô cùng. Một tô cháo thì chỉ cần một chiếc quẩy mềm là đủ. Còn cháo phải nấu thế nào nữa chứ? Không chỉ đơn thuần là một thứ gạo ninh nhừ với nhiều nước!

Theo Phan Cẩm Thượng

Theo cherryblossoms83

Vật Liệu
- 2 cup bột mì all purpose
- 1 tsp muối
- 1 cup nước ấm (khoảng 110 độ F)
- 3 tsp đường
- 2.5 tsp yeast
- 4.5 tsp baking powder
- 1 tbsp high gluten flour (optional)

Cách Làm
- Nước ấm 110 độ F, hòa tan 1 tsp đường và 2.5 tsp yeast cho đều, để ở chỗ ấm khoảng 15 phút cho yeast nổi (hỗn hợp sẽ nổi bọt như khi ủ bánh bò hấp)
- Trộn 2 tsp đường với hỗn hợp yeast cho đều
- Trộn đều muối + baking powder với bột cho đều xong rây vào thau đựng yeast trộn đều (theo cách làm trong video clip ở trên)
- Nếu có máy Kitchen Aid stand mixer có thể dùng doug hook để trộn bột, càng lâu thì càng ngon vì sẽ dai hơn.
- Nếu không có máy thì nhồi bột theo cách chỉ dẫn trong video clip ở trên.
- Sau khi đã nhồi và ủ bột 4 tiếng như chỉ dẫn trong video clip, đem bột ra cán và cắt từng miếng nhỏ. Xếp 2 miếng chồng lên nhau, dùng một que nhỏ nhúng nước đặt lên giữa miếng bột, nhấn mạnh cho hai miếng bột dính với nhau (giống như trong video clip), kéo dài miếng bột, thả vào chảo dầu nóng vừa đúng độ, chiên vàng.
- Chảo cần nhiều dầu và nóng mới thả bột dầu cháo quẩy dọc theo thành chảo vào chiên. Để lửa ở độ cho dầu sôi nhưng không bốc khói. Nhưng nếu dầu nóng quá, bánh sẽ không nở.
- Phải chiên lâu, mỗi chiếc bánh khoảng 10 phút thì bánh mới vàng.

Lưu ý
- Thời gian ủ bột có thể lâu hay mau tùy theo nhiệt độ khi ủ.
- Khi cán bột, nếu thấy bột không giãn khi kéo dài ra mà lại đứt khúc là bột nhồi bị khô, thiếu nước.
- Thỉnh thoảng dùng đũa hất nhẹ để trở mặt miếng dầu cháo quẩy. Nhớ là chỉ hất chứ không kẹp đũa để tránh bột bị xẹp
- Khi chiên thấy bánh không nở xốp, gần như rỗng ruột là bột ủ chưa đủ lâu, chưa nở đúng mức

Theo SDA

Tuesday, November 19, 2013

Thầy

4754221753_fe347a7c44

Có người nhiều phước báu thì tìm ra ngay người Thầy tâm linh của mình từ lúc còn rất nhỏ, có người thì phải đi lòng vòng mất quá nhiều thời gian, có người lại quá bất hạnh mãi đến khi tóc đã bạc, hay nhắm mắt rồi mới biết đến Phật pháp thì đã quá muộn rồi.

Có lẽ không ở đâu trên thế giới chữ Thầy lại có nhiều danh từ  như ở Việt Nam.

Thầy : có nhiều vùng miền ở vùng thôn quê phía Bắc gọi Thầy là Cha (Cha đẻ) ; Thầy dạy chữ (Thầy giáo); Thầy thuốc (Bác sĩ) ; Thầy dạy nghề (truyền nghề) ; Thầy Tâm Linh (các vị tu sĩ) và có cả thầy bói, thầy cúng, thầy phong thủy …

Và đã là con người, trong một kiếp người có lẽ không ai là chưa gặp một người Thầy nào bao giờ cả, kể cả những người chưa bao giờ cắp sách đến trường hay không một lần biết gọi nhưng vẫn có Thầy và gặp Thầy đấy. Bạn cứ ngẫm mà xem !

Là người Việt Nam cứ mỗi độ đông về hay ở phương Nam không có mùa đông đi nữa thì cứ đến tháng 11 hàng năm người người ai cũng nhớ về một người Thầy nào đó của mình cho dù người Thầy ấy hiền từ, nhân hậu, dữ dằn hay là Thầy ‘’máy chém’’* hay một người Thầy khó tính, khắt khe, nghiêm khắc… với trò của mình thì kỷ niệm vui buồn ấy cũng ùa về một thời để mà nhớ.

Nghĩ suy về chữ Thầy thì đúng là Thầy chỉ là một cái nghề, nhưng là ngành nghề đặc biệt, một nghề đòi hỏi hội tụ của nhiều yếu tố tính nhân văn để làm nghề hơn những ngành nghề khác, đó là nghề nhà giáo (dạy chữ, dạy nghề), nghề Thầy thuốc( cứu người), đó là những ngành nghề cao quí nhất, được  mọi người  tôn vinh.

Rất nhiều người, cứ nghĩ rằng trong mỗi đời người chỉ cần học, cần gặp và có  hai người Thầy ấy( Thầy giáo, thầy thuốc) ở bên đã là đủ lắm rồi, cuộc đời mình đã chắc chắn đủ lông cánh bay xa, bay cao và phía trước là cả một bầu trời ngập tràn hạnh phúc.

Nhưng cuộc đời đâu có đơn giản thế, mong muốn của con người là vô cùng tận không ai ít muốn, biết đủ cả. Vì vậy mà người có quyền lực cao nhất là  vua của một nước rồi vẫn chưa đủ, lại muốn làm vua của nhiều nước khác và tham vọng đến bá chủ của thiên hạ. Người giầu rồi thì cứ muốn giầu thêm nữa, thêm nữa ; ai cũng muốn mình là chủ sở hữu của người này, người kia, của đất nước này, của món đồ kia. v.v…

Chính vì vậy mà trên thế giới từ khi con người có mặt ở hành tinh này không bao giờ thôi bớt xung đột  và ham muốn, dẫn tới chiến tranh tàn khốc, không bao giờ bớt ngừng khai thác tài nguyên, thiên nhiên của trái đất một cách không khoa học và thiếu khôn ngoan dẫn đến trái đất bị  thương nghiêm trọng.

Con người sinh sống trong một thời đại mà khoa học đang ở mức tột đỉnh, sự tiện ích của các sản phẩm khoa học mang đến cho loài người trong một thập niên  qua  là vô cùng to lớn mà không ai có thể phủ nhận. Nhưng bên cạnh đó thì tính nhân văn trong mỗi con người trên khắp thế giới lại đang bị xói mòn và tan chảy theo tỉ lệ ngược lại. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc con người ngày càng khổ đau hơn, Chủ nghĩa hưởng thụ và sống thực dụng, sống nhanh đang làm cho lòng thương cảm của con người bị chai lỳ đi, trơ ra trước nỗi bất hạnh của nhân loại. Ta thản nhiên đi, thản nhiên bước qua, ta rụt tay vào  trước  tiếng kêu cứu và bàn tay đang đưa ra van xin ta cứu giúp của đồng loại.

Những người có quyền lực, có nhiều tiền trong tay cũng không hề tìm được hạnh phúc hay được an ổn, bất an luôn rình rập, nói chi đến người nghèo khổ, bệnh tật. Nỗi khổ niềm đau cứ bủa vây ta, giam nhốt ta mà không sao thoát ra được.

     Chỉ khi đó, có nhiều người còn đủ tỉnh táo, mới hốt hoảng đi tìm một người Thầy đó là người Thầy tâm linh, những người Thầy đã và đang đưa chân lý Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo của đức Phật, đế hướng dẫn cho con người thoát khỏi và vượt qua vòng tục lụy mà 2600 năm trước đức Phật đã nhận thấy.

Nhưng không phải ai cũng tìm được những người Thầy chân chính, những người Thầy tâm linh để cho ta nương tựa, để mang Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo để ta đi, để ta vượt qua được những bế tắc, nghịch cảnh hay tư vấn cho ta những phương thức thực tập để ta vượt qua được nỗi khổ niềm đau, để ta đứng dậy đi tiếp và đi vững chắc trên bước đường đời đang chờ ta ở phía trước.

Có người  nhiều phước báu thì tìm ra ngay người Thầy tâm linh của mình từ lúc còn rất nhỏ, có người thì phải đi lòng vòng mất quá nhiều thời gian,  có người lại quá bất hạnh mãi đến khi tóc đã bạc, hay nhắm mắt rồi mới biết đến Phật pháp thì đã quá muộn rồi.

Quan niệm về những người Thầy tâm linh trong thập niên đầu thế kỷ 21 cũng phải cần thay đổi : điều kiện cần và đủ để trở thành một người Thầy tâm linh trong một thế giới toàn cầu này thì phải có trình độ hơn những người mà họ muốn được nghe hướng dẫn. Thầy tâm linh giờ đây không chỉ là gõ mõ, thuộc kinh là đủ và chỉ biết  dừng lại ở lời khuyên người tìm đến bằng những câu quen thuộc ‘’ Con về chịu khó niệm Phật, đừng làm việc ác, chịu khó làm lành… ‘’như vậy vẫn chưa đủ so với những gì mà thế hệ trẻ bây giờ đang đòi hỏi, đang muốn khám phá, đang muốn tìm tòi, đang muốn lựa chọn cho mình một con đường, một tôn giáo vượt trội so với các tôn giáo khác về logic khoa học, để nương tựa trong một thế giới mà mọi sự thay đổi đang  diễn ra hàng ngày, hàng giờ.

Để đạo Phật hòa nhập với cuộc sống và thu hút giới trẻ, giới trí thức đến với đạo Phật. Có rất nhiều Thầy ngày đêm không biết mệt mỏi, trau dồi kiến thức tu học để có trí tuệ  hơn hẳn người cần được tư vấn, giúp đỡ  một cái đầu để trở thành một người Thầy tâm linh đúng nghĩa, đồng thời phải tu tâm, giữ mình trong sạch như người đời nghĩ tưởng : tu sĩ phải là một người rất chuẩn mực về đạo đức thì mới xứng đáng làm người Thầy tâm linh.

Để làm một Thầy giáo, một Thầy thuốc  chân chính đã khó làm một người Thầy tâm linh còn khó gấp vạn lần. Với chỉ một chữ Thầy mà đức Phật đã dạy phải kính Thầy như kính Phật, kính Pháp.

Nhân ngày 20/11 Ngày nhà Giáo Việt Nam tất cả những ai đã nhận Phật làm Thầy điều đó cũng có nghĩa là đã nhận các vị tu sĩ (những người xuất gia) làm Thầy thì hãy cùng chắp tay kính lạy các Thầy với tất cả tấm lòng biết ơn và  ngàn lần xin cám ơn Thầy, người Thầy tâm linh của chúng con.

                               *Thầy "máy chém" thầy giáo cho học sinh rớt môn học nhiều nhất.

Sài Gòn   tháng  11  năm 2013

Giác Hạnh Hoa

http://www.daophatngaynay.com/vn/phatgiao-vn/su-kien-van-de/14324-thay.html

BÍ ẨN PHONG THỦY CỦA VÙNG ĐẤT VƯƠNG GIA

Bí ẩn phong thủy của “vùng đất các vương gia”

Với sự đắc địa về phong thủy, vùng đất này là nơi phát tích 9 đời chúa và 13 đời vua.
Cho đến nay ở Việt Nam chưa có ai sánh được danh tiếng về tài tiên tri và những sấm ký lưu truyền theo dòng lịch sử của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Ông giúp đỡ không chỉ riêng chúa Nguyễn dựng nghiệp lớn với 9 đời chúa, 13 đời vua, mà vạch đường cho chúa Trịnh biết cách “thờ Phật ăn oản”, cho nhà Mạc chạy về “ẩn tại Cao Bằng”. Từ đâu mà Trạng Trình tiên đoán về thế sự và các vùng đất “ẩn long” hoặc sẽ “vạn đại dung thân” chính xác như thế?
Nhà tiên tri bên sông Tuyết Hàn
Có thể nói, ngoài tài năng thiên phú “bất khả tư nghì” ra, ông còn được “đề dẫn” từ lúc trẻ bởi hai nhân vật lớn trong đời ông: người mẹ và người thầy của ông. Về người mẹ, thân mẫu của Trạng là bà Nhữ Thị Thục (con gái của quan thượng thư Nhữ Văn Lan) là người tinh thông về khoa chiêm tinh và dịch lý, đã tự chấm lấy lá số tương lai và biết mình sẽ sinh quý tử.
Nhưng muốn vậy, bà cần phải kết duyên với một người nào đó có cung mệnh tương ứng nên đợi chờ mãi đến ngưỡng cửa của tuổi 30 vẫn chưa lấy ai. Cuối cùng, bà quyết định tự tìm đến ông đồ nho nhà nghèo Nguyễn Văn Định để kết duyên, vì bà đã nhìn ra ông đồ ở chốn thôn dã này là người sẽ cùng bà sinh ra một nhân tài.
Tương truyền trong đêm hợp hôn có trăng sáng, bà ra ngoài trời lấy một cây trúc cắm giữa sân và dặn ông Văn Định khi nào ánh trăng chiếu xuống không còn thấy bóng dưới gốc trúc nữa mới được vào động phòng hoa chúc. Nhưng ông Văn Định không đợi được, đã vội vào ăn nằm với bà khi dưới gốc trúc vẫn còn một chút bóng soi, nên bà trách chồng và bảo nôn nóng như thế chỉ sinh được người con đỗ Trạng, chứ không gây dựng nên nghiệp đế.
Người con đó là Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm 1491, đỗ Trạng nguyên năm 1535 thời Mạc, làm quan đến Thượng thư Bộ Lại, Thái phó, là thầy dạy học của Thái tử Mạc Phúc Hải, được phong tước Trình Tuyền hầu, Trình Quốc công, nên người đời thường gọi Trạng Trình và những tiên tri của ông được tập hợp với tựa: Trình Quốc công sấm ký…
Nguyễn Bỉnh Khiêm theo học với Bảng nhãn Lương Đắc Bằng - một vị quan lớn thanh liêm, chính trực, từ khi thầy rời kinh đô Thăng Long về quê nhà Thanh Hóa mở trường dạy học, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng theo thầy về xứ Thanh. Thầy Lương Đắc Bằng nắm giữ bộ “Thái ất thần kinh” và đã truyền cho Nguyễn Bỉnh Khiêm yếu chỉ của bộ sách đó, cùng những ứng dụng trong lĩnh vực chiêm tinh và tiên đoán liên quan đến khoa địa lý và phong thủy.
Sau này, khi biết trước sự nhiễu nhương của thời cuộc bên ngoài và đầu mối suy sụp trong nội tình nhà Mạc, Trạng Trình đã dâng sớ xin chém 18 kẻ lộng hành nhưng Vua Mạc không chấp thuận, sau đó ông treo mũ từ quan về quê, dựng am Bạch Vân bên bờ sông Tuyết Hàn.
“Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”
Về sau các vua Mạc, chúa Trịnh và cả chúa Nguyễn đều lần lượt phái sứ giả đến am Bạch Vân yết kiến Trạng Trình để xin cố vấn về các giải pháp trước mắt, hoặc tiên tri chỉ dẫn về những điều hệ trọng liên quan đến sự sống còn của họ trong tương lai…

Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân.
Nguyễn Hoàng là con trai của Nguyễn Kim. Nguyễn Kim là người có công lớn đã tập hợp quân tướng khởi nghĩa chống nhà Mạc cướp ngôi và giúp nhà Lê giành được đất Thanh Hóa, Nghệ An – lập nên triều Lê trung hưng. Sau Nguyễn Kim bị tướng nhà Mạc đầu độc chết, quyền hành về tay con rể là Trịnh Kiểm.
Trịnh Kiểm lo sợ các con trai của Nguyễn Kim (là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng) tranh mất quyền của mình nên đã tìm cách ám hại Nguyễn Uông trước. Thấy vậy Nguyễn Hoàng rất lo sợ, xem mình như chim cá trong lồng son, có ngày sẽ bị ám hại như anh mình (Nguyễn Uông).
Vì thế Nguyễn Hoàng đã bí mật sai sứ giả tìm cách lặn lội ra ngoài Bắc, đến yết kiến Trạng Trình xin sấm giải. Trạng Trình dạy: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”. Vâng theo lời ấy, Nguyễn Hoàng nhờ chị ruột là Nguyễn Thị Ngọc Bảo (vợ Trịnh Kiểm) xin với Trịnh Kiểm cho mình vượt Hoành sơn vào trấn thủ vùng Thuận Hóa để tránh xa “dao thớt” của người anh rể họ Trịnh.
Được Trịnh Kiểm đồng ý và Vua Lê cho phép, Nguyễn Hoàng đem gia quyến rời Thanh Hóa năm 34 tuổi (Mậu Ngọ 1558) và cùng tùy tướng của mình chỉ huy hàng nghìn quân bản bộ vượt biển để lại dải Hoành sơn phía sau, tiến về phương Nam ở phía trước, vào thẳng cửa Yên Việt, đóng dinh ở gò Phù Sa, xã Ái Tử, huyện Vũ Xương, thuộc địa phận tỉnh Quảng Trị ngày nay.
Những thập niên đầu trên vùng đất mới, Nguyễn Hoàng ra sức khai hoang lập ấp, ổn định dân tình, giữ quan hệ thuận thảo với Vua Lê, Chúa Trịnh ngoài Bắc, được Vua Lê sắc phong làm Thái phó và giao toàn quyền quyết định mọi việc ở vùng Thuận Hóa, hằng năm nộp thuế 400 cân vàng bạc và 500 tấn lúa.
Nguyễn Hoàng mất năm Quý Sửu 1613, thọ 89 tuổi, trấn thủ đất Thuận Hóa – Quảng Nam trong 56 năm (được truy tôn là Thái tổ Gia dụ hoàng đế), có 10 người con trai. Trước khi mất, Nguyễn Hoàng dặn lại con cháu phải hết sức giữ gìn đất Thuận Quảng vì đó là nơi phía Bắc có Hoành Sơn với thế núi chắn ngang che chở, phía Nam có Hải Vân hùng vĩ là yết hầu đưa sinh khí vào “vùng đất vương gia” (tức kinh thành Phú Xuân - Huế sau này). Có giữ vững Thuận Quảng mới mong dựng nên cơ nghiệp muôn đời như sấm ký của Trạng Trình truyền lại “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”.
Theo các nhà viết sử có uy tín như Trần Trọng Kim thì “núi Hoành sơn tức núi Đèo Ngang ở Quảng Bình” vốn là một nhánh của dãy Trường Sơn đột nhiên kéo đâm ra sát biển. Đứng từ đỉnh cao nhất của Hoành Sơn (khoảng 250m) nhìn bao quát sẽ thấy hiện lên dưới tầm mắt màu xanh ngút ngàn của rừng núi phía Tây, biển rộng mênh mông trải dài như tấm thảm xanh về phía Đông, thấp thoáng những hòn đảo nhỏ nhô lên mặt nước như đang chầu về “sơn lâm”.
Con đường xuyên Đèo Ngang thời trước nằm trên đường thiên lý, cách Đồng Hới khoảng 80 cây số, chạy ngoằn ngoèo qua các sườn đồi cheo leo, men theo vực sâu, đưa người hành trình theo chiều dọc từ hướng Bắc vào Nam. Nhìn dưới góc độ phong thủy, Hoành Sơn đi vào các tài liệu nghiên cứu về địa lý xưa và cả thời nay.
Ngay các tác giả người nước ngoài như học giả Léopold Cadière, chủ bút tạp chí Bulletin des Amis du Vieux Hue, khi luận về các chi tiết phong thủy ứng dụng xây kinh thành Huế đã nhắc đến “Hoành Sơn che chở” từ xa đối với nhà Nguyễn. Những nhà sử học, địa lý học khi viết đến lịch sử triều Nguyễn đều nhắc đến “Hoành Sơn” thời khởi nghiệp.
Nhà phong thủy học Cao Trung khi luận về long mạch trong Tả Ao địa lý toàn thư đã đưa “Hoành Sơn” vào nội dung phân tích và nêu rõ hai phần trong khoa địa lý gồm: Loan đầu và Lý khí. Phần Loan đầu là những gì mắt ta nhìn thấy trên đất đai của toàn thể một cuộc đất kết, hoặc một dòng nước thuận nghịch, một thế núi quanh co.
Nếu cơ nghiệp Chúa Trịnh mở đầu với mối liên hệ về một cuộc đất thuộc vùng “thủy” (nước), thì cơ nghiệp chúa Nguyễn mở đầu với mối liên hệ thuộc vùng “sơn” (núi). Nói về “sơn”, cụ Tả Ao diễn giải nếu thấy núi hình thành theo dạng “một vòng bọc lại” (nhất trùng bão khóa) rồi “một vòng mở ra” (nhất trùng khai) thì ở đó có đất công hầu.
Nếu lại thấy một dạng núi “vòng ôm” (nhất sơn loan bão) rồi “ngoảnh lại” (nhất sơn cố) là ở đó có đất công khanh. Trong tập “Địa lý gia truyền”, cụ Tả Ao cũng chỉ rõ nếu thấy núi cao bao quanh một vùng thì hãy tìm huyệt ở chỗ thấp (chúng sơn cao tầm đê) – còn chung quanh đều thấp thì hãy tầm huyệt ở chỗ cao (chúng sơn đê tầm cao).
Đối chiếu và liên tưởng tới trường hợp “Hoành Sơn”, những chỉ dẫn phong thủy và địa lý nêu tổng quát ở trên cũng cho ta thấy qua phần “loan đầu” (có thể nhìn trực tiếp bằng mắt để đoán định), sau đó đến phần “lý khí” (liên quan đến lý học, thiên văn) chắc hẳn những gì nêu trong “Thái ất thần kinh” đã được vận dụng bởi nhà văn hóa, nhà tiên tri lừng danh nhất trong lịch sử Việt Nam: Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nhờ vậy, cộng với khả năng thiên phú, Trạng Trình đã chỉ đúng con đường phải đi cho chúa Nguyễn.

PTTBST

Monday, November 18, 2013

Cà tím xào tương miso – Tuệ Lan

IMG_5309

Nguyên liệu:

  • 2 trái cà tím cỡ vừa, lựa trái thuôn dài, bóng đều thì cà sẽ non, ít hột.
  • 1 muổng cà phê gừng bằm nhuyễn.
  • 1.5 muỗng cà phê tương miso (hòa chung với 2  muỗi canh nước lạnh cho thành hỗn hợp sền sệt)
  • 1 trái ớt.
  • 1 nhúm lá húng quế.
  • Dầu ăn, tiêu, chút mè trắng đã rang vàng

Thực hiện:

- Cà tím bổ dọc trái, cắt chéo từng lát mỏng chừng 5mm, ngâm vào chậu nước pha chút muối để cà không bị thâm.

- Bắc chảo lên bếp đợi nóng, bỏ chút dầu ăn, bỏ gừng bằm vào khử cho thơm.

- Bỏ cà vào chảo đảo đều tay, bỏ tương miso đã pha với nước, nhớ bỏ từ từ vì độ mặn của các loại tương sẽ khác nhau, lạt chút dễ điều chỉnh hơn. Cho một chút nước sôi vào để cà có nước dễ dẫn nhiệt mau chín và tương miso thấm đều vào cà hơn. Không cần phải nêm thêm gia vị vì tương đã đủ mặn, có thể nêm thêm chút đường cho vừa khẩu vị.

- Tắt bếp, nêm ớt, rau húng quế cắt nhuyễn, mè trắng và tiêu.

- Dùng với cơm trắng khá bắt.

IMG_5304

Cà tím xào tương miso mang lại hương vị mới, khác với cà tím nướng hoặc cà tím xào dầu hào.

Vậy là chúng ta có thêm món chay mới, thay đổi khẩu vị để các bữa cơm chay ngày càng phong phú phải không các bạn?

Tuệ Lan

Sunday, November 17, 2013

Cơm gạo lứt 12 loại và khóa tu niệm Phật tại chùa Giác Lâm 11/2013

12gaolut 029

Gạo này là do một người bạn Đạo gởi tặng, rất quý, nơi DS ở không thấy có bán. Nghe nói bạn ấy nhờ 1 người bạn mua từ Cali. Hôm qua, 16/11/2013, DS nấu đem vô cho đại chúng trong khóa tu niệm Phật thưởng thức. Bạn của DS dạy DS nấu theo kiểu này dễ lắm. Mọi người đều khen ngon. Hạt cơm nở mềm dẻo, ăn nghe lụp bụp rất là thú vị. Cơm nấu xong DS úp ra cái dĩa để dùng nồi nấu đợt hai. Cơm trông giống cái bánh bông lan sô cô la quá hén Smile

Nguyên liệu:

12gaolut 030

  • 5 chén gạo lứt 12 loại
  • 7 chén nước

Cách nấu:

1. Tối vo gạo cho sạch

2. Lường nước cho vô nồi nấu cơm điện (thứ nồi nấu được 10 chén) ngâm qua đêm

3. Sáng dậy bấm nút

4. Mùi thơm bay bát ngát cả nhà, 1 tiếng sau là cơm chín ngon lành

5. Chú ý mình chỉ nấu 5 chén cho nồi nấu được 10 chén thôi nhé vì sợ nó trào ra tùm lum, và nếu nấu nhiều quá cơm sẽ không đủ hơi, không chín. Nếu muốn nấu nhiều thì trút cơm ra, nấu tiếp. Ở đây, DS ngâm gạo trong 2 tô riêng. Nấu 1 lần, rồi trút ra nấu lần nữa.

Các món ăn trong khóa tu hôm nay thật là phong phú mời các bạn thưởng thức nhé:

12gaolut 036

Bơ gơ chay

12gaolut 037

12gaolut 039

1 loại nui, xào 2 kiểu khác nhau

12gaolut 040

Bún xào

12gaolut 041

Mì xào

12gaolut 043

Cải ngọt xào nấm

12gaolut 044

Bắp cải xào

12gaolut 038

Dưa cải xào

12gaolut 042

Măng kho thập cẩm

12gaolut 045

Cháo bạch quả

Có ẩm thực rồi thì phải có pháp thực, chứ không thôi mang tiếng mình đi tu mà chỉ toàn là đi… ăn. Smile

Mấy tháng nay Ni Sư giảng về 37 Phẩm Trợ Đạo:

I. Tứ niệm xứ

II. Tứ chánh cần

III. Tứ như ý túc

IV. Ngũ căn

V. Ngũ lực

VI. Thất bồ đề phần

VII. Bát chánh đạo

I. Tứ niệm xứ: bốn điều ghi nhớ, quán xét

  1. Quán thân bất tịnh
  2. Quán tâm vô thường
  3. Quán pháp vô ngã
  4. Quán thọ thì khổ

II. Tứ chánh cần: 4 pháp siêng năng tinh tấn

  1. Ngăn ngừa các điều ác chưa phát sanh
  2. Dứt trừ các điều ác đã phát sanh
  3. Phát lộ các điều lành chưa phát sanh
  4. Phát triển các điều lành đã phát sanh

III. Tứ như ý túc: bốn phương tiện giúp được như ý

  1. Dục như ý túc
  2. Tinh tấn như ý túc
  3. Nhất tâm như ý túc
  4. Quán như ý túc

IV. Ngũ căn: căn là cội gốc

  1. Tín
  2. Tấn
  3. Niệm
  4. Định
  5. Huệ

V. Ngũ lực: sức mạnh do tu ngũ căn

  1. Tín
  2. Tấn
  3. Niệm
  4. Định
  5. Huệ

VI. Thất bồ đề phần

  1. Trạch pháp giác chi
  2. Tinh tấn giác chi
  3. Hỷ giác chi
  4. Khinh an giác chi
  5. Niệm giác chi
  6. Định giác chi
  7. Xả giác chi

VII. Bát chánh đạo

  1. Chánh kiến
  2. Chánh tư duy
  3. Chánh ngữ
  4. Chánh nghiệp
  5. Chánh mạng
  6. Chánh tinh tấn
  7. Chánh niệm
  8. Chánh định

Còn tiếp…

http://www.lotuspro.net/niemphat37.htm

Friday, November 15, 2013

Hải Triều Âm Cảnh Sách

htacanhsach0 001

htacanhsach 001

Kỷ niệm Thầy (Sư Bà Hải Triều Âm) cho 4.2.ÂL (2006)

Từ bỏ tham sân si

Không chiều theo sân giận(chấp nhận và cảm thông) tâm sẽ an tịnh bình an. Thánh nhân tuyên bố: thế là việc cần làm đã làm xong. Với chúng ta việc này còn xa lắm. Nhưng hành trình ngàn dậm phải bắt đầu bằng bước đầu tiên.

Hãy tha lỗi, đừng nuôi dưỡng 1 phiền não nào.  Đừng bận lòng đến 1 trái ý nào. Đời sống ngắn ngủi. Rồi ai cũng chết, chúng ta sống chẳng được bao lâu nên cần sống tốt đẹp.

Bệnh tật là cơ hội phát triển đức nhẫn nại. Dù không nói được miệng vẫn gắng tươi cười, tâm vẫn quyết định từ bi. Bằng cách này giúp cho mọi người an vui trong hiện tại. Vui vẻ chấp nhận bệnh tật thì cuối cùng sẽ vui vẻ ra đi.

Hiểu rõ thế gian vô thường, ta thấy được chân lý của cuộc đời. Biết ơn lòng tốt của mọi người, ta thương yêu cha mẹ sâu đậm hơn. Khiêm tốn kiên nhẫn, quý trọng, hòa hợp với mọi người chung quanh.

Thân nằm bệnh, tâm vẫn giữ chánh niệm bằng hơi thở. Hoặc rải từ bi bằng cách niệm niệm nguyện cho tất cả chúng sanh an vui. Người trí tuệ chịu cơn đau của bệnh hoạn như vậy là đang đi con đường về Niết Bàn ngày mai.

Cố gắng giữ sự tha thứ làm hàng đầu. Nước mắt cùng mặn. Máu cùng đỏ. Đang cùng ở trong vô minh luân hồi. Nên từ bi thông cảm để huynh đệ cùng an vui.

Con bò cạp bị rớt trong nước. Một người đưa tay vớt, bị nó kẹp. Loay hoay thế nào bò cạp lại bị rớt xuống nước. Người lại vớt, lại bị kẹp. Làm sao ngu thế? Đã bị kẹp mà còn vớt? – Thưa bản chất của bò cạp là kẹp. Bản chất của người là cứu vớt. Từ bi dù bị đáp bằng tệ bạc vẫn tha thứ không phiền trách. Nhưng từ nay sáng suốt hơn, dùng cành lá để cứu vớt. Không bị kẹp, sẽ còn cứu giúp bò cạp vào những dịp khác.

Cố gắng vun bồi Từ Bi thì tông phái, mầu da, chủng tộc v.v. đâu có thể phân chia. Thành kiến, ích kỷ, sợ hãi… sẽ tiêu tan. Từ bi hàn gắn các vết thương cho dù chưa hoàn toàn. Ta vẫn hài lòng vui vẻ vì ta đã cố gắng.

Không gì quý hơn là vâng lời Phật dạy: giữ tâm trong sạch từ bi. Giữ giới sát sanh, tôn trọng sanh mạng, yêu mến và bảo vệ sự sống./.

Đây là bài viết bằng tay của Sư Bà Hải Triều Âm.