Tuesday, September 2, 2014

NHỮNG CON BÒ VÀ LUẬN ĐIỆU CŨ RÍCH

Quốc Khánh, ngày mà nếu ai là một công dân bình thường nhất cũng thấy vui và tự hào, nhưng ngược lại cũng có những "công dân không bình thường" chỉ chờ đến ngày để chọc phá người khác ăn mừng.



Tiên phong của những "công dân không bình thường" ấy là các nhà "dân chủ", các nhà Bốc Đồng Chánh Kiến, một trong luận điệu được lặp đi lặp lại trong mỗi dịp Tết Độc Lập đó là:

Việt Minh giành chính quyền từ tay chính phủ "trung lập" Trần Trọng Kim và vua Bảo Đại, chứ không phải từ tay Nhật, Pháp. (Sản phẩm của Nhật ký yêu nước)

Nhật đã trao trả độc lập cho Việt Nam (chính phủ Trần Trọng Kim) vào ngày 11/3/1945 vậy thì ngày độc lập phải là 11/3 mới đúng. (Việt Tân - bọn này thì không phải công dân Việt Nam)

Những con bò, loài động vật nhai lại, ngày chúng đi ăn, đêm đến ợ ra nhai lại số thức ăn đó. Đám người này cũng vậy, lúc cả nước hân hoan cháo đón ngày lễ trọng đại của dân tộc, cũng là lúc họ ợ ra những luận điệu cũ rích.

Câu chuyện về Trần Trọng Kim, Bảo Đại, phàm những người đã bỏ chút thời gian để tìm hiểu lịch sử thì ai cũng biết. Nhà Nguyễn đã là bù nhìn sau thời vua Duy Tân, Bảo Đại cũng không ngoại lệ, Trần Trọng Kim là chính phủ bù nhìn do Nhật dựng lên, điều đó chẳng còn gì mới mẻ nữa.

Năm ngoái, có một chút "mơi mới" đến từ một fanpage trên facebook là Nhật Ký Yêu Nước (một trang của tàn dư Ngụy VNCH núp danh "dân chủ" mà chúng ta thường gọi là Nhật Ký Yêu Nước Mỹ), cùng nội dung trên nhưng với cái tít "NHỮNG ĐIỀU UẨN KHÚC VỀ "CÁCH MẠNG THÁNG 8".

Uẩn khúc, nghe như một bí mật lịch sử động trời vừa mới được phát giác, mà bí mật vừa được phát giác thì dễ gây niềm tin lắm. Mà niềm tin ở thế giới mạng hỗn loạn này (nơi mà người ta cảm tính hơn là lý tính), rẻ hơn cả bèo trên sông Sài Gòn, một cái tít báo không đầu không đuôi cũng tạo cho người ta cái niềm tin như bàn thạch rồi. 


Còn năm nay thì bọn khủng bố Việt Tân lại làm bộ đặt câu hỏi 11/3 và 2/9 đâu mới là ngày độc lập. Link Đây

Bài viết này tôi không dành cho họ, những con bò, vì kiểu gì năm sau họ lại ợ ra để nhai lại. Tôi viết dành cho các bạn trẻ khác, như thể một bài phân tích lịch sử nho nhỏ, trước là để các bạn hiểu rõ vấn đề này, sau là khuyến khích các bạn chủ động tìm hiểu lịch sử đất nước để không bị những "uẩn khúc" tào lao bí đao đánh lừa. 

Quay lại với vấn đề trên, chúng ta lưu ý 3 điểm sau : 

I. Quá trình đấu tranh của Đảng Cộng Sản và nhân dân trước 1945 

Cuộc kháng chiến chống Thực Dân Pháp xâm lược của nước ta, diễn ra theo đúng truyền thống từ ngàn đời, từ Nguyễn Tri Phương đến Hoàng Hoa Thám rồi Tôn Thất Thuyết ... và sau này là Đảng Cộng Sản với sự lãnh đạo của Bác Hồ. 

Khi Đảng Cộng Sản lãnh đạo cách mạng, quy tụ được nhân dân trên cả nước, thực hiện bao nhiêu cuộc khởi nghĩa, từ Xô Viết Nghệ Tĩnh Khởi nghĩa Bắc Sơn, Khởi nghĩa Nam Kỳ, Binh biến Đô Lương , Khởi Nghĩa Ba Tơ , Phong trào Việt Minh lớn mạnh cùng Cao Trào Kháng Nhật .

Bao nhiêu máu xương của nhân dân và chiến sỹ Cộng Sản đã đổ xuống, lúc đó Trần Trọng Kim và Bảo Đại ở đâu? Theo như lập luận của "những con bò" thì Đảng Cộng Sản phải từ "trên trời rơi xuống" giả bộ Kháng Pháp, Kháng Nhật trong 1 tuần lễ, sau đó nhân cơ hội giành chính quyền. Nực cười. 

II. Vai trò lịch sử của Trần Trọng Kim và Bảo Đại 

Sự thật Trần Trọng Kim là ai? Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập như thế nào? Và có vai trò gì trong nền chính trị Việt Nam? Sách lịch sử Việt Nam hiện nay nói rất ít về nhân vật này, sách giáo khoa hiện này của chúng ta thì không hề đề cập, nhưng không khó để tìm hiểu nếu bạn bỏ chút thời gian đọc sách hoặc tìm hiểu trên mạng với những website lịch sử uy tình như Lichsuvietnam.vn 

+ TRẦN TRỌNG KIM (chữ Hán: 陳仲金; 1883–1953) là một học giả danh tiếng, thủ tướng của Đế quốc Việt Nam (1945) và là thủ tướng đầu tiên của Việt Nam. Ông là tác giả của tác phẩm Việt Nam Sử Lược.

+ ĐẾ QUỐC VIỆT NAM là một quốc gia trong lịch sử Việt Nam tồn tại 5 tháng (từ 17 tháng 4, 1945 - 23 tháng 8, 1945) được Nhật Bản hậu thuẫn sau khi triều đình Nhà Nguyễn tuyên bố xóa bỏ Hiệp ước Patenôtre.

Một điều chúng ta phải ý thức rõ ràng rằng NHẬT ĐẦU HÀNG ĐỒNG MINH CHỨ CHƯA ĐẦU HÀNG VIỆT NAM, khi Nhật rút quân, tuyên bố "trao trả độc lập cho Việt Nam" đã thiết lập mô hình chính trị quan chủ lập hiến giống như Nhật Bản đương thời, với bù nhìn Bảo Đại và bù nhìn Trần Trọng Kim. 

Đứng trong bối cảnh thế chiến thứ 2, sau khi Nhật thất bại, lực lượng thay thế phải là Việt Minh ( Việt Nam Độc lập Đồng minh ) một tổ chức của người Việt đứng về Phe Đồng Minh trong cuộc chiến chống Phát Xít, đã thực hiện rất nhiều phong trào, khởi nghĩa ... để kháng Nhật. 

Việc Việt Minh xóa bỏ chính phủ Trần Trọng Kim - Bảo Đại, cũng là xỏa bỏ hoàn toàn sự hiện diện chính trị của Nhật tại Việt Nam. 

III. Ý Nghĩa của Cách Mạng Tháng 8.

Ý nghĩa của một cuộc cách mạng, cụ thể là Cách Mạng Tháng 8 , không chỉ dừng lại ở việc giành chính quyền, mà còn là thay đổi tận gốc rễ xã hội, mang lại lợi ích cho toàn thể nhân dân cần lao. 

Phải dẹp bỏ chế độ phong kiến lạc hậu, cởi bỏ ách đô hộ Nhật - Pháp (một cổ 2 tròng), xây dựng thể chế dân chủ, thiết lập nhà nước thực của người Việt, mang lại cơm gạo cho nhân dân.

Và để thực hiện điều đó, tiên phong phải là một lực lượng được đông đảo nhân dân ủng hộ, vừa vặn thay, lúc đó 99% người dân Việt Nam là công nông, Đảng Cộng Sản cũng từ công nông mà sinh ra, đấu tranh giành quyền lợi cho người thân, đồng bào của mình. 

Và vì thế, mới có được Tổng Khởi Nghĩa, và ngày 2-9 khi Bác Hồ đọc Tuyên Ngôn Độc Lập ở quảng trường Ba Đình cả nước mới hân hoa đến nhường ấy, cơ hoa ngợp trời đến như thế. Trần Trọng Kim và Bảo Đại làm được gì khi mang thân Bù Nhìn, không quân đội, không lòng dân?

IV. Thay cho lời kết, xin đăng lại nguyên văn " Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa" của Chủ Tịch Hồ Chí Minh:

Hỡi đồng bào yêu quý!

Bốn nǎm trước đây, tôi có thư kêu gọi đồng bào ta đoàn kết. Vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được Độc Lập, Tự Do.

Hiện nay quân đội Nhật đã tan rã, phong trào cứu quốc lan tràn khắp nước. Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) có hàng chục triệu đội viên, gồm đủ các tầng lớp sĩ, nông, công, thương, binh, gồm đủ các dân tộc Việt, Thổ, Nùng, Mường, Mán. Trong Việt Minh đồng bào ta bắt tay nhau chặt chẽ, không phân biệt trai, gái, già, trẻ, lương, giáo, giàu, nghèo.

Vừa đây Việt Minh lại triệu tập “Việt Nam quốc dân đại biểu Đại hội”, cử ra Uỷ ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam để lãnh đạo toàn quốc nhân dân kiên quyết đấu tranh kỳ cho nước được độc lập.

Đó là một tiến bộ rất lớn trong lịch sử tranh đấu giải phóng của dân tộc ta từ ngót một thế kỷ nay.

Đó là một điều khiến cho đồng bào ta phấn khởi và riêng tôi hết sức vui mừng.

Nhưng chúng ta chưa thể cho thế là đủ. Cuộc tranh đấu của chúng ta đương còn gay go, dằng dai. Không phải Nhật bại mà bỗng nhiên ta được giải phóng, tự do. Chúng ta vẫn phải ra sức phấn đấu. Chỉ có đoàn kết, phấn đấu, nước ta mới được độc lập.

Việt Minh là cơ sở cho sự đoàn kết, phấn đấu của dân tộc ta trong lúc này. Hãy gia nhập Việt Minh, ủng hộ Việt Minh, làm cho Việt Minh rộng lớn mạnh mẽ.

Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam cũng như Chính phủ lâm thời của ta lúc này. Hãy đoàn kết chung quanh nó, làm cho chính sách và mệnh lệnh của nó được thi hành khắp nước.

Như vậy thì Tổ quốc ta nhất định mau được độc lập, dân tộc ta nhất định mau được tự do.

Hỡi đồng bào yêu quý!

Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta.

Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ.

Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!

Tháng 8 nǎm 1945

Hồ Chí Minh 

Quốc Trung




Monday, September 1, 2014

Lễ nhập nhà mới

Hỏi: Kính thưa Thầy, có gia đình mới cất nhà mới, ăn khánh thành, một số bạn đạo hữu đến tụng kinh làm lễ về nhà mới. Người chủ nhà lại mời thêm một ông Thầy cúng, ông đến bảo mua một con ngựa bằng giấy thật to, khi tụng kinh cầu nguyện xong, lấy 38 đồng tiền chinh để cắt giải, rồi ông Thầy ấy cưỡi ngựa giấy phi quanh nhà.

Thưa Thầy, gia chủ này không phải là không hiểu đạo pháp, thường đi đây, đi đó để hoằng dương Phật pháp, thế mà làm những việc như vậy có gọi là cuồng tín không, thưa Thầy? Hay tại vì lòng tham muốn giàu sang, phúc, lộc hơn nữa, mà làm việc không đúng chánh pháp?

Đáp: Khi cất được ngôi nhà mới, ăn tân gia, mời bạn bè thân hữu đến ăn mừng thì đúng, nhưng bày ra tụng niệm thì không đúng. Tại sao vậy? Tại vì đó là mê tín. Kinh Bát Dương (thuộc kinh sách Đại thừa) có dạy điều mê tín này. Dùng 38 đồng tiền chinh và một con ngựa giấy cưỡi phi quanh nhà, đó là kinh sách của ngoại đạo dạy những điều mê tín lạc hậu.

Vì lòng tin không đúng của con người, nên bị kẻ khác lừa gạt bằng những hình thức tà kiến.

Tại sao chúng ta theo đạo Phật mà không biết cái nào là chánh kiến, cái nào là tà kiến, để lầm lạc biến Phật giáo thành tà kiến, biến Phật giáo thành một thứ Phật giáo mê tín, lạc hậu?

Từ đây về sau, quý phật tử là đệ tử của Phật thì niềm tin chánh kiến phải sâu, không để kẻ khác lừa đảo, chẳng đem lại ích lợi gì cho mình và cho cả gia đình mình. Phải nói đây là một trò bịp bợm, gạt người bằng những hình thức mê tín, xảo thuật. Chỉ có những người vô minh, tham danh, tham lợi mới đi thỉnh những kẻ tà sư, ngoại đạo làm điều chẳng ích lợi gì, như trẻ con cưỡi ngựa chuối!

Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây


Bầu 7 món – Thúy

20140831_093643

Bầu 7 món

20140831_093714

1/ Bầu kho

20140831_093736

2/ Gỏi bầu

20140831_093743

3/ Bầu xào

20140831_093755

4/ Bầu lăn bột

20140831_093806

5/ Bầu luộc

20140831_093823

6/ Bầu chiên

20140831_093813(0)

7/ Canh bầu

Chị Thúy bạn của DS làm bầu 7 món này đây, các bạn trông có ngon không? Mùa hè ở đây có nhiều cây nhà lá vườn lắm, hôm qua ở chùa cũng có người cho mướp, bầu, bí, khổ qua… tha hồ mà làm món. Qua Mỹ ai cũng trở thành nông dân thứ thiệt, trồng xong lo kiếm chỗ tiêu thụ Smile. Mà công nhận, ai trồng gì cũng mát tay hết, DS có duyên với khổ qua và cà, năm nào cũng rất là say trái.

Chúc các bạn một vụ mùa bội thu.

Nam Mô A Di Đà Phật.

Thói "ăn" nếp "ở" của người Việt qua cách nói

Không biết có phải do hoàn cảnh thiếu ăn thiếu mặc từ xa xưa, mà người Á đông nói chung, người Việt nói riêng, đặc biệt quan tâm tới miếng ăn. Ăn không phải chỉ để sinh tồn, mà còn để hưởng thụ: Ăn đứng đầu tứ khoái. Ăn cho sướng miệng cái đã, mấy chuyện khác tính sau.

Ở đâu lúc nào, một mình hay nhiều mình, cũng thấy ăn. Thui thủi, trơ trọi ở nhà, lục lọi coi có cái gì ăn cho đỡ buồn. Ra đường, đi chơi hay lo việc, trước hay sau gì cũng phải kiếm cái gì dằn bụng. Ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều, ăn tối, ăn khuya. Vì vậy, trong tiếng Việt có vô số động từ đôi đi chung với "ăn". Điểm này không thấy có trong ngôn ngữ của các dân tộc khác.

Nhưng "ăn" nhiều khi lại không có nghĩa là "ăn", mới lạ!

Tụ họp đình đám, lễ lạt giỗ tết, người mình nói "ăn cưới", "ăn tết", "ăn giỗ", "ăn cúng", "ăn đám ma", … Từ "ăn" trong những nhóm chữ này rõ ràng là hành động đưa thực phẩm vào miệng, nhai rồi nuốt, không thoát đi đâu được. Giống như "ăn" trong "ăn khín", "ăn chực", cũng là "ăn", nhưng hàm ý không mấy tốt, tới ăn không ai mời, hoặc có mời nhưng sau đó lại nhiếc móc sau lưng: "Cái thằng đó ưa tới nhà mình nhằm giờ cơm để ăn khín mà không biết mắc cỡ!" Nhưng "ăn chực" trong thành ngữ "ăn chực nằm chờ" lại ngụ ý: kiên nhẫn chờ được giải quyết một vấn đề gì đó. Có lẽ bắt nguồn từ xưa: mỗi khi dân chúng từ những nơi xa xôi có việc tới nhà quan ở chợ, ở tỉnh, ở kinh thành, thường đem theo đồ ăn thức uống để lót bụng, vì biết chắc thế nào cũng phải chờ đợi lâu lắc, lắm khi dăm ba ngày liên tiếp; ăn để chực chờ tới lượt được vô hầu quan lớn.

Phong cách ăn uống, nói năng giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong truyền thống phong tục, lễ giáo của người Việt. Con cái, đặc biệt là con gái (vì thời xưa không được tới trường), được cha mẹ dạy cho "học ăn, học nói, học gói, học mở", coi như những chuẩn mực để xử thế và giao tiếp trong gia đình, họ hàng và ngoài xã hội. Nghĩ rộng, thấy bốn món "công, dung, ngôn, hạnh" được gói ghém gần như trọn vẹn trong đó. (Tới đây, người viết xin được mở dấu ngoặc, đặt dấu hỏi lớn về nghĩa đen và nghĩa bóng của cụm từ "học gói, học mở" trong thành ngữ này. Tự điển Việt ngữ có vài cách giải thích khác nhau, không biết thực hư ra sao?). Vậy, "ăn" khi đi chung với "nói" được hiểu là đối đãi, cư xử. Nhưng khi cặp kè với "nhậu", tuỳ theo cách nói, lại có nghĩa hoàn toàn khác: "Chuyện vợ chồng người ta không ăn nhậu gì tới mình, mình xía vô đâm ra mất lòng." Ở đây, không biết vì nỗi niềm trắc trở gì mà "ăn nhậu" cương quyết chia tay, không còn luyến tiếc chút dư vị nào của "ăn uống, nhậu nhẹt" nữa, để cải trang, đổi lớp thành "dính líu, dính dáng". Lạ, nhưng không lớn!

Chuyện lớn chỉ thực sự xảy ra, khi "ăn"… lỡ chung chạ với "nằm". Mẹ quát con gái: "Hả, cái gì? Bộ đui hay sao mà mày ăn nằm với cái thằng trời đánh thánh đâm, lưu manh láu cá đó? Trời ơi là trời, con ơi là con!" Nhất định là phải có "ăn" vô đây thì "nằm" mới trọn nghĩa "tằng tịu" của nó, và được dùng để ám chỉ những trường hợp chung đụng xác thịt không chính thức. Vợ chồng với nhau, không ai (hoặc không nên) nói "ăn nằm", mà nói "ăn ở". Khi người vợ rưng rưng nước mắt trách cứ: "Vợ chồng mình ăn ở với nhau bảy mặt con, không còn tình cũng còn nghĩa, mình nỡ lòng nào ăn nằm với con ở. Bây giờ, nó chang bang một bụng, em biết ăn nói sao đây với con cái?" Nghe thương xót biết mấy! Và, "ăn nói" trong tình huống này, có thêm nghĩa "giải thích, làm sáng tỏ", ở đây là lý do tại sao cái bụng chị ở không dưng càng ngày càng phình 1ớn một cách vô cùng khó hiểu.

Chuyển qua "ăn vụng". Nghĩa đen ý nói "giải quyết cái đói một cách lén lút": "Nhà tôi có tật ăn vụng ban đêm, khuya nào cũng thức dậy, xuống bếp lục cơm nguội." Chuyện không sao cả. Nhưng tới lúc nàng nghiến răng trèo trẹo cảnh cáo: "Tôi nói cho anh biết, anh mà lén tôi đi ăn vụng, tôi biết được, đừng có trách tôi ác!" Và, tới khi bạn gái trề môi nhún mỏ rỉ tai nhau: "Ai kêu, ăn vụng không biết chùi mép, bị vợ đuổi ra khỏi nhà, đáng đời!", thì chuyện đã… mọc trăng sao, đang tối thành sáng trưng; hành động "ăn vụng" trở mặt, chỉ còn độc nhất một nghĩa bóng: "Đã có gia đình, còn đi ngoại tình."

Trực tiếp hay gián tiếp cùng nghĩa với "ăn", trong tiếng Việt có "ăn xin", "ăn mày": "Xin" người khác để có miếng ăn, để sinh sống (chữ "mày" trong "ăn mày" ngụ ý gì, có dính dáng gì tới "mày ốc", "mày ghẻ" hay không, người viết không rõ.) Không riêng gì ở Việt nam, mà khắp nơi trên thế giới, đều có người ăn mày. Thậm chí, như ở Việt nam, có cả làng sống bằng nghề ăn mày, từ đời cha tới đời con. "Ăn mày", vì vậy, nghiễm nhiên trở thành cái nghề. Để rồi, từ "nghề" chuyển ra "nghiệp", đâu mấy hồi. Sinh ra, vướng nghiệp "ăn mày", cuộc đời hẳn nhiên rách, rách lắm. Đâu mấy ai nhờ đó mà "ăn nên làm ra"?

Ở Pháp, tin mạng có trang "Ăn mày văn chương", nghe rất "ấn tượng". Nhưng cá nhân tôi không thấu đáo hai chữ "ăn mày" ở đây hàm ý gì. Văn chương chữ nghĩa là tặng phẩm của ngôn ngữ dành cho tất cả chúng ta, nào phải sở hữu riêng ai để mình xin xỏ hay đem bố thí cho người khác!

Qua tới các động từ "ăn cắp", "ăn trộm", "ăn cướp" thì đột nhiên "ăn" không còn ý nghĩa là hành động giải quyết cái đói nữa (hay có, nhưng rất gián tiếp), mà: lấy của người khác làm của riêng.

Ca dao có câu:

Con ơi học lấy nghề cha,
Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm.

Thì ra, không phải chỉ có nghề "ăn mày", có cả nghề "ăn trộm" nữa kia. Và, cái nghề này hứa hẹn một tương lai sáng sủa hơn nhiều. "Ăn trộm" trúng mẻ, trời ạ, "thu nhập" ngang ngửa tới ba năm làm. Nghe bắt ham!

Dĩ nhiên, đã là nghề thì phải có trường ốc đào tạo, để học viên rành rẽ bài bản sáu câu mùi mẫn sau khi tốt nghiệp học đường "ăn xin", và có chiến thuật tiến thoái gọn gàng, êm thắm, không để lại dấu vết khi thành tài "ăn trộm". Theo học trường ốc ở đây, học viên không cần ghi danh, đóng lệ phí, cũng không nên hy vọng sẽ có ngày được… bảng vàng ghi tên. Tất cả mánh mung được "sư phụ" chỉ giáo cho "đệ tử", và hẳn là… lén lút theo truyền thống dân gian truyền khẩu, cha truyền con nối. Vì vậy, không thấy lưu lại sách vở, tài liệu gì, để hậu bối đưa lên tin mạng cho người viết… tiện việc tra cứu.

Trong văn chương, nữ sĩ Trúc Giang tự thú trong hồi ký "Tình yêu nuôi tôi lớn", đã "ăn cắp thì giờ của con, của chồng để viết truyện, để làm thơ". Động từ "ăn cắp" được chị biểu tượng hoá, sử dụng ẩn dụ rất khéo, đọc nghe ái ngại, không biết rồi chị có… bị sao không, có bị chồng con thưa ra toà phạt vạ hay tù tội gì không?

Trong khi "ăn cắp" và "ăn trộm" mang nghĩa lén lút, lặng lẽ, lấm lét lấy "cắp" và lấy "trộm" của người khác làm của riêng, thì "ăn cướp" là dùng võ lực lấy công khai, nhiều khi sử dụng cả dao găm, súng đạn để tước đoạt cho bằng được.

Con ơi nhớ lấy câu này,
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan.

Khổ cho dân mình quá! Nhưng không phải chỉ có khổ không đâu, cũng có trường hợp dân chúng nhờ cướp mà sướng. Thời xưa, ở Tây có anh hùng Robin Hood, ở Tàu có "108 anh hùng Lương Sơn Bạc". Rủi thay, chỉ sướng… ảo, vì các vị anh hùng thảo khấu nêu trên toàn là những nhân vật huyền thoại. Thời nay, tin mạng loan tin, ở Mỹ có anh quản lý ngân hàng "vừa bị tuyên án 41 tháng tù giam vì tội đã lấy tiền ở một số tài khoản của ‘người giàu’ bù vào tài khoản của ‘người nghèo’ tại ngân hàng nơi anh ta làm việc." Khi bị phát giác, anh được các nhà tâm lý học chẩn bệnh, rằng anh mắc phải "hội chứng Robin Hood". Dù vậy luật sư vẫn không cứu vãn cho anh được trắng án. Ấy, ngoài "hội chứng ăn cắp", còn có thêm "hội chứng ăn cướp" nữa kia! Biết đâu chừng, dám có cả "hội chứng ăn chực, ăn khín" nữa, mà khoa tâm lý học chưa tìm ra!

Đàn bà, con gái khi không có gì ăn, tối tối ra đường ăn… sương, riết thành chuyên nghiệp: mang danh "gái ăn sương", không được ai thương hại, mà còn bêu rếu. Thời đại bây giờ, đàn bà, con gái không còn độc quyền hành nghề này nữa, cả nam giới và, buồn thay, ngay cả thiếu niên nam nữ cũng nhảy vô cạnh tranh. Còn động từ "ăn đêm", tôi nghĩ, không hẳn đồng nghĩa với "ăn sương", mà gần với "ăn khuya" hơn. Ngoài ra, còn được dùng để chỉ "hành động đi kiếm mồi trong đêm tối" của muông thú, như trong bài đồng dao ru con:

Con cò mày đi ăn đêm,
đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao…

Ỷ mạnh hoặc vai vế lớn, người miền Bắc nói "bắt nạt", người miền Nam dùng động từ "ăn hiếp", thường nghe trẻ con hài tội lẫn nhau: "Thưa cô, trò A ăn hiếp con, mượn con cục gôm, con đòi không chịu trả, còn kí đầu con nữa!"

Khi có kẻ thừa cơ "chôm" của, hoặc đợi anh hùng hảo hán ra tay trước, rồi hùa theo lấy, người Việt mình nói "ăn hôi". "Ăn tàn" trong thành ngữ "theo đóm, ăn tàn" cũng có nghĩa tương tự như vậy: "Cái thằng đó là hạng người ‘theo đóm ăn tàn’, không hiểu sao mầy ăn ở với nó tới sáu mặt con!" Nghe hèn lắm. Còn "ăn mót" nghe lại thấy tội: "Vợ chồng nó chuyên môn ăn mót lúa của người ta mà sống", và chẳng có gì đáng hãnh diện, vậy mà tục ngữ có câu:

Muốn ăn cơm ngon, lấy con nhà đi mót.
Muốn ăn canh ngọt, lấy con nhà bắt cua.

Câu đầu, tôi không biết phải hiểu sao cho đúng. Có lẽ ở đây không hẳn chỉ nói chuyện đi mót lúa đem về nấu cơm? Và cả hai câu hàm ý bóng gió, khuyên người đời nên biết chọn ý trung nhân cho đúng… tâm nguyện "ăn uống" chăng?

Còn "ăn" trong "ăn quịt" nguyên thuỷ hẳn có nguồn gốc "ăn xong, lỉnh mất, không trả tiền". Về sau được dùng chung cho mọi trường hợp, khi tiền bạc không được thanh toán sòng phẳng. Hai bà chủ nợ khuyên nhủ nhau: "Chị coi chừng cái thằng cha X, bản mặt nó bảnh bao vậy chớ chuyên môn mượn tiền rồi ăn quịt." Nhưng khi "ăn" cặp kè với "vạ", ngộ nghĩnh thay, "ăn" bay mất nghĩa gốc. "Ăn vạ" là tiểu xảo thường thấy ở tâm lý lì lợm của trẻ con và… cầu thủ đá banh. Nhiều bà mẹ thường than phiền: "Thằng út nhà tôi, mỗi lần đòi gì không được là lăn ra ăn vạ, khóc lóc thảm thiết, thấy ghê lắm!" Hoặc: "Cầu thủ Y cố tình ăn vạ, thay vì được quả phạt đền, lại bị trọng tài phạt vạ thẻ vàng." "Ăn" trong trường hợp này, có lẽ gián tiếp ngụ ý "cầu thắng, để đạt được mục đích" chăng?

Tương tự như trong chuyện bài bạc. Vợ chồng Năm Chuột sống bằng nghề "bài ba lá". Ngày nào đi làm về, anh Năm cũng bị vợ vặn hỏi: "Bữa nay ăn thua sao rồi?" Không chạy đi đâu, "ăn" ở đây đồng nghĩa với "thắng". Giống như trong thành ngữ "ăn thua đủ", có nghĩa "so tài đọ sức cho tới lúc thắng thua minh bạch mới thôi": "Tư Lùn là tay anh chị thuộc hạng dế ốc tiêu, vậy mà gan cùng mình, dám ăn thua đủ với dế cơm Hai Búa, không sợ sứt càng gãy gọng sao ta!" Hoặc trong "ăn gian": Gian lận để thắng. Nhưng nhiều khi còn được sử dụng thay cho "gian dối": "Cô hoa hậu ăn gian chiều cao, cao có 1 thước 55 thôi mà dám nói cao tới 1 thước 72. Thiệt, xạo hết ý!" Chuyện nhỏ. Còn có người "ăn gian" trí thức nữa kia! Hãy nghe chị em bạn gái tâm sự với nhau: "Chị lấy nó về làm chồng, mới biết nó là đứa ăn gian bằng cấp, đi du học Liên-xô chỉ được bằng phó tiến sĩ thôi, mà dám khoe mình là tiến sĩ, nghe có tức không?"

Có ai muốn dằn mặt, cảnh cáo kẻ khác, chỉ cần đeo vũ khí, đạn dược cho "ăn" là đủ: "Nói cho mầy biết, chớ có đụng vô con nhỏ đó, chồng nó cho mầy ăn dao tức thì!" Hoặc khi đi chung với những hành động không mấy nhẹ nhàng như "tát", "đấm", "đá", v.v… thì "ăn" có nghĩa "nhận lãnh, lãnh lấy hậu quả" không mấy êm đẹp. "Con bé coi vậy mà dữ, tao chỉ mới khều mông một cái nhẹ hều, đã bị nó cho ăn tát." Đối với trẻ con, ăn gì cũng thích, chỉ không hảo mấy món "ăn đòn", "ăn roi", "ăn chổi lông gà", v.v… mà thôi.

Gặp trường hợp bà mai đưa ảnh cho anh chàng kiếm vợ coi mặt, thòng theo câu nói: "Tại con nhỏ chụp hình không ăn ảnh, chớ ngoài đời cổ ngó coi đẹp gái lắm, chú à!"; hoặc có ai đó chặc lưỡi xuýt xoa: "Cô đào X lúc nhỏ té thùng đinh, mặt rỗ như tổ ong, vậy mà phấn son lên sân khấu, ăn đèn dễ sợ!"; từ "ăn" mất bén nghĩa gốc, mà có nghĩa "thích hợp, hoà hợp" với kỹ thuật chụp ảnh, trong "ăn ảnh", cũng như với ánh đèn sân khấu, trong "ăn đèn".

Nghĩa cũng gần như vậy, người Việt nói "ăn nhịp", thường được sử dụng khi đàn ca hát xướng, và "ăn khớp" để chỉ trường hợp nói năng, hành động sao cho hợp lý, không mâu thuẫn nhau. Anh dẫn em đi quán bia ôm, trước khi về nhà, dặn dò thằng em: "Má hỏi, mày nhớ nói là mình đi ăn sinh nhật cho ăn khớp, không thôi bả đánh cho nát đít!"… Cùng nghĩa như vậy, nhưng đi đôi với tiếng… nước ngoài, Việt ngữ có động từ "ăn rơ", với "rơ" được phiên âm từ jeu (trò chơi, cuộc chơi) của tiếng Pháp mà ra. "Trời ơi, chị em nhà Williams chơi quần vợt đôi ăn rơ với nhau hết sức." Lẽ đương nhiên, cách nói này chỉ bắt đầu thông dụng từ khi có mặt người Pháp, ở thành thị, cũng như trong giới có… ăn học.

Phần trên có nhắc tới động từ kép "ăn ở", ngoài ý nghĩa "đời sống vợ chồng" còn hàm ý chỉ "cách xử thế, đối đãi" với nhau, như trong trường hợp vợ Năm Chuột than thở cùng chồng: "Lúc nào vợ chồng mình cũng ăn ở hiền lành, phước đức, mà sao nghèo hoài hổng biết!", nhưng khi người mẹ xẳng giọng với anh con trai đã ngoài năm mươi mà vẫn còn độc thân: "Mầy cứ ăn ở keo kiết như vậy, có chó nó lấy mầy làm chồng." Hoặc khi cô con gái lắc đầu nguây nguẩy: "Con không ưng anh ấy đâu, người gì mà ăn ở dơ dáy như heo!", nghĩ kỹ, thấy ra "ăn ở" đổi nghĩa hoá thành "thói ăn nếp ở" hoàn toàn có tính cách cá nhân, không đụng chạm gì tới người khác.

Thành ngữ Việt nam có vô số câu liên quan tới "ăn". "Ăn không", tiếng miền Nam, cùng nghĩa với "ăn vã", tiếng miền Bắc, ý nói, chỉ ăn món chính, không kèm theo cơm, cháo, v.v… Khi đi chung với "ngồi rồi", thành "ăn không ngồi rồi", có nghĩa "rỗi việc", nhưng không mấy tốt, gần như "vô tích sự": "Từ khi anh ấy bị muỗi voi chích tới giờ, suốt ngày ảnh ăn không ngồi rồi, bí rị một chỗ, thấy chán lắm!"

"Ăn xổi", với trạng từ "xổi" ("qua loa, tàm tạm", thí dụ: cà pháo muối xổi), thuần tiếng Bắc, đi chung với "ở thì" ("ở ngắn hạn, nhất thời, có giai đoạn"), thành "ăn xổi ở thì": nghĩa đen ý nói kẻ nào ăn ở với ai đó một thời gian ngắn để trục lợi, nghĩa bóng ám chỉ hạng người chỉ biết lợi dụng, bạc tình bạc nghĩa. Truyện Kiều có đoạn, khi chàng Kim lơi lả buông lời ong bướm (ngôn ngữ hiện đại nói là "thả dê") đòi… ăn nằm, nàng Kiều bèn thỏ thẻ xổ… Nho và thành ngữ cảnh giác:

Phải điều ăn xổi ở thì,
Tiết trăm năm, nỡ bỏ đi một ngày!

Rõ là nàng Kiều được Vương ông Vương bà dạy cho "học ăn, học nói, học gói, học mở" khéo thì thôi!

Khi đứng trơ trọi một mình, "ở" có nhiều nghĩa, và không phải chỉ giữ vai trò động từ: "Anh ở lại đây với em tối nay nghe! Ở một mình, em sợ ma quá hà!", mà cũng có thể là giới từ chỉ định xuất xứ, vị trí: "Cô ấy ở quê mới lên, nên ưa đi chân không ở trong nhà."

Khi "ở" kết bạn với "đậu", có nghĩa "sống nhờ, sống cậy" vào người khác. Với "đợ", hoặc với "người" thành "người ở": "tới sống chung để giúp việc nhà có lãnh lương". "Con nhỏ đó ở dưới quê lên Sài gòn ở đậu nhà bà con, chờ kiếm ra chỗ ở đợ." Với "vậy", theo tôi, có hai nghĩa: "ở vá": độc thân, không lập gia đình" (có tự điển ghi thêm, "vá" cũng còn có nghĩa như "goá"). Hoặc, "ở goá: sau khi vợ hoặc chồng chết, không lấy người nào khác." V.v… và v.v… Tựu trung, trong tất cả những trường hợp nêu trên, "ở" có nghĩa "hoàn cảnh gia đình".

Ở trên có nhắc tới "ăn không", với "ở" ta có "ở không": rảnh rỗi, không làm gì cả. "Nhân lúc vợ ở cữ, thi sĩ ở không, bèn lấy giấy viết tí toáy làm thơ tình gởi đăng nhật trình." Tới đây, ta có thêm "ở cữ": hoàn cảnh, thời gian sau khi sinh nở, cần kiêng cữ.

Thời trước, thi sĩ trào phúng Tú Mỡ có làm bài thơ tựa đề: "Sư cô ở cữ".

… Nhưng rồi một sáng mùa thu,
Người ta thấy vị ni cô sượng sùng.
Bụng đeo cái trống cà rùng,
Đến nhà thương để tìm phòng khai hoa …

"Ăn" với "ở", tóm lại, thường đi đôi với nhau như hình với bóng, như đũa có đôi, như môi răng, miệng lưỡi đặc thù hương vị ngôn ngữ của người Việt. Người viết xin được kết thúc bài tiểu luận ở đây với câu ca dao "hậu hiện đại" tự biên tự chế:

Ăn có đũa, ở có đôi.
Bậu ơi, khéo giữ trọn đời có nhau.
Ngô Nguyên Dũng


Mọi sinh vật sống trên trái đất có ăn mới tồn tại. Nhưng có thể khẳng định rằng chi có Việt Nam ta, mới dùng từ Ăn để diễn đat mọi nhẽ đời trong cuộc sống. Ở Việt Nam chữ Ăn đã giúp cho mọi người hiểu được đạo đức, nhân cách của một con người…
Theo tôi, có lẽ xuất phát từ một nước dựa vào cây lúa là chính; lúc được mùa thì no, lúc giáp hạt thì đói. Có ăn mới tồn tại và phát triển được...Vì vậy, từ Ăn nó hằn sâu vào tâm trí con người từ ngàn xưa và càng ngày nó càng biến thể phong phú theo nhiều cách; tùy theo từng giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội mà thành những câu, những thành ngữ, ca dao đề nói lên cốt cách, tình cảm, cái tâm, hình dáng con người; giúp chúng ta phân biệt tốt xấu, dạy chúng ta nhìn rõ bản chất của nhân vật, người nào đó trong xã hội.
Điều này, chứng minh dân tộc Việt Nam là một dân tộc rất thông minh, biết khai thác và biết sử dụng uyển chuyển ngôn ngữ đến từ gốc đến ngọn.
Các bạn xem nhé, có đến hàng “1.001” cách diễn đạt từ chữ Ăn cơ đấy:
 - Để chỉ về thời kỳ Cổ đại, ta dùng cụm từ “Ăn lông ở lổ” “Ăn bờ ở bụi”
- Sang năm mới, dù nhà nghèo hay nhà giàu ai cũng lo sắm sửa để “Ăn Tết”. – Các ngày lễ lớn, nhỏ dân ta hay tổ chức ăn mừng, ăn tiệc, ăn sinh nhật, ăn thôi nôi, ăn cỗ; “Bực mình mà chảng nói ra/Muốn đi “ăn cỗ” chả mà nào mời/ Không mời thì mặc không mời/ Đã trót mặc áo không mời cũng đi”
- Để chỉ những người thích hưởng thụ mà lười biếng, muốn ăn ngon mà không muốn làm thì ta nói: “Ăn thì đi trước, lội nước đi sau; ngồi mát Ăn bát vàng”, “Ăn trắng mặc trơn, ăn trên ngồi tróc, suốt ngày chỉ biết tiêu khiển bằng các cuộc ‘chỉ biết “Ăn chơi” “Ăn tục, nói phét”
- Chỉ những kẻ bất lương là đồ “Ăn cướp, ăn trộm, ăn cắp,
- Chưa có tiền trả thì tạm “Ăn chịu” ghi sổ trả sau,
- Giải pháp cho những người sống tạm bợ, chầu chực “Ăn chực nằm chờ”
- Kẻ cơ hàn, sống bệ rạc, ăn không có mâm bát, bàn ghế, : Ăn xó mó niêu
- Kẻ liều, không cần giữ phẩm giá: Đói ăn vụng, túng làm càn
- Khi cùng cảnh ngộ mới thấu hiểu: “Dốc bồ thương kẻ ăn đong/vắng chồng thương kẻ nằm không một mình.”
Không môn đăng hộ đối, hợm mình đến mức khó tin:
“Bao giờ rau diếp làm cột đình
Gỗ liêm ăn ghém thì mình lấy ta”
- Người biết lo xa, biết dàn xếp, khó khăn đâu sợ nếu “khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”, liệu cơm gắp mắm, ít thức ăn phải “Ăn dè” cho đủ.
- Người không biết lo, không để tâm đến thứ gì “Ăn xổi ở thì”
Sống biếng nhác chỉ dựa vào người khác:
“Ăn không rồi lại nằm không/ Mấy non cũng lở, mấy công em cũng hoài”
- Kẻ xấu, cố chấp, luôn nghĩ cách đối phó, trả thù: “ăn miếng trả miếng”
- Kẻ tiểu nhân, giấu giếm để hưởng lợi riêng : “Ăn mảnh”
- Đã nghèo lại còn đòi hỏi quá đáng: “Ăn mày mà đòi xôi gấc”
- Chi tiêu phung phí : “Ăn xài ” không suy nghĩ
- Trong cơ quan, công sở lãnh đạo thường tìm người cùng ê kíp “ăn cánh, ăn ý ” để bảo vệ chiếc ghế của mình.
- Coi khinh, dè biểu người coi trong cái ăn: “Miếng ăn quá khẩu thành tàn / Mất ăn một miếng lộn gan trong đầu”, “Miếng ăn là miếng nhục”.
- Coi trong Khí phách “Chết vì ăn là cái chết ươn hèn”
- Ăn uống đầy đủ người mới có sức khỏe học những điều hay, trí tuệ mới được mở mang. “Ăn vóc học hay”
- Chỉ gái làm tiền “bán trôn nuôi miêng”, “ăn sương”, “ăn đêm”,
- Quan hệ không lành mạnh “Ăn nằm” với kẻ không phải vợ, chồng mình
- Lợi dụng làm trung gian để lấy bớt phần người khác: “Ăn chặn” ăn chẹt, ăn giựt, “ăn quỵt”, “Ăn gian” “Ăn lận”.
-Trong kinh doanh cần phải liều “Được ăn cả, ngã về không”
- Người không thể vượt lên chính mình, đành “Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm/ cầm bằng làm mướn mướn không công”
- Bọn côn đồ, mặt dữ dằn, thấy chúng như sắp “Ăn sống, nuốt tươi”, “nuốt chửng, nuốt trộng” người ta.
- Người làm ăn dối trá, cốt hưởng lợi: Ăn thật làm giả
- Người biết lỗi hối cải: “Ăn năn, sám hối”
- Chụp hình đẹp hơn ở ngoài đời gọi là “Ăn ảnh”
- Mua bán ngày một khá hơn “Ăn nên làm ra”
- Nếu khôn thì biết “Khôn ăn cái, dại ăn nước” vì chất bổ tan hết vào nước,
Đôi lúc chúng ta sử dụng từ ăn bằng tiếng Hán Việt để dễ dàng biểu thị sự việc cho văn minh hơn như “Có thực mới vực được đạo”, nam “thực như hổ”, nữ “thực như miêu”
- Sự tri ân với người có công “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”
- Trung thành với sếp “Ăn cây nào, rào cây ấy”
- Vô ơn bội nghĩa: “Ăn cháo đái bát”
- Ông cha ta thường đúc kết kinh nghiệm cho con cháu bằng ca dao:
Cấy thưa thì thừa thóc/ cấy dày “Cóc được ăn”. (Cóc = không)
- Phải quí trọng sức lao động của người nông dân, uống nước nhớ nguồn
“Ai ơi bưng bát cơm đầy/ Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”
- Làm công tác xã hội không lương: “Ăn cơm nhà, vác tù và hàng Tổng”
- Tính sòng phẳng “Tiền trao, cháo múc”
- Hoạt động bí mật phải “Nếm mật, nằm gai”
- Học hành mới có tương lai, nếu không sau này đi “Ăn mày”, “Ăn xin” mà sống “Ăn mày là ai? Ăn mày là ta/ Đói cơm rách áo mới ra ăn mày
- Phải lao động mới có ăn “ Tay làm hàm nhai tay quai miệng trễ”
- Có những thử “Ăn bốc” mới thấy ngon hơn
- Đồ vật lâu ngày hư hỏng là do bị “ăn mòn”, “Ăn luồng, “Ăn rỗng”
- Chỉ sự thông thoáng “Ăn thông”
- Chỉ người nói leo “Đồ ăn hớt”                                 
- Nhà nghèo ta phải lựa chọn “Ăn chắc mặc bền”
- Con gái thường “ăn vặc” hơn con trai
- Bảo vệ dạ dày “Ăn chậm nhai kỹ”; để giữ vệ sinh “khi ăn không nói”
- Tương quan lẫn nhau “Cá ăn kiến, kiến ăn cá”, “ăn nhịp”
- Không có kế hoạch trước thì kết quả “Có mà ăn cám”,
- Trong chăn nuôi, trồng trọt bị trộm hoài ta nên giải quyết: Thà ăn non còn hơn mất già
- Công dụng tuyệt vời: “Ăn ráo củ kiệu” Cây kiệu: củ làm dưa món, rể, lá muối dưa chua không bỏ gì cả
- Đạo lý nhà Phật “Ăn, Ở có đức mặc sức mà ăn” Ăn chay niệm Phật
- Người cố chấp, cay cú không muốn ai hơn mình “Trâu buộc ghét trâu ăn”;
- Sống phải biết nhường nhịn, đừng cậy mạnh “Ăn hiếp” kẻ yếu, biết chia sẻ không thì “Ăn một mình đau tức, làm một mình cực thân,
- Hậu quả: “Cha ăn mặn, con khát nước”,
- Không thỏa mãn thì “Ăn vạ”
- Người thâm nho “Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại nửa mừng, nửa lo”,
- Người dối trá thì “Ăn có nói không”
Chỉ sự liên quan phù hợp cùng nội dung: “Ăn nhập”
Để chỉ bọn quan lại tham nhũng: “Ăn hối lô”, “ăn bẩn” “Ăn đậm”
- Chê bai: “Ăn nhằm” gì thứ đó
Đề cập đến vấn đề gia đình
- Vợ chồng chung thủy “Ăn đời ở kiếp”
Tuy không nói rõ ra từ ăn, mà vẫn hiểu nguồn gốc là ăn
“Chàng ơi phụ thiếp làm chi/Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng”,
“Ai ơi chua ngọt đã từng/Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”
Vợ chồng thuận “Râu tôm nấu với ruột bầu/ Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon”
Con cái quanh quẩn trong nhà, mẹ mắng: – Mày như gà “ăn quẫn cối xay”
- Người lịch sự “ăn mặc tử tế”
-Thời phong kiến “miếng trầu là đầu câu chuyện, mời bác xơi thuốc, xơi trầu”   (Xơi đồng nghĩa với ăn)
- Thủ tục lập gia đình “Ăn hỏi” trước, “Ăn cưới” sau
- Trả đủa nhau cho biết mặt, dại gì chịu thiệt “Ông ăn chả, bà ăn nem”
- Vợ, hoặc chồng say mê kẻ khác một cách mê muội, mất cả lý trí “ông ấy hoặc bà ấy “Ăn phải bùa mê, ăn phải ngải” con nào, thằng nào rồi.
- Nếu vợ hoặc chồng có bồ mà người thân không biết “Ăn vụng mà khéo chùi miệng” hoặc “Ma ăn cổ”
- Để chọn vợ “Những người thắt đáy lưng ong/ Vừa khéo chìu chồng lại khéo nuôi con/ Những người béo trục béo tròn/ Ăn vụng như chớp, đánh con cả ngày”
- Tình cảm người và vật “Bóng bóng bang bang lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta/chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người”
- Trong XHCN “Có làm mới có ăn”
- khi giận dỗi, thách thức “Ăn có mời làm có khiến”
- Công việc khó khăn “Đâu có dễ ăn”
- Người có ý thức khi “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”,
- Gia đình là nơi hình thành nhân cách con người: Trồng cây chua ăn quả chua/ Trồng cây ngọt ăn quả ngọt;
Thời nay: – Công việc nhiều, ít thời gian đã có “Đồ ăn liền”, “Ăn nhanh” …
Mình nghĩ được có thế thôi, ai biết nữa thì góp vào cho phong phú nhé.

Lâm Bích Thủy

ĐẾ VƯƠNG XUẤT HIỆN TRÊN ĐẤT BỊ TRẤN YỂM: THANH HÓA, CAO BẰNG

Đế vương xuất hiện trên đất bị trấn yểm: Thanh Hóa, Cao Bằng

 


Dưới lăng kính của các nhà nghiên cứu địa lý – phong thủy học, thì Thanh Hóa là đất đế vương chung hội, còn Cao Bằng là nơi các bậc đế vương ẩn náu.
Vùng đất của hai vua
Đất Thanh Hóa đã sinh cho đất nước hai vị hoàng đế anh hùng: Lê Đại Hành (Lê Hoàn) đánh thắng quân xâm lược Tống vào cuối thế kỷ 10 và Lê Thái Tổ (Lê Lợi) đánh thắng quân Minh vào đầu thế kỷ 15.
Ở đây, chúng tôi đề cập đến một địa danh đã đi vào lịch sử là Lam Sơn, thuộc huyện Lương Giang, trấn Thanh Hóa (nay thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa), là nơi các nhà sử học, phong thủy học thường nhắc đến với những chiêm nghiệm về địa lý, về nguyên khí hun đúc nên vùng địa linh nhân kiệt này, để lại những ghi chép đáng để chúng ta ngày nay suy ngẫm.
Chẳng hạn, sử thần Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư cho biết, ông tổ ba đời của vua Lê Lợi tên húy là Hối, một hôm đi dạo chơi đến vùng núi Lam Sơn nhìn quang cảnh quanh đó và chợt thấy có đàn chim đông đúc đang ríu rít bay lượn quanh chân núi như thể núi Lam Sơn có một lực thu hút vô hình, có sức thu phục nhân tâm nhiều như chim đàn về tổ, bèn nói: “đây hẳn là chỗ đất tốt” và quyết định “dời nhà đến ở đấy”.
Những ghi chép trên của Ngô Sĩ Liên tuy khá vắn tắt, song cũng đã thông tin về một trong các yếu tố liên quan đến phong thủy của vùng đất phát vương. Tức vùng đất không thuộc về nơi “sơn cùng thủy tận”, cũng không phải nơi “tuyệt địa” vắng vẻ. Mà là nơi “chim tụ hội thành đàn” đông vui, ríu rít, là đất “tụ khí tàng phong” khác hẳn với những miền hung địa.
Hung địa theo thuật ngữ phong thủy là đất chu tước bi khốc (chim cất tiếng kêu sầu), hoặc đất bạch hổ hàm thi (con hổ đang ngậm xác chết trong miệng), hoặc xương long vô túc(rồng không có chân, rồng bị tật nguyền)… Như thế, Lam Sơn là đất cát tường, đất tụ nghĩa, đất xưng vương, mà người đứng lên đảm đương việc mở đầu nghiệp đế của nhà Lê là Lê Lợi.
Thật vậy, khi tổ nhà Lê là cụ Hối dời về ở Lam Sơn thì chỉ sau 3 năm đã gây thành sản nghiệp lớn và từ đó trở đi họ Lê làm quân trưởng một phương, trong nhà lúc nào cũng có tới hơn 1.000 tôi tớ, trải các đời sau sinh ra Lê Lợi với “thiên tư tuấn tú khác thường, thần sắc tinh anh kỳ vĩ, mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, trên vai có nốt ruồi son, tiếng nói như chuông, dáng đi tựa rồng, bước tới như hổ, kẻ thức giả đều biết vua là bậc phi thường” (Đại Việt sử ký toàn thư).
Theo truyền thuyết, nhà họ Lê được các thầy địa lý và các nhà sư thượng thừa về khoa phong thủy chỉ dẫn và báo mộng cho biết một huyệt đất phát vương (ở động Chiêu Nghi). Theo cụ Tả Ao, đất phát vương phải là đất hợp đủ các điều kiện được cụ diễn ca qua mấy câu lục bát sau đây:
Ngũ tinh cách tú triều nguyên / Kim, mộc, thủy, hỏa bốn bên loan hoàn / Thổ tinh kết huyệt trung ương / Ấy đất sinh thánh sinh vương đời đời.
Muốn hiểu các câu lục bát của cụ Tả Ao về đất phát vương nêu trên hẳn phải chú trọng, quan sát hình dáng của cuộc đất (theo ngũ hành) gồm: hình tròn thuộc kim tinh (con Kim), hình doi thuộc mộc tinh (con Mộc), hình vuông thuộc thổ tinh (con Thổ), hình nhọn thuộc hỏa tinh (con Hỏa), hình sóng thuộc thủy tinh (con Thủy). Theo đó con Thổ phải ở vị trí chính giữa (kết huyệt trung ương) và các con Kim, Mộc, Hỏa, Thủy sẽ tuần tự vây quanh.
Thực hư về đất phát vương ở Chiêu Nghi như thế nào chưa bàn tới. Chỉ căn cứ trên chính sử, thì năm Lê Lợi lên 33 tuổi (Mậu Tuất 1418) đã dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, trong khoảng 10 năm sau đó đuổi sạch quân Minh xâm lược, bắt sống tướng tá và 10 vạn viện binh của nhà Minh đều thua cả, không giết, đại định thiên hạ, lên ngôi hoàng đế vào ngày rằm tháng tư (Mậu Thân 1428) và lập tức xuống chiếu tha thuế cho dân chúng cả nước: “các thứ thuế như tô ruộng, vàng bạc, đầm phá, bãi dâu trong cả nước đều tha (không thu thuế) trong 2 năm”. Và ban bố nhiều điều lợi ích cho dân chúng. Đó là cách tích đức của bậc đế vương, vừa tỏ lòng thương dân, thuận ý trời (thuận thiên) vừa để phúc cho con cháu đời sau.
Điều đó phù hợp hoàn toàn với lời giáo huấn lưu truyền từ lâu đời trong truyền thống nhân nghĩa và trong đời sống tinh thần của các thầy địa lý, các nhà phong thủy là “Tiên tích đức, hậu tầm long” – đại ý có nghĩa trước hết cần phải chứa đức, rồi sau đó hãy tìm long mạch… Phải chăng việc tích đức của Lê Lợi đã dẫn đến kết quả tốt đẹp là sự tồn tại của nhà Lê kéo dài từ thời Lê sơ với 10 đời, gồm 100 năm (1428 – 1527), đến thời Lê trung hưng với 16 đời, gồm 265 năm nữa (1533 – 1789) qua các triều Mạc, chúa Trịnh và chúa Nguyễn.
Đất ẩn náu của bậc đế vương

Trong khoảng thời gian đó, Mạc Đăng Dung ép vua Lê phải nhường ngôi cho mình, lập nên nhà Mạc từ năm 1527 đến 1592 thì sụp đổ. Trước khi sụp đổ, vua Mạc thứ năm là Mạc Mậu Hợp đã sai người đem lễ vật đến thăm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và xin hỏi về thế cuộc.
Trạng Trình chỉ đáp một câu ngắn gọn: “Cao Bằng tuy thiển, khả diên sổ thể” – nghĩa là đất Cao Bằng tuy là chật hẹp nhưng có thể giữ được về sau… Quả đúng như lời Trạng Trình nói, sau này khi nhà Mạc bị quân Trịnh đánh bật khỏi thành Thăng Long và bị truy đuổi tứ tán, thì con cháu nhà Mạc nghe theo lời chỉ dẫn của Trạng Trình đã chạy về cố thủ ở đất Cao Bằng và tồn tại thêm 96 năm nữa mới bị thôn tính, mất hẳn.
Theo các nhà phong thủy, những bậc thầy về địa lý, thì Cao Bằng là đất dung thân hiểm yếu, ẩn náu của bậc đế vương, nơi xuất phát của những cơn sấm sét về xuôi. Chính vì thế, từ thời Đường Ý Tông (Trung Quốc) khi Cao Biền xâm lăng nước ta đã cho xây thành Đại La (ở Thăng Long – Hà Nội) và thành Nà Lữ (ở Cao Bằng).
Về sau thành Nà Lữ được người Việt trấn giữ, trừ bùa yểm của Cao Biền. Đến nay di tích thành Nà Lữ vẫn còn ở làng Nà Lữ, xã Hoàng Tung, huyện Hòa An, có hình chữ nhật dài 800m, rộng 600m, xây bằng gạch và bằng đá tảng với 4 gò đất nổi mang tên: Long, Ly, Quy, Phượng. Gò Phượng nằm ở trung tâm. Khi nhà Mạc chạy về Cao Bằng đã chiếm thành Nà Lữ để đóng đô và xây thành đá trên núi để phòng ngự.
Cần ghi nhận thêm, đến thời hiện đại, Cao Bằng vẫn là mảnh đất “huyền thoại” về hai phương diện lịch sử và địa lý phong thủy. Vì Cao Bằng có hang Pắc Bó là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn làm căn cứ lãnh đạo cách mạng Việt Nam thời kỳ 1941 – 1945, có rừng Trần Hưng Đạo ở xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, là nơi Đại tướng Võ Nguyên Giáp tuyên bố thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ngày 22.12.1944 – là tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam ngày nay. Xem thế từ Cao Biền, đến thời Lê – Mạc, cho tới nay đất Cao Bằng vẫn là nơi “tụ khí tàng phong” hết sức cát tường theo cách nhìn phong thủy.


KIỂU ĐẤT ĐỒNG BẰNG KHÔNG THỂ TÁNG MỘ

Lý giải 13 kiểu đất đồng bằng không thể táng mộ

 


 Long pháp bình dương, xưa nay vẫn liệt vào hàng vi diệu của địa lý. Vì mạch khi xuống bình dương đã nhuyễn nhược, ẩn tàng, bác hoán nhiều lần, nên khó nhận biết. Trong long pháp, huyệt pháp, thiết yếu nhất là phải tránh được hung địa, hoặc vô khí chi địa. Đối với đất bình dương, việc nhìn nhận hung sát không phải dễ.

Dưới đây là trích phần Bình nguyên mộ địa phong thủy thập tam bất táng trong Địa lý đại thành để mọi người tham khảo.
1/. Tuy hữu cát thủy triêu lai, nhi xuất thủy khẩu đa giả nan định tiêu thủy, thử vi tinh khí phân tán chi sở.
Tuy có cát thủy triều lai, nhưng dòng nước đi xuất ra nhiều thủy khẩu khó xác định được vị trí tiêu thủy. Chỗ này là nơi tinh khí phân tán, không thể táng.

2/. Bình dương nội cục như điêu khắc, nhi cục ngoại sa thủy vô tình giả, thị nhân lực sở vi, vô khí chi địa.
Đất bình dương mà nội cục đẹp như được gọt đẽo, nhưng ngoại cục thì Sa Thủy lại vô tính. Đây là do sức người làm nên, là đất vô khí, không thể táng.

3/. Bình dương nhất vọng vô tế tịnh vô kết yết thải khí giả, long huyệt bất thanh, lai mạch bất minh.
Đất bình dương mà mênh mông vô bờ thì cũng không thể kết huyệt, long huyệt không rõ, lai mạch mơ hồ, không thể táng.

4/. Bình dương tuy hữu giới thủy, nhi tả khiên hữu khiết giả, nãi kiếp long chi đại hung chi địa.
Đất bình dương tuy có giới thủy định lại, nhưng tả dắt - hữu theo, thì là Kiếp long, là đất đại hung, không thể táng.

5/. Bình dương nhi phiến phiến đoạn đoạn giả, thị thủy khẩu phù sa dã.
Đất bình dương mà chia mảnh chia khúc, tức là “thủy khẩu phù sa” (thủy khẩu lẫn trong sa sơn), không thể táng.'

6/. Bình dương huyệt tiền khuyết thần giả, thử nãi vô khí, cố ngoại vô dư dã.
Đất bình dương mà trước huyệt không có Thần (môi), là đất vô khí, chính vì thế nên mới không có dư khí ra bên ngoài. Không thể táng.

7/. Bình dương long phối thủy thủy bất phối long, thử nãi âm dương bất phối địa dã.
Đất bình dương mà long thì phối được với thủy, nhưng thủy lại không phối được với long, là đất mà âm dương không thể phối hợp. Không thể táng.

8/. Bình dương nhi thổ tán, hoặc dĩ khai quật trì đường, quân địa bất táng.
Đất bình dương mà chất đất rời bở, hoặc là đất đã bị đào thành ao đầm, đều là chỗ không thể táng.

9/. Bình dương thảo mộc bất sinh chi địa bất táng.
Đất bình dương mà cây cỏ không thể sinh sống, là đất không thể táng.

10/. Bình dương diêu táo trì lô đa giả, nhân cư trù mật giả.
Đất bình dương mà nhiều hầm lò bếp núc, là nơi dân cư đông đúc, cũng là đất không thể táng.

11/. Bình dương tác chiến tràng giả, tứ đại tán giả vị sinh khí bất tụ.
Đất bình dương mà có thể làm được chiến trường, tức là bốn phía trống trải, là nơi sinh khí bất tụ, không thể táng.

12/. Bình dương tiêm diễm giả sát thái trọng, cục tiền thủy trực ngạnh vô tình giả bất táng.
Đất bình dương mà sơn san nhọn như ngọn lửa là sát khí rất lớn, trước huyệt thúy lại trực ngạnh (thẳng mà chảy mạnh) vô tình, là nơi không thể táng.

13/. Bình dương thần tiền phật hậu, âm linh bất an bất táng.
Đất bình dương trước có Thần, sau có Phật, khiến cho âm linh bất an, là nơi không thể táng.

Tbst



Hôn trầm và lười biếng

Hỏi: Kính thưa Thầy! Bị hôn trầm và lười biếng con phải phá như thế nào?

Đáp: Gặp bệnh này con phải hết sức chiến đấu với nó, biết có trạng thái muốn nằm ngủ thì không nên ngồi mà phải đứng dậy đi kinh hành liền không được chậm trễ, vì chậm trễ lười biếng sẽ lôi con nằm xuống và tâm con sẽ có những lý luận rất tinh vi, để lôi con nằm hoặc ngồi tu, rồi ngủ.

Gặp bệnh này:

1- Con phải hướng tâm nơi bước chân đi và tác ý to tiếng: “Tâm phải luôn tập trung vào bước chân đi, không được xao lãng”.

2- Tìm một bài kệ, một câu thơ thường nhắc đến sự chết và tất cả sự vô thường đau khổ của thân người để cảnh giác. Từ đó con quán xét đường tu hành của con hiện giờ tu hành chưa đến đâu mà lỡ vô thường nhân quả đến thì lấy gì tiếp tục tu đây. Mất thân rồi biết còn có được thân sau nữa hay không? Khi tư duy như vậy rồi con lại đem thân ra suy nghĩ kế tiếp về nghĩa lý vô lậu hoặc về thân vô thường, bất tịnh, vô ngã và đau khổ.

Hoặc nhớ lại người cha thân yêu của mình đã mất, mình phải siêng năng tinh tấn tu tập để tìm thấy cha mình sanh về đâu.

Tốt nhất muốn phá tâm hôn trầm thùy miên và lười biếng thì con nên đi kinh hành 20 bước rồi lại ngồi tu 5 hơi thở, cứ tu tập như vậy mãi chừng nào hết hôn trầm thùy miên và lười biếng thì mới thôi, tu 5 hơi thở rồi đứng dậy đi kinh hành là phương pháp phá và diệt sạch hôn trầm tuyệt vời. Các con nên cố gắng tu tập thì sẽ chiến thắng trong tay. Nếu hôn trầm thùy miên quá nặng thì mỗi bước đi thì mỗi tác ý to tiếng kèm theo như truyền lệnh: “Chân mặt bước! Chân trái bước!!!!”. Cứ mỗi lệnh là một hành động làm theo đúng lệnh. Lệnh truyền như tiếng thét.

Có tu tập như vậy con mới phá được hôn trầm, vì hôn trầm rất khó phá. Đừng để gục rồi mới đi kinh hành là quá trễ, vừa thấy dạng hôn trầm là đứng dậy ngay liền, chiến đấu liền, không được xem thường nó. Ngay từ lúc đầu phải chiến đấu tận lực thì mới mong thắng được nó. Hôn trầm thùy miên là trạng thái tâm si của con vì vậy nó rất khó trị. Tu hành thường bị nó cản trở nên rất khó dẹp, phải bền chí kiên cường, giờ giấc phải nghiêm chỉnh. Lúc nào cũng đề cao cảnh giác trạng thái lười biếng, hôn trầm, thùy miên, vô ký, hôn tịch, ngoan không v.v..

Trích Đường về xứ Phật tập III
Trưởng lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây