Monday, October 6, 2014

Để trở thành thượng lưu: doanh nhân Việt còn bao xa?

Rất nhiều người trong chúng ta vẫn coi những doanh nhân giàu có, dùng toàn đồ xịn, luôn thể hiện mình là có bằng cấp, có học vị là những người thuộc giới thượng lưu của xã hội. Sự thật, đó chỉ là những vị "trọc phú học làm sang". Vậy thế nào là người thuộc giới thượng lưu và doanh nhân cần những điều kiện gì để nằm trong tầng lớp thượng lưu của xã hội?

Vậy thế nào là người thuộc giới thượng lưu và doanh nhân cần những điều kiện gì để nằm trong tầng lớp thượng lưu của xã hội?

Khái niệm Thượng lưu

Hãy còn nhiều tranh luận về khái niệm Thượng lưu. Theo chúng tôi, giới thượng lưu bao gồm những tinh hoa, đẳng cấp ở nhiều lĩnh vực. Họ gánh vác những trách nhiệm xã hội lớn lao, kết giao với nhau làm thành đầu tàu kéo cả xã hội tiến lên. Họ có mức sống sung túc về vật chất, mang trí thức cao, có hệ thống và có một cốt cách văn hóa với các giá trị tinh thần, phong thái hành vi xã hội chuẩn mực. Trong các phẩm chất nêu trên thì phẩm chất trí tuệ cao, có cốt cách văn hóa là quan trọng, chứ không đơn thuần chỉ là người có tiền, có quyền lực.

Bằng trí tuệ và tài sản của mình, giới thượng lưu được coi là lực lượng tiên phong thúc đẩy xã hội phát triển. Tư tưởng của họ ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của xã hội, thậm chí định hướng sự phát triển của xã hội. Do vậy, giới thượng lưu đại diện cho diện mạo, sức sống và ảnh hưởng của một xã hội mà giới đó xuất hiện. Người ta vẫn thường gọi tên “Giới Thượng Lưu” Luân Đôn, Paris, Trung Hoa…khi nói về văn hóa, kinh tế, chính trị của Anh, Pháp hay Trung Quốc.

Cùng với sự phát triển của xã hội, các quan niệm về giới thượng lưu sẽ có nhiều biến đổi, song tri thức, sự giàu có, cốt cách văn hóa và trách nhiệm sẽ luôn là các yếu tố cốt lõi tạo nên hình ảnh giới thượng lưu.

Giới thượng lưu chính là đầu tàu kéo cả xã hội tiến lên. Họ luôn trăn trở tìm lời giải cho những vấn đề nóng bỏng và gai góc để giúp xã hội không ngừng tiến bộ. Điều này thể hiện qua các hành động chung tay chia sẻ trách nhiệm với cộng đồng: cứu trợ thiên tai, tặng tiền cho các quỹ từ thiện, tài trợ cho các chương trình vì cộng đồng... Những người tham lam, ích kỷ, háo danh và vô trách nhiệm sẽ sớm bị đào thải khỏi giới này.

Sung túc về vật chất: Giàu có là điều kiện cần cho một người gia nhập giới thượng lưu. Một mặt, nó mang lại cho họ nhiều cơ hội tận hưởng cuộc sống tiện nghi như: xài quần áo và đồ dùng hàng hiệu, đi xe Mecedes, dùng điện thoại Vertu, chơi các môn thể thao quý tộc như Golf, Tennis... Mặt khác, nó là tiền đề để họ hoàn thiện vai trò của mình: bồi đắp và cống hiến về tri thức, thực hiện trách nhiệm xã hội... Khác với thời phong kiến trước kia, thời nay, sự sung túc vật chất là do chất xám của họ mang lại hơn là do của cải thừa hưởng từ gia đình. Họ có thể là một thương nhân thành đạt qua các thương vụ làm ăn lớn, một vị tiến sĩ hay giáo sư khả kính giàu có bằng chính tri thức của mình hay một quan chức cao cấp trong bộ máy chính quyền...

Tri thức cao, hệ thống: Nền sản xuất hiện đại đòi hỏi hàm lượng tri thức trong công việc ngày một cao hơn. Giới thượng lưu là tầng lớp dẫn dắt sự phát triển của xã hội, họ cần có tri thức để giải quyết những vấn nạn hay có những những giải pháp đưa xã hội tiến lên. Vì vậy, tri thức đối với họ không chỉ là bằng cấp mà còn là kinh nghiệm sống, quá trình sáng tạo, tái sản sinh và chuyển hóa các giá trị tinh thần và trí tuệ vào cuộc sống một cách hiệu quả và có hệ thống.

Cốt cách văn hóa: Yếu tố khẳng định đẳng cấp thượng lưu chính là cốt cách văn hóa. Cốt cách đó được thể hiện qua hành vi ứng xử và bản lĩnh văn hóa của họ. Người có cốt cách văn hóa, trước mọi thăng trầm của cuộc sống vẫn giữ mình chính trực. Họ biết quý trọng và thích kết giao với giới trí thức, văn nghệ sĩ đỉnh cao nhằm bồi đắp các văn hóa cho bản thân. Điều này khác với hiện tượng "học làm sang" của một lớp nhà giàu mới hiện nay: học nhảy, học ăn mặc ứng xử song lại tự ý vẽ nhà quái đản bắt kiến trúc sư theo ý mình, mua tranh "chợ" treo salon...

Hiểu theo đúng định nghĩa thì có thể nói giới thượng lưu Việt Nam được hình thành từ thời nhà Trần với các quý tộc tài giỏi và hào hoa như Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật…

Đến thế kỷ XX, giới thượng lưu là những trí thức lớn được đào tạo bài bản như Đặng Thai Mai, Tạ Quang Bửu, Võ Nguyên Giáp... Theo nhà thơ Hoàng Hưng, xuất thân từ một gia đình thượng lưu ở Hà Nội xưa, phẩm chất không thể phủ nhận của giới thượng lưu Hà Nội xưa là ý thức tự hào và giữ gìn truyền thống gia tộc, bản lĩnh tự tin, lòng tự trọng và năng lực trí tuệ cao. Họ không chỉ có tiền của và địa vị mà còn có tri thức, có cốt cách văn hóa và trách nhiệm với gia đình, xã hội. Dù có “thất thế” vẫn ung dung, sang trọng “bần tiện bất năng duy, uy vũ bất năng khuất”.

Khái niệm thượng lưu chưa sử dụng thống nhất

Theo từ điển Tiếng Việt, thượng lưu là "tầng lớp được coi là cao sang trong xã hội, theo quan niệm cũ". Trên thực tế, người ta vẫn thường đánh đồng tên gọi "thượng lưu" với một trong những đối tượng như: tầng lớp nhà giàu mới, tầng lớp quý tộc cũ, tầng lớp trí thức có học vị cao, các nhà văn hóa hay chính trị có quyền chức trong xã hội...

Nếu theo đúng nghĩa thượng lưu thì theo chúng tôi trong xã hội Việt Nam hiện nay chưa có giới thượng lưu. Tuy nhiên, hai tầng lớp nhà giầu mới, trí thức học vị cao vẫn thường bị nhiều người hiểu lầm là tầng lớp thượng lưu. Họ còn thiếu những yếu tố cần thiết để gia nhập tầng lớp thượng lưu.

Tầng lớp giàu có thường là những người có tiền, có quyền lực. Họ có một cuộc sống xa hoa, tận hưởng mọi điều kiện tốt nhất của cuộc sống và coi đó là thước đo giá trị bản thân. Họ thường tự coi mình là giới thượng lưu. Tuy nhiên những người giàu này chưa đủ điều kiện để gia nhập giới thượng lưu nều họ thiếu những yếu tố về văn hóa, trí tuệ, thẩm mĩ... Đặc biệt khi có nhiều tiền mà không có cốt cách văn hóa, ứng xử kém và nghèo nàn về tri thức, họ chỉ là những kẻ trọc phú, hãnh tiến.

Ngược lại, tầng lớp trí thức là thường được mọi người kính trọng vì sự hiểu biết, cốt cách văn hóa. Họ là những người tiếp thu, truyền bá và sáng tạo các giá trị mới của tri thức, văn hóa; đề xuất, phản biện một cách độc lập các chủ trương chính sách và biện pháp giải quyết các vấn đề của xã hội; dự báo và định hướng dư luận xã hội. Tuy nhiên khi chưa đạt tới một ngưỡng nhất định về cơ sở vật chất thì họ vẫn chưa đủ điều kiện để thực hiện các hành động mang tính vĩ mô nhằm cải tạo xã hội tốt đẹp hơn.

Hàng ngũ thương nhân vốn vẫn bị coi là giới “con buôn” bởi đặc tính nổi bật là thiếu trung thực và vụ lợi. Nhưng theo sự phát triển của nền kinh tế thị trường, đội ngũ thương nhân dần chuyển thành giới doanh nhân có tiềm lực về kinh tế, giàu về trí tuệ và văn hóa, có đạo đức và trách nhiệm cao với xã hội. Tuy nhiên, giới doanh nhân hiện nay chưa thực sự có trình độ học vấn uyên thâm và chưa có một văn hóa riêng nên chưa thể đại diện cho cốt cách văn hóa của cả xã hội như giới thượng lưu.

Xu hướng hình thành giới thượng lưu mới tại Việt Nam

Nền kinh tế thị trường của Việt Nam phát triển nhanh chóng, kéo theo sự hình thành một tầng lớp "người giàu". Bên cạnh đó, giới doanh nhân không ngừng cố gắng để vươn tới trở thành tập thể doanh nhân - trí thức. Đây chính là hai xu hướng hình thành giới thượng lưu mới tại Việt Nam trong tương lai.

Hiện tại, trong xã hội Việt Nam chưa có giới thượng lưu hiểu theo đúng nghĩa, mà mới chỉ có những người giàu đang cố làm như mình có tri thức bằng cách mua sắm nhiều sách, mua bán danh hiệu, bằng cấp, hay cố tỏ ra mình là những người có ứng xử xã hội tốt, có đóng góp cho xã hội. Bên cạnh đó, giới doanh nhân của đất nước không ngừng cố gắng để vươn tới tập thể doanh nhân - trí thức mong trở thành giới thượng lưu mới trong tương lai.

Sự xuất hiện của rất nhiều trường học quốc tế, đáp ứng nhu cầu của những nhà giàu muốn con cái họ được giáo dục với chất lượng cao và một cách toàn diện hơn so với thế hệ trước. Họ hướng cho con cái họ học về văn hóa, về tri thức, về thẩm mỹ về cách ứng xử. Đây là bước khởi đầu quan trọng cho sự hình thành một giới thượng lưu trong tương lai. Theo Họa sĩ Trịnh Cung, việc cho con em học ở những trường quốc tế là “bước đi quan trọng tiếp theo để những đứa trẻ con nhà giàu được giáo dục toàn diện hơn bố mẹ chúng và giới thượng lưu của chúng ta ngày mai sẽ bắt đầu từ đây”.

Từ trước đến nay, hàng ngũ thương nhân luôn bị đặt ở vị trí thấp nhất trong thứ tự: sỹ, nông, công, thương, bởi họ bị cho là tầng lớp thiếu trung thực và vụ lợi. Ngày nay, giới thương nhân đã thay đổi. Họ là những người đặt mục tiêu cung cấp các sản phẩm và dịch vụ (vật chất và tinh thần) nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội để kiếm lợi nhuận. Bên cạnh đó, đội ngũ này lại có mối quan hệ mật thiết giữa khoa học - kỹ thuật, sản xuất công nghiệp và thương mại. Có thể thấy, giới doanh nhân đang hướng tới xây dưng mối quan hệ doanh nhân – tri thức để đạt tới tập thể doanh nhân – trí thức mới.

Dựa trên những giá trị vật chất, tinh thần mà giới doanh nhân mang lại cho xã hội, từ những sản phẩm, dịch vụ , đến những hành động rất tiêu biểu như tặng tiền của vào những quỹ để nghiên cứu góp phần xây dựng xã hội và làm tự thiện, bảo trợ văn hóa,… doanh nhân đã tiến lại gần hơn tới giới trí thức. Bởi giới trí thức tiêu biểu hiện nay là những người ngoài năng lực sáng tạo ra phải luôn luôn trăn trở tìm lời giải cho những vấn đề nóng bỏng và gai góc của xã hội để giúp nó không ngừng tiến bộ. Và bằng cấp giờ chỉ là tấm thẻ vào cửa của một trường thi nghiệt ngã là thực tiễn cuộc sống.

Giới doanh nhân đang vượt qua được ngưỡng cửa bằng cấp để vươn tới tập thể doanh nhân – tri thức bởi họ chứng tỏ được trên thực tế năng lực sáng tạo ra những sản phẩm tinh thần hoạt động có hiệu quả và làm lan tỏa những giá trị tinh thần và trí tuệ vào cuộc sống.

Điều kiện để doanh nhân Việt trở thành giới thượng lưu

Theo sự phát triển của kinh tế thị trường, trong xã hội ta đang hình thành một tầng lớp doanh nhân có tiềm lực về kinh tế, giàu về trí tuệ và văn hóa, có đạo đức và trách nhiệm cao với xã hội. Họ không chỉ đóng góp cho xã hội những giá trị kinh tế mà càng ngày tầm ảnh hưởng của họ càng lớn, chi phối tới cả những giá trị, văn hóa, tư tưởng. Nhìn nhận về vai trò của giới doanh nhân, một số chuyên gia cho rằng: trong tương lai không xa, giới doanh nhân cùng với giới tri thức và giới chính trị sẽ tạo nên giới thượng lưu - định hướng và thúc đẩy sự phát triển của xã hội.

Để thực sự khẳng định và phát huy được vai trò của mình, doanh nhân cần trở thành một trong những bộ phận tạo nên giới thượng lưu trong xã hội. Tuy nhiên, để bước chân vào thế giới thượng lưu, giới doanh nhân cần phải xây dựng được cho mình nền tảng tri thức, quyền lực và những giá trị văn hóa, tư tưởng tiến bộ có ý nghĩa định hướng sự phát triển của xã hội.

Tri thức: Bản thân doanh nhân là những người rất có năng lực và có kiến thức về nhiều lĩnh vực. Nhưng để trở thành người có ảnh hưởng lớn trong xã hội, giới doanh nhân cần nâng tầm tri thức của mình lên hơn nữa. Tri thức ở đây không đồng nghĩa với bằng cấp. Có những người nghĩ rằng có nhiều danh hiệu, bằng cấp thì sẽ là thượng lưu nên bằng mọi cách sắm cho mình đủ loại danh hiệu thật có, giả có nhưng đó chỉ là loại “ít chữ học làm sang”. Ngược lại, có những người không có bằng cấp, không học qua một trường lớp đào tạo chính quy nào nhưng tri thức của họ rất uyên bác, vẫn được người đời nể trọng. Tri thức ở đây được hiểu rộng ra là vốn sống, vốn hiểu biết, là sự sáng tạo, sản sinh và truyền bá những giá trị tinh thần, tư tưởng, kiến thức và trí tuệ cho xã hội.

Quyền lực: Càng ở địa vị càng cao, người ta càng có quyền lực lớn. Song đó chỉ là quyền lực chức vị, và khi thôi chức rồi thì rất có thể cũng mất luôn quyền lực. Quyền lực cá nhân chỉ có thực sự khi quyền lực đó xuất phát từ năng lực và phẩm chất cá nhân. Bản thân mỗi doanh nhân cần trở thành một nhà lãnh đạo xuất sắc, cần tạo được quyền lực cho mình từ uy tín, đạo đức, tài năng của mình, chứ không phải từ chức vị hay tiền bạc.

Giá trị văn hóa, đạo đức, tư tưởng, hành vi ứng xử… tạo nên cốt cách văn hóa của mỗi cá nhân. Văn hóa, đạo đức… là một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Doanh nhân - lớp người tiên tiến nhất cũng phải là người có văn hóa, thuộc về văn hóa. Doanh nhân có văn hoá phải từ trong cách thức kinh doanh, triết lý kinh doanh, thực tế kinh doanh. Và văn hoá trong cuộc sống hàng ngày, lối sống, đối nhân xử thế, đối với gia đình, cha mẹ, bạn bè, trách nhiệm với cộng đồng xã hội…Với năng lực và phẩm chất của mình, doanh nhân phải là lực lượng đi đầu trong việc giải quyết những vấn đề của xã hội.

Khó khăn của doanh nhân Việt để trở thành người thượng lưu

Không dễ cho doanh nhân tiến lên giới thượng lưu bởi có nhiều vật cản trên con đường đó. Khó khăn doanh nhân gặp phải ngay từ trong bản thân doanh nhân và những rào cản từ xã hội.

Khó khăn do doanh nhân

- Doanh nhân Việt chưa có được một văn hóa riêng nên chưa thể đại diện cho cốt cách văn hóa của cả xã hội như người ta vẫn thấy ở giới thượng lưu. Văn hóa doanh nhân Việt Nam chỉ mới dừng lại ở từng cá nhân đơn lẻ. Ngày xưa, Việt Nam có những doanh nhân cốt cách, xứng tầm thượng lưu như cụ cử Lương Văn Can, ông Bạch Thái Bưởi, ông bà Trần Văn Bô….Và ngày nay, có thể kể đến là Đặng Lê Nguyên Vũ, Giản Tư Trung, Lý Quý Trung….Nét văn hóa kinh doanh xưa đã mai một theo thời gian vì không có người “tiếp lửa” cho nó. Còn những nét văn hóa ở những doanh nhân trẻ lại chưa đủ mạnh để lan tỏa đến với mọi người. Không thể tìm được nét văn hóa chung trong cộng đồng doanh nhân Việt là nhân xét chung của hầu hết doanh nhân nước ngoài.

- Cái yếu thứ hai của doanh nhân Việt nếu muốn trở thành giới thượng lưu là thiếu trình độ học vấn uyên thâm. Phần đông doanh nhân Việt Nam trưởng thành từ trong kinh nghiệm. Một số ít khởi nghiệp qua đào tạo nhưng không được đào tạo bài bản. Kiến thức của họ chỉ chuyên về lĩnh vực họ kinh doanh. Doanh nhân Việt không có một kiến thức phong phú, uyên thâm về các lĩnh vực hỗ trợ cho kinh doanh như chính trị, nghệ thuật, khoa học…Học vấn uyên thâm là yếu tố được đề cao hàng đầu trong kinh doanh của người Do Thái, dân tộc của các nhà kinh doanh lỗi lạc. Chính vì không có đầy đủ học vấn nên doanh nhân Việt còn thua kém nhiều mặt so với doanh nhân thế giới, và chưa thực sự khẳng định được vai trò của mình trong xã hội.

Rào cản xã hội

- Việt Nam chưa tạo được một môi trường thuận lợi để giúp doanh nhân phát huy hết sức mạnh của mình. Quá nhiều thủ tục hành chính rườm rà nhưng lại thiếu sự minh bạch làm chậm sự khởi nghiệp kinh doanh của một doanh nhân, gây khó khăn cho doanh nghiệp. Thêm vào đó, xã hội Việt Nam chưa thật sự đề cao doanh nhân. Những quan niệm cũ, lỗi thời xem doanh nhân là những kẻ trục lợi, kẻ cơ hội, kẻ giàu có nhưng không giúp ích gì cho xã hội vẫn đang còn tồn tại ở một số đông cộng đồng. Điều này làm giảm đi mong muốn cống hiến cho xã hội của doanh nhân. Doanh nhân không muốn làm hết trách nhiệm của mình cho cộng đồng.

- Hệ thống đào tạo yếu kém không phát triển được tài năng, nhân cách, văn hóa của con người. Điều này đã ảnh hưởng lớn tới chất lượng nguồn nhân lực. Hay nói như Họa sỹ Trịnh Cung, hệ thống giáo dục chính là xương sống, là chuẩn mực để tạo ra con người. Hầu hết các cá nhân xuất sắc đều được hưởng một nền giáo dục, hoặc đều được sống trong một môi trường học thuật có chất lượng. Sự yếu kém trong hệ thống giáo dục Việt Nam đã cản trở rất lớn tới sự phát triển.

Theo Doanh Nhân 360

LÊ HIỀN ĐỨC – KÍCH ĐỘNG BIỂU TÌNH NGÀY 10/10 ĐỂ LÀM LOẠN

Nhân dân Thủ đô Hà Nội đang háo hức chờ đón pháo hoa được bắn ở 30 điểm nội và ngoại thành lúc 21h00 ngày 10-10-2014 để kỷ niệm 60 năm Hà Nội được giải phóng khỏi gót giày quân xâm lược.




Câu hỏi được đặt ra là: 

- Tại sao cụ Lê Hiền Đức lại kêu gọi người dân xuống đường biểu tình và lũ rận khắp hành tinh lại hò reo, chọn ngày biểu tình "Đòi dừng bắn pháo hoa" vào đúng ngày bắn pháo hoa, chứ không phải là biểu tình trong những ngày này, và những ngày trước đó? Vậy có thật, chúng thực lòng muốn dừng bắn pháo hoa vì lý do "tiết kiệm" không?

- Tại sao chúng không viết đơn kiến nghị gửi các cơ quan chức năng rồi mới biểu tình? Vậy có thật chúng thực lòng muốn dừng bắn pháo hoa vì lý do "tiết kiệm" hay toan tính mưu đồ chống Đảng và Nhà nước?

Để có câu trả lời xác đáng, chúng ta nên hiểu về con người trong quá khứ: 

Bà Lê Hiền Đức (sinh ngày 12/12/1932) tên thật là Phạm Thị Mỹ Dung, là con gái út của tri phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Khi còn trẻ, bà tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm và có nhiều thành tích, đóng góp cho cách mạng. Thế nhưng, từ một công dân mẫu mực đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực nay đã biến thành “con rận cái” cắn sự bình yên của đất nước. 

Lê Hiền Đức thường xuyên trả lời phỏng vấn trên đài BBC và một số đài báo nước ngoài khác với lời lẽ vu cáo, xuyên tạc đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; cách đây không lâu cũng chính con người ấy lại có những hành động, lời nói mang nặng tính kích động và đầy thách thức trong vụ việc xảy ra tại Sở TT & TT chiều tối ngày 01/6/2012.

Bà Lê Hiền Đức phá hủy tài sản, gây rối tại Sở TT & TT Hà Nội

Chưa hết, Lê "Hiền Đức" điên cuồng chống đường lối ngoại giao - quốc phòng của Đảng, Chính phủ, luôn đi đầu kích động các cuộc biểu tình “chống” Trung Quốc trong hai năm 2011, 2012, 2014 qua đó lên án Đảng, Nhà nước ta “hèn với giặc ác với dân”. 

Rõ ràng chúng chống Đảng, Chính phủ, chống sự bình yên của đất nước là chống thật, và biểu tình "Đòi dừng bắn pháo hoa" chỉ là cái vỏ bọc ngụy tạo cho những mưu toan chống Đảng, Nhà nước ta.

Cơn động đất Bình Dương và Vũng Áng (Hà Tĩnh) đã làm nhân dân ta thức tỉnh. Tối 10-10-2014 nếu chúng giở trò biểu tình chống phá, chắc chúng sẽ gặp sự phẫn nộ của nhân dân.

Hãy đập chết bọn chúng như đập chết những con chó dại, vì chúng là kẻ thù của đất nước, kẻ thù của nhân dân, chứ chúng không còn là "nhân dân" nữa !

Quốc Trung

CỔ SÚY CHO BIỂU TÌNH HỒNG KÔNG ĐỂ LÀM GÌ?

Hồng Kông – một đặc khu kinh tế của Trung Quốc đã lâm vào tình trạng mất ổn định, thậm chí là tê liệt sau hàng loạt cuộc biểu tình, bạo động diễn ra. Hồng Kông có thể sẽ rơi vào tình trạn hỗn loạn và mất kiểm soát, toàn bộ các hoạt động kinh tế bị ảnh hưởng và thiệt hại vì cuộc biểu tình. Ngay sau khi nhận thấy tình trạng như vậy ở Hồng Kông là điều kiện thuận lợi để mình hoạt động các nhà “Rận chủ” ở nước ta đã đua nhau cổ vũ, lấy sự việc ở Hồng Kông như một tấm gương để chúng noi theo hoạt động. Dưới sự chỉ đạo của các thế lực thù địch nước ngoài chúng gần như cùng lúc đưa ra một loạt các bài viết trên các trang blog phản động cũng như tuyên truyền rằng Việt Nam cần đi theo Hồng Kông để tiến hành một cuộc biểu tình và bạo động như vậy. Tất nhiên vẫn theo cách cũ , chúng đưa ra những luận điệu, những ngôn từ hết sức mỹ miều, tốt đẹp như chúng ta cần biểu tình, đấu tranh để đòi tự do, dân chủ, đấu tranh vì nhân quyền….


Tình trạng hỗn loạn tại Hồng Kông

Các nước phương Tây chưa lúc nào ngừng chống phá chúng ta. Sự việc vừa đang diễn ra ở Hồng Kông cũng phần nào cho chúng ta thấy được âm mưu và cách thức hoạt động của chúng từ việc lợi dụng các cuộc biểu tình, bạo động để từng bước can thiệp vào chủ quyền của các nước. Nhưng chúng ta hãy nhìn vào hậu quả mà Hồng Kông đang phải gánh chịu. Tình hình khu vực thì mất ổn định, mọi hoạt động sinh hoạt của người dân bị ảnh hưởng, kinh tế thì đình trệ thậm chí những tài sản của nhân dân và các công ty còn bị đập phá xâm hại nghiêm trọng. Như vậy thực chất những người biểu tình đang bị lợi dụng như một con bài để thực hiện một âm mưu thâm độc của các nước đế quốc.

Các nhóm, tổ chức phản động, các nhà “rận chủ” trong nước thấy tình hình ở Hồng Kông như bắt được vàng, như một tấm gương để chúng bắt chước theo. Chúng tôn vinh những kẻ đứng đầu cuộc bạo động ở Hồng Kông như những anh hùng, những nhà dân chủ dân quyền vĩ đại. Chúng ngay lập tức thần thánh hóa sự việc ở Hồng Kông để lợi dụng sự việc đó nhằm tiến hành một cuộc biểu tình bạo động ở trong nước. Bằng mọi cách chúng lừa bịp, lôi kéo người dân mà đặc biệt là học sinh, sinh viên đi theo chúng để đi biểu tình thay vì học tập và lao động. Chúng tạo ra một không khí căng thẳng như chúng sắp tiến hành một cuộc chiến tranh. Trên các trang web, blog phản động của mình chúng kêu gọi mọi người , kêu gọi lực lượng sinh viên, học sinh hay coi đây như trận chiến cuối cùng của mình.

Khẩu hiệu mà chúng đưa ra bản chất là những cái mác mà các tổ chức phản động như Việt Tân đang dùng như: đấu tranh bạo động và đấu tranh bất bạo động. Sự việc ở Hồng Kông là một dạng mà chúng gọi là đấu tranh bạo động. Tức là núp dưới danh nghĩa của các cuộc biểu tình nhằm mục đích dân chủ nhân quyền chúng tiến hành gây rối trật tự an toàn xã hội, gây ra tình trạnh mất ổn định và tiến tới là mất kiểm soát tọa điều kiện cho các thế lực thù địch can thiệp vào công việc nội bộ của một nước. Chúng sử dụng những luận điệu, những ngôn từ đẹp đẽ để che giấu cho bản chất thật của mình. Cùng với các hoạt động kêu gọi biểu tình, bạo động thì chúng còn tiến hành xuyên tạc thông tin, xuyên tạc sự thật để cho người dân Việt Nam hiểu sai tình hình ở Hồng Kông, hiểu sai bản chất của sự việc đang diễn ra từ đó chúng sẽ có điều kiện để kích động lội kéo người dân trong nước đi biểu tình vào ngày 10/10 kỉ niệm 60 năm giải phóng Thủ đô. 

Lợi dụng vấn đề ở Hồng Kông chúng cũng đồng thời đưa ra các luận điệu xuyên tạc yêu cầu chúng ta phải từ bỏ Đảng, phải thay đổi chế độ và gỡ bỏ một số điều trong hệ thống pháp luật của chung ta như Điều 4 Hiến pháp hay Điều 78, 258 Bộ luật Hình sự. Chúng ngụy biện rằng chúng ta cần phải từ bỏ Đảng để thoát ly khỏi ĐCS Trung quốc và phải đi theo các nước phương tây. Nhưng ngay trong lí lẽ ngụy biện của mình chúng đã cho thấy sự khập khiễng trong phát ngôn. Đảng ta là đại diện cho giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân Việt Nam. Đảng ta hoàn toàn độc lập trong mỗi quyết định của mình và sự lãnh đạo với toàn thể dân tộc ta. Mỗi công dân luôn được thể hiện quyền làm chủ của mình, được tự do quyết định vận mệnh của mình và lựa chọn con đường phấn đấu đi lên cho dân tộc mình. Chúng ta sẽ không vì bất cứ lí lẽ xảo trá nào mà từ bỏ quyền tự do, sự độc lập như vậy để đi theo hay phụ thuộc vào bất kì một nước đế quốc nào. 

Toàn thể nhân dân mà đặc biệt là thế hệ học sinh, sinh viên - những người chủ nhân tương lai của đất nước cần tỉnh táo trước âm mưu và những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Chúng ta cần luôn nêu cao tinh thần cảnh giác không để chúng lợi dụng , lôi kéo kích động để tiến hành các hoạt động bất hợp pháp, tiến hành gây rối, phá rối trật tự an toàn xã hội. Mọi âm mưu và thủ đoạn của chúng sẽ bị chính những học sinh, sinh viên những người mà chúng muốn lừa gạt nhận ra và phản bác. Cho dù chúng có lợi dụng vấn đề Hồng Kông để xuyên tạc nước ta như thế nào thì mọi người nhân Việt Nam cũng luôn tin tưởng vào con đường mình đã chọn và kiên định mục tiêu phát triển của đất nước mình.

Sự Thật

Tu đúng Như Lý Tác Ý

Trong toàn bộ giáo trình về pháp môn tu tập thực hành của đạo phật thì pháp môn NHƯ LÝ TÁC Ý là một pháp môn độc đáo, tuyệt vời nhất, cũng là một pháp môn nòng cốt nhất của đạo Phật. Bắt đầu từ tu tập giới luật xả tâm đến tu tập Thiền định và Tam Minh đều dùng nó. Duy chỉ có pháp môn nầy mới có đủ đạo lực, đủ khả năng làm chủ sanh, lão, bệnh, tử.

Vậy, Như Lý tác Ý là gì? Như Lý Tác Ý (còn gọi là Pháp Hướng Tâm, Pháp Dẫn Tâm) là phương pháp dẫn tâm vào lý chân chính giải thoát của đạo. Đây là phương pháp giống như “tự kỷ ám thị” (auto suggestion), dùng một câu nói tác ý (khởi ý) để gom tâm lại, tập trung thành một khối nội lực, không để tâm phân tán. Thí dụ: Khi tâm đang suy nghĩ miên man, thì dùng pháp hướng tâm mà nhắc tâm như sau: “Tâm hãy quay vào, định trên thân, không được phóng dật quay ra ngoài”. Khi ngồi thiền mà ngủ gục, muốn cho tỉnh thức thì dùng câu tác ý: “Tâm phải tỉnh thức, không được ngủ và nằm chiêm bao”.

Chỉ có tu tập pháp môn nầy mới trở thành một đạo lực siêu việt không thể nghĩ lường được.

Muốn xa lià và đoạn dứt tâm tham, sân, si, mạn nghi, thì duy nhất chỉ có pháp môn nầy mới ly và đoạn dứt các dục và ác pháp, ngoài ra không còn có pháp môn nào khác nữa.

Muốn nhập các định Như Y Túc thì pháp môn này đủ nghị lực để giúp cho hành giả muốn nhập loại định nào thì tuỳ ý nhập được liền.

Muốn nhập được Tam Minh và Thần Túc Thông thì ngoài pháp môn nầy ra không có pháp môn nào thực hiện được.

Tóm lại, pháp Như Lý tác Ý là một pháp môn độc nhất của đạo Phật để đưa con người thoát ra cảnh khổ của kiếp người, và biến hành giả thành một siêu nhân, một thánh nhân. (V/184-185) * Người tu thiền định mà không biết sử dụng Như Lý tác Ý thì không thể nào nhập các định được.

Đại Thừa và Thiền Đông độ nhắm diệt trừ vọng tưởng (Không niệm thiện, không niệm ác), tìm cái tĩnh lặng của Niết Bàn (bốn tánh của Niết Bàn là: thường, lạc, ngã, tịnh).

Phật dạy tu Thiền không phải ở chỗ nhiếp tâm, hết vọng tưởng để nhập định và nhất tâm định tĩnh. Ngược lại, Phật dùng pháp Như Lý tác Ý để trừ diệt, đi đến diệt vọng tâm, tham, sân, si, mạn nghi. Chính nhờ diệt trừ chúng, mới đạt được nhất tâm, nhập được tứ thánh định.

Dùng Như Lý tác Ý để ly dục, ly ác pháp, diệt ngã, xả tâm, quét sạch ngũ triền cái, đoạn dứt thất kiết sử, tâm vô lậu thanh tịnh, không còn đắm nhiễm sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp của thế gian, tâm được thanh tịnh, gọi nó là Định. ( V/198) Với Thiền Nguyên Thuỷ, vọng tưởng không thành vấn đề. Đối tượng tu tập là diệt tham, sân, si, mạn, nghi và thất kiết sử. (V/199-200) Trong Sơ Thiền có Tầm, có Tứ. Tầm không phải là định tướng (như một bài đăng trên báo Giác Ngộ) mà là hướng về thiện pháp. Tứ không phải là bám sát vào định tướng, mà Tứ là Như Lý Tác Ý để diệt ác pháp. Như trong bài Kinh Xuất Tức, Nhập Tức, Phật đã dạy về Định Niệm Hơi Thở, Như Lý Tác Ý rất rõ ràng: “Quán ly tham, tôi biết tôi hít vô. Quán ly si, tôi biet tôi thở ra”. Đó là Tứ Như Lý Tác Ý để xả tâm tham, sân, si, mạn, nghi, tức là xả ngũ triền cái. Thiền của đạo Phật không phải là Thiền ức chế tâm, mà dùng hơi thở để xả tâm. Cho nên Phật dạy: “Muốn nhập Sơ Thiền cho đến Tứ Thiền thì phải Định Niệm Hơi Thở khéo tác ý”.

IV/58. Muốn hướng tâm Như Lý tác Ý (ám thị) có kết quả, nghĩa là hết tham, sân, si thì phải giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh, ăn ngủ độc cư, sống trầm lặng một mình, thường sống biết nhẫn nhục tùy thuận, bằng lòng, chớ không phải chờ hết vọng tưởng như nhiều người tu thiền lầm tưởng.

Đó là lấy tâm “ám thị”, vừa lấy giới phòng hộ sáu căn, vừa sống lập đức, lập hạnh. Tu đúng như vậy thì tâm lần lượt sẽ được thanh tịnh, lần lượt ly dục, ly ác pháp, cho đến thanh tịnh hoàn toàn (tham sân si quét sạch).

Trưởng lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây

Saturday, October 4, 2014

Trên đội, dưới đạp

Ai cũng biết chuyện tiếu lâm “Một gã trọc phú ngu dốt, hám danh bảo một người nghèo láu lỉnh: - Nếu ta cho mi một góc tài sản, ngươi có bợ đỡ tâng bốc ta không? – Không! – Nếu ta cho nửa tài sản? – Cũng không! – Nếu cho cả tài sản?– Thì lúc đó, ông lại phải bợ đỡ tôi đấy”.

Trong truyện nôm khuyết danh Nhị Độ Mai có hai bố con Lư Kỷ, Hoàng Tung. Thực ra Tung chỉ là con nuôi, kém bố 6 tuổi nhưng xấu tính, xấu thói, đã “nỉ non chua cái chua con” (lời thơ trong truyện) để ton hót với cha nuôi, nói xấu trung thần Mai Bá Cao cốt lấy lòng dưỡng phụ.

Nhớ lời Nguyễn Trãi viết trong Quân trung từ mệnh tập khuyên các quan chớ có: “Người xu nịnh được tin dùng, người trung thực phải ngậm miệng, bè phái riêng tây phải bỏ, thái độ cố phạm phải chừa”…

Trong đơn vị, tổ chức hành chính, đoàn kết nếu có kẻ hay ton hót, nịnh hót, đấu hót để mưu lợi nhằm tâng công lấy lòng cấp trên, ắt làm hại người khác, gây chia rẽ nội bộ, lục đục bè phái, đấu đá giành lấn.

Thật là một thói xấu tai hại, đáng phỉ nhổ. Đó là sự kinh khủng nhất về sự cám dỗ vật chất vị kỷ cá nhân, bản vị cục bộ, mặt trái thú vật được che đậy của kẻ là người. Kẻ đó đem lòng đố kỵ ghen ghét người khác tài đức hơn mình, tử tế, trung thực hơn mình. Nó ví như con ruồi vo ve bên tai con bò kéo xe lên rồi kể với chủ rằng mình có công hơn bò!

Kẻ nịnh nọt, xu thời hoạt đầu hay ton hót cấp trên, dèm pha đồng nghiệp, đồng sự, đồng môn, đồng chí. Đó chính là thói tự hạ mình để tâng bốc một cách hèn hạ cốt cầu lợi. Nó xu mị, phỉnh nịnh người có chức, nịnh nọt để lợi dụng sự nhẹ dạ cả tin, sự thiếu bản lĩnh của người cầm cân nẩy mực. Nó là kẻ với cấp trên thì bợ đỡ, với cấp dưới thì nạt nộ, gây sự, sẵn âm mưu thủ đoạn “xỏ lá đá đít”.

Dân gian đã đúc kết “Trên đội, dưới đạp”. Đấy là bia miệng dành cho kẻ hay nịnh hót.

Trần Đồng Quang
Theo Tiền Phong

Đạo đức hiếu sinh

“Không nên giết hại chúng sinh” là lời dạy chí nghĩa chí tình của đức Phật Thích Ca khuyên bảo loài người. Người không giết hại chúng sinh là người có đạo đức hiếu sinh. Đạo đức hiếu sinh chính là lòng thương yêu sự sống của con người và muôn loài trên hành tinh này.

Đạo đức hiếu sinh chỉ có con người mới thực hiện được. Vì thế đạo Phật ra đời mới đem chỉ dạy cho nhân loại, để chúng ta xây dựng cho mình có một tâm hồn hiếu sinh. Nhờ tâm hồn hiếu sinh, con người mới sống không làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sanh, để biến cảnh sống trên hành tinh này thành cảnh sống an lạc cho mọi sự sống của muôn loài.

Hành tinh của chúng ta đang sống là một hành tinh có nhiều duyên hợp để sống và nảy sinh ra sự sống khác nhau. Có trùng trùng duyên hợp thì phải có trùng trùng duyên sinh. Sinh diệt là một thể tự nhiên của hành tinh sống.

Hành tinh sống là một hành tinh có nhiều duyên hợp lại để tạo thành một sự sống mới. Tạo thành sự sống mới có nghĩa là do các duyên hợp lại tạo ra một loài vật mới như: thực vật hay động vật mới.

Tại sao lại gọi hành tinh của chúng ta là hành sống.

Trong vũ trụ có nhiều thái dương hệ, trong mỗi thái dương hệ có nhiều hành tinh, trong các hành tinh phần nhiều là hành tinh chết vì nơi đó không có sự sống. Trong không gian vũ trụ có rất ít hành tinh sống so với hành tinh chết.

Hành tinh sống có nghĩa là nơi đó có môi trường sống phù hợp cho vạn vật sinh sôi, nảy nở, sống và lớn lên: Bắt đầu từ loài rong rêu, thảo mộc rồi đến các loài vi khuẩn, côn trùng và cầm thú sinh ra. Cuối cùng là loài người.

Cho nên vạn vật sinh ra không phải là do Đấng Tạo Hóa mà do các Duyên Hợp.

Chúng ta và vạn sinh vật do từ các duyên hợp lại sinh ra, cho nên chúng ta phải thương yêu nhau và thương tất cả chúng sanh, vì có thương yêu chúng sanh thì chúng ta mới bảo vệ sự sống của muôn loài và của chính chúng ta. Nếu vô tình chúng ta hủy hoại sự sống của chúng sanh (sự sống của loài vật) là chúng ta tự huỷ hoại sự sống của chính mình.

Loài người là một loài động vật cao cấp thông minh nhất trong các loài vật.

Nhờ có bộ óc thông minh nên loài người được xem là chúa tể của muôn loài.

Loài động vật trên hành tinh sống này thường giết hại lẫn nhau, ăn thịt nhau mà chẳng chút thương nhau. Loài người cũng chỉ là một loài động vật nên vẫn nằm trong bản chất hung ác của loài động vật. Vì thế nên vẫn giết hại và ăn thịt lẫn nhau. Hiện giờ loài người tự cho mình là văn minh, nhưng bản chất hung ác vẫn còn mang nặng trong tâm hồn.

Loài người vượt hơn muôn loài là nhờ có bộ óc thông minh, là nhờ có tình cảm sâu sắc, nên từ đó xuất hiện những con người thoát ra khỏi bản chất hung ác của loài động vật, tuyên dương lòng thương yêu sự sống của muôn loài. Đó là đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Ngài đã xây dựng cho loài người một nền đạo đức nhân bản – nhân quả, và kêu gọi mọi người mọi loài vật hãy thực hiện lòng hiếu sinh (tâm từ bi), lòng yêu thương nhau một cách chân thật.

Lòng thương yêu sự sống của muôn loài xuất hiện theo từng cấp độ:

- Cấp độ thứ nhất: con người biết thương con người.

- Cấp độ thứ hai: con người biết thương các loài động vật khác.

- Cấp độ thứ ba: con người biết thương cây cỏ và thảo mộc.

Gồm ba cấp độ này lại mới được gọi là “Lòng Hiếu Sinh”. Lòng hiếu sinh xuất phát từ tâm từ, bi, hỷ, xả. Trong đạo Phật tâm từ, bi, hỷ, xả còn có tên là Bốn Vô Lượng Tâm. Bốn Vô Lượng Tâm là một pháp môn tu tập để thực hiện “Đạo đức hiếu sinh”.

Một người sống có lòng hiếu sinh là người biết thương sự sống của muôn loài. Người nào sống được như vậy mới thật sự là bậc Thánh nhân. Vì chỉ có bậc Thánh nhân mới sống được như vậy, sống mà không nỡ giết hại và ăn thịt lẫn nhau, đó là một hành động không còn mang bản chất hung ác của loài động vật; đó là một hành động không thể loài cầm thú mà làm được, chỉ có con người mới thực hiện được mà thôi.

Bởi vậy Thánh nhân không phải từ trên trời rơi xuống hay dưới đất chui lên, mà từ con người, con người biết thương yêu sự sống của muôn loài.

Chỉ có con người biết tu sửa thân tâm, biết ngăn và diệt ác pháp, biết làm điều lành, biết không làm khổ mình, khổ người, khổ muôn loài. Người biết làm như vậy, đó là Thánh nhân.

Do biết khổ nên cố gắng khắc phục mình không làm điều ác, luôn sống làm điều lành, đó là tu tập để làm Người thật là Người, để làm Thánh thật là Thánh. 

Lòng hiếu sinh là một Thánh Đức của người tu sĩ đạo Phật. Nhưng dù là tu sĩ hay cư sĩ cũng đều phải thực hiện cho bằng được, nếu không thì phải trả nợ máu xương rất nặng trong nhiều kiếp.

Người tu sĩ nào đi ngược lại giới đức Thánh Hiếu Sinh này thì không phải là tu sĩ của đạo Phật, nếu chỉ biết nuôi thân mình bằng xương máu của chúng sanh thì sao gọi là Thánh Tăng và Thánh Ni được,.

Trong Bát Chánh Đạo, xin hỏi quý bạn Chánh Mạng là gì?

Có phải chăng nuôi mạng sống của mình bằng máu, xương của chúng sanh là Chánh Mạng ư?

Nuôi Chánh Mạng sao lại nỡ nhẫn tâm ăn thịt chúng sanh? Nuôi mạng sống của mình như vậy là chánh mạng ư?

Nuôi mạng sống của mình không có sự đau khổ của chúng sanh mới gọi là chánh mạng. Người ta nói và thuyết giảng về Chánh Mạng, nhưng người ta không sống đúng Chánh Mạng.

Sống không đúng chánh mạng mà làm đệ tử của Phật để làm gì? Thà đừng theo đạo Phật, mà đã theo đạo Phật thì phải sống cho đúng lời dạy của đức Phật. Sống không đúng lời dạy của đức Phật là phỉ báng đạo Phật.

Cho nên sống trong tà mạng sao lại gọi là đệ tử của Phật được. Đi ngược lại chân lý của đạo Phật (Đạo Đế), mà muốn làm đệ tử Phật thì có ích lợi gì. Phải không các bạn?

Bát Chánh Đạo là con đường tám Chánh chỉ cho ta có một cuộc sống chánh hạnh, đó là đức hạnh làm Người, làm Thánh.

Giới đức Thánh Hiếu Sinh là những hành động sống đối xử với muôn loài bằng lòng yêu thương cao quý tuyệt vời mà mọi người ai ai cũng đều phải học tập và trau dồi không riêng những đệ tử của đức Phật.

Muốn bảo vệ sự sống của muôn loài trên hành tinh này thì chúng ta phải cố gắng khắc phục mình để sống trọn vẹn Đạo Đức Hiếu Sinh này. Bởi vì giới đức Thánh Hiếu Sinh là những hành động cao quý tuyệt vời mà mọi người cần phải sống đúng như vậy để chan hòa lòng yêu thương với muôn loài; vì loài nào cũng muốn sống như loài nào. Có loài nào muốn chết bao giờ đâu? Phải không các bạn?”

Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây
Xem thêm: Con người - sinh vật dã man nhất thế giới

Friday, October 3, 2014

KHI TAY NHANH HƠN NÃO

Một lời khuyên mà tôi luôn đưa ra với các bạn đó là cố gắng tìm hiểu rồi hãy phát biểu, bởi lúc đó, dù ý kiến của bạn chưa thực sự sát đúng nhưng nó đáng được tôn trọng và xứng đáng để người khác cùng thảo luận với bạn. 




Nhưng hiện tượng tay nhanh hơn não vẫn là vấn đề nhức nhối, nó khiến chúng ta trở nên vô cùng bầy đàn một cách kệch cỡm. Tôi lấy ví dụ vụ Kenny Sang, anh ta nổ đấy, ba hoa bốc phét đấy, nhưng anh ta đã làm hại ai, đã đạp đổ nồi cơm của ai mà các bạn tự cho mình cái quyền rủa người ta xuống địa ngục? 



Các bạn nói dân chủ, nhưng các bạn không tôn trọng cái quyền cơ bản là "được viết lên facebook cá nhân" của người khác, Kenny Sang có fb và anh ta viêt lên đó, miễn anh ta không xúc phạm nhân phẩm ai, không gây ảnh hưởng đến ai, thì đó là quyền của anh ta. 

Nên không biết các bạn văn minh đến đâu, nhưng đừng nói dân chủ, nghe nó hơi có mùi không thơm lắm. Chứng nào các bạn chưa học cách tôn trọng thì chừng đó đừng nói chuyện đòi quyền này quyền nọ cao sang làm gì. 

Hông Kông biểu tình, các bạn nói đó là biểu tình vì dân chủ, tôi không hiểu biểu tình để đòi "từ được bầu cử gián tiếp quay lại thời kỳ không được bầu cử" nó dân chủ ở chổ nào? Đừng gọi đó là biểu tình vì dân chủ. 

Hong Kong biểu tình, trước hết là vì lý do kinh tế, sau nữa (nếu có) thì chỉ là bài toán "đại lục hay phương tây", "làm người Hán hay làm người Anh gốc Hán" mà thôi. Nghĩa là họ đang loay hoay tìm lối đi trong cái bức bí bởi kinh tế èo uột từ sau khủng hoảng 2008.

Việt Nam đã có lối đi của riêng mình, chả có phụ thuộc bố con thằng nào cả, nên VN chả có cái nhu cầu như Hồng Kông, nên các bạn đòi cái gì, hay thấy vui thì bắt chước làm trò hề coi chơi?

Các bạn có thể nói mình ủng hộ Hong Kong, Đài Loan vì ghét Trung Quốc, vì sao ghét Trung Quốc Là vì nó làm càn trên Biển Đông ... . Tôi nó bạn nghe, chuyện Biển Đông thì Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc là đồng 1 bọn cả. 

Người Hồng Kông ủng hộ chính sách bá quyền của Bắc Kinh, họ ủng hộ đường lưỡi bò. Còn Đài Loan, Tưởng Giới Thạch chính là tác giả của thuyết lưới bò đó, và hiện nay chúng đang chiếm đóng trên một số đảo ở Trường sa, Hoàng Sa. 

Lấy chủ quyền Biển Đông là tâm để xét chuyện biểu tình ở Hồng Kông, Đài Loan, thì đó là chuyện có lợi cho Việt Nam, bởi Trung Quốc có loạn thì Việt Nam yên, thời nào cũng vậy, ngày trước nhân Trung Quốc loạn Thập Đại Ngũ Quốc mà Khúc Thừa Dụ, Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền liên tiếp nổi lên giành lại quyền tự chủ và độc lập.

Mai Anh