Friday, October 3, 2014

SAO DÂN TA KHÔNG ĐƯỢC NHƯ HỒNG KÔNG?

Từ sáng kiến và hô hào của ông Hoàng Dũng, một thủ lĩnh của Phong trào con đường Việt Nam, các anh chị đấu tranh trong nước đang hô hào chiến dịch phản đối chính quyền Hà Nội tổ chức 30 điểm bắn pháo hoa vào dịp kỷ niệm 60 giải phóng Thủ đô là "quá lãng phí mồ hôi xương máu của nhân dân" và đưa ra ý tưởng viết hàng ngàn thư gửi UBND TP Hà Nội yêu cầu ngừng lãng phí tiền.

"Tôi, công dân chống tham nhũng Lê Hiền Đức chính thức kêu gọi toàn thể nhân dân xuống đường phản đối việc bắn pháo hoa này. Đến đúng ngày 10/10/2014, nếu chính quyền Hà Nội không huỷ bỏ ngay việc bắn pháo hoa vô cùng tốn kém, chúng ta hãy cùng nhau xuống đường diễu hành vòng quanh Bờ Hồ để phản đối việc này.

Nếu tôi gục ngã xuống, xin các bạn cứ tiến lên!

Lê Hiền Đức"
Có lẽ việc này không khả thi khi gặp phải những lời can gián, kiểu như “thời điểm này đã trong giai đoạn chuẩn bị hoàn thiện và mọi sự sắp đặt chia chác đã xong xuôi”, thư từ sẽ bị quẳng vào sót rác, bí quá, anh này đưa ra hàng loạt những tuyên bố xách động bạo lực không kém trình Bùi Hằng, Nguyễn Lân Thắng như “Thay vì bắn pháo hoa, đề nghị bà con bình bầu 30 đứa cần phải bắn nó lên giời để còn kịp nhét vào lỗ pháo”. Bó tay với trình lộng ngộn và khả năng “tạo hình ảnh” của một nhà đấu tranh nhân quyền!!!


So sánh với phát ngôn của cậu bé Joshua Wong và các bạn của cậu này, thật ngán ngẩm cho các nhà hoạt động xứ ta, mở mồm ra không câu trước thì gặp ngay câu sau là thối hoắc. Bởi vậy đừng có vội than thân, trách phận,hận đời sao dân ta không được như dân HongKong? Dân nhìn mấy ông bà đấu tranh dân chủ, nhân quyền hay xã hội dân sự từ trên xuống dưới đều ngao ngán, mịa, xứ này không độc tài thì chỉ có nát như tương!

Để giải thích sao xứ ta chưa thể nhìn thấy viễn cảnh như HongKong, có ý kiến cho rằng “Anonymous Reformers: Các thế hệ đi trước đã để lại cho tuổi trẻ Hồng Kông nhiều tri thức, hội đoàn và tập quán xã hội phù hợp để dựng nền móng cho một phong trào đấu tranh.

Còn các thế hệ đi trước đã để lại cho tuổi trẻ Việt Nam nhiều tri thức rởm, hội đoàn rởm, tập quán rởm để làm hỏng mọi phong trào đấu tranh. Khi chứng kiến thắng lợi của tuổi trẻ Hồng Kông, họ lại tiếp tục tặng thêm cho tuổi trẻ Việt Nam nhiều tiếng chửi và lời đổ lỗi”.

Đúng là chuẩn không cần chỉnh.!!

Phong Linh

SỰ TÍCH THẾ KỶ 21!


Thành tích ư? Nếu như các ông sống vì thành tích thì các ông đã làm được rồi đấy. Và không chỉ là thành tích đâu, mà đã thành sự tích rồi đấy!

Tiêu cực xuất phát từ chính nhận thức và suy nghĩ của con người. tiêu cực xuất phát từ chính những bảng vàng thành tích được treo lên. Hô, biến và cuối cùng là…biến thật.

                           Cái chết thương tâm của bé gái lớp 3..

“Quá đói bụng, bé gái lớp 3 chết khi đi học về” được đăng tải trên VTC News ngày 25/9 khiến người đọc phải xót xa và bang hoàng, bởi người ta không thể tin rằng, thế kỉ XXI rồi mà cái gia đình “CẬN NGHÈO” vẫn có người chết đói. Một đứa trẻ chết vì đói, vì không đủ sức đạp xe để chiếc xe đâm vào thành cầu và lao xuống sông. Một đứa trẻ ngay cả lúc chết rồi còn không tìm được trong nhà một bộ quần áo để mặc, gạo cũng không đủ để nấu cơm cúng, ấy vậy mà ông chủ tịch xã đã nói gì? “Trong xã, hộ nghèo thì có nhưng thiếu đói thì chắc chắn không có. Còn để đánh giá cháu Nhung do ảnh hưởng cái đói, ảnh hưởng từ cái sự lận đận, sa sút rồi ảnh hưởng đến cái chết của cháu là không phải”.

Cho phép tôi đây mạo muội cười khinh vào mặt ông chủ tịch xã với phát ngôn như vậy. Và càng nực cười hơn là “giờ này muốn hay không muốn thì lần sau sẽ đưa gia đình anh Vân vào diện hộ nghèo”.

Xin thưa, nhiệm vụ cao cả của cán bộ không phải là việc đưa một gia đình từ “cận nghèo” từ năm 2008 đến năm 2015 xuống hộ nghèo. Nhiệm vụ của các vị, đó là hãy tìm cách cải thiện, chăm lo đời sống cho những gia đình hộ nghèo, những gia đình đang gặp khó khăn như gia đình anh Vân. Xã hội đang đi theo hướng tiến lên, chứ không phải là bước theo con đường giật lùi!

Tôi không bàn đến chuyện đưa gia đình anh Vân ra khỏi diện hộ nghòe, ra khỏi diện được hưởng trợ cấp xã hội là đúng hay sai, nhưng chí ít là con người với nhau, thì cũng đừng có phát ngôn những câu vô tình như ông Phó Giám Đốc sở LĐTBXH tỉnh Hà Tĩnh “bé Nhung chết đuối, có phải chết vì đói đâu” và “gia đình anh Vân chết là đúng quy trình”. Quy trình gì ở đây? Quy trình để lấy thành tích ư? Đừng lấy những con số ảo đâu đâu để đánh giá. Năm 2013, thu nhập bình quân đầu người của gia đình anh Vân được các ông tính là 530.000 đồng/người/tháng, tức là gần 5 triệu đồng 1 tháng ư? Với một gia đình nông dân, chồng yếu, vợ bệnh thì con số đó lấy đâu ra? Chả nhẽ trúng vé số độc đắc ư? 

Làm người phải lấy chữ Nhân làm đầu. Nhân ở đây là nhân từ, nhân hậu và cả nhân tính nữa đấy, các ông cán bộ quần là, áo lượt à! Hãy nhìn vào hoàn cảnh thực tế của người ta đi, cơm không đủ ăn, áo không lành lặn rồi mà xét, chứ đừng chỉ xét trên giấy, trên tờ!

Những con người như Chị Dậu và Lão Hạc chả nhẽ đã đầu thai vào thế kỉ XXI này rồi ư?

Sương Đêm


XOAY QUANH CHUYỆN THỊT VỊT

Nước X chuẩn bị làm thịt một con vịt. Vấn đề quan trọng vô cùng là chế biến con vịt như thế nào trông cho mượt, ăn cho ngon. Mối quan tâm ấy được truyền thông mổ xẻ đến tận cùng, các diễn đàn, các talk show truyền hình nói đến mỏi mồm. Đúng là nước dân chủ có khác, người dân tham gia chánh sự nhiệt tình. 

Phiên họp giải quyết "thịt vịt và hành động của chúng ta" của thượng Viện nước X bắt đầu. 






- Đảng A: nướng, vịt nướng là đỉnh cao của ẩm thực nhân loại. Chúng ta là một dân tộc văn minh nên chúng ta phải ăn thịt nướng.

- Đảng B: thịt nướng có thể gây ung thư, vì sức khỏe nhân dân, vì tương lai của đất nước, chúng tôi muốn con vịt phải được luộc chấm mắm gừng. Luộc chấm mắm gừng chế biến nhanh, đơn giản, không gây gánh nặng cho ngân sách. Đồng hồ nợ công là nỗi ám ảnh của chúng ta trong thời kinh tế suy thoái ..

- Đảng C: chúng ta tự hào có công nghệ quay thịt hàng đầu thế giới. Tại sao không quay con vịt? Ăn vừa ngon lại vừa nâng cao "giá trị X". Mỗi công dân chúng ta sẽ càng tự hào khi ăn vịt quay, họ sẽ kể với thế giới về vịt quay, giá trị X sẽ bền vững mang tính toàn cầu.

- Đảng D: tại sao cứ phải luộc, nướng, quay chia rẽ trong lòng đất nước? Chúng tôi muốn con vịt phải được nấu cháo. Ăn vẫn ngon và chấm dứt các vấn đề gây chia rẽ. Tổ quốc đang lâm nguy, hơn lúc nào hết chúng ta phải đoàn kết chúng tay chống khủng bố và các mối nguy cơ đến từng sự trỗi dậy của các nước. Vịt sẽ được nấu cháo. 

Đằng sau phát biểu của các thượng nghị sĩ là gì? 

Đảng A: Đảng của các ông trùm buôn than .

Đảng B: Đảng của các nhà sản xuất nước mắm kiêm trồng gừng. 

Đảng C: Đảng của các lò quay heo gà vịt ở thung lũng silicon 

Đảng D: Đảng của những nhà nhập khẩu Cháo 

Bà con đừng vội oánh giá câu chuyện trên là nhảm nhỉ nhé. 

Ở nước "dân chủ văn minh" đa đảng theo cách gọi của các “nhà rận chủ” thì mỗi đảng đại diện cho các nhóm lợi ích chứ không phải là giai cấp. Nếu nói các đảng ấy là đại diện giai cấp thì giai cấp đâu mà nhiều thế, mấy chục có khi mấy trăm giai cấp à? 

Cho dù mấy đảng ấy có bao nhiêu thành viên hay đại diện cho bao nhiêu % dân số nó cũng xưng là "nhân dân " tuốt. Nào ai cấm được và chả ai rỗi hơi đi cãi. Từ "nhân dân" thì to thật nhưng có riêng của nhà nào đâu. Ai không thích cái đảng ấy dùng từ "nhân dân " thì nghĩ "chắc nó trừ mình ra".

Chính các nhóm lợi ích chí chóe với nhau mới lòi ra cái gọi là đa nguyên. "Đa nguyên" có trật tự của nó nếu như có các nhóm lợi ích đủ mạnh và đủ tuổi. Các đảng tư sản mạnh và đủ tuổi thì rất khôn ngoan, chúng chí chóe với nhau đấy nhưng nếu có thằng khác nhảy vào đe dọa lợi ích của chúng thì chúng vô cùng đoàn kết. Đại khái hai đảng bự nhiều ghế trong thượng viện sẽ liên minh với nhau như này: 

- Lần này tao ok cho mày thịt luộc. Lần sau thì mày ok thịt nướng cho tao. 

Thế thì xác định nhân dân nước X không ăn thịt vịt nướng thì ăn thịt vịt luộc năm này qua năm kia!!

Chúng ta đều biết hai anh Coca và Pepsi là hai anh giải khát to đầu, là đối thủ của nhau. Ấy thế mà hai ảnh đổ bộ vào thị trường nào thì sau một thời gian thiên hạ chết sạch, còn mỗi hai ảnh cưa đôi thị phần. Có thể có lúc thị phần hai anh chênh lệch xí đỉnh, nhưng nhìn chung thì có khác gì đâu, vẫn là một thị trường bị thống trị bởi thứ nước ngọt ngoại lai. Bà con có ghét cay ghét đắng "đế chế nước ngọt" này thì cứ bỏ tiền mở nhà xưởng sản xuất cạnh tranh đi, bà con sẽ mang nợ nhanh thôi. Cách các đảng tư sản giữ ngai vàng ở xứ "tự do" không khác mấy hai anh Peppsi & coca “tau với mày cạnh tranh nhé, thằng khác nhào vô hai ta cùng diệt .”

Ở xứ ta thì khác. Xứ ta chỉ có một Đảng theo tinh thần XHCN, cái đảng này đại diện cho người lao động. Trên quả địa cầu này, nhân loại tựu trung chỉ có hai cách kiếm ra của cải. Đó là lao động kiếm tiền hay làm ông chủ. Đương nhiên số lao động phải nhiều áp đảo số ông chủ. Cho nên bà con đừng có thắc mắc tại sao Đảng Cộng sản Việt Nam là đại diện số đông dân chúng. Tại 1 nước XHCH do giai cấp lao động làm chủ, lợi ích của giai cấp ấy là chủ yếu, nhưng cũng đồng thời bao gồm tòan dân tộc, không hòan toàn gạt bỏ lợi ích tòan dân tộc bao gồm các tầng lớp khác. 

Cho dù Đảng cộng sản xứ ta còn khiếm khuyết chỗ này chỗ nọ thì trên hết cái nghị quyết cuối cùng của một "hội nghị TW Đảng" vẫn nhắm đến lợi ích đất nước, lợi ích nhân dân. Tôi đố các nhà rân chủ nhân quyền trích dẫn được chỗ nào vô lý, bất công trong nghị quyết của Đảng đấy. Từ những nghị quyết như vậy, các Đảng Viên khi nắm quyền hành pháp thì các nghị định của chính phủ, quyết định của Bộ/ngành vẫn trên tinh thần lợi ích đất nước - lợi ích nhân dân. Chính phủ xứ ta khi vận hành thì có không ít tiêu cực thế nhưng không có quyết định nào được xem là xâm hại quyền lợi số đông nhân dân khiến người ta bất bình đến mức phải xuống đường biểu tình. Chúng ta phải hiểu rằng tiêu cực phát sinh không nằm ở phương hướng, nghị quyết. 

Tôi thấy mấy hôm nay có vài anh cứ so sánh Việt Nam với Hồng Kông rồi chắc lưỡi ước ao "ước gì Việt Nam cũng thế ", " rồi sẽ tới lượt Việt Nam ".

Nếu bây giờ các nhà rân chủ xứ ta muốn làm một cuộc biểu hoành tá tràng như Hồng Kông thì các bác nặn đâu ra một lý do cụ thể, trực tiếp đủ sức làm vài ngàn người ra Bờ Hồ phơi nắng để phản đối chính Phủ? Còn nhớ cách đây chưa lâu "Mạng lưới Blogger Việt Nam" đưa ra cái yêu sách "bỏ luật 258" cũng gọi là đúng bài bản. Thế nhưng chắc là tự biết không rủ rê được ai ra Bờ Hồ, quảng trường Ba Đình nên thay vì biểu tình phản đối chính Phủ các ảnh đi nhờ các quốc gia can thiệp vào công việc nội bộ đất nước. Hết Mỹ, Thủy Điển, Pháp Đức đến những ai có thể can thiệp. Thành ra với các nhà rân chủ xứ này "giấc mơ Hồng Kông mãi vẫn là giấc mộng vàng khiến các anh ướt sịp hàng đêm chứ không có lấy một cơ sở thành hiện thực. 

Tái khẩu: các nhà rân chủ kêu gọi dân chúng Hà Thành xuống đường "yểm trợ nhân dân Hồng Kông" vào 19h ngày 10/10 coi bộ thốn nha. Dự là bà con Hà Thành hăm hở kỷ niệm 60 năm giải phóng thủ đô sẽ được các nhà rân chủ chụp cho cái nón "yểm trợ Hồng Kông". 

Nguồn: Mõ Làng

NHỮNG YẾU TỐ ĐÁNH GIÁ HƯỚNG NHÀ TỐT, XẤU

Những yếu tố đánh giá hướng nhà Tốt- Xấu

 

   Khi mở đầu việc làm nhà, dựng cửa..., mọi người thường quan tâm tới hướng nhà. Từ xa xưa cho tới nay, cư dân Việt hiện đại vẫn gặp ít nhiều khó khăn ngay từ bước khởi đầu, nhất là việc xem hướng.

Có 4 tiêu chí sau đây để đánh giá tốt, xấu cho phương hướng nhà:

Tốt xấu theo khí hậu

   Hướng nam và lân cận nam (đông nam và tây nam) là những hướng tốt với địa lý, khí hậu Việt Nam. Những hướng này có gió mát và ánh sáng ổn định, không khí ấm áp. Trong khi đó, hướng tây, tây bắc thì nắng gắt và rất nóng vào buổi chiều. Hướng đông thì chói vào buổi sáng và chịu thêm gió lạnh từ hướng đông bắc lân cận. Do vậy, đa phần các ngôi nhà truyền thống của ông cha ta đều quay cửa chính về hướng lân cận nam, quay đầu hồi về hướng tây. Một công trình kiến trúc nếu không được hưởng khí hậu phù hợp thì tuổi thọ công trình sẽ giảm, tác động xấu đến người cư ngụ.

Tốt xấu theo hướng mệnh trạch

   Căn cứ năm sinh (âm lịch), thì dịch học phương đông quy định mỗi người (nam và nữ) sẽ có mệnh cung tương ứng với tám hướng trong tự nhiên theo tám quẻ của bát quái, phân thành hai nhóm là nhóm đông tứ mệnh và tây tứ mệnh. Có thể tham khảo các cuốn sách về Dịch học và văn hóa truyền thống phương đông để dễ tìm ra cung mệnh của mỗi người. Cũng vì mỗi tuổi khác nhau nên dù có hai ngôi nhà giống hệt nhau ở cạnh nhau cũng có thể hợp với người này mà không hợp với người kia.


Xếp đặt các không gian, hay lối đi “Thanh Long, Bạch Hổ”vào vị trí thích hợp theo cát hung của mỗi người, đông mệnh – tây mệnh.

Tốt xấu theo phương vị

   Hướng phương vị là hướng của một vùng, một vật hay người so với một điểm gốc (tâm) nào đó. Ví dụ ở Tp HCM, quận 4 nằm về hướng nam so với chợ Bến Thành nhưng lại là hướng bắc so với khu Phú Mỹ Hưng. Xem hướng phương vị cũng như hướng mệnh trạch là để bố trí, xếp đặt các không gian vào vị trí thích hợp theo cát hung của mỗi người. Cũng chính từ điểm gốc, nơi chủ thể tọa và quay mặt nhìn về một hướng thì xung quanh vị trí ấy sẽ xác định được bên nào là trái, phải, đâu là trước, sau để từ đó đưa ra giải pháp thích ứng. Tốt nhất là phía trước nhà thoáng và phía sau có chỗ dựa lưng.

Tốt xấu theo hướng giao tiếp

   Ngoài việc đối phó với môi trường thiên nhiên, con người cũng phải ứng xử với xã hội. Do đó, ngôi nhà phải quay mặt hoặc mở cửa ra vào những vị trí thuận lợi cho việc đi lại, giao tiếp, buôn bán. "Nhất cận thị, nhị cận giang, ba cận lộ". Có những ngôi nhà được hướng khí hậu, nhưng nằm trong ngõ quá nhỏ, ra vào khó khăn, hoặc nằm bên đường xa lộ cao tốc khó rẽ vào được thì hướng giao tiếp cũng xấu đi. Đi vào nội thất, ta thấy có người ngồi làm việc theo hướng mệnh trạch là hợp, nhưng nếu ngồi vậy mà lại thành quay lưng ra cửa, úp mặt vào tường, giao tiếp khó khăn thì cũng cần xem lại, cần tìm hướng thích hợp khác, để thỏa mãn với địa hình, phương hướng cát lợi nhất.



Những tàn dư của lối giáo dục cử tử thời phong kiến

Như đã thấy, nền giáo dục thời phong kiến ở nước ta, nếu lấy mốc bắt đầu từ khi có Quốc tử giám (1075), kéo dài khoảng gần 10 thế kỷ; nếu lấy mốc từ khi thái thú Sỹ Nhiếp sang mở trường dạy học chữ nho tại Luy Lâu thì còn dài hơn nữa. Nền giáo dục này đã sản sinh ra một đội ngũ trí thức khá hùng hậu, trong đó có nhiều bậc đại trí thức làm rạng danh nền văn hiến Việt Nam. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng, do kéo dài quá lâu một mô thức đào tạo, nên chế độ giáo dục này đã bộc lộ nhiều hạn chế khá trầm trọng. Và đến lượt mình, nó đã để lại những di chứng khá nặng nề cho nền giáo dục sau này, kéo dài đến tận hôm nay, cả trên phương diện thực tế lẫn trên phương diện tâm thức.

Bài viết này bước đầu chỉ ra một số căn bệnh của nền giáo dục phong kiến trước đây, ngõ hầu đưa ra một tham chiếu để nhìn vào thực trạng giáo dục hiện nay.

 1. Theo tôi, điều dễ nhận thấy trước tiên của nền giáo dục phong kiến là đã tạo lập một cách học thuộc lòng chứ không theo cách học sáng tạo. Các nho sinh ban đầu học chữ. Học chữ bắt đầu bằng những nét bút đầu tiên, cách phiên âm đầu tiên. Sau đó, dần dần bước vào những sách khó hơn, và khó nhất là Tứ thư, Ngũ kinh của Trung Quốc. Cách học này trước hết là học thuộc chữ, sau đó giải thích những chữ đó (rộng ra là văn bản) cũng phải theo cách người trước đã giải thích, tức là lấy Trung Hoa làm mẫu mực, chỉ có một cách duy nhất học thuộc lòng, chứ không có cách giải thích khác theo cách hiểu cá nhân. Nếu ai cố tình giải thích theo cách hiểu của mình sẽ bị đánh trượt trong các kỳ thi chính thức.

Thi cử chính là cách người thi thể hiện xem có khả năng thuộc lòng các chữ thánh hiền không, có năng lực nhớ và viết lại cách giải thích, bình luận đã có sẵn trong các sách kinh điển không. Nó không chấp nhận sáng tạo. Chính vì vậy, trong lịch sử thi cử, có một số cá nhân vượt trội trong khi đi thi, do không chịu khuôn theo những điển mẫu có sẵn trong sách, cứ muốn trồi ra những ý tưởng xuất sáo của mình, nên đã bị đánh trượt. Ví dụ như cụ Trần Tế Xương (Tú Xương, 1870-1907) chẳng hạn, nho sinh xuất sắc này thi trầy trật mới có thể đỗ được, mà cũng chỉ đỗ đến bậc tú tài. Số phận của nhà nho xuất sắc Cao Bá Quát (1808-1855) chỉ đỗ cử nhân, trượt thi Hội; hay nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu (1867-1940) cũng không hơn gì: đỗ đạt cao nhất chỉ đến bậc Giải nguyên trường Nghệ[1].

Học thuộc lòng tức là học theo điển mẫu, điển phạm trong nền văn hóa Trung Hoa. Nếu viết khác, nói khác những gì trong sách Trung Hoa đã có tức là sai. Cách học này chỉ giáo dục con người học theo cách thụ động, biến người học thành kẻ chỉ biết nghĩ theo, nói theo, chứ không nghĩ và nói bằng chủ kiến của mình. Trong nền giáo dục này, đại đa số các nho sinh đều thấm đẫm tinh thần học thụ động, máy móc này. Nó tạo ra những con người bắt chước chứ không tạo ra con người sáng tạo.

Tuy nhiên vẫn cần mở ngoặc là thời nào cũng có những cá nhân vượt trội, tức là họ đủ mạnh để bứt phá ra khỏi cách đi của đám đông, tự khẳng định mình, góp phần vào tiến trình tri thức chung của đất nước, mặc dù số này không thể nói là nhiều.

2. Đặc điểm thứ hai của chế độ học hành khoa cử phong kiến là coi mục đích của việc học cốt để đi thi, chứ không phải học do nhu cầu muốn được trang bị tri thức. Phải công bằng mà nói, người Việt ta xưa kia cũng có tinh thần hiếu học. Mỗi gia đình người Việt, tuy có thể nghèo khó, nhưng thường đều mong muốn cho con em mình được học chữ thánh hiền. Học trước là để biết được cách khấn khứa trước ban thờ tổ tiên, sau là để biết ghi chép gia phả dòng tộc, sau nữa để qua đó mà giáo dục đạo lý làm người trong gia đình và ngoài xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế, đại đa số các gia đình phải có một điều kiện kinh tế tối thiểu mới có khả năng cho con theo học, bởi đã gửi con đi học thì phải đóng tiền học, trọ học, rồi thì tiền thăm viếng thầy trong những dịp tết nhất, ốm đau…Nên gia đình nghèo khó không thể gửi con theo học được. Mà số này chiếm phần đông trong cộng đồng dân cư làng xóm Việt Nam trước đây.

Số còn lại, do có điều kiện kinh tế, cộng với cái chí hướng học hành của gia đình, nên các nho sinh “thập niên đăng hỏa” (mười năm đèn sách) đi học để quyết “đăng trường ứng thí”. Đi thi để quyết chiếm lấy cái bảng vàng. Vinh quang lớn nhất của nho sinh là học hành đỗ đạt. Một khi đã đỗ đạt thì cả dòng họ, cả làng, thậm chí cả tổng cả huyện nghênh đón, khao thưởng trọng vọng. Hình ảnh được coi là đẹp đẽ nhất đối với các nho sinh trong cái nhìn của các cô gái thôn quê Việt Nam trước kia là: “Ước gì em lấy được chàng/ Võng anh đi trước võng nàng theo sau”. Nỗi nhục lớn nhất của người đi học mà thi trượt (Cười như anh khóa hỏng thi…). Đã trượt, nếu là người có chí cũng không dễ dàng đầu hàng, quyết về nhà dùi mài kinh sử để đến khóa sau lại thi tiếp. Người bỏ cuộc tức là chấp nhận thất bại. Mà đã thất bại, không chỉ bản thân mình thất vọng ê chề, mà cả gia đình, dòng họ, làng xóm và vị hôn thê tương lai (hoặc người vợ) cũng cảm thấy tủi hổ cùng. Việc anh đi học, đi thi không còn là chuyện của cá nhân anh, mà là chuyện của cộng đồng rồi. Nỗi phiền toái là ở đó. Chuyện này khác với phương Tây, nơi coi học hành chỉ là chuyện của riêng mỗi cá nhân mà thôi.

Chính vì mục đích của việc học là để đi thi, nên tinh thần giáo dục bao trùm là cử tử, nghĩa là ra sức học theo đúng phép tắc, đúng quy phạm, cốt sao thi đỗ. Và như vậy, thêm một lý do nữa để bồi thêm vào tình trạng học hành thụ động, máy móc, thủ tiêu sáng tạo cá nhân như trên kia đã đề cập.

3. Từ những điều vừa phân tích trên, một hệ quả tất yếu được rút ra: những người theo học trong nền khoa cử này coi cái đích cuối cùng của việc học là để ra làm quan, chứ không để trở thành trí thức độc lập. Có học có thi. Đỗ đạt thì được bổ làm các chức quan trong bộ máy chính quyền phong kiến. Không đỗ đạt, mà con số này là chủ yếu, thì không có con đường nào khác là đành trở về thôn quê làm hương sư (thày dạy học ở làng), hoặc làm nghề bốc thuốc chữa bệnh cứu người. Tuy nhiên với hạng người này suốt đời vẫn cảm thấy chưa thỏa chí, vẫn canh cánh ôm trong lòng nỗi hận. Chả thế mà có người đến khi đã già lụ khụ rồi vẫn lều chõng đi thi để quyết rửa hận. Còn những người may mắn đỗ đạt, sau đó được bổ nhiệm làm quan. Làm quan bao giờ cũng kèm theo bổng lộc. Chế độ phong kiến quy định tùy từng mức đỗ đạt mà được bổ chức quan nào, và tùy từng chức quan này mà ban bổng lộc (ruộng đất, nhà cửa, lương lậu) tương ứng.

Thêm nữa, khi đã có chức tước thì tất yếu sẽ có nhiều quyền lợi đi kèm. Đó là một môi trường khắc nghiệt để thử thách nhân cách. Có người xem môi trường quan chức là một mảnh đất màu mỡ cho sự trục lợi béo bở (Một người làm quan, cả họ được nhờ). Có người lại quyết phấn đấu để trở thành một ông quan thanh liêm, ra ân cho dân chúng, lập đức trong cộng đồng, khi chết đi được cộng đồng tưởng thưởng, ghi công ơn, lập ban thờ, trở thành bậc tiền hiền của cộng đồng. Tuy nhiên, thời nào cũng vậy, số người này bao giờ cũng là “của hiếm” trong thiên hạ.

Điều đáng bàn ở chỗ là, số người sau khi trở thành quan chức rồi thì hầu hết không theo đuổi con đường chữ nghĩa nữa, mà yên phận trở thành một ông quan đúng nghĩa. Từ đây, sách vở, tri thức đối với họ trở thành xa lạ dần. Thậm chí, trong những trường hợp tệ hại nhất, có người quay lại thù địch với sách vở, tri thức nói chung. Nguyên nhân thì có nhiều. Có thể do họ bước vào đời sống quan trường phải vướng víu vào nhiều thứ công việc sự vụ, đến nỗi choán hết thời gian của họ. Có thể tự họ thấy ngần ấy vốn liếng tri thức học hành đã được coi là đủ, thậm chí là thừa cho công việc sự vụ quan trường. Trường hợp có người quay sang thù địch tri thức/ trí thức, bởi vì cái lòng ghen tị cố hữu ở họ khiến họ không thể nào chịu nổi khi thấy người khác giỏi giang hơn mình, xuất chúng hơn mình, được ca ngợi hơn mình. Thế là, từ một người có khả năng trở thành trí thức đã mau chóng trở thành một vị quan lại toàn phần, và quay lại xem thường, thậm chí đe nẹt, phỉ báng trí thức. Cái vòng luẩn quẩn ở chỗ đó. Môi trường quan chức bao giờ cũng dễ khiến người ta đứng trước nhiều nguy cơ hư hỏng.

Một người làm quan mà cùng lúc lại có cốt cách trí thức trong mình là điều không dễ dàng gì. Phải là người có ý chí mãnh liệt, khả năng tu thân cao cường mới có thể trở thành một quan chức- trí thức. Kiểu người này, thường hay bị thua thiệt, hay bị hiểu lầm, thậm chí bị cô độc. Bởi vì anh không có khả năng xiểm nịnh, lấy lòng hòng trục lợi cấp trên. Những tấm gương trí thức- quan chức như Nguyễn Trãi, Chu Văn An đều hứng chịu những bi kịch khốc liệt của thời thế chính là do trong khi làm quan, các vị đã không chịu từ bỏ tư cách trí thức của mình.

Trong cuốn “Người Trung Quốc xấu xí”, tác giả Bá Dương trong khi so sánh quan niệm của người Trung Quốc với người phương Tây về vấn đề quan tính và người làm quan, ông có một khái quát hết sức táo bạo và có sức thức tỉnh lớn. Ông nói: “Đối với người phương Tây: tri thức là quyền lực. Đối với người Trung Quốc: quyền lực là tri thức”[2]. Điều này có thể khẳng định rằng cũng hoàn toàn đúng đối với người Việt ta từ xưa tới nay.

4. Điểm cuối cùng mà tôi muốn nói tới hậu quả của việc học trong thời phong kiến là học để biết chứ không học để làm. Mặc dù lý tưởng của người nho sinh là phải trở thành bậc chính nhân quân tử, và biểu hiện cao nhất của lý tưởng này là hành đạo cứu đời, kinh bang tế thế. Với tinh thần ấy, thời nào cũng vậy, vẫn có một số nhà trí thức đem cái sở học của mình để nhập thế hành đạo. Tuy nhiên, cái tri thức do học được với cái yêu cầu của thực tế là khoảng cách một trời một vực. Thành ra, việc tự tu dưỡng, mở mang học vấn, tri thức là một việc làm suốt đời. Số người này bao giờ cũng ít ỏi. Còn lại đa phần là những người ở mức trung bình, đi ra cuộc đời quá lắm chỉ biết làm nghề dạy học, hoặc bốc thuốc, hoặc bói toán để mưu sinh (trên cơ sở của các tri thức nho, y, lý, số đã được trau dồi), chứ không áp dụng vào việc sản xuất, phát minh để làm lợi cho đời sống. Cái sở học của họ tuy cũng thu hoạch khá nhiều kiến thức, song cái học đó cốt để biết, chứ không đem ra thực hành được, tức là không để làm.

Điều này đã được các lãnh tụ của phong trào Duy tân bàn bạc nhiều trong những năm đầu thế kỷ. Trong công cuộc Duy tân, với phương châm “tự lực khai hóa” và tư tưởng dân quyền, Phan Châu Trinh cùng Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp đi khắp tỉnh Quảng Nam và các tỉnh lân cận để vận động cuộc duy tân. Khẩu hiệu của phong trào lúc bấy giờ là: “Chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh”. Chấn dân khí tức là làm cho mọi người thức tỉnh tinh thần tự cường, hiểu được quyền lợi của mình, dám tố cáo sự hà hiếp bóc lột của quan lại và sự nhũng lạm của cường hào...Khai dân trí là bỏ lối học tầm chương trích cú, mở trường dạy chữ Quốc ngữ, kiến thức khoa học thực dụng, bài trừ hủ tục và thói xa hoa...Hậu dân sinh là khuyến khích dân học nghề nghiệp, khai hoang làm vườn, lập hội buôn và sản xuất hàng nội hóa...Trong bài Văn minh tân học sách (Khuyết danh, 1904), với một tinh thần canh tân giáo dục văn hóa nồng nhiệt, người viết cũng kêu gọi bỏ chữ nho, học chữ quốc ngữ, học các môn “cách vật trí tri” (các môn khoa học tự nhiên và kỹ thuật) để tập trung vào thực học, thực nghiệp, khai trí văn minh.

Ngày hôm nay, tình trạng học để biết chứ không học để làm vẫn là một tình trạng khá phổ biến. Các học sinh của ta đi thi đấu quốc tế thường hay rớt điểm thực hành. Sinh viên các nơi ra trường không giỏi tay nghề, rất lúng túng khi tác nghiệp, hầu như phải xắn tay học lại từ đầu. Chả thế mà lúc sinh thời, trong tư tưởng giáo dục của Hồ Chủ tịch, người luôn đề cao và kêu gọi “Học đi đôi với hành”. Một trong những giờ giảng cuối cùng của Nhà nghiên cứu văn học, văn hóa và minh triết Hoàng Ngọc Hiến (1930-2011) tại Khoa Viết văn vào tháng 11.2010, khi bàn về minh triết Việt, ông cho rằng: “Minh triết là thực hành, chứ không phải là nói, là luận bàn. Cái Thiện là tối hậu. Như vậy, minh triết không phải là luận bàn về cái Thiện mà làm cái thiện. Triết học cũng thực hành cái Thiện, nhưng phải đi bằng con đường rất dài, bắt đầu từ việc học nhiều môn khoa học khác, sau đó học tiếp một ngành tối cao là Khoa học về cái Thiện, rồi cuối cùng mới thực hành cái Thiện. Thế nên, những triết gia châu Âu bị mất hút vào con đường này, mải mê lý thuyết, sa vào mê cung lý thuyết, không mấy người đi thực hành cái Thiện (dĩ nhiên trong mê cung ấy, vẫn có những điều cao siêu có đóng góp cho nhân loại).

Vấn đề của thời đại chúng ta hôm nay, thật đơn giản, đó là thực hành cái Thiện. Minh triết là lặng lẽ sống với cái Thiện bằng ứng xử, bằng việc làm của mình. Trong mối quan hệ giữa BIẾT và LÀM, thì với minh triết là LÀM, mặc dù BIẾT rất cần. Hồ Chủ tịch từng nói: “Học để làm việc, học để làm người, học để làm cán bộ”. Vậy là, cụ Hồ nhấn mạnh việc học để hướng tới 3 cái LÀM, chứ không dừng lại ở BIẾT. Theo tôi, toàn bộ nền giáo dục Việt Nam hiện nay chỉ hướng tới việc để BIẾT thôi”[3]. Đây là một khái quát hết sức sâu sắc, phản ánh đúng thực trạng giáo dục của nước ta hiện nay, rất đáng để cho những người làm công tác giáo dục và các nhà hoạch định chiến lược quốc gia về giáo dục suy nghĩ.

Trong những năm gần đây, tuy ngành giáo dục của đất nước rất được quan tâm và đầu tư, nhưng vẫn bộc lộ những khiếm khuyết nghiêm trọng. Vì thế, giáo dục luôn luôn là đề tài nóng, thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng, nhất là giới trí thức, có lúc đã tạo nên những cuộc tranh luận lớn. Có người cho rằng do chúng ta chưa tìm ra được một triết lý giáo dục thực sự làm điểm tựa để thay đổi căn bản và toàn diện. Cũng có ý kiến cho rằng có những người cố tình duy trì một tình trạng giáo dục luẩn quẩn để dễ bề “đục nước béo cò”…

Tôi nghĩ, ngoài việc tham chiếu lý thuyết và cách thức giáo dục của các nước tiên tiến, chúng ta cũng cần tham chiếu ngược về truyền thống giáo dục của nước ta từ xưa tới nay. Cả kinh nghiệm tốt lẫn thất bại đều là những bài học bổ ích cho chúng ta. Tuy nhiên, đó là nói ở cấp độ thực tiễn. Còn xét ở cấp độ tâm thức, những hạn chế như đã chỉ ra trên kia (có thể chưa phải đã hết) sẽ còn sống dai dẳng, sẽ còn là những trở ngại phiền toái trong đời sống giáo dục Việt Nam hiện nay và lâu dài. Thay đổi thực tiễn đã khó, thay đổi tâm thức càng khó hơn. Chỉ khi nào cả trên thực tế lẫn tâm thức được thay đổi vững chắc, khi đó mới có nền giáo dục hiện đại và tiến bộ.

Văn Giá
Nguồn: Phongdiep.net
                             
[1] Xem thêm “ Chương VIII- Chế độ học tập ngày xưa”, in trong Bản săc văn hóa Việt Nam của tác giả Phan Ngọc, NXB Văn hóa –Thông tin, 1998, tr.245
[2] In trong “Người Trung Quốc xấu xí” của Bá Dương (bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Hồi Thủ), do NXB Văn Nghệ, California-USA ấn hành năm 1999, tr.215
[3] Tài liệu ghi chép của cá nhân

Bò pía chay–Chân Thiện Mỹ

bopia

Công thức:

  • 1 củ sắn bào sợi
  • 1 củ carrot bào sợi
  • 1 khúc ham chay thái dài 2 in
  • 2 miếng tàu hủ ky tươi thái sợi to, ngâm nước xã sạch vắt ráo nước
  • 1 muổng cafe’ bột nêm nấm
  • 1 cộng hành tây (leek ) bầm nhuyển
  • 1/2 cup đậu phông rang, đâm nhỏ
  • salad, rau quế, ngò, bánh tráng

Cách làm:

Ham chay ướp với môt chút bột xá xíu, 1/2 cafe’ ngũ vị hương, 2 cafe’ corn syrup độ 10 phút, bắt chảo chiên ham lữa medium, đem ra để nguội, có mùi thơm như lạp xưởng.

Bắt nồi nước bỏ một chút bột nghệ cho tàu hủ ky trụng 5 phút là được, đổ ra rổ vắt táo nước.

Phi dầu với boa rô, xào tàu hủ ky nêm chút bột nêm độ 5 phút thấy tàu hủ ky mềm đổ ra dĩa để nguội, tàu hủ ky có màu giống như trứng tráng chiên.

Cũng phi dầu với boa rô cho thơm, xào củ sắn, carrot nêm bột nêm độ 5 phút, tắt lửa đổ ra dĩa để nguội.

Tương chấm: Cho dầu vào một nồi nhỏ, cho gừng và boa-rô băm nhỏ vào phi cho vàng.

- Cho tương đen, bơ đậu phộng và nước lạnh vào đun sôi. Khi thấy tương hơi vừa đặc là được  (có thể cho một chút đường vào).

Trình bày

- Dùng bánh tráng nhúng nước nóng, cuốn nhân, rau và chấm tương.

Thursday, October 2, 2014

Ngộ nhận về giáo dục đại học

Kể từ khi các nhà kinh tế học chỉ ra đóng góp to lớn của các trường đại học đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế, các nhà chính trị đã bắt đầu quan tâm hơn đến giáo dục đại học. Tuy nhiên, một số ngộ nhận của các nhà chính trị về vai trò của các trường đại học đã ảnh hưởng tiêu cực tới hiệu quả chính sách mà họ đưa ra.

Ví dụ, Tổng thống Mỹ Barack Obama từng nhiều lần cho rằng nước Mỹ cần gia tăng tỷ lệ thanh niên Mỹ có bằng đại học, nhưng nghiên cứu của các nhà kinh tế học về mối quan hệ giữa giáo dục và tăng trưởng kinh tế cho thấy điều quan trọng nhất trong giáo dục đại học không phải là số lượng bằng đại học được cấp mà ở phương pháp giáo dục kĩ năng nhận thức, như tư duy phê phán và khả năng giải quyết vấn đề.

Không nhận thức được vấn đề này có thể dẫn đến những hậu quả to lớn. Chi phí của việc đào tạo chạy số lượng cao hơn đáng kể so với đào tạo chú trọng về chất lượng, trong khi chính phủ còn phải hỗ trợ nhiều chương trình khác – chưa kể người dân luôn có xu hướng chống lại việc tăng thuế - và ngày càng khó có đủ nguồn ngân sách Nhà nước cho những nỗ lực như vậy.

Việc thực hiện cả ba mục tiêu - chất lượng, số lượng và hiệu quả chi phí – cùng một lúc là vấn đề khó khăn, do đó nhiều khả năng người ta phải chấp nhận hi sinh một trong ba mục tiêu. Trong đó, các mục tiêu về chi phí đào tạo và số lượng đào tạo đều dễ đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ, còn mục tiêu về chất lượng rất khó để đo lường, đánh giá, quy trách nhiệm, vì vậy sẽ dễ bị hi sinh nhất.

Quan niệm sai lầm thứ hai của những người làm chính sách là chỉ lưu tâm tới một lợi ích của giáo dục đại học, đó là việc cung cấp cho những người tốt nghiệp cơ hội tìm được một công việc của tầng lớp trung lưu và đóng góp vào phát triển kinh tế và thịnh vượng. Trong khi đó, những lợi ích khác vẫn thường bị xem nhẹ, đó là việc những người tốt nghiệp đại học dường như dễ thích nghi hơn những người chỉ có bằng tốt nghiệp phổ thông trung học trong quá trình phát triển, biến động của nền kinh tế và thị trường lao động, họ thường có tỉ lệ tham gia bầu cử cao hơn, tích cực hoạt động xã hội hơn, ít phạm tội, giáo dục con cái tốt hơn, và ít ốm đau hơn vì có lối sống lành mạnh hơn. Các nhà nghiên cứu cho rằng những lợi ích phụ trội này còn có giá trị cao hơn khoản tăng về thu nhập suốt đời mà tấm bằng đại học có thể mang lại, song việc xem nhẹ những lợi ích này sẽ khiến những người làm chính sách khuyến khích đường lối giáo dục nhanh chóng chạy theo số lượng với chi phí thấp hơn nhưng mang lại ít lợi ích hơn cho cả người học lẫn xã hội.

Những sự hiểu lầm như thế được thể hiện rõ ràng trong những bài phát biểu của các nhà lãnh đạo chính phủ Mỹ trong suốt hai thập kỉ qua, trong đó chủ yếu chú trọng vào mục tiêu giáo dục, đào tạo một thế hệ đủ sức cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu. Không chỉ Mỹ, các nước khác cũng thể hiện một thái độ thực dụng tương tự, điển hình như chính sách chuyển quyền tài phán đối với các trường đại học Anh vào năm 1992 từ Bộ Giáo dục và Khoa học (Department of Education and Science) sang cho Bộ Giáo dục và Lao động (Department for Education and Employment), rồi năm 2009 lại chuyển sang một bộ mới là Bộ Kinh doanh, Cách tân và Kĩ năng (Department for Business, Innovation, and Skills).

Sự thu hẹp vai trò của giáo dục đại học theo xu hướng chú trọng những giá trị vật chất như trên là điều chưa từng có trước đây. Thật đáng kinh ngạc khi người ta đã bỏ qua các giá trị từ lâu vẫn được coi là những mục tiêu quan trọng nhất của giáo dục: hoàn thiện nhân cách đạo đức của người học và đào tạo họ trở thành những người công dân tích cực, có kiến thức. Điều này hoàn toàn trái nghịch với quan niệm cho rằng khi các nước trở thành giàu có hơn thì mối bận tâm của người dân về tiền bạc và của cải sẽ giảm đi, như John Maynard Keynes từng tiên đoán trong thập niên 1920.

Trong một xã hội dân chủ, các nhà chính trị thường phải ngả theo nhu cầu của đa số người dân, trong đó hầu hết mọi người dân đều coi trọng vấn đề tiền bạc và công ăn việc làm. Theo một cuộc khảo sát gần đây (2012), 88% sinh viên năm đầu tiên tại các đại học tại Hoa Kỳ nói rằng tìm được việc làm tốt hơn là một lý do quan trọng cho việc học đại học, và 81% nói rằng “được đảm bảo lợi ích tài chính” là mục tiêu “thiết yếu” hay mục tiêu “rất quan trọng” trong sự nghiệp.

Nhưng mặt khác, cũng có tới 82,5% các sinh viên năm đầu này khẳng định “việc học hỏi thêm những kiến thức mà tôi quan tâm” là một lý do quan trọng theo học đại học, và 73% muốn “đạt được một nền học vấn cơ bản và thông hiểu các tri thức.” Trong số các mục tiêu được coi là “thiết yếu” hoặc “rất quan trọng”, 51% có để cập tới nhu cầu “cải thiện hiểu biết của bản thân về các nước khác và những nền văn hóa khác”, 45,6% bày tỏ muốn “xây dựng một quan điểm triết lý có ý nghĩa về cuộc đời”, ngoài ra không ít người đưa ra những mục tiêu như “trở thành người lãnh đạo cộng đồng,” “góp phần thúc đẩy sự hiểu biết về các chủng tộc,” và “tham gia vào những chương trình làm sạch môi trường.”

Cuối cùng, các cuộc khảo sát cho thấy rằng điều người ta mong muốn nhất không phải là của cải mà là hạnh phúc và sự hài lòng từ một cuộc sống trọn vẹn và có ý nghĩa. Tiền có ích, nhưng còn những điều vô cùng quan trọng khác: quan hệ gần gũi giữa người với người, những hành xử nhân ái, những niềm say mê, cơ hội được sống trong một xã hội tự do, đạo đức, và được quản lý một cách dân chủ. Mặt khác, một nền kinh tế trì trệ và thiếu vắng cơ hội chắc chắn gây ra nhiều vấn đề cho xã hội, nhưng tỉ lệ người tham gia bầu cử thấp, sự thờ ơ với đời sống dân sự, thái độ coi thường những tiêu chuẩn đạo đức, và sự thờ ơ với nghệ thuật, âm nhạc, văn học, và tư tưởng cũng tạo ra nhiều vấn đề không kém.

Trách nhiệm của nhà giáo dục là giúp sinh viên của mình vươn tới một cuộc sống như mong muốn, với lối sống có trách nhiệm, và trọng trách của Nhà nước là quan tâm và khuyến khích các trường đại học nỗ lực làm tốt nhiệm vụ này. Nói cho cùng, như Louis Brandeis từng nhận xét: Dù tốt hay xấu, “Chính phủ chính là một người thầy giàu quyền lực và hiện diện khắp nơi.” Khi các nhà lãnh đạo của chúng ta coi giáo dục chỉ là phương tiện để tạo ra công ăn việc làm và tiền bạc, sẽ không có gì là bất ngờ nếu thế hệ tương lai cũng có chung ngộ nhận này. 

Phạm Nguyên Trường lược dịch từ bài viết của Derek Bok, tác giả cuốn Giáo dục đại học ở Mĩ (Higher Education in America). Bok là giáo sư Đại học Harvard, đồng thời là Chủ tịch đại học này từ năm 1971 đến năm 1991 và từ năm 2006 đến 2007.