Monday, January 5, 2015

Nhiệt tâm

Hỏi: Kính bạch Thầy! Nếu không có nghị lực, dứt khoát, từ bỏ thì tu Định Vô Lậu và tu tập Pháp Hướng Tâm, theo sự nhận xét của con trong sự tu tập thì con thấy cũng không có hiệu quả, có phải vậy không thưa Thầy?

Đáp: Con đường tu theo đạo Phật nếu không có quyết tâm dứt khoát từ bỏ, nhất là thiếu nghị lực thì không thể nào tu Định Vô Lậu và dùng pháp Hướng Tâm có hiệu quả được. Người ta biết thuốc lá, thuốc phiện và rượu gây bệnh tật, tai hại cho cơ thể, nhưng không quyết tâm dứt khoát từ bỏ thì vẫn phải chịu bệnh nghiện và con người luôn luôn ương gàn như một con thú vật, họ không biết đạo đức là gì.

Nhiệt tâm là một điều quan trọng hết sức cho bước đường tu tập xả tâm, nếu không có nhiệt tâm thì nhất định không bao giờ có xả tâm được.

Định Vô Lậu là một danh từ nếu chúng ta chỉ dùng danh từ để quán xét và nói suông thì chẳng có nghĩa gì là vô lậu. Nói vô lậu tức là nói không còn đau khổ, nói không còn đau khổ tức là nói không còn chướng ngại pháp trong tâm, nói chướng ngại pháp trong tâm tức là nói ác pháp.

Do đó, đức Phật dạy: “Ngăn ác diệt ác pháp, sanh thiện tăng trưởng thiện pháp” là để thoát khổ, nếu người không có nhiệt tâm ngăn ác diệt ác, sanh thiện tăng trưởng thiện pháp thì khó mà giải thoát được.

Bởi, nhiệt tâm là một việc làm tích cực hết sức của một người quyết chí đi tìm đường giải thoát, nếu người quyết chí đi tìm đường giải thoát mà không có nhiệt tâm thì sự tu hành cũng chỉ hoài công vô ích mà thôi.

Muốn bỏ một điều ác nào, thì chúng ta phải thông suốt điều ác ấy. Vậy, phải thông suốt như thế nào?

- Thứ nhất, là phải thông suốt lý nhân quả thiện và ác.

- Thứ hai, là phải thông suốt lý duyên hợp.

- Thứ ba, là phải thông suốt lý các pháp vô thường, khổ, vô ngã.

- Thứ tư, phải thông suốt Bát Chánh Đạo, tức là tám lớp tu tập để được giải thoát như:

Lớp 1: Chánh Kiến.
Lớp 2: Chánh Tư Duy.
Lớp 3: Chánh Ngữ.
Lớp 4: Chánh Nghiệp.
Lớp 5: Chánh Mạng.
Lớp 6: Chánh Tinh Tấn.
Lớp 7: Chánh Niệm.
Lớp 8: Chánh Định.

- Thứ năm, phải thông suốt ba lậu như: dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.

- Thứ sáu, phải thông suốt Ngũ triền cái và Thất kiết sử.

- Thứ bảy, phải thông suốt Năm hạ phần kiết sử và Năm thượng phần kiết sử.

- Thứ tám, phải thông suốt Thập thiện và Thập ác.

- Thứ chín, phải thông suốt bốn loại định: Định Sáng Suốt, Định Niệm Hơi Thở, Định Vô Lậu và Định Chánh Niệm Tỉnh Giác.

- Thứ mười, phải thông suốt Tứ Thánh Định.

- Thứ mười một, phải thông suốt pháp Như lý tác ý và pháp Tác ý.

- Thứ mười hai, phải thông suốt phóng tâm và phóng dật.

Trong khi đã thông suốt 12 pháp môn này, mà thiếu nhiệt tâm dứt bỏ tu hành thì trở thành một vị giảng sư, vị giảng sư là người nói được, chứ không làm được, người nói được mà chưa làm được là người nói láo. Người nói láo bằng thuyết giảng là người lừa đảo người khác bằng kinh sách.

Vốn đạo Phật không phải là một tôn giáo nói láo, nên khi đã thông suốt các pháp thì phải nỗ lực xả bỏ, ly tham đoạn diệt ác pháp cho chính mình, để được ra khỏi cuộc đời đầy khổ đau, chứ không phải thông suốt lý đạo để đem ra dạy đời bằng những lý thuyết suông trong khi mình tu tập chẳng ra gì mà lại dạy người tu thì hóa ra lừa đảo người. Đừng dùng những ngôn từ trong kinh phát triển để che mắt thiên hạ “Y pháp bấty nhân”, có nghĩa là y nơi pháp mà tu hành, còn đừng y vào các Thầy, vì các Thầy tuy dạy như vậy mà chưa có tu hành được như trong kinh đã dạy.

Đối với con đường tu hành theo đạo Phật, nếu không có nhiệt tâm nồng cháy quyết dứt bỏ những chướng ngại pháp trong tâm, như những lời dạy của đức Phật trong thời khóa tu tập lúc đức Phật còn tại thế thì không bao giờ làm chủ được sanh, già, bệnh, chết, nếu không có nhiệt tâm nồng cháy sửa đổi những lỗi lầm của mình trong những thói hư tật xấu thì chẳng bao giờ trở thành những con người tốt trong xã hội được. Những con người có đạo đức, nếu không có nhiệt tâm nồng cháy ly dục ly ác pháp, sửa đổi tánh hư tật xấu thì không bao giờ có ly dục ly ác pháp được. Không ly dục ly ác pháp, thì không bao giờ nhập được Thiền định, nếu không nhập được Thiền định thì không bao giờ thực hiện được Tam Minh, nếu không thực hiện được Tam Minh thì không bao giờ chấm dứt tái sanh luân hồi.

Xem thế, chúng ta mới thấy nhiệt tâm là một điều quan trọng hết sức trong việc tu hành theo đạo Phật, vì có nhiệt tâm mới có giải thoát.

Chúng ta biết, có nhiệt tâm mới có nghị lực để chiến đấu với nội tâm của mình, không nhiệt tâm thì không nghị lực, người không có nghị lực làm việc gì, người ấy đều gặp thất bại, huống là công việc tu hành thì lại còn thất bại nặng nề hơn.

Cho nên, người tu Định Vô Lậu cũng như sử dụng pháp Hướng Tâm mà không có nhiệt tâm dứt khoát từ bỏ, thì sự tu tập chỉ có hoài công vô ích và uổng phí một đời tu hành, chẳng bao giờ có giải thoát đối với những người này.

Theo sự nhận xét của con, trong sự tu tập của chính mình, thì con đã rút ra được những kinh nghiệm bản thân, nếu không có nhiệt tâm xả bỏ thì sự tu tập cũng chỉ hoài công vô ích và uổng phí một đời tu hành chẳng bao giờ có giải thoát. Với những ai tu chơi thì chẳng bao giờ có nhiệt tâm, không có nhiệt tâm thì đừng nên tu theo đạo Phật đã chẳng ích lợi cho mình mà còn hại đạo Phật thêm, khiến cho người đời khinh chê và phỉ báng vì phạm giới cấm của đức Phật.

Theo sự nhận xét của con trong sự tu tập của chính mình, thì con đã hiểu biết được những kinh nghiệm bản thân, “nếu không có nhiệt tâm xả bỏ thì sự tu tập không có hiệu quả”.

Đúng vậy! Đúng vậy! Lời nói này là cả một kinh nghiệm bản thân. Nếu trên đường tu tập mà ai không có nhiệt tâm xả bỏ xa lìa ác pháp và lòng ham muốn của mình, thì kết quả chẳng ra gì như trên đã dạy.

Nếu một người tu hành theo đạo Phật mà sống không đúng Phạm hạnh của đạo Phật, thì người ấy không bao giờ có nhiệt tâm với sự tu tập của mình. Người có nhiệt tâm, là người sống đúng giới luật Phạm hạnh.

Nếu tu tập mà không có kết quả, thì sự nhiệt tâm sẽ mất dần và cuối cùng, lòng tha thiết nhiệt tâm tu hành giải thoát không còn nữa.

Bởi vậy, kẻ nào tu sai, nhiệt tâm sẽ bị mất, nhiệt tâm mất thì nghị lực cũng không còn, tu như vậy chỉ mang tiếng tu mà thôi.

Đây là một vấn đề quan trọng trong sự tu hành, quý Thầy và quý Phật tử phải bảo vệ và giữ gìn nhiệt tâm của mình, đừng nên để nó mất, nó mất đi cuộc đời tu hành của quý vị sẽ trở thành đen tối và âm u.

Người tu hành theo đạo Phật nhiệt tâm là hàng đầu của người xuất gia, nó sẽ giúp cho quý vị tu tập đến nơi đến chốn, quý vị nên nhớ kỹ và khắc ghi mãi trong lòng hai chữ “NHIỆT TÂM”. Nhiệt tâm còn là còn sự tích cực, nhiệt tâm mất là tiêu cực đến.

Trích: Đường về xứ Phật

Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sưu tập (tạm thời) sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã download từ các trang web trên, bạn có thể tải về: Click tại đây

Vì đâu đạo đức xã hội xuống cấp như hiện nay?

Ở VN trong thời gian qua, sự xuống cấp về đạo đức xã hội đã trở thành vấn đề được dư luận xã hội hết sức quan tâm.

Thực trạng vấn đề đạo đức xã hội hiện nay

Chưa bao giờ các hành vi vô nhân tính, vô đạo đức trong các mối quan hệ xã hội, kể cả giữa những người thân trong gia đình lại xuất hiện với một tần xuất dày đặc trên báo chí như hiện nay.

Đứng trước thực trạng này, Chính phủ vừa ban hành nghị quyết về chương trình hành động thực hiện nghị quyết số 33 của Trung ương Đảng. Theo đó, Chính phủ đã đặt mục tiêu đến năm 2020 sẽ ngăn chặn xong và đến năm 2030 sẽ đẩy lùi được sự xuống cấp của đạo đức xã hội.

Đánh giá về thực trang vấn đề đạo đức xã hội ở VN hiện nay, PGS. TS. Sử học Hà Minh Hồng, Trường Đại học KH-XH & Nhân văn thấy rằng, việc xuống cấp đạo đức xã hội là điều có thật. Ông cho biết:

“Cái gọi là xuống cấp của đạo đức xã hội là điều có thật và cái dấu hiệu này thậm chí còn được một số người quan trọng hóa cho rằng tình trạng xuống cấp nghiêm trọng. Và người ta đánh động đến các ngành, đặc biệt là ngành giáo dục, đặc biệt là hệ thống nhà trường, đặc biệt là những người được đào tạo, được giáo dục, tôi cho rằng họ có cơ sở của người ta. Nhưng về phía tôi thì thấy rằng trong thực tế chúng ta có nhiều cái tốt đẹp, nhiều cái thiện, nhiều người tốt, nhiều sự việc thì trên thực tế nó bị chìm nghỉm đi. Còn những cái xấu kia thì nó nổi trội lên như thế.”

Nhà báo Nguyễn Thế Thanh, nguyên Phó giám đốc Sở VHTT cho biết suy nghĩ của mình, bà nói:

“Tôi nghĩ một khi đạo đức xã hội xuống cấp thì mình phải thừa nhận nó thôi chứ chối cãi thế nào được. Thế nào là xuống cấp? Tức là: vợ giết chồng, chồng giết vợ, cha mẹ giết con cái, con cái giết cha mẹ chỉ vì không được chia một mảnh đất cho nó công bằng, theo như nhận thức của họ. Theo tôi nghĩ, đạo đức xã hội thế là xuống cấp rồi.”

Khi được hỏi, phải chăng vấn đề giáo dục là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này?

Không đồng ý với quan niệm đó, bà Nguyễn Thế Thanh chia sẻ:

“Tôi không tin điều đó đâu, thế cái ông BS. ở phòng mạch Cát tường là cái gì đấy? Ông ấy có là trí thức không? Ông ấy là thạc sĩ y khoa đấy chứ! Cái anh chàng sinh viên chặt tay người ta để cướp có là trí thức không? Trí thức đấy chứ! Cho nên cái việc gây ra tội ác, người có lòng ích kỷ nó không chọn người có bằng cấp hay người không có bằng cấp để nó chen vào. Tôi tin rằng sự tử tế nó có cả ở những người chữ ít, nó có cả ở những người chữ nhiều. Vấn đề ở đây là gì? Là chúng ta dạy họ làm người, đã làm người thì dù giàu hay nghèo, dù là nhiều chữ hay ít chữ, thì là người chỉ được phép làm những điều như thế này thôi!”

Nguyên nhân xa gần

Trả lời câu hỏi, nguyên nhân do đâu khiến cho đạo đức xã hội ở VN đã xuống cấp tới mức báo động như hiện nay?

Khả năng quản lý và thực thi pháp luật của nhà nước hiện nay không đáp ứng nổi là nguyên nhân chính. TS. Kinh tế Nguyễn Hữu Nguyên, cho biết:

“Tôi cho rằng chính cái quản lý và thực thi pháp luật xuống cấp, chứ không phải pháp luật của chúng ta xuống cấp. Nếu chúng ta giở các bộ luật Hình sự hay Hiến pháp của các nước sẽ thấy, bao giờ Hiến pháp cũng hướng tới Chân, Thiện, Mỹ. Không có Hiến pháp nước nào cho phép những cái đó cả. Nhưng mà ở ta nó vẫn diễn ra, thì chứng tỏ bộ máy của cơ quan quản lý để thực thi pháp luật nó đã xuống cấp. Xuống cấp ở cái đó, tôi cứ nói thẳng thắn là xuống cấp ở khả năng quản lý và thực thi pháp luật. ”

Đây là hệ quả của nhiều vấn đề, cả ở giáo dục, quản lý nhà nước kể cả về mặt lý luận. TS. Giáo dục Nguyễn Việt Hùng cho hay:

“Trong trường học môn Đạo đức thì biến thành môn Giáo dục công dân, khô khan, công thức và sơ cứng. Tôi còn không hiểu nổi, thì làm sao các cháu thiếu niên nhi đồng họ hiểu được? Trong tổ chức đoàn thể chúng ta thử nhìn lại xem cơ quan nhắc nhở nhau về đạo đức được mấy lần? Đi trễ về sớm triền miên, vi phạm quy định của tổ chức hay có cách sống ích kỷ, vô cảm rất nhiều nhưng ai nhắc nhở? Và cuối cùng là chuẩn thang giá trị về đạo đức thay đổi mà không ai đánh giá, không ai kiểm soát và không ai nhắc nhở. Cho nên, những cái đó nó làm cho sự ích kỷ, vị kỷ của con người trong KT thị trường trở thành bộc phát. Chính do như thế nó trở thành thách thức xã hội.”

Theo Tạp chí CS, nguyên nhân chủ quan của vấn đề đạo đức xã hội xuống cấp là do:

“Cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân. Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ở một số nơi chưa đến nơi đến chốn, kỷ cương, kỷ luật không nghiêm, nói không đi đôi với làm, hoặc làm chiếu lệ.”

Việc cạnh tranh không lành mạnh giữa các cá nhân, trong điều kiện chưa có nền tảng về đạo đức, pháp luật là nguyên nhân cơ bản nhất, bà Nguyễn Thế Thanh cho biết:

“Vì sao nó xuống cấp thì là vì, khi chúng ta đi vào kinh tế thị trường thì chúng ta phải chấp nhận có sự cạnh tranh, nhưng là sự cạnh tranh lành mạnh, có đạo đức, có pháp luật. Nhưng ta chưa xây dựng đầy đủ cái nền tảng ấy cho nên người ta cứ chăm chăm vào cái cạnh tranh mà thôi. Để có một đồng lương cao hơn, một chỗ làm tốt hơn… thì người ta phải cạnh tranh rất nhiều. Nhưng thay vì cạnh tranh bằng năng lực, bằng chuyên môn thì người ta có thể làm theo cách khác. Đó là có những người đạo đức kém, năng lực thì vừa phải thậm chí kém nhưng vẫn được đưa vào những vị trí quan trọng. Và khi họ vào những vị trí quan trọng ấy thì tự nhiên người ta sẽ hành xử như cái đã đưa người ta lên”

Nói về vai trò của truyền thông trong vấn đề góp phần chặn đứng sự xuống cấp của đạo đức xã hội, TS. Nguyễn Việt Hùng cho hay:

“Chúng ta phải tôn vinh người làm nghĩa cử hào hiệp, tốt phải khen, xấu phải chê. Chứ nếu còn không, người ta làm tốt không khen, người vi phạm đạo đức không chê, không lên án thì tất cả mọi người ngang nhau, đồng thau lẫn lộn, Thiện Ác lẫn lộn. Và như thế nó sẽ không tạo thành sức mạnh động lực để người ta tôn vinh cái hay, cái đẹp.”

Đạo đức là tập hợp những quan điểm về thế giới, về cách sống của một xã hội, nhờ đó con người có thể  điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng xã hội. Trong một xã hội có đạo đức chuẩn mực, thì lòng nhân đạo sẽ lan tỏa, ngấm dần dần vào trong tâm hồn, vào hành động của mỗi con người. Như thế, xã hội sẽ dần dần trở nên an bình, ổn định hơn và cái ác sẽ bớt dần đi, lúc ấy cái ác sẽ không còn là điều phổ biến và tràn lan như hiện nay.

Anh Vũ

Sunday, January 4, 2015

Khổ đau lớn nhất của đời người là gì?

Ai cũng quý trọng "thân này", cũng muốn được sống hạnh phúc, tham sống sợ chết, thì tại sao lại giẫm đạp lên thân người, đời người khác, để tạo nghiệp khổ đau cho đời này, đời sau?

Trong đời sống thường nhật, có đôi lúc ngồi suy niệm một mình, chúng ta cũng thường thắc mắc tự hỏi: “Khổ đau lớn nhất của đời người là gì?” - và có lẽ, sẽ có nhiều câu trả lời, đại loại là do tham dục, do sân giận, do đói khát, do bệnh tật hay do sự sợ hãi v.v...

Những lời giải đáp tùy theo mỗi hoàn cảnh và sự nhận thức của mỗi người. Nhưng tất cả những lời giải đáp ấy chưa phải là nguyên nhân cốt lõi sau cùng của nỗi khổ đau lớn nhất mà kiếp người phải gánh lấy.

Trong Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều đã từng than rằng: “Nghĩ thân phù thế mà đau/Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê”.

Câu hỏi này (và cả những câu trả lời) không có gì lạ, bởi vì từ hơn 2.500 năm trước đã được các Tỳ-kheo thắc mắc và tranh cãi rồi nhưng cũng chưa tìm ra câu trả lời chân xác. Vì bất đồng ý kiến, nên họ cứ tranh luận mãi không thôi. Biết được chuyện này, Đức Phật liền đi đến, các Tỳ-kheo đã đồng đứng lên đảnh lễ rồi trình bày điều mình đang tranh luận.

Đức Phật dạy: “Này các Tỳ-kheo! Các thầy bàn luận chưa đến chỗ cùng tột ý nghĩa của khổ đau. Khổ đau trong cuộc đời không gì hơn sự hiện hữu của thân này. Tất cả những nỗi khổ đau đói khát, nóng lạnh, sân giận, sợ hãi, sắc dục, tai họa… đều bắt nguồn từ thân này!”(Kinh Pháp cú thí dụ).

Tham chấp thân tạm hư huyễn này mà gây tạo nghiệp ác, là sẽ chìm đắm trong vòng sinh tử luân hồi

Tham chấp thân tạm hư huyễn này mà gây tạo nghiệp ác, là sẽ chìm đắm trong vòng sinh tử luân hồi

Có phải vì “thân này” mà con người đã luôn nuôi dã tâm tàn hại lẫn nhau, để giành mọi quyền lợi cho mình? Sự mù quáng vì quá tham đắm “thân này” đến nỗi nhà văn Nicolas Chamfort (1741-1784) đã phải kêu lên: “Người ích kỷ sẽ đốt nhà bạn để luộc một quả trứng”. Cung phụng những đòi hỏi, ham muốn cho “thân này” như vậy, là hết chỗ nói! Tuy vậy, những đòi hỏi của “thân này” chưa bao giờ chịu dừng lại, mà ngày càng nhiều thêm.

Nhìn lại thực tế trong đời sống, chúng ta càng thấy rõ, chỉ vì “thân này” mà nghĩa tình ruột thịt đã phải chia cắt, bằng hữu xóm giềng phải xa nhau, đạo lý luân thường bị đảo lộn. Hàng ngày, tin trên các báo đều có ghi: Con đánh cha - giết hại mẹ, vợ phản bội chồng, chồng bạo hành vợ con, anh chị em đâm chém nhau, học trò vô lễ với thầy cô, bè bạn thù oán nhau v.v… cũng không ngoài vì danh và lợi, muốn tóm thu về thụ hưởng cho riêng mình. Xã hội rối ren, bất an triền miên chỉ vì ai ai cũng lo chụp giựt, tranh giành, chỉ mong o bế cho thân mình.

Nếu con người sống ở cõi tạm này mà biết được rõ rằng, cái “thân này” chỉ là bóng mây, bọt nước, là pháp hư huyễn, có không vô thường để biết đủ; đem tâm từ của “thân này” hướng về kẻ khác, nuôi lớn cảm thông để sẻ chia - thì chắc chắn, nỗi khổ đau “thân này” cũng sẽ được xoa dịu, chuyển hóa, giảm đi rất nhiều - cho chính mình và cho mọi người. Suy cho cùng, cội nguồn của các khổ đau, manh mối của tai họa, lao tâm, khổ trí, sợ hãi - cũng chính bởi “thân này” mà ra cả!

Ai cũng quý trọng thân này, cũng muốn được sống hạnh phúc, tham sống sợ chết, thì tại sao lại giẫm đạp lên thân người, đời người khác, để tạo nghiệp khổ đau cho đời này, đời sau? Đức Phật đã dạy: “Người nào cầu yên vui cho thân mình mà lại lấy dao gậy não hại kẻ khác, thì sẽ không bao giờ được yên vui” (PC.131). Lời nói đơn giản này ai cũng có thể thuộc nhưng có rất ít người làm được.

Tham chấp thân tạm hư huyễn này mà gây tạo nghiệp ác, là sẽ chìm đắm trong vòng sinh tử luân hồi triền miên đau khổ! Biết “quên” thân này, mượn thân giả tạm để sống vì người, vì đời; rời xa vọng tưởng mê lầm, hướng tâm an tĩnh thì chắc chắn sẽ đạt được an vui.

Theo Giác ngộ Online

Về hội chứng 'hoành tráng' và 'kỉ lục Guiness' ở ta

Chẳng biết từ bao giờ các tầng lớp cán bộ và nhân dân xứ ta trở nên mê đắm các kỷ lục Guiness và khoái làm gì cũng phải đạt mục tiêu “hoành tráng”. Căn bệnh nguy hiểm này lây lan nhanh nhất trong các giới lãnh đạo các địa phương rồi thấm sâu luôn vào đầu nhiều ông bà Nghị tại Quốc Hội, thậm chí chiếm lĩnh được đầu óc một số thành viên Chính Phủ và trong nhân dân...

Có lẽ vì cái hội chứng tại hại ấy mà ở nước ta đã phát sinh ra cái bệnh “thành tích chủ nghĩa” rất hủ lậu, luôn thổi phồng các thành quả nhỏ xíu, dấu nhẹm các thất bại đớn đau, các vết thương lở loét, các thua thiệt khổng lồ…Tệ trạng này luôn luôn hiện hình trong các báo cáo tổng kết các phong trào thi đua của các đảng bộ, các ngành và các địa phương … Có lẽ vì cái hội chứng này mà chúng ta đẻ ra bao “dự án siêu khủng”, bao chương trình “hoành tráng”, bao “tác phẩm vĩ đại”, “lớn nhất lịch sử”, “dẫn đầu Đông Nam Á”“xứng tầm thế giới”, nêu gương sáng chói cho bè bạn gần xa…. Có lẽ vì hội chứng đó mà chúng ta mới có những kỷ lục Guiness ngớ ngẩn: cái bánh dày, bánh chưng, chai rượu, ly cà phê, cái trống gỗ, cái trống đồng, biễu tượng con Rồng … “to nhất thế giới” cùng những tượng Phật, ngôi chùa, trung tâm Phật học, các cây cầu, các đường hầm trên bộ, các đường cáp treo trên biển, trên núi …. dài nhất, hiện đại nhất Đông Nam Á, thậm chí “ngang tầm thế giới”

Nếu không sống tại Việt Nam, ở xa nghe đồn đại về các thành tựu “khủng” này, ai ai cũng ngỡ nước ta đã trở thành Rồng tứ tám hoánh nào rồi …

Ngay cả trên bình diện quốc gia, chúng ta đã thấy hiện ra những dự án vẽ voi, siêu khủng rất tương phản với cái sự nghèo đói mạt rệp của toàn dân, rất nghịch lý so với trình độ quản lý kinh tế - kỹ thuật vĩ mô, trình độ hiểu biết KHKT còn thua kém và lạc hậu của các cấp quản lý hữu quan trên cả nước (và có lẽ chúng mâu thuẫn khủng khiếp với chỉ số IQ của một số quan chức xuất thân thất học hoặc chỉ toàn học …giả). Đó là những dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân, làm đường sắt cao tốc, làm MTR, chế tạo vệ tinh, xây dựng các Tập đoàn dầu khí, Tập đoàn Điện lực, Tập đoàn kinh tế biển, trung tâm đóng tàu lớn nhất thế giới (như kiểu Tập đoàn Vinashin!), rổi các nhà máy luyện nhôm, các mỏ khai thác bauxite ở Tây Nguyên…. Nhiều khi người ta phải tự hỏi phải chăng trong thực tế cả nước chúng ta đang cùng nhau diễn lại cái tích ngụ ngôn “con ếch muốn to bằng con bò”[*]!

Hàng chục năm nay, dù dân còn nghèo, Ngân sách cho từng địa phương rất khiêm tốn, ngân sách Nhà Nước bên trên còn hạn hẹp, nhiều hộ dân đói, nhiều gia đình chưa thoát chuẩn nghèo song người ta vẫn khoái đua nhau mở các Lễ hội tưng bừng, vung tiền làm lắm chuyện hỡi ơi, cốt sao người trong nhà “khoái tỷ” vì được tiếng là dám chơi trội, chơi bạo, còn người ngoài thì phải quay cổ ngoái nhìn, phục lăn, phục lác cả mắt…( hoặc ngỡ ngàng lồi cả mắt!)

Lễ hội ờ bất cứ nơi đâu cũng phải đạt mục tiêu hoành tráng, long trọng, hơn hẳn nơi khác và đạt mức chi bạo liệt ghê hồn… (?!) Hết lễ hội cà phê, cà chua tới lễ hội gốm sứ, hết lễ hội trái cây lại lễ hội đánh bắt cá tôm, rồi thì lễ hội hoa Đà Lạt, lệ hội pháo hoa Đà Nẵng, lễ hội cung đình Huế, lễ hội các làng xã, lễ hội các tôn giáo, các liên hoan ca nhạc, phim ảnh… Lễ hội nào củng chi phí tốn kém hàng chục triệu đô la Mỹ, tiêu phí hàng chục hàng trăm tỳ đồng. Gần đây nhất lễ hội Ngàn Năm Thăng Long kéo dài cả 10 ngày, chi phí đạt kỷ lục tốn kém nhất trong … lịch sử, nghe đâu mất hàng chục ngàn tỷ đồng, người nước ngoài nhìn thoáng qua tưởng dân ta sướng quá, nước ta giàu quá nên “hơi bị hâm” đua nhau vung tiền bày đặt ăn chơi như công tử Bạc Liêu ngày trước.

Tổng kết công tác tồ chức lễ hội Nghìn Năm Thăng Long, ông Nguyễn Thế Thảo, Chủ Tịch UBND thành phố Hà Nội còn đầy thích thú và tự hào nói: lễ hội đạt mục tiêu trang trọng và hoành tráng!

Thực tình mà nói, ở cương vị người dân thường, chúng tôi thấy cả hai mục tiêu đạt được nói trên đều là chuyện vô nghĩa, vô bổ, hình thức, khoe mẽ, nặng tính ngớ ngẩn, huênh hoang, sĩ diện dởm của một anh nhà nghèo cố gồng mình lên chứng tỏ cho thiên hạ biết mình là một tay chơi thực thụ …

Cứ thử tính mỗi lễ hội tiêu phí bao nhiêu tiền công quỹ, vỗ béo cho những ai và đạt hiệu quả kinh tế - chính trị - xã hội gì cho các địa phương thì chúng ta sẽ nhận ra ngay cái sự thiếu tính toán khoa học của các nhà tồ chức cũng như cái bệnh lãng phí của công, xài tiền chùa vô tội vạ, cái thói lợi dụng đục nước béo cò, tranh thủ vơ vét theo “tư duy nhiệm kỳ” … rất đáng lên án của những thành viên và hệ thống chuỗi rễ bên dưới của các Ban tổ chức lễ hội…

Chỉ nhìn lại 10 ngày lễ hội Nghìn năm Thăng Long chúng ta thấy ngay chúng ta thu hoạch được những gì: Cả thành phố tràn ngập cờ, băng rôn, khẫu hiệu, lồng đèn…đỏ rực nhìn nhức cả mắt, che hết vẻ đẹp dịu dàng và thanh thoát của kiểu dáng kiến trúc dân tộc và nên thơ của phố cổ, phố Tây cũ…Các khu phố suốt ngày điên khùng vì tiếng nhạc tiếng loa, ầm ào như chợ vỡ, lộn xộn vì hiện đại chẳng ra hiện đại, cổ điển chẳng ra cổ điển, cách mạng càng không cách mạng, trữ tình thì lại càng không trữ tình… mà chỉ là một thế giới âm thanh hổ lốn hỗn tạp lố lăng tra tấn lổ tai du khách…Các công trình công cộng lớn đầu tư biết bao tiền bạc như các các bồn hoa, vườn hoa, luống cỏ trang trí cầu kỳ thì chỉ sau vài giờ bị phá tan hoang, bị xả đầy rác, hoa bị bẻ bị vặt, cỏ bị xéo nát, nhiều chổ chỉ còn trơ đất lầy… Cảnh tượng đô thị chẳng khác nào khu vườn hoang bị cày xéo nát bươm…Nhà bảo tàng vừa khai trương thì đã bị phá, bị trộm cắp các hiện vật, các trang thiết bị đắt tiền. Đại lộ Thăng Long vừa khánh thành đã bị tháo dỡ hệ thống chiếu sáng, gỡ tôn rào chắn, mặt đường nhựa lượn sóng, ổ gà ổ voi xuất hiện khắp nơi, lại thêm rác rưởi, xà bần đổ vô tội vạ…nhìn mà đau xót muốn chảy máu mắt.

Trước lễ hội, dân Hà Nội gốc ở nội thành phải lo sơ tán về các vùng xa để tránh sự lộn xộn. Còn ngay trong các ngày lễ hội thì người người chen chúc, kẹt xe kẹt đường tùm lum, trộm cắp lưu manh đua nhau ra tay khua khoắng …làm cho bao người dân khốn khổ. Hàng triệu người đổ về phố cổ nhỏ bé, tiêu tiểu loạn xạ, các cửa hàng đua nhau chặt chém họ để quơ tiền. Chỉ một chuyện gửi xe mà cũng làm đau buốt đầu óc người dân, giá giữ xe trên trời: từ 20.000đ/lượt vọt lên 50.000đ và có chổ tới 100.000đ/lượt gửi. Bà con ở các vùng sâu vùng xa về dự lễ hội bị móc túi, bị nắn bóp phũ phàng…Pháo hoa chưa bắn đã nổ bung trời, làm thiệt mạng cả các chuyên viên kỹ thuật nước ngoài đang lo chuẩn bị thật tốt cho buổi lễ…

Lễ hội qua rồi, người dân Hà Nội thở phào vì “thoát nạn” và mong sớm được trở về nếp sống làm ăn an lành, hiền hòa, im lặng và quy củ, trật tự, sạch đẹp như xưa…

Rõ ràng lễ hội Nghìn năm Thăng Long là một lễ hội tiêu phí quá nhiều tiền mà vô ích và vô bổ, gây xáo trộn cả nếp sống của hàng chục triệu con người.

Đã đến lúc dân ta đòi phải tiết kiệm chi tiêu, dành dụm tiền bạc đầu tư vào các công trình cụ thể phục vụ thiết thực cho việc cải thiện đời sống, nâng cao chất lượng sống của các đô thị như tăng cường công tác xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ các gia đình chính sách đang còn gặp nhiều khó khăn trong đời sống, tập trung tiền bạc và của cải để xây dựng thêm nhiều nhà thương, trường học, nhà dưỡng lão, nhà vệ sinh công cộng… cải tạo và nâng cấp đường sá, cải tạo hệ thống cấp điện, cấp nước và thoát nước, xử lý rác thải và tu bổ, gìn giữ tốt các công trình văn hóa, các công trình công cộng…

Hãy mạnh dạn xóa bỏ hội chứng điên khùng sĩ diện, dởm đời ganh đua đòi “đi tắt đón đầu” dùng mọi thủ đoạn ma mãnh để vượt mặt người ta. Hãy từ bỏ các thói xấu chuộng hình thức, huênh hoang, vô trách nhiệm, vung tay “tiêu tiền chùa” lợi dụng nhiệm kỳ tại chức nhằm vơ vét cho đầy túi tham vô độ. Hãy học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Hồ Chủ tịch một cách thiết thực bằng cách tổ chức làm việc chí công vô tư, ra sức tiết kiệm, chống ăn cắp, tham nhũng, xa hoa lãng phí, cải cách hành chính thật tốt để người dân khỏi bị hành hạ và bị ép buộc phải đút lót các cán bộ, công chức mới lo êm các thủ tục giấy tờ…

Muốn vậy, tất cả các quan chức từ thấp đến cao phải biết rằng mình sống nhờ tiền chu cấp của dân, phải hết lòng làm việc tốt cho dân, phải đối xử tử tế với dân và phải tự giác và tình nguyện làm tròn vai trò “đầy tớ của dân” chớ không phải là kẻ đè đầu cưỡi cổ dân, tha hồ hạch sách và bóp nặn dân miển sao gặt hái được nhiều tiền…còn thì mặc cha thiên hạ!


[*] “Con nhái muốn to bằng con bò”- Thơ ngụ ngôn của Jean de La Fontaine, người dịch Nguyễn Văn Vĩnh

Con nhái nom thấy con bò,
Hình dung đẹp đẽ, mình to béo tròn.
Nhái bằng quả trứng tí hon.
Lại toan cố sức bằng con bò vàng….

Khái niệm về giới

Hỏi: Kính bạch Thầy, thế nào là giới cấm, giới kinh, giới hành, giới hạnh, giới đức....? Còn những khái niệm nào về giới của đạo Phật mà chúng con cần phải biết thêm?

Đáp: Giới cấm tức là pháp luật, là thanh qui, là nội qui, là những điều lệ mà tu sĩ không được vi phạm.

Giới kinh là những lời dạy của đức Phật được kết tập thành kinh sách dạy về các pháp thiện, người tu sĩ cần phải học và tu tập hằng ngày không được biếng trễ.

Giới hành là những pháp môn tu tập rèn luyện thân tâm để thân tâm được thuần hóa trong thiện pháp như: Định Vô Lậu, Định Niệm Hơi Thở, Định Chánh Niệm Tỉnh Giác v.v.......

Giới hạnh là những hành động thân, miệng, ý được rèn luyện, được tu tập không còn làm khổ mình khổ người.

Giới đức là những đạo đức làm người làm Thánh được học tập và được áp dụng vào đời sống hằng ngày.

Ngoài những giới trên đây đạo Phật còn có nhiều giới như: giới bổn, giới luật, giới bất tử, ngũ giới, lục giới, bát giới, thập giới v.v.........

Nói giới luật tức là nói đến đạo đức, nói đạo đức là nói đến những hành động vượt thoát ra khỏi bản chất của loài cầm thú; nói đạo đức là nói đến những hành động cao thượng đẹp đẽ tuyệt vời của con người đối xử nhau trong cuộc sống không làm khổ mình khổ người và khổ tất cả muôn loài vạn vật trên hành tinh này.

Trích Đường về xứ Phật X
Trưởng lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây

SỰ THẬT BỨC ẢNH ÔNG NGUYỄN BÁ THANH NẰM VIỆN

Gần đây trên facebook lưu truyền hình ảnh được cho là của Trưởng Ban nội chính Nguyễn Bá Thanh, nguyên Bí thư thành ủy Đà Nẵng đã bị đầu độc nhằm tung tin thất thiệt, gây hoang mang và tạo dư luận xấu trong xã hội, gây chia rẻ mất đoàn kết trong nhân dân và giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước.



Nhưng sự thật là thế nào? 

Trong hình là "ký giả Thanh Toàn" cựu phóng viên SBTN hải ngoại hay còn được biết với cái tên Ca Sĩ Trần Thiện Anh Chương hoạt động ở Mỹ vừa qua đời vào ngày 29 tháng 5 năm 2014 tại Houston, Texas.

"Ký giả Thanh Toàn" hay Ca Sĩ Trần Thiện Anh Chương

Một số điểm so sánh nhận dạng để phân biệt 2 nguồn ảnh:



- Thứ nhất, bức ảnh lan truyền trên mạng hình ảnh người bệnh trên giường là chụp bên má phải và đã bị đảo ảnh (nhận biết: chữ số điện tử trên các bảng điều khiển)

- Thứ hai: Sự khác biệt giữa ảnh Ông Nguyễn Bá Thanh và người bệnh nằm trên giường:

Người nằm trên giường bệnh:

- Dái tai người bệnh chảy xệ

- Cằm có sẹo lõm

- Trán hói cao nhẵn thín.

Còn Ông Ông Nguyễn Bá Thanh không có những đặc điểm đó.

Ông Thanh chân tóc ở trán thấp, cho dù có rụng hết tóc cũng không nhẵn thín như người hói được. 

Tóm lại bác Nguyễn Bá Thanh có 1 nốt ruồi đen rất to và rõ ở phía gò má, còn bức ảnh người đàn ông trên giường bệnh được cho là bác Thanh thì không có nốt ruồi này, dù zoom hết cỡ để soi. Tai trái bác Thanh có phần dáy tai không dày và nhiều thịt như dáy tai của người đàn ông trên giường bệnh. Phần chỏm đầu kéo ra phía sau gáy bác Thanh hơi bẹt, còn phần hộp sọ người đàn ông trên giường bệnh lại khá tròn.

Vậy nên kết luận những hình ảnh thời gian qua phát tán trên mạng và FB là của một người khác chứ không phải của bác Thanh, những thông tin xuyên tạc về Bác Thanh là của bọn phản động lợi dụng tình hình bệnh tật của ông để chuộc lợi cho chúng, là một người trẻ hãy tỏ ra thông minh khi tiếp nhận thông tin tránh mắc bẫy của lũ kền kền.

Bác Thanh luôn mong muốn một Việt Nam tốt đẹp văn minh chứ không phải là một lũ lừa bị một đám IQ thấp hơn dắt mũi kéo đi đâu là đi. Nếu yêu quý Bác Thanh hãy cầu chúc cho bác vượt qua được căn bệnh ung thư hiểm nghèo dù đến cả Steve Jobs CEO nổi tiếng của Appe cũng đã từng gục ngã vì ung thư quái ác.

Một lần nữa chúng tôi khuyên các bạn hãy tỉnh táo khi tiếp nhận thông tin đặc biệt là tin của lũ phản động luôn tìm cách phá hoại chống phá Đảng và nhà nước.

Khểnh

Saturday, January 3, 2015

BÍ ẨN CỦA BÙA YÊU

Bí ẩn ma lực không thể cưỡng của Bùa yêu

Khi đã bị thả bùa, người bị bỏ bùa kia sẽ cảm thấy nôn nao, mấy ngày không gặp sẽ lên cơn điên dại. Nếu một trong hai người không may chết đi, người kia sẽ phải cắt duyên. Bí kíp luyện bùa yêu của người Thái

Đường vào xã Nà Mèo, huyện Mai Châu, Hòa Bình vòng vèo qua từng con dốc uốn lượn trong sương sớm. Bản làng vẫn như đang khoác áo sương mù. Những ngôi nhà sàn khép mình bên lưng núi mờ ảo dần hiện ra như những câu chuyện nửa thực nửa hư ở miền đất này.
Theo sự chỉ dẫn của những người dân, chúng tôi tìm đến nhà ông Vì Văn Kiểu, 68 tuổi ở thôn Nà Mèo – người còn nắm được rất nhiều về bí quyết “mằn yêu” (bùa yêu – PV) của người Thái.

Trái với bùa yêu của người mường là cần phải lấy được một vật thân thuộc của đối tượng, như áo, chiếc lược, thỏi son, đôi dép… Bùa yêu của người Thái có loại để yểm vào những đồ vật thân thuộc đó chứ không cần lấy nó. Tuy nhiên, người Thái có một loại bùa có sức mạnh hơn bùa của người Mường. Đó là bùa “mằn yêu” bằng mọi thứ.


Một mâm cỗ để hóa giải bùa yêu

Cái “mằn yêu” này không cần phải vật thân thuộc của đối tượng mà chỉ cần một nắm muối, cốc nước, chén chè, chén rượu, một cái kẹo, thậm chí một cành cây, viên đá, sỏi cũng có thể làm đối tượng si mê không dứt ra được.

Khi đã “dính” bùa, đối tượng sẽ tự tìm đến người thả bùa. Chỉ cần một ngày mà không nhìn thấy, người bị “dính” bùa sẽ đứng ngồi không yên, bồn chồn và tìm đủ mọi cách để đến với người thả bùa. Người đó sẽ không thể làm chủ được lý trí, mọi sự tác động bên ngoài đều không thể chia lìa họ. Họ sẽ nên vợ nên chồng bởi sự kết mối, se duyên của bùa yêu.
Ông Kiểu cho hay: “Người bị yểm bùa yêu không thể nào bỏ nhau được nếu không được chính thầy “mằn” phá bùa. Ngay cả khi hai người đã là vợ chồng thì hai người cũng không hề rời xa nhau được hai ngày. Nếu vượt giới hạn, cả hai người có thể bị nổi cơn, biến thành điên dại vì nhớ nhau.

Chính vì vậy, người chồng hoặc người vợ có chuyện phải đi xa vài ngày thì người thả bùa phải đến xin “thầy” bùa hóa giải. Lễ vật hóa giải gồm một con gà hoặc vịt và thịt lợn để “thầy” tạm hoãn ma lực của bùa yêu.

Còn nếu muốn phá hủy bùa yêu hoàn toàn thì cần cúng “thầy” một con lợn, cộng thêm con gà hoặc con vịt. Khi đã phá hẳn bùa thì họ có thể ly hôn và đi thêm bước nữa”.


Theo sự lý giải của một “kỳ nhân 6 ngón” Vì Xuân Thu, người nắm giữ phương pháp “mằn” chữa bệnh nổi tiếng ở đây thì việc “mằn yêu” cũng giống như cách mà anh “mằn” chữa bệnh. Chỉ cần một chén rượu hoặc một chén nước đưa lên ngang miệng hà hơi, truyền một xung lực năng lượng huyền bí vào chén nước mà thổi vào người bệnh thì họ sẽ rơi vào trạng thái mất lý trí và không cảm thấy đau.

“Kỳ nhân 6 ngón” Vì Xuân Thu lý giải, có thể họ dùng đến nguồn năng lực siêu nhiên để luyện bùa yêu

Ám ảnh ma lực của “mằn yêu”
Đã có rất nhiều những câu chuyện bi hài lẫn ai oán liên quan đến “mằn yêu” của người Thái ở khu vực Mai Châu. Đó là chuyện tình của anh Hà Văn T. và chị Tòng Thị V. tại thành phố Hòa Bình đang yêu nhau tha thiết, nhưng rất bất ngờ, cô gái đó bỗng bỏ người yêu để đi lấy một người mà cô không yêu.

Đó là anh K. học cùng thời phổ thông vẫn thầm thương trộm nhớ cô gái đó nhưng  không được đáp lại tình cảm. Hay tin, anh chàng này đã tìm đến nhờ một “thầy” cao tay về “mằn yêu” ở xã Nà Mèo. Những người dân sống cạnh đó bỗng nhiên thấy V. thường xuyên tìm đến nhà K., khi thấy gia đình có việc gì thì cô gái liền đến giúp, cô V. tự vào bếp nấu cơm, rửa bát và phụ giúp mọi công việc khác của gia đình.

Vài tuần sau, K. đòi bố mẹ đem sính lễ đến hỏi cưới V. về làm vợ. Anh T. biết chuyện anh K. đã thả bùa yêu đối với V. anh ra sức can ngăn nhưng không được. Mấy ngày sau, cô gái biết chuyện người yêu cũ buồn phiền đã uống thuốc độc tự tử, cô gái mới về vặn hỏi K., người chồng tưởng rằng hai người đã thành vợ chồng thì cũng không cần giấu nữa nên đã nói hết mọi chuyện với vợ. Hôm sau, người chồng phát hiện vợ mình đã chết trong tay vẫn cầm một lọ thuốc sâu.

Người dân nơi đây vẫn cho rằng, hai người nhờ bùa yêu nên vợ, thành chồng sẽ không thể nào sống hạnh phúc đến suốt đời. Nếu một trong hai người chết đi, người còn sống mà không tìm được chính người đã yểm bùa thì người này cũng sẽ chết chỉ trong vòng một tuần.

Đó là trường hợp của ông Hà Văn Cao và bà Hà Thị Puồi ở thôn Nà Mèo, xã Nà Mèo. Thời còn trẻ, ông Cao rất thích bà Puồi, khi bà Puồi đi yêu người ở xã khác nhưng ông Cao vẫn theo đuổi. Được tin bà Puồi sắp làm đám cưới với người yêu. Ông Cao liền tìm nhờ ông thầy “mằn” cao tay nhất vùng để lấy được người mình thương. Theo những người dân nơi đây cho biết, họ rất bất ngờ khi biết bà Puồi bỏ người yêu và lấy ông Cao.

Cuộc sống của họ cứ êm đềm trôi, rồi sinh con đẻ cái, sống bình lặng bên xó núi hiu hắt. Bà vợ chết được một tuần thì thấy người chồng cũng chết. Những người dân nơi đây cho rằng, do người chồng thả bùa yêu nên họ mới đến được với nhau. Khi bà vợ chết, người chồng không còn cách nào để phá bùa vì ông thầy “mằn” cũng đã chết nên chết theo.

Trải qua hàng ngàn đời, người dân xã Nà Mèo đã đúc kết được những bài học quý giá, không những các cặp nên vợ thành chồng nhờ bùa yêu sống không hạnh phúc mà chính thầy “mằn” cũng có kết cục không tốt. Họ cho rằng đó là quy luật nhân quả: “Đời cha ăn mặn thì đời con khát nước”, đời cha làm nhiều tội lỗi thì đến đời con sẽ phải gánh chịu sự trừng phạt. Việc làm bùa yêu còn ít ảnh hưởng, chứ việc làm bùa ác thì tích tụ nghiệp chướng cho con cháu càng lớn.

Con cái họ sinh ra sẽ chịu báo ứng. Có trường hợp, ông thầy “mằn” đã se quá nhiều mối duyên dở dang, hai người con trai đi lấy vợ đều không ai có khả năng sinh con. Những câu chuyện đó như là bài học để những người dân răn đe nhau không làm công việc se duyên tội lỗi đó nữa.
Trao đổi với chúng tôi, ông Vì Văn Dang, trưởng thôn Nà Mèo cho hay: Được biết, trước đây ở huyện Mai Châu có gần chục thầy bùa. Tuy nhiên, bây giờ cũng không thấy người dân ở đây tìm đến nhờ các “thầy” bùa để “mằn yêu” nữa. Trai gái trong làng đã tự do yêu đương, không còn những hiện tượng “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó”, không còn việc tảo hôn, éo duyên nữa. Họ được tự do tìm hiểu nhau, nếu thấy hợp nhau thì nguyện nên vợ nên chồng. Bùa yêu chỉ còn được người dân lưu truyền như những huyền tích của người dân tộc Thái.

Không cần bùa yêu vẫn sống hạnh phúc
Ông Vì Xuân Thu, một người nắm giữ phương pháp “mằn” chữa bệnh nổi tiếng ở vùng Nà Mèo cho hay: Bây giờ cuộc sống văn minh, nhận thức của người dân đã được nâng cao. Trai gái trong làng đã không còn cần đến bùa yêu nữa. Họ có thời gian yêu và tìm hiểu rất kỹ trước khi tính đến chuyện hôn nhân. Phải có tình yêu, sự cảm thông, chia sẻ, biết yêu thương lẫn nhau thì khi thành vợ thành chồng mới hạnh phúc.

Sau khi đăng tải bài viết về việc sử dụng bùa yêu của một vị thầy lang Mường (Phú Thọ), PV Vietnamnet đã có cuộc nói chuyện với Ông Nguyễn Phúc Giác Hải, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu và ứng dụng tiềm năng con người xung quanh vấn đề này.

Theo công hiệu, nó được quy ra loại tốt, loại xấu
Theo ông Hải, bùa ngải, bùa yêu hay còn gọi là “Nèm yêu ” từ lâu đã tồn tại trong dân gian Việt Nam. Chính vì thế mới có câu: “ Ba cô đội gạo lên chùa; Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư; Sư về sư ốm tương tư ; Ốm lăn, ốm lóc cho sư trọc đầu”. Chính vì thế mà từ xa xưa con người đã biết có một năng lượng siêu nhiên tự điều khiển ý thức, hành động của con người theo mong muốn. Thậm chí khi bị bỏ bùa yêu, người đó có thể bị lú lẫn và không điều khiển được ý thức.

Ông Nguyễn Phúc Giác Hải, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu và ứng dụng tiềm năng con người 
Đó là về hiện tượng dân gian, còn thực tế nghiên cứu thì ông Hải cho hay, trước đây bản thân ông đã từng nghiên cứu về một vị thầy lang chuyên chữa bệnh bằng cách cho người ta sử dụng miếng giấy nhỏ, trên miếng giấy đó ông ta đã tích một loại năng lượng riêng để đặt vào chỗ đau của người bị bệnh. Sau khi sử dụng, người bệnh tự nhiên khỏi và trở lại cuộc sống bình thường.

Xét về khoa học, miếng giấy ông tích năng lượng chỉ là vật mang thông tin. Khi người ta đốt miếng giấy đó và cho vào cốc nước thì lúc này cốc nước đó chính là năng lượng đã được tích và người ta uống cốc nước đó sẽ khỏi bệnh. Theo lý giải của những nhà khoa học hiện đại, nước bây giờ không phải là nước đơn tuần nữa mà nó là một chùm phân H20 n lần và chùm phân này có thể bị thay đổi hình thù theo thông tin đưa vào.

Như vậy, không chỉ qua giấy, nước mà người ta có thể truyền năng lượng vào bất cứ đồ vật, con vật, quả chuối, quả cam để làm thuật bùa ngải: giữ người yêu, trói chồng…Tuy nhiên, năng lượng đó có thể là năng lượng tốt hoặc năng lượng xấu.

Năng lượng tốt tức loại năng lượng đó khi sử dụng có thể làm cho người ta khỏi bệnh, giúp cho vợ giữ được chồng, làm cho gia đình họ hạnh phúc hơn xưa …còn năng lượng xấu là sẽ làm cho họ lú lẫn về lý trí, ý thức và bị dẫn dụ theo ý muốn của người đưa năng lượng đó vào.
Việc có thể vừa làm, vừa giải bùa yêu của ông thầy Mường ở Phú Thọ như trên là có thực. Tuy nhiên đó là lý giải theo dân gian còn để nghiên cứu, tìm hiểu chi tiết về việc làm bùa yêu hay giải bùa yêu của ông thầy Mường như đã nói trên thì tôi vẫn chưa gặp ngoài đời thực mà chỉ gặp những ông thầy lang có khả năng chữa hóc xương, gãy tay, gãy chân…

Bùa yêu mang lại tình yêu hời hợt
Mang ba lát gừng mà mà vị thầy lang ở xóm M (Tân Sơn, Phú Thọ) yểm, PV đã gặp một vị Đông y chuyên nghiên cứu về cây cỏ và những được liệu chuyên dùng để bỏ bùa. Qua xem xét, vị thầy thuốc đông y này khẳng định, đây thực chất là loại gừng bình thường dùng để ăn hàng ngày và nó chưa hề được pha lẫn với một loại hợp chất nào khác. Còn việc trong những lát gừng này chứa những câu thần chú, bùa ngải để trói chồng là có thực hay không thì chỉ có người có khả năng siêu nhiên đó mới biết được.

Một loại cây cỏ dùng để làm "bùa yêu" của vị thầy lang

Theo một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã chứng minh thì việc sử dụng bùa yêu là có thực, tuy nhiên nó không quá thần kỳ và bí ẩn như người ta vẫn truyền tai nhau. Thậm chí bùa yêu chỉ là cách điều khiển theo ý muốn của các vị thầy lang và chưa hẳn mang lại tình yêu thực sự khi vợ chồng đã có mầm mống ly hôn.

Cũng theo họ, các loại bùa ngải, bùa yêu chủ yếu được làm bằng thảo dược, cây cỏ có tác dụng kích thích giác quan, điều khiển ý thức khiến người bị bỏ bùa nảy sinh ham muốn với đối tượng đã “bỏ bùa” mình. Chính vì thế, họ sẽ hành động theo sự kích thích của loại thảo dược đã được yểm chất đó, thứ đó vào.

Như vậy, theo lý giải của các nhà nghiên cứu, Đông y, nhà khoa học thì bức màn về thuật bùa yêu đã phần nào được sáng tỏ. Tuy nhiên, bản chất sự việc đều có hai mặt của nó và con người chúng ta nên cẩn thận, sáng suốt để không bị lôi kéo vào những thứ ma thuật mê tín đó. Những câu chuyện đồn thổi về việc bỏ vợ, bỏ chồng để đến với người thứ 2 và được người vợ, người chồng đó thuyết phục quay trở về vẫn diễn ra trong đời sống thường ngày mà không nhất thiết phải nhờ tới bất cứ loại phép thuật nào.

Theo: Người đưa tin