Saturday, December 12, 2015

VIỆT NAM ĐẢM BẢO THỰC CHẤT QUYỀN TỰ DO LẬP HỘI

Dự án Luật về Hội đã được Chính phủ trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 10 sau một thời gian nghiên cứu, chuẩn bị. Dự luật được soạn thảo theo tinh thần Hiến pháp 2013 về tôn trọng và phát huy quyền con người, quyền công dân, thể chế hóa quan điểm của Đảng, Nhà nước về bảo đảm và tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền lập hội theo quy định của pháp luật; giúp hoàn thiện hệ thống pháp luật về hội, tăng cường hiệu lực quán lý của Nhà nước đối với hội...


Sắc lệnh số 102/SL/004 ngày 20- 5-1957 được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành Luật quy định về quyền lập hội và luật này vẫn còn hiệu lực cho đến ngày nay. Ngày 30-7- 2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 88/2003/NĐ-CP quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội ghi nhận quyền lập hội của công dân. Điều 25, Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định quyền lập hội là một quyền của công dân: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Các hội, nhóm trá hình thành lập vì mục đích chính trị
Tính đến tháng 12-2014, cả nước có khoảng 52.565 hội (483 hội hoạt động trên phạm vi cả nước và 52.082 hội hoạt động phạm vi địa phương), trong đó 8.792 hội có tính chất đặc thù. Điều đó phản ánh nhu cầu hoạt động hội, đoàn của người dân là rất lớn cũng như điều kiện hoạt động của hội, đoàn ở Việt Nam. Về cơ bản, mô hình tổ chức và hoạt động của các hội là phù hợp với quy mô, tính chất, vai trò của từng hội. Nhiều hội đã phát huy tốt vai trò tập hợp, đoàn kết hội viên, có đóng góp tích cực vào việc bảo vệ, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên. Tuy nhiên, so với quy định của Hiến pháp cũng như quá trình hội nhập quốc tế, luật pháp về hội, công tác quản lý nhà nước về hội và tình hình tổ chức, hoạt động của hội còn có những bất cập. Do đó, việc xây dựng Luật về Hội để thể chế hóa kịp thời đường lối, chủ trương của Đảng, quy định của Hiến pháp, bảo đảm thực hiện quyền lập hội của công dân và tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với hội là cần thiết.

Thực tế thì Dự án Luật về Hội từng được chuẩn bị cách đây 10 năm, sau đó do một số lý do khách quan, dự luật được lùi lại cho đến nay mới lại được đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa X. Dự thảo Luật về Hội gồm 8 chương, 38 điều do Bộ Nội vụ chủ trì soạn thảo đã trình Quốc hội cho ý kiến, song song với quá trình đó, bản dự thảo cũng được công bố trên internet để lấy ý kiến rộng rãi của các tổ chức, cá nhân. Tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền lập hội.

Theo dự luật, hội tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc: Tự nguyện, tự quản; tự trang trải về kinh phí; dân chủ, bình đẳng, minh bạch; không vì mục đích lợi nhuận; tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và điều lệ hội. Như vậy, dự thảo luật thể hiện quan điểm Nhà nước bảo đảm và tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền lập hội, đồng thời hoàn thiện hệ thống pháp luật về hội, tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với hội. Nhà nước ban hành cơ chế, chính sách nhằm phát huy vai trò của hội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thực hiện cấp, khoán và hỗ trợ kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước tương ứng với nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao cho hội.

Khoản 2 Điều 1 của dự thảo luật quy định: “Luật này không áp dụng với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam”. Nhiều ý kiến tán thành điều này và cho rằng đây là các tổ chức chính trị xã hội có vị trí, vai trò đặc biệt, được giao thực hiện các nhiệm vụ chính trị quan trọng và được Đảng bố trí các cán bộ chủ chốt trong ban lãnh đạo, được Nhà nước bảo đảm ngân sách hoạt động, cơ sở vật chất, có cơ cấu tổ chức, đội ngũ cán bộ, công chức. Nếu xác định vị trí, vai trò của các tổ chức này là các hội thuần túy mang tính chất xã hội tự quản và chịu sự điều chỉnh của Luật về Hội là chưa phản ánh đúng bản chất và thực tế sự phát triển lịch sử của hệ thống chánh trị ở nước ta. Hơn nữa, một số tổ chức chính trị xã hội đã được điều chỉnh bằng luật, pháp lệnh riêng như Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Công đoàn, Pháp lệnh Cựu chiến binh...nên không cần thiết đưa vào luật này.

Cho ý kiến tại phiên họp thứ 42 ủy ban Thường vụ Quốc hội, nhiều đại biểu nhấn mạnh, một mặt phải bảo đảm cho công dân thực hiện quyền lập hội của mình mặt khác, cần đảm bảo tính phòng ngừa, không để các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lợi dụng để hình thành các tổ chức đối lập chống phá Đảng và Nhà nước, xâm hại đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Về đối tượng điều chỉnh, một số ý kiến đề nghị bổ sung đối tượng điều chỉnh của Luật về Hội bao gồm cả cá nhân, tổ chức nước ngoài hoạt động hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam. Trên thực tế, đã có nhiều hiệp hội được thành lập theo tinh thần Nghị định số 08/1998/NĐ-CP ngày 22-1- 1998 của Chính phủ về quy chế thành lập hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam. Qua thông tin đánh giá của Bộ Nội vụ thì các hiệp hội này hoạt động đúng pháp luật, phát huy tác dụng tốt. Vì vậy, trong báo cáo thẩm tra của ủy ban Pháp luật cho biết, nhiều đại biểu tán thành việc cho phép người nước ngoài và người không quốc tịch đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam được tham gia hội trong một số trường hợp cụ thể. Báo cáo thẩm tra cũng nhấn mạnh, vấn đề này cần được quy định ngay trong luật, mà không giao Chính phủ quy định. Việc giới hạn lại trong Luật đối với cá nhân, tổ chức Việt Nam là phù hợp, đảm bảo một luật có đối tượng, phạm vi điều chỉnh không quá rộng sẽ dẫn đến không đảm bảo chặt chẽ về quy định pháp lý. Hội có yếu tố nước ngoài nên sớm có luật hoặc pháp lệnh quy định riêng nội dung này. Phải làm rõ người nước ngoài tham gia hội của công dân Việt Nam, hay chỉ tham gia hội của người nước ngoài được thành lập tại Việt Nam, hoặc hội được thành lập ở nước ngoài và được phép hoạt động tại Việt Nam.

Chủ nhiệm ủy ban Pháp luật của Quốc hội Phan Trung Lý, cơ quan thẩm tra dự án Luật về Hội cho biết, đây là những biểu hiện tích cực của quá trình dân chủ hóa xã hội vai trò làm chủ của nhân dân được thể hiện trực tiếp trong tiến trình phát triển đất nước và hội nhập quốc tế, nhưng pháp luật về lĩnh vực này chưa đầy đủ, thực tế còn nhiều hạn chế, bất cập. Vì vậy, ủy ban đồng tình với việc cần thiết phải ban hành Luật về Hội. “Luật cần quy định rõ hội nào được công nhận, hội nào cho lập và hội nào được lập tự do hoạt động theo tinh thần Hiến pháp. Còn luật ra chỉ để quản lý hạn chế thì còn lâu để người ta tự do lập hội”, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng chất vấn Ban soạn thảo cẩn trọng trước những quan điểm lệch lạc.

Liên quan việc góp ý dự án luật, hiện trên mạng xã hội và một số diễn đàn đang xuất hiện khuynh hướng cổ súy cho quan điểm tiêu cực. Tất nhiên, một dự luật khi đưa ra lấy ý kiến thì việc có những ý kiến khác nhau là điều bình thường. Ngay cả những điều khoản quy định trong dự luật, từ nội dung đến hình thức, tên gọi cũng có những vấn đề phải làm rõ, phải được xem xét kỹ trước khi quyết định phương án tối ưu. Do đó, người dân, cơ quan, tổ chức có quyền đóng góp ý kiến, nêu quan điểm về phương án theo chủ ý của mình, trình bày những vấn đề theo cách lập luận của mỗi người. Tuy nhiên, việc góp ý, kiến nghị dù theo hình thức, phương án nào cũng phải tuân thủ những quan điểm, nguyên tắc trong xây dựng luật. Thế nhưng, nhìn lại nhiều hình thức “góp ý”, “kiến nghị" về dự luật này cho thấy những động cơ sai lệch vì các mục đích không tích cực. Với khẩu hiệu “tự do lập hội”, những ý kiến đi theo khuynh hướng này cho rằng, việc lập hội là quyền của mọi người, không phải xin phép ai, đăng ký với cơ quan nào và cũng không phải tuân theo quy trình, quy định nào cà Tức là hội theo kiểu tự do, thích làm gì thì làm, không có luật pháp. Từ việc tuyên truyền khuynh hướng “tự do, phóng túng” như vậy, một số quan điểm sớm quy chụp kiểu như “dự luật lạc hậu hơn cả 10 năm trước”, “luật bóp hội”, “siết hội”... từ đó cổ súy việc bài trừ dự luật.
(“Nhà nước tôn trọng và đảm bảo công dân, tổ chức Việt Nam có quyền lập hội. Nghiêm cấm cản trở, ép buộc, can thiệp vào việc thành lập tổ chức, hoạt động hội trái quy định của pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, phượng hại đến độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia, an toàn xã hội, khối đại đoàn kết dân tộc, quyền con người, quyên công dân”. (Trích Tờ trình dự án Luật về Hội)
Chưa cần phân tích gì nhiều, nếu hiểu theo nghĩa, trên đầu là trời, là vũ trụ để đưa quyền lập hội, hoạt động hội tự do theo kiểu “thích làm gì thì làm” thì đâu riêng gì Việt Nam mà cả thế giới còn đề cập đến luật về hội làm gì. Quy phạm nào đưa vào sự điều chỉnh của luật, nghĩa là nó phải tuân theo khuôn khổ nhất định và khuôn khổ đó do Nhà nước sở tại quy định trên cơ sở phù hợp các văn bản pháp lý quốc tế mà Nhà nước đó đã tham gia hoặc ký kết. Thật lấy làm lạ khi nhiều ý kiến rao giảng sự tự do như phương Tây hay ở nước tiên tiến nào đó nhưng không đưa ra được viện dẫn, ví dụ nào cả. Trong khi đó, ngay Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) một mặt khẳng định quyền tự do hội họp hòa bình, quyền tự do lập hội, tham gia hội nhưng một mặt vẫn khẳng định quyền này có thể bị hạn chế do pháp luật quy định và những hạn chế này là cần thiết. Quyền tự do hội họp hòa bình và lập hội cũng đã được đề cập trong các phán quyết của ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc (HRC). Ngày 30-9-2010, Hội đồng Nhân quyền LHQ cũng ban hành Nghị quyết số 15/21 về hai quyền này. Đọc kỹ những nội dung này thì thấy, quyền tự do hội họp hòa bình và lập hội không phải là các quyền tuyệt đối. Nghị quyết 15/21 tái xác định lại Điều 21 và 22 ICCPR, khẳng định rõ, các quyền này có thể “phải chịu những giới hạn được luật quy định và là cần thiết trong một xã hội dân chủ vì lợi ích của an ninh quốc gia hoặc an toàn, trật tự công cộng, bảo vệ sức khỏe và đạo đức công cộng, hoặc bảo vệ các quyền và tự do của người khác”. 

Như vậy, văn bản của cơ quan cao nhất về vấn đề nhân quyền quốc tế cũng xác định rõ giới hạn của vấn đề lập hội. Điều này đặt ra những tôn chỉ, mục đích trong lập và hoạt động hội. Nếu hội vì những mục đích giải trí, gặp gỡ thăm hỏi lẫn nhau như hội đồng hương, hội nuôi chim, hội cây cảnh... thì hẳn cả người lập, người tham gia và cơ quan Nhà nước cũng không bận tâm về phạm vi điều chỉnh. Những hội thiện nguyện mà tuân thủ các lợi ích chung, lợi ích quốc gia, cộng đồng hiển nhiên luôn được ủng hộ. Duy chỉ có lập hội dưới các danh nghĩa, tên gọi khác nhau nhưng thể hiện rõ mục đích, động cơ gây nguy hại đến lợi ích quốc gia, cộng đồng hoặc mục đích đó ẩn dưới các “áo ngụy trang” thì không thề nói “tự do”. Đây thực chất là hành vi mượn cớ lập hội để chống phá đất nước thì dù tồn tại ở đâu cũng đều trái với luật pháp nước đó.

Bởi thế, các quốc gia một mặt tôn trọng quyền tự do lập hội và bảo đảm quyền đó trên thực tế, một mặt phải duy trì trật tự, kiềm soát các tổ chức, nhóm hội gây nguy hại cho xã hội. Một số quốc gia có luật về hội khá sớm như Anh quốc (Luật về sự liên kết 1825, Luật Công đoàn 1871) hay Pháp (Luật về hội 1901) cũng quy định rõ vấn đề này. Do đó, quy định rõ quyền lập hội, các điều kiện lập, hoạt động hội cũng như các hành vi bị nghiêm cấm là cần thiết trong việc xây dựng Luật về hội.

Hải Trang

Mời thưởng thức món chay ngon







 














Friday, December 11, 2015

LUẬT NHÂN QUYỀN QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM: TÔN TRỌNG ĐỂ BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA (P2)

Tính tương thích của pháp luật Việt Nam với các Công ước quốc tế

Hiến pháp Việt Nam năm 1992 quy định, công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; quyền được thông tin; và quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 69, 70). Nghiên cứu về các điều luật quy định tội xâm phạm an ninh quốc gia cho thấy, nội dung và hình thức của các điều luật không ngăn cản các hoạt về tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do trình bày chính kiến một cách thuần túy; không hạn chế các hoạt động dân chủ, nhân quyền mang tính xây dựng, với mong muốn xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, thịnh vượng và phát triển hơn. Các điều luật quy định tội xâm phạm an ninh quốc gia chỉ điều chỉnh, ngăn chặn và xử lý các hoạt động lợi dụng núp dưới danh nghĩa tự do ngôn luận để phá hoại đất nước Việt Nam, phá hoại sự gắn kết giữa các giai tầng trong xã hội, phá hoại các quyền lợi hợp pháp khác, làm suy giảm sức mạnh quốc gia.

Việc quy định tội xâm phạm an ninh quốc gia trong Bộ Luật Hình sự cho thấy Việt Nam là một đất nước dân chủ, bình đẳng trong việc điều tra truy tố, xét xử, không phân biệt giữa tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia và các tội phạm hình sự khác. Quá trình xây dựng Bộ luật Hình sự nói chung và các điều luật quy định tội xâm phạm an ninh quốc gia nói riêng theo một trình tự khoa học, chặt chẽ, minh bạch và dân chủ, từ việc đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ đến việc soạn thảo từng điều luật đều có sự tham gia đóng góp của tất cả các giai tầng trong xã hội, các cơ quan, tổ chức nhà nước, các tổ chúc xã hội dân sự và toàn thể nhân dân; đồng thời tham khảo Bộ luật Hình sự của một số quốc gia khác, trên nguyên tắc tuân thủ các công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia. Do đó, Bộ luật Hình sự không phải là sản phẩm riêng của một tổ chức, một giai cấp nào, mà là sản phẩm mang ý nguyện của đông đảo quần chúng nhân dân lao động trong toàn xã hội.

Không hiểu được bản chất, các diễn đàn cáo buộc Việt Nam vi phạm nhân quyền theo luật quốc tế
Thời gian gần đây, trên các diễn đàn quốc tế, một số quốc gia và tổ chức nhân quyền quốc tế thường xuyên quan tâm đến Điều 87, Điều 88 và Điều 258 Bộ luật Hình sự của Việt Nam, cho rằng các điều luật đó không đảm bảo tính dân chủ, dẫn đến việc các cơ quan chức năng có thể lạm quyền khi áp dụng. Điều 87 và Điều 88 nằm trong Chương 11 của Bộ luật Hình sự quy định về các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Điều 87 quy định: Tội phá hoại chính sách đoàn kết; Điều 88 quy định: Tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Điều 258 nằm trong Chương 20 Bộ luật Hình sự quy định về các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính: “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”:

Nội hàm của các điều luật trên luôn thỏa mãn, đảm bảo cho các hoạt động dân chủ, nhân quyền thuần túy, không xâm phạm đến lợi ích quốc gia, đến quyền lợi ích hợp pháp khác, vấn đề được đặt ra, hành vi như thế nào thì bị coi là nguy hại, xâm phạm chủ quyền, an ninh quốc gia? Đồng thời, việc trấn áp các hành vi vi phạm như thế nào trong nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia thì bị đánh giá là vi phạm dân chủ, nhân quyền. Giải quyết bài toán về sự kết hợp hài hòa giữa chủ quyền và nhân qụyền, điều đó có nghĩa là khi đã có chủ quyền quốc gia thì phải bảo đảm các giá trị nhân quyền. Ngược lại, các hoạt động dân chủ, nhân quyền phải theo khuôn khổ của pháp luật để đảm bảo được lợi ích quốc gia, sức mạnh chế độ chính trị, trật tự an toàn xã hội và các quyền hợp pháp khác. Để đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự an toàn của xã hội trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, lẽ tất nhiên có thể phải áp dụng một số biện pháp hạn chế quyền tự do cá nhân, điều đó không có nghĩa là vi phạm quyền tự do, dân chủ của công dân.

Chúng ta có thể có dẫn chứng điển hình nhất, như sau sự kiện khủng bố ngày 11-9-2001, nước Mỹ thấy rõ lỗ hổng về luật pháp, cơ chế quản lý, kiểm soát bảo đảm an ninh quốc gia. Đạo luật “Yêu nước” ra đời cho phép các cơ quan chức năng có thể xâm nhập thư tín, tài khoản cá nhân, nghe lén điện thoại... cố ý vi phạm quyền con người một cách có hệ thống. Chính quyền của Tổng thống G.Bush còn “luật hóa” hình thức tra tấn dã man tại nhà tù Guantanamo và Abu Graip đối với các nghi can khủng bố để phục vụ yêu cầu về an ninh quốc gia của mình. Bên cạnh đó, nhiều nước phương Tây cũng ban hành nhiều đạo luật có nội dung vi phạm quyền con người. Chính phủ Australia cho phép giam giữ nghi can khủng bố với thời hạn lâu hơn, vi phạm Hiến pháp Liên bang. Gần đây, các Tổ chức Nhân quyền thế giới như: Ân xá quốc tế (AI), Giám sát Nhân quyền quốc tế (HRW) lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ về tính chất vi phạm nhân quyền của các điều luật di trú, phân biệt đối xử... của các nước EU. Qua đây cho thấy, các nước trên thế giới đều lấy giá trị an ninh quốc gia, quyền lợi dân tộc làm hệ quy chiếu cho việc ban hành pháp luật về an ninh quốc gia để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo yêu cầu, quan điểm của mình.

Quyền con người ở Việt Nam được quy định rất rõ tại Hiến pháp 1992: “ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam các quyền về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng” (Điều 50), nhưng cũng quy định rõ về nghĩa vụ của công dân trong Hiến pháp như: Nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc (Điều 77), nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật; tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc, trật tự an toàn xã hội, giữ gìn bí mật quốc gia, chấp hành những quy tắc công cộng (Điều 79). Do đó, những hành vi lợi dụng dân chủ, nhân quyền để phỉ báng Nhà nước, xuyên tạc, bóp méo sự thật, với mục đích chống đối, phá hoại làm mất uy tín, suy yếu chính thể, tạo dựng lòng hận thù, gây rối ren xã hội thì cần phải xử lý nghiêm minh. Chúng ta không thể chấp nhận lý lẽ nhân danh quyền tự do ngôn luận để vu cáo, xuyên tạc, chống lại Nhà nước, chế độ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, đi ngược lại lợi ích của cả dân tộc, cũng không khác gì một điều đơn giản là lấy cớ có quyền tự do đi lại để đi vào đường đã quy định là đường cấm, đường ngược chiều, gây ảnh hưởng giao thông, hành vi vi phạm đó phải bị ngăn chặn và xử lý, cũng như không thể nhân danh tự do cư trú mà có thể xâm phạm chỗ ở hợp pháp của người khác...

Tiếp cận luật nhân quyền quốc tế ta thấy rõ vấn đề bảo đảm an ninh quốc gia rất được coi trọng. Khoản 3 Điều 18; Điểm b, Khoản 3 Điều 19 của Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị đề cập: Quyền tự do ngôn luận, bày tỏ ý kiến, hay tự do tôn giáo hoặc tín ngưỡng có thể bị giới hạn bởi những quy định của pháp luật và những giới hạn này là sự cần thiết cho việc bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng hoặc những quyền và tự do cơ bản của người khác. Hay Khoản 2, Điều 20 Công ước nêu: Mọi chủ trương, hành động nhằm gây hằn thù dân tộc, chủng tộc hoặc tôn giáo để kích động phân biệt chủng tộc, thù địch hoặc bạo lực đều bị pháp luật nghiêm cấm.

Như vậy, có thề khẳng định các điều luật 87, 88, 258 của Bộ luật Hình sự Việt Nam hoàn toàn tương thích với luật nhân quyền quốc tế.

Trên thực tế có nhiều đối tượng lợi dụng vấn đề tự do ngôn luận, tự do tôn giáo để hoạt động chống phá Nhà nước; kích động các tâm lý hận thù, chia rẽ dân tộc, tôn giáo, đòi ly khai tự trị nhằm phá hoại sự thống nhất toàn vẹn lành thổ Việt Nam; thổi phồng những sai lầm, thiếu sót đơn lẻ, không mang tính đại diện của nhà chức trách địa phương, làm rùm beng vụ việc gây sự quan tâm chú ý của dư luận quốc tế; vu cáo, xuyên tạc Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền trên các diễn đàn, phương tiện truyền thông quốc tế... làm ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín quốc gia. Rõ ràng, trong giai đoạn hiện nay, Điều 87, 88, 258 Bộ luật Hình sự là cần thiết cho xã hội, đảm bảo được an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự trị an xã hội, đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp khác ở Việt Nam, hoàn toàn phù hợp với các điều ước quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.

Ngoài ra, cùng với mục tiêu chung là bảo vệ quyền con người, hệ thống pháp luật Việt Nam còn có nhiều bộ luật khác điều chỉnh như: Luật Tố cáo, Luật Khiếu nại, Luật Hành chính... và gần đây là Nghị quyết 388 của ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam, quy định về việc bồi thường cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra, tròng đó có cả hoạt động tố tụng về các điều luật quy định về tội xâm phạm an ninh quốc gia.

Việt Nam đang trong quá trình hội nhập quốc tế, nền kinh tế đang trong giai đoạn phát triển, nên hệ thống pháp luật cũng đang đòi hỏi phải không ngừng điều chỉnh, bổ sung cho đồng bộ, thống nhất; nhiều cán bộ thực thi pháp luật còn có những sai phạm cá nhân do yếu kém về trình độ, nhận thức... Do vậy, không tránh khỏi những vụ việc riêng lẻ, ít nhiều còn vi phạm quyền con người. Với tinh thần cầu thị, Việt Nam hoan nghênh và tiếp thu những đóng góp thiện chí, mang tính xây dựng để đảm bảo sự nghiệp thúc đẩy và bảo vệ quyền con người ở Việt Nam ngày càng tốt hơn, đồng thời cũng cũng cảnh giác, phản đối với những ý kiến mang tính áp đặt, lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền nhằm mục đích xuyên tạc, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân.

Hoàng Minh

LUẬT NHÂN QUYỀN QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM: TÔN TRỌNG ĐỂ BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA (P1)

An ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia là vấn đề hệ trọng của mọi quốc gia, nhà nước, dân tộc. Mỗi nhà nước, quốc gia đều có những biện pháp bảo đảm an ninh quốc gia khác nhau, nhưng đều có chung một mục đích là đảm bảo chủ quyền quốc gia, sự ổn định chính trị, xã hội và đảm bảo quyền cơ bản của công dân, được cụ thể hóa bằng hệ thống pháp luật. Việc đảm bảo các quyền cơ bản của con người phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và vấn đề lịch sử, truyền thống của mỗi dân tộc, quốc gia. Ở nước ta, theo quy định của Luật An ninh quốc gia do Quốc hội Khóa XII thông qua ngày 03-12-2004: “An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ XHCN và Nhà nước XHCN Việt Nam, sự bất khả xâm phạm về độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. An ninh quốc gia bao gồm an ninh trên các lĩnh vực: chính trị. kinh tế, tư tưởng - văn hóa, xã hội, quốc phòng, đối ngoại... trong đó an ninh chính trị là cốt lõi, xuyên suốt”.

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền và dân chủ, các vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia của Việt Nam đều được điều chỉnh bằng hệ thống pháp luật, trong đó được cụ thể hóa trong Bộ luật Hình sự của nước CHXHCN Việt Nam. Điều đó là hết sức bình thường đối vói một nhà nước, một quốc gia có chủ quyền. Tuy nhiên, thời gian gần đây, một số chính giới, luật gia của một số nước phương Tây và các tổ chức nhân quyền quốc tế lại cho rằng, các điều luật quy định về tội xâm phạm an ninh quốc gia của Việt Nam không đảm bảo tính dân chủ, nhân quyền, vi phạm cơ bản quyền công dân, không tương thích với các công ước quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia. Đặc biệt gần đây, Bộ phận luật quốc tế trường Đại học Stanford của Mỹ đã có đơn gửi nhóm làm việc về giam giữ độc đoán LHQ đề nghị can thiệp, yêu cầu Việt Nam trả tự do cho một số đối tượng bị bắt giữ vì có hành vi tuyên truyền chống Nhà nước; cho rằng, Việt Nam bắt giữ các trường hợp trên là trái với luật nhân quyền quốc tế, vi phạm quyền tự do ngôn luận và đòi hủy bỏ Điều 88 Bộ luật Hình sự.

Bài viết quy chụp về Luật An ninh Quốc gia. Ảnh: Internet
Để có cách nhìn khách quan, toàn diện, hệ thống, sâu sắc và cụ thể hơn về những quy định trong hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam về đảm bảo an ninh quốc gia, nhằm đạt đến giá trị chung, mang tính xây dựng, chúng ta có thể phân tích, so sánh một số vấn đề liên quan cụ thể.

Tính tất yếu khách quan của việc quy định đảm bảo an ninh quốc gia bằng hệ thống văn bản pháp luật

Theo quan niệm chung hiện nay, hệ thống pháp luật là cấu trúc bên trong của pháp luật được biểu hiện ra bên ngoài bằng các ngành luật, phân ngành luật và các chế định pháp luật và các quy phạm pháp luật. Còn hệ thống văn bản pháp luật là tổng thể các vãn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Như vậy, hệ thống văn bản pháp luật về an ninh, trật tự là tổng thể các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý nhà nước về an ninh, trật tự; bao gồm các quy định về: phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự; an ninh trên các lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, an ninh kinh tế, chính trị nội bộ, an ninh xã hội....

Bất cứ một nhà nước nào cũng phải thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật. Nhà nước phải làm ra pháp luật để điều chỉnh các lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội; nội dung pháp luật phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế xã hội, phù hợp với các quan hệ xã hội của nhà nước, dân tộc đó, đồng thời đảm bảo phù hợp với các nguyên tắc đạo đức tiến bộ trên thế giới. Quản lý xã hội bằng pháp luật nghĩa là Nhà nước tổ chức thực hiện pháp luật trên quy mô toàn xã hội, đưa pháp luật vào đời sống của xã hội và từng người dân. Khách thể quan trọng nhất mà hệ thống pháp luật nhằm bảo vệ là chủ quyền quốc gia, sự ổn định chính trị, xã hội và quyền lợi chính đáng của nhân dân. Do vậy, Việt Nam củng không nằm ngoài quy tắc chung đó; hay nói cách khác, hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam về an ninh, trật tự cũng nhằm bảo vệ chủ quyền của Việt Nam, bảo vệ sự ổn định chính trị, xã hội của Việt Nam, bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân Việt Nam; quy phạm văn bản pháp luật về lĩnh vực này phải đặt ra các chế tài xử lý các hành vi vi phạm các khách thể cần bảo vệ nói trên.

Hiến pháp của Nhà nước CHXHCN Việt Nam xác định Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền. Cho nên sự vững mạnh, ổn định của chế độ chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo mặc nhiên là yêu cầu bảo vệ của hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam; mọi hành vi nhằm làm suy yếu, xâm hại đến vai trò lãnh đạo của Đảng ta đều bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Ngày nay, Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, các yêu cầu đặt ra là ổn định xã hội, đảm bảo kế thừa các giá trị truyền thống và tiếp thu giá trị mới phù hợp với sự phát triển của Việt Nam. Đất nước mở cửa, đồng nghĩa với nhiều nguồn tư tưởng, văn hóa mới xâm nhập, tạo ra những nhóm lợi ích khác nhau, mâu thuẫn xung đột với nhau, đôi khi mâu thuẫn với tiến trình đi lên của cả dân tộc. Nếu không có những điều chỉnh mang tính vĩ mô thì rất có thể vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, lợi ích của các thế lực bên ngoài mà làm mất đi lợi ích to lớn của dân tộc. Đây là một trong những căn nguyên tạo ra những xung đột lớn, không chỉ là vấn đề chính trị mà cả vấn đề tồn vong của dân tộc.

Vấn đề an ninh quốc gia luôn gắn liền đến chủ quyền, sự vững mạnh của chế độ chính trị và trật tự an toàn xã hội. Thực tế cho thấy, không có chủ quyền quốc gia thì không thể có dân chủ, nhân quyền, hay nói một cách khác vắn đề nhân quyền chỉ được đảm bảo khi đã có chủ quyền quốc gia. Do vậy, chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc là điều cốt yếu, tiên quyết trong vấn đề bảo đảm dân chủ, nhân quyền. Mặt khác, nếu có chủ quyền quốc gia mà không có nhân quyền thì chủ quyền quốc gia đó không còn ý nghĩa đối với dân tộc. Việc ổn định trật tự xã hội là đòi hỏi chính đáng của mọi công dân, đồng thời cũng là một quyền cơ bản của con người được sống trong môi trường bình yên.

Nhiệm vụ của hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước Việt Nam là bảo vệ Tổ quốc, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ sự bình yên của nhân dân, đảm bảo quyền lợi cho nhân dân, đó là các giá trị nhân quyền. Vì vậy, bảo vệ chế độ chính trị cũng đồng nghĩa với việc đảm bảo quyền con người. Trên cơ sở đó, việc quy định các điều luật về tội xâm phạm an ninh quốc gia trong Bộ Luật Hình sự để đảm bảo các giá trị trên là một điều cần thiết, có tính tất yếu khách quan, đó chính là một thiết chế pháp luật quan trọng để chuẩn hóa các giá trị chủ quyền và nhân quyền theo đặc điểm của đất nước, dân tộc Việt Nam và đảm bảo phù hợp với các điều ước quốc tế nhân quyền quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.
(Còn tiếp)
Hoàng Minh

Thursday, December 10, 2015

NHỮNG NGỘ NHẬN VỀ CUỘC THI HOA HẬU

Nhằm làm sáng tỏ những ngộ nhận của ng Việt Nam từ trước tới nay về thi hoa hậu, mình viết bài này gồm đầy đủ dẫn chứng, lập luận để đưa ra cái nhìn đúng đắn, khách quan nhất về cuộc thi Hoa Hậu. Xin nhấn mạnh chủ trương của mình là đem lại sự thật cho dù có làm các bạn khó chịu - sự thật có thể trì hoãn nhưng không bao giờ có thể chối bỏ. Bạn nào cảm thấy không vừa lòng với bài viết của mình nên dùng lí lẽ dẫn chứng để tranh luận không nên đưa quan điểm cá nhân.

Tỉ lệ Vote Miss Universe

Hoa hậu để giúp quảng bá hình ảnh đất nước?

Không chính xác, hình ảnh đất nước trong con mắt người nước ngoài không phải vì hoa hậu hay người đẹp. Người ta quan tâm đến một quốc gia vì cái chất của quốc gia đó thể hiện qua văn hóa lịch sử, phong cảnh thiên nhiên, con người thân thiện v...v. Không ai đi du lịch hay biết tới 1 đất nước vì người đẹp cả - quốc gia nào chả có người đẹp thế thì đất nước nào cũng đẹp hết à? Ví dụ thực tiễn là năm 2001 Agbani Darego - Miss World đến từ Nigeria, là người Việt Nam đã bao giờ bạn thèm quan tâm đến đất nước Nigeria chưa? Thủ đô của nó là gì? Quốc khánh của ngày bao nhiêu? Văn hóa lịch sử ra sao? Bạn có ý định đến thăm quan Nigeria không?

Hãy tự hỏi bản thân những câu hỏi trên và nếu câu trả lời là không, thì hãy tự hỏi xem Miss Viet Nam làm được cái gì trong việc quảng bá hình ảnh đất nước? Bạn không thèm quan tâm tới Nigeria thì bạn nghĩ thế giới quan tâm tới Việt Nam à?

Hoa hậu để làm từ thiện?

Từ thiện chỉ là công việc đánh bóng tên tuổi, thực hiện cho có, chứ không phải xuất phát từ tâm của các hoa hậu. Hơn nữa các cô hoa hậu đi từ thiện mỗi lần đều kéo bày đoàn thê tử báo chí, ăn mặc đẹp sành điệu để còn lên ảnh, rồi cầm ít tiền của các đại gia, nhà giàu chống lưng phát cho người nghèo rồi lấy tiếng chứ quan tâm gì tới nhân với chả đạo. Nâng tầm vai trò của hoa hậu trong việc từ thiện như là mẹ Teresa như thế không khác gì phỉ nhổ vào công sức của hàng triệu triệu thiện nguyện viên, tổ chức nhân đạo phi lợi nhuân ngày và đêm đang cống hiến trong âm thầm và lặng lẽ không chụp ảnh, không phấn son, không quần áo là lượt, áo bra push up hở ngực.

Thế giới quan tâm đến hoa hậu?

Như đã từng nói, nếu bạn nói ở các nước kém phát triển quan tâm tới hoa hậu thì có thể là đúng (vì dân trí thấp nên mới như vậy). Còn nói chung ở các quốc gia phát triển hoa hậu đã trở thành trò chơi dĩ vãng. Ví dụ như ở Anh chương trình Miss World đã không được chiếu trên tivi từ 15 năm trở lại đây [1] hay như ở Mỹ chương trình Miss America (Hoa Hậu Mỹ) đã bị thất sủng với tỉ lệ rating rất thấp trên đài truyền hình lớn của Mỹ là ABC, CBS, NBC. Trước đây Miss America từng chiếu trên NBC nhưng do rating quá thấp cộng thêm việc Donald Trump - chủ của Miss America có những lời nói phân biệt chủng tộc đã làm cho NBC drop luôn chương trình Miss America khỏi NBC. [2], [3].

Và cuối cùng quan trọng nhất hãy nhìn vào hình minh họa của bài viết này để thấy xem thế giới này ngoài người Việt Nam ra có quốc gia nào thèm quan tâm tới chuyện thi hoa hậu không? Các bạn đều thấy rõ nhé, tỉ lệ vote bình chọn của Việt Nam là cao nhất, vượt trội cách xa hoàn toàn so với đối thủ khác. Như thế chả phải là trên thế giới này chỉ có mỗi Việt Nam là quan tâm tới hoa hậu ư?

[1]http://www.telegraph.co.uk/women/womens-life/11294166/Miss-World-2014-Without-the-blatant-sexism-its-pretty-dull.html
[2] http://tvline.com/2014/09/15/ratings-unforgettable-season-3-finale/
[3] http://www.businessinsider.com/r-trumps-miss-usa-pageant-finds-new-broadcaster-after-nbc-drops-show-2015-7

Sự khốn cùng của “tư duy triệu phú”

Cuộc sống khó khăn và rối ren, bạn cần một lời khuyên, nhưng từ đâu? Với nhiều người, giải pháp gần nhất là đi mua một cuốn “self-help”. Khái niệm sách “self help” rất rộng, nhưng thường được hiểu là loại sách dạy tu thân, học làm người, chứa đầy lời khuyên thông tuệ và các “bí kíp” để nhanh giàu, nhanh khôn, nhanh thành công...

Đổ bộ vào Việt Nam sau thời kỳ mở cửa, sách self-help - hay được gọi là sách tu thân, tự lực, tự giúp - vẫn còn là một khái niệm khá mới mẻ, nhưng người đến với nó như nước chảy vào vùng xoáy. Dòng sách này đã trở thành nồi cơm, chỗ dựa của nhiều nhà xuất bản.

THỜI CỦA CÁC "BÍ KÍP" CHO KHÔNG

Bước vào một hiệu sách, bạn sẽ thấy chừng một phần ba diện tích kệ sách, thường là khu vực gần cửa nhất, được dành cho thể loại này. Hai mảng bán chạy nhất hiện nay là học làm giàu và phát triển bản thân thường đi kèm với nhau: thay đổi bản thân để thịnh vượng. Nhiều năm qua, những cuốn như Dạy con làm giàu, Cha giàu cha nghèo, Đọc vị bất kỳ ai, Chiến thắng con quỷ bên trong bản thân, Tôi tài giỏi, bạn cũng thế hay Sức mạnh của tư duy tích cực luôn nằm trong nhóm sách bán chạy nhất ở Việt Nam.

Gần đây, thậm chí ông Đặng Lê Nguyên Vũ, chủ tịch Tập đoàn Trung Nguyên, còn cho phát không hàng chục triệu cuốn Nghĩ giàu, làm giàu của Napoleon Hill và Đắc nhân tâm của Dale Carnergie cho thanh niên cả nước. Hai cuốn kinh điển này nằm trong một danh sách được ông Vũ gọi bằng cái tên cũng rất self-help là “Tủ sách đổi đời”.

Lý do gì khiến nhiều người đón nhận thể loại sách này nhiệt tình tới như vậy?

Như đã thể hiện qua chữ “đổi đời” của ông Vũ, loại sách này đem lại hi vọng. Bỏ ra vài chục nghìn đồng, người mua sách self-help sở hữu những giấc mơ ngọt ngào. Tuần làm việc 4 giờ hứa có thể giúp bạn “làm việc ít đi 20 lần nhưng thu nhập tăng lên 10 lần”, và khuyên “thuê một trợ lý cách xa nửa vòng trái đất để cô này viết một lá thư ngọt ngào xoa dịu người vợ đang giận dữ của bạn”. Nghĩ giàu, làm giàu không yêu cầu bạn lao động vất vả hay có tài năng, chỉ cần bạn rất, rất mong muốn trở nên giàu có. Cái đó thì không khó.

Trên trang mạng Học làm giàu, một thanh niên đặt ra mục tiêu “Sau năm thứ nhất có 20 triệu đồng, sau năm thứ năm có 1 triệu USD, sau năm thứ mười có 1 tỉ USD”. Các thành viên khác ngưỡng mộ: “Việt Nam mình có nhiều người có hùng tâm như anh thì ước mơ dân giàu, nước mạnh không phải quá xa vời. Chúc anh thành công!”.

Đằng sau những ảo tưởng làm giàu kiểu mì ăn liền kia là những dịch chuyển xã hội và thay đổi cơ bản trong triết lý sống của người Việt. Trước hết, hai thập kỷ qua đã tạo ra huyền thoại Từ cậu bé nhà quê thành đại gia mà ông Đặng Lê Nguyên Vũ là một ví dụ.
Nếu như trước kia nhiều người cho rằng giàu nghèo có số và vị trí của mình trong xã hội đã được xếp đặt sẵn thì ngày nay, chứng kiến của cải nảy nở xung quanh mình, họ chuyển sang thái cực kia và tin vào một triết lý lạc quan là bạn hoàn toàn có thể điều khiển được tiền tài và danh vọng của mình nếu nắm được một số “kỹ thuật” nhất định: 23 nguyên tắc của Carnegie, 13 bước của Hill, 8 bài học từ Cha giàu, cha nghèo của Robert Kiyosaki.

Cuộc đời, vốn được quan niệm là bất định, nay được cho là được quản trị bởi một số “bí mật” mà rất may đã được một số tác giả phát hiện và truyền đạt lại, dễ hiểu hơn bản cửu chương.

Thứ nữa, mô hình lao động cùng tập thể, cá nhân dựa vào cộng đồng trong cuộc sống nông nghiệp không còn thích hợp cho một môi trường kinh tế thị trường đầy cạnh tranh. Thay cho một hệ thống hài hòa, vạn vật đều có chỗ đứng của mình, cuộc đời nay được hiểu như một mê cung, một cuộc đua, một rừng rậm, những biểu tượng hay được dùng trong các sách self-help phương Tây.

Trong môi trường này, người ta luôn phải cập nhật các kỹ năng và tái tạo bản thân để mạnh hơn đối thủ, các sách dạy phát triển bản thân đánh vào nỗi lo âu thường trực này. “Cần phải sẵn sàng để ứng phó với những thay đổi, nếu không mỗi người sẽ tự hủy hoại cơ hội tồn tại của mình”, cuốn Ai lấy miếng phó mát của tôi cảnh báo và bán được 26 triệu bản trên toàn cầu.

SÁCH ĐẸP NÓI DỐI

Rất đáng tiếc, đưa sách dạy làm giàu và kỹ năng sống như những cuốn trên cho thanh niên, hay bất cứ ai cũng vậy, là gửi họ và cộng đồng vào con đường cụt bởi những tác động tiêu cực của chúng.

Vấn đề đầu tiên là triết lý của phong trào self-help hiện đại, được đặt nền móng bởi Dale Carnegie với Đắc nhân tâm, là “mỗi người vì chính mình”. “Phát triển bản thân” luôn là một dự án vì mục đích cá nhân, không có chỗ cho những vấn đề của cộng đồng và hoạt động xã hội.

Trong thế giới quan đó, con người là một động vật ích kỷ và nông cạn. Họ thích được nghe tới tên mình, muốn được tỏ ra quan trọng và thèm khát sự khen ngợi. Thay vì làm cho con người tốt đẹp lên, Carnegie đánh vào bản năng vị kỷ của họ và khuyên người ta lợi dụng nó. Con người chỉ là những loại cá khác nhau, và bí mật để đạt được thành công là “học được cách móc mồi vào lưỡi câu phù hợp với từng loại cá”.

Nhiều nguyên tắc của Đắc nhân tâm phục vụ cho những con người giả tạo, cơ hội và thao túng. Trong cuốn sách, một đại tư bản tự hào vì ông có thể gọi nhiều công nhân của mình bằng tên riêng nên “chưa hề có một cuộc đình công nào xảy ra tại các nhà máy thép của ông”. Ở đây có một ẩn ý xã hội sâu xa hơn: thay vì phải xây nhiều nhà vệ sinh hơn cho các nữ công nhân dệt may, các ông chủ hãy cố học thuộc tên riêng của họ và thế là mọi chuyện đều ổn thỏa cả.

Nếu như trước kia giá trị sống của người Việt là trở thành người quân tử, ưu việt về đạo đức và vững vàng về luân lý thì ngày nay với nhiều người, mục tiêu đơn thuần chỉ là tạo ra một bộ mặt khả ái, bởi như Carnegie giải thích, thành công “được định nghĩa phần lớn qua việc người khác nhìn bạn như thế nào”.

“Với Carnegie - Steven Watts, tác giả cuốn tiểu sử về ông, viết - trọng tâm dịch chuyển từ việc xây dựng những giá trị đạo đức bên trong mỗi người sang xây dựng những ấn tượng mà người ta gây cho người khác”. Carnegie nói về “thương hiệu bản thân” trước khi chữ này tồn tại. Nhà văn Sinclair Lewis phê phán Carnegie đã thay thế những chữ niềm tin, danh dự, cao thượng trong những cuốn sách học làm người trước kia bằng chữ giàu có. Ông đánh đồng sự đẹp đẽ của tính cách con người với khả năng kiếm tiền.

Và như vậy, thách thức của cuộc đời không còn là việc đi tìm một ý nghĩa sống trong cộng đồng của mình nữa mà là giám sát và quản lý bản thân để trở nên giàu có. Cho rằng không khi nào là quá sớm, một số nhà trẻ nhanh nhạy ở Việt Nam tổ chức những khóa học “Dạy trẻ kỹ năng lãnh đạo bản thân từ những năm đầu đời”. Viễn cảnh ở đây là những đứa trẻ sớm điều khiển được người khác và theo dõi hiệu quả của bản thân như của một cỗ máy.

LẢNG TRÁNH HIỆN THỰC

Bên cạnh tham vọng “đọc vị” người khác, “tư duy tích cực” là một trụ cột cơ bản khác của văn hóa self-help, và như tác giả Barbara Ehrenreich lập luận trong cuốn Sự quảng bá triền miên tư duy tích cực đã làm xói mòn nước Mỹ như thế nào, nó đang gặm nhấm nền tảng xã hội.

Ở đây “tư duy tích cực” không liên quan gì tới một thái độ sống lạc quan. Nó là một kiểu niềm tin, có thể gọi là mù quáng, là người ta có thể dùng ý nghĩ để điều khiển những gì xảy ra với bản thân. Bạn muốn giàu? Bạn phải thật sự, luôn luôn và sắt đá tin mình sẽ giàu. Vì thế mà các nhà trẻ nói trên cho lũ trẻ mẫu giáo hằng ngày lặp lại các câu như: “Tôi là một thần đồng trong lớp học” và “Tôi đang trên con đường tạo ra sự giàu có tuyệt vời”.

Cuốn Nghĩ giàu, làm giàu yêu cầu bạn viết số tài sản mình muốn có lên một tờ giấy và đọc to nó lên ngày hai lần vào buổi sáng và buổi tối. Cần làm như vậy vì tiền bạc “tuy không nói năng được nhưng có thể nghe thấy khi ai đó khao khát gọi tên nó” - tác giả đoan chắc. T. Harv Eker, tác giả Những bí mật của tư duy triệu phú, hướng dẫn bạn đọc “cài đặt” tư duy của người giàu bằng cách đặt tay lên tim và nói: “Tôi là một người đón nhận tuyệt vời. Tôi sẵn sàng và rộng mở đón nhận những lượng tiền khổng lồ đến với cuộc đời tôi”. Sau đó cần chạm lên đầu mình và nói: “Tôi có tư duy triệu phú”.

Đằng sau “tư duy tích cực” này kia là quan điểm nguy hiểm rằng bản thân mỗi người, giàu có hay bần hàn, hoàn toàn chịu trách nhiệm về cuộc đời của mình, và đó là lý do hoàn hảo nhất để người giàu tự tán dương mình và phủi tay chối bỏ trách nhiệm xã hội. Gần đây người ta tâm đắc với câu “35 tuổi mà còn nghèo, đấy là tại bạn”. Thông điệp ở đây là gì? Nghèo đói không thuộc về trách nhiệm của quyền lực - họ vô can. Người nghèo nghèo vì họ không có “tư duy triệu phú”.

Quan điểm này bỏ ra ngoài những bất bình đẳng trong xuất thân, trong tiếp cận giáo dục và y tế. Nó không đặt câu hỏi về những bất công trong xã hội, không bàn tới công lý lẫn thể chế, nó không có khái niệm những nhóm người dễ tổn thương. Nó bỏ qua đúc kết dân gian “con sãi ở chùa lại quét lá đa”.

Tệ hơn, tư duy này làm những người nghèo bên lề xã hội cuối cùng quay ra tự trách cứ bản thân, thay vì phê phán các tương quan và chính sách xã hội đẩy họ vào trạng thái này. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng “tư duy tích cực” được dùng như một công cụ kiểm soát xã hội. Barbara Ehrenreich dẫn ra rằng khi các tập đoàn Mỹ sa thải hàng loạt nhân viên vào thập niên 1980 cũng là lúc họ thuê nhiều nhất các diễn giả về “tư duy tích cực” tới để xoa dịu những người bị đuổi việc và để những nhân viên chưa bị đuổi tiếp tục lao vào cày cuốc.

Và cuối cùng, “tư duy triệu phú” kiểu “tự kỷ ám thị” đó cổ xúy sự dịch chuyển của các giá trị đạo đức. Nếu như trước kia người ta tôn vinh các cá nhân theo đuổi một cái nghiệp, cống hiến, say mê, thì bây giờ sự say mê duy nhất được ngưỡng mộ là say mê làm giàu. Và sự giàu có mới nổi cần một biện minh về đạo đức để được chấp nhận và tôn trọng.

Trên nền tảng đạo đức mới này, giàu có nghĩa là thành công, với Napoleon Hill thì nó còn “không cần lời xin lỗi”. Làm giàu không những đã trở thành đích sống, mà còn là một đức hạnh, “làm giàu là vinh quang”. Hệ quả là gì? Trong khi tôn vinh người giàu, người ta rất dễ đi đến kết luận thứ hai rằng người nghèo làm xấu hổ đất nước, là gánh nặng của cộng đồng. Napoleon Hill viết: “Chúa đứng bên những người quyết tâm làm giàu”.

Đáng ngạc nhiên là chưa một ai thắc mắc nếu hàng triệu cuốn sách dạy “tư duy tích cực” và làm giàu có hiệu quả thì GDP quốc gia hằng năm đã phải tăng như thế nào rồi. Nhưng các ý tưởng self-help không khuyến khích các câu hỏi, chúng chỉ yêu cầu người đọc tin vào chúng. Nếu bạn chưa giàu thì có nghĩa là bạn chưa tin đủ, bạn cần mua thêm sách, nghe thêm băng, tới dự thêm các buổi thuyết trình.

Theo Salerno - tác giả cuốn Phong trào tự lực đã làm nước Mỹ trở nên bất lực như thế nào, cứ chừng 18 tháng người đọc self-help lại mua một cuốn sách mới. Sự khốn cùng của kiểu “tư duy triệu phú” này là ở chỗ nó làm tê liệt khả năng tư duy độc lập, phản biện và ý thức xã hội, những điều đang thiếu ở Việt Nam. Nó không dẫn tới khai sáng và minh triết. Đám đông đi theo nó vừa phỉnh nịnh vừa giẫm đạp lên nhau để đạt được mục đích của mình, tin tưởng rằng chính nghĩa và đạo đức thuộc về kẻ giàu có.  

Xem thêm: Gàothét giữa phố, "tư duy triệu phú" có khốn cùng?

Wednesday, December 9, 2015

KHI QUYỀN LỰC THỨ TƯ BỊ LẠM DỤNG QUÁ ĐÀ

Xã hội ta lâu nay chỉ thấy nhắc đến y đức mà chưa thấy nhắc đến báo đức. Có y đức thì cũng phải có báo đức chứ. Tại sao không? Gần đây tệ nạn trong lĩnh vực báo chí ngày càng trầm trọng, uy tín nghề báo sa sút đến mức báo động. Có nhiều tờ báo, nhiều nhà báo không hiểu dạo này bức xúc ra sao cứ nhè vào y đức các bác sĩ và nhân viên y tế mà đánh.

Họ tử tế hơn chăng, đạo đức hơn chăng? Để cho công bằng chúng ta cũng nên đưa ra phạm trù mới gọi là báo đức? Không thể để một số nhà báo thiếu lương tâm lạm dụng quyền lực thứ tư khuynh đảo xã hội mà không bị lên án là vi phạm đạo đức. 

Bài học nhãn tiền từ Ông Kim Quốc Hoa, báo người cao tuổi

Tình trạng báo chí nước nhà đáng rung chuông khi các nhà báo gần đây tập trung chủ yếu vào các bạn trẻ hành nghề chưa lâu, nhiều bạn còn đang làm tập sự, cộng tác viên, thậm chí có bạn mới là sinh viên trường báo chí.

Dẫn chứng không thiếu, thậm chí rất nhiều

Ví dụ bạn Trang nữ sinh viên trường báo chí, chỉ là cộng tác viên báo Ngườ đưa tin khi phải mổ dịch vụ u sơ chẳng hề nguy hiểm nhưng một mực đòi bác sĩ Quyết viện trưởng Viện Phụ sản Trung ương phải trực tiếp cầm dao mổ cho mình trong khi bác sĩ này 1 ngày phải mổ bao nhiêu ca cấp cứu. Không được đáp ứng bạn ấy dọa bác sĩ, viện trưởng sẽ tung tin lên báo chí để làm mất uy tín. Với sự tiếp tay của báo Người đưa tin bạn ấy làm thật chứ chẳng đùa.

Vụ bạn Tống Văn Đạt tố cáo công an Văn Quán đánh dã man bạn ấy trong lúc đang tác nghiệp cũng là một ví dụ sinh động. Thực tế là vào khoảng 20 giờ cùng ngày các chiến sĩ công an P Văn Quán đi tuần tra theo kế hoạch tại khu vực đường Nguyễn Khuyến, trong khi đang nhắc nhở các hàng quán bán hàng lộn xộn để đảm bảo trật tự hè phố, các anh phát hiện một nhóm người bước xuống từ ô tô, rút máy quay để quay tổ công tác. Lại gần các anh phát hiện nhóm người này đã sử dụng rượu bia, có lời lẽ lăng mạ, xúc phạm các chiến sĩ công an. Người hùng hăng nhất là phóng viên Tống Văn Đạt. Người này đã có những hành vi và lời nói lăng mạ, chửi bới cán bộ công an khiến những người dân sống quanh đó hết sức bất bình. Anh ta tự xưng là nhà báo lao vào xỉ vả các cán bộ công an, đồng thời rút điện thoại gọi "đồng đội" đến giải cứu. Và chỉ vài phút sau, đã có hàng chục người xưng là phóng viên đến hiện trường với những lời lẽ cực kỳ khó nghe. Nhóm này đã trực tiếp thóa mạ các chiến sĩ đang làm nhiệm vụ, bất chấp sự can ngăn của lực lượng công an phường và người dân.

Mấy ngày nay báo chí lại vào cuộc vụ tố cáo bác sĩ T.Q.H, trưởng khoa bệnh viện Đa khoa Lâm Thao (Phú Thọ) "lỡ" dẫm chân lên giường khi thăm khám bệnh nhân. Việc các nhà báo ra quân rầm rộ khiến các cấp lãnh đạo ngành y tế Phú Thọ sợ đến mức "Chiều 22/6, trao đổi với PV qua điện thoại, bà Lê Thị Vượng – Giám đốc bệnh viện Đa khoa Lâm Thao (Phú Thọ) cho biết, đơn vị bà quản lý vừa kết thúc phiên họp hội đồng kỷ luật đối với bác sĩ chuyên khoa cấp I - Trưởng khoa Chẩn đoán hình ảnh T.Q.H.Theo bà Vượng, buổi họp gồm 5 thành viên, kéo dài hơn 2 tiếng đồng hồ đã diễn ra nghiêm túc.Mức kỉ luật căn cứ theo Nghị định 27 của Chính phủ về việc miễn nhiệm đối với các trường hợp vi phạm quy chế của cán bộ công nhân viên chức tại các cơ quan.Trong buổi họp, đa số các các đại biểu đều nhất chí tán thành việc kỉ luật đối với bác sĩ H vì làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của bệnh viện Đa khoa huyện Lâm Thao nói riêng và của ngành Y tế tỉnh Phú Thọ nói chung... Dù quyết định kỉ luật chưa đến mức cách chức nhưng bác sĩ H đã tự nguyện từ chức Trưởng khoa chẩn đoán hình ảnh và Chi ủy viên bệnh viện". Đọc các bài báo liên quan đến vụ này, tôi nghĩ ngay đến người nhà bệnh nhân bất mãn với ngành y đã chụp ảnh, đưa tin cho bõ tức.

Có nhiều nhà báo gọi điện tống tiền doanh nghiệp, nhiều nhà báo dùng thẻ nhà báo dọa cảnh sát giao thông sau khi chính mình bị tuýt còi, bị phạt vì đi sai luật. Có nhà báo còn dùng thẻ nhà báo tự ý dừng xe chở quá tải trên đường...

Còn rất rất nhiều các vụ báo chí "phát huy quyền lực" của mình để nhũng nhiễu xã hội. "Báo đức" xuống thấp đến mức xã hội ngày càng chán ngán, dè chừng báo chí. Một lần tôi đang uống rượu cùng đám bạn, khi đứa bạn thân đến muộn, bước vào, tôi tự hào giới thiệu với mọi người rằng nó đang làm phóng viên tờ báo X rất danh giá và quyền lực. Một ông le lưỡi: "Thế à? Kinh nhỉ!". Tôi biết nhưng không bình luận chữ "kinh" của ông ấy nghĩa là gì nhưng bữa rượu hôm đó từ lúc ấy kém vui hẳn.

Tuy cần thiết phải cảnh báo "báo đức" nhưng bên cạnh đó chúng ta cũng phải ghi công rất nhiều nhà báo có lương tâm, có trách nhiệm với nghề, với cộng đồng từng đưa thông tin trung thực, từng dũng cảm phanh phui nhiều vụ việc tiêu cực, từng đưa đến cho bạn đọc nhiều tấm gương tốt, nhiều cảnh đời bất hạnh cần phải giúp đỡ...

Trần Quân