Saturday, May 24, 2014

NGU CHÍNH DANH VÀ CÁI THÓI NGẬM MÁU PHUN NGƯỜI CỦA LŨ CHỐNG CỘNG CỰC ĐOAN !


Việc những người chống cộng lấy công hàm năm 1958 của thủ tướng Phạm Văn Đồng rồi rêu rao như là bằng chứng chính quyền VN bán biển bán đảo cho Tàu cho thấy đến nay mà vẫn còn có quá nhiều người ngu trong hội cờ vàng. Ngu là vì quá xem thường quần chúng, cho nên mới diễn dịch công hàm này thành văn kiện bán nước để tố cộng họ hy vọng đánh vào lòng yêu nước của người dân để mong kích động chống lại chính quyền. Tuy nhiên nguời ít học nhất cũng hiểu được việc chuyển sở hữu tài sản giữa cá nhân với nhau cũng phải có những bước đàm phán và ký kết rất chặt chẽ buộc chặt bằng những văn bản có tính pháp lý chứ đừng nói chi chuyển nhựợng tài sản đất đai quốc gia mà không có ông thủ tướng nào trên thế giới có quyền hạn.

Cũng chỉ vì muốn gỡ gạc cái tội bán nước cho ngoại bang, dẫn giặc vào nhà cho nên họ phải tìm mọi cách tố CS cũng bán nước như họ. Khi vớ được công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng thì họ như vớ đuợc vàng. Dù rằng nó không hề có giá trị pháp lý nào để TQ áp đặt chủ quyền lên các quần đảo nhưng lòng thù hận nó làm cho họ mất cả lý trí ra sức suy diễn nhào nặn công hàm này thành một văn kiện bán nước.


Cứ đơn giản hóa các quần đảo là một tài sản có chủ sở hữu thì việc chuyển nhượng phải có sự đồng thuận của chủ sở hữu và người mua. Một công văn của một cá nhân dù cá nhân đó là thủ tướng không có một chữ nào nói đến chủ quyền, không có chữ nào nói đến đảo, lại không phải là chủ sở hữu, không có đàm phán không có ký kết mà gọi là một công hàm bán nước mà cả bầy cờ vàng nghe rồi lải nhải theo thì quả không gọi là ngu thì không biết gọi là gì.

Trường Sa Hoàng Sa Năm 1958 do VNCH nắm quyền chủ sở hữu thế mà thủ tướng VNDCCH lại có thể nhượng bán cái mà mình không sở hữu và thằng Tàu ngu hơn, ngu đến nỗi chỉ mua trâu vẽ bóng. Thế mà cũng xuyên tạc rồi hùa nhau tố cộng được thì đúng là não lợn.

Bán một miếng đất ruộng cũng phải có bản đồ ghi rõ nó ở đâu, chủ nó là ai, có được quyền bán hay không hay đang tranh chấp, rồi phải có hàng xóm xác nhận ranh giới thực. Thế mà bán cả quần đảo chỉ cần vài chữ là xong, thế mà họ cố mà nghĩ ra. Suy nghĩ như thế chỉ có ở cái đầu nô lệ. Phận nô lệ thì chưa từng làm chủ đất nước bao giờ chỉ là tay sai, mọi thứ đều do ngoại bang quyết định cả , ngay cả cái hiệp định Paris Mỹ nó cũng viết sẵn cho mà ký vào thì làm gì có ý thức gì về chủ quyền. Ngô Đình Diệm đã từng tuyên bố biên giới nước Mỹ kéo dài đến vĩ tuyến17 đủ thấy cái tư tưởng nô lệ nó ăn sâu như thế nào, và thực tế cả miền Nam VN hoàn toàn lệ thuộc Mỹ đó mới chính là sự thật.

Nếu cho văn thư của thủ tướng Đồng là “công hàm bán nước “ có giá trị đối với Tàu thì còn gì để nói, làm gì phải đợi đến năm 1974 Tàu nó mới đánh chiếm Hoàng Sa. Thực tế từ năm 1956 Tàu nó đã chiếm đảo Phú Lâm và Linh Côn mà không cần đến cái “công hàm “ nào cả.

Đó hoàn toàn chỉ là một tuyên bố ngoại giao có tính cách song phương không liên quan đến lãnh hải của nước thứ ba và chỉ đề cập đến phần lãnh hải trước kia của VNDCCH theo đúng giá trị giới hạn tồn tại của nước VNDCCH.

Lãnh hải của VNDCCH năm 1958 và lãnh hải VNCH hoàn toàn khác xa nhau và có chủ quyền riêng . Sau khi giải phóng miền Nam, VN đã ngay lập tức chiếm giữ 21 đảo trên quần đảo Trường Sa, lúc đó thì VN mới chính thức tiếp quản chủ quyền trên quần đảo này khi Tàu chưa kịp ra tay cướp. Năm 1988 hải quân VN đã hy sinh 74 chiến sĩ để bảo vệ đảo và kiên quyêt bảo vệ đến nay. Thực tế đó đã chững minh ngược lại tất cả những gì bọn phản động cáo buộc. Nếu công hàm có giá trị chuyển nhượng lãnh thổ thì ngày nay không có vấn đề tranh chấp biển Đông mà Tàu chỉ việc lấy cái “công hàm “ ra mà chiếm cứ hợp pháp.

Chỉ có “ngu chính danh” mới không biết đến những việc nêu trên. Lưu manh Tàu cũng không thể sừ dụng công hàm như một bằng chứng để yêu sách về lãnh thổ thế mà lưu manh cờ vàng cứ cố ra sức ngụy biện mà bẻ cong cái lý lẽ về chủ quyền về phía Tàu thế mới khốn nạn.

Ngậm máu phun người lu loa tố cộng để che đậy tội ác bán nước là sách lược cờ vàng. Không lấy cái mồm, không xuyên tạc tố cộng thì chẳng còn lấy cái gì mà chống. Nhưng chống cộng bằng cách cố bói móc tìm cách bẻ cong lịch sử xuyên tạc sự thật có lợi cho Tàu, gán ghép chủ quyền đất nước cho Tàu thì chỉ có cái đầu của nô lệ cờ vàng mới nghĩ ra được.

Nguồn: Đây nhé 

Friday, May 23, 2014

Giới thiệu trang Phật Âm Trên Ứng Dụng SmartPhone – PhatAm.com

image

Trang nhà Phật Âm (www.PhatAm.com) được thành lập từ tháng 11-2011, sau 2 năm đi vào hoạt động, trang nhà đã có những bước phát triển đáng khích lệ. Hiện nay, trang nhà có hơn 16.000 video, gần 35 triệu lượt xem với trung bình trên 16.000 lượt truy cập hằng ngày. Phật Âm một trong những website hàng đầu của Phật giáo Việt Nam.

Với những thành tựu đó, Ban Biên Tập trang nhà quyết định tạo ứng dụng trên điện thoại thông minh (smartphone) nhằm không chỉ phổ biến pháp âm Phật pháp trên website mà còn đưa tới tận điện thoại của tất cả những người hữu duyên. Đây là phương pháp hoằng pháp mới, hiện đại, đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu Phật pháp ngày càng cao của đông đảo thiện hữu tri thức. Phật Âm là một ứng dụng xem và nghe pháp âm Phật pháp trên điện thoại thông minh đầu tiên của Phật giáo Việt Nam.

Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, điện thoại thông minh đã trở thành một thiết bị không thể thiếu đối với nhiều người. Do đó, đưa Pháp âm Phật pháp lên điện thoại giúp cho những người hữu duyên có cơ hội tìm hiểu giáo lý Phật giáo thuận tiện hơn. Với sóng 3G phủ khắp nơi, quý thiện hữu tri thức có thể xem video, âm thanh MP3 pháp thoại, sách nói, kinh tụng, âm nhạc ở khắp mọi nơi, mọi khi có thể. Giờ đây, quý thiện hữu tri thức không cần phải có đầu đĩa, máy vi tính mới nghe được bài giảng của các giảng sư nổi tiếng, mà có thể nghe mọi lúc, mọi nơi với chiếc điện thoại thông minh của mình.

Với ứng dụng này, chúng tôi mong mỏi quý thiện hữu tri thức mỗi ngày ít nhất dành ra 30 phút để nghe các pháp âm Phật pháp. Từ đó, với chánh tri kiến tiếp thu được, những nổi khổ, niềm đau sẽ được chuyển hóa, an lạc, hạnh phúc sẽ có mặt ngay bây giờ và tại đây.

Các tính năng của ứng dụng:

- Chơi video với màn hình dọc hoặc toàn bộ (full) màn hình ngang.
- Duyệt video theo chuyên mục, tác giả một cách dễ dàng.
- Duyệt video thuận tiện bằng cách sắp xếp theo ngày đăng, lượt xem, đánh giá, tiêu đề.
- Danh sách tác giả được sắp xếp theo số lượng video và theo bảng chữ cái.
- Hiển thị trên menu danh mục video mới, video nổi bật và video ngẫu nhiên để thuận tiện hơn cho việc truy cập.
- Lưu lại danh sách video đã xem.
- Lưu lại video yêu thích.
- Chia sẽ video qua mạng xã hội Facebook.
- Tự động nhớ thời điểm video đang xem, khi xem lại sẽ xem tiếp tục từ thời điểm xem trước đó.
- Tắt màn hình video vẫn play được.

www.phatam.com , trang Phật Giáo mới, rất hay và lợi ích. Trang này có hầu hết tất cả những Video và Audio giảng Phật Pháp của các Thầy trong và ngoài nước như: Pháp Sư Tịnh Không, Thích Giác Nhàn, Thích Trí Huệ, Thích Phước Tiến, Thích Pháp Hòa... Trang này còn có những Video và Audio Phật Giáo khác như: Sách Nói, Phim Phật Giáo, Kinh Chú... Tất cả những tài liệu Phật Giáo trong trang này được cho phép tải về miễn phí dưới dạng Video và Audio (MP3, CD), rất tiện cho việc nghe, xem và phổ biến Phật Giáo. Nam Mô A Di Đà Phật

http://www.youtube.com/user/phatamvideo

Các bạn vào link dưới đây, để biết thêm những chi tiết hữu ích dành cho những ứng dụng mới của trang Phật Âm (www.phatam.com) trên Smartphone:
https://play.google.com/store/apps/details?id=com.phatam

Thiện Thông

NÓNG - CLIP PHỤ NỮ TỰ THIÊU SÁNG NAY









Sáng 23/5, một người phụ nữ dùng xăng tự thiêu trước cổng Hội trường Thống Nhất (quận 1, TP.HCM) khiến nhiều người dân xung quanh một phen hốt hoảng.

Theo thông tin ban đầu, khoảng 5h30 phút sáng nay, người dân đi thể dục tại Công viên 30/4 phát hiện một người phụ nữ khoảng hơn 30 tuổi đã dùng xăng đổ lên người rồi châm lửa đốt. Ngọn lửa nhanh chóng bao trùm khắp người phụ nữ này.

Những người có mặt lập tức gọi báo cho lực lượng chức năng đến hiện trường. Sau khi đám cháy được dập tắt, thi thể người này bị cháy đen, biến dạng hoàn toàn.

Theo một nhân chứng kể lại, trong lúc đang đi tập thể dục tại Công viên 30/4 thì hoảng hồn phát hiện ngọn lửa bao trùm trên cơ thể của một người phụ nữ. Nhiều người dân đã tìm mọi cách để dập tắt lửa nhưng ngọn lửa bùng phát quá nhanh khiến họ khó tiếp cận.

Hiện danh tính người phụ nữ này vẫn chưa được xác định. Đến 7h sáng cùng ngày, các đơn vị nghiệp vụ của Công an TP.HCM đã có mặt để khám nghiệm hiện trường, điều tra nguyên nhân vụ việc.

P/S: Trong lúc công an đang điều tra vụ án này, dự là bọn phản động sẽ được dịp xuyên tạc linh tinh. Cả nhà không cần đôi co với tụi nó nhé!
-----
Source: Cati Phạm

Wednesday, May 21, 2014

CÁC NHÀ RÂN CHỦ CHỐNG CỘNG VÀ BIỂN ĐÔNG : KINH ĐIỂN CỦA NGU DỐT VÀ KHỐN NẠN

Dạo này đầu óc lúc nào cũng quay cuồng quanh chuyện biển Đông, không có nhiều thời gian để chú ý đến các bạn Rân Chủ và Chống Cộng. 


Nhưng các bạn à, với ai chứ với các anh dâm chủ chống cộng thì mình luôn luôn an tâm, vì mình có bỏ lơ 1 tuần, một tháng, một năm hay cả một thập kỷ thì khi quay lại nhìn họ vẫn nhai lại đúng những luận điệu cũ mèm. 

Để kể ra những điều ngu xuẩn và khốn nạn của bọn này, thật không gì đơn giản bằng, bởi nó luôn hiển hiện ra mà ai cũng có thể thấy rõ.

1. Thứ nhất, chúng luôn miệng tố cáo "Cộng Sản Việt Nam bán nước cho Tàu"

Quả là không biết thân phận, một đám hổ lốn ô hợp, đứa thì là tàn dư của Ngụy quyền VNCH, đứa không phải thì cũng tỏ ra sùng bái VNCH ra mặt. Một đám bán nước hoặc sùng bái bọn bán nước trong lịch sử mà đòi tố cáo người khác bán nước. Há miệng mà không thấy cái quai, kể cũng lạ 

Đảng Cộng Sản Việt Nam hơn 80 năm tồn tại, lãnh đạo nhân dân hết đánh Pháp xâm lăng lại đuổi Mỹ xâm lược, hết phá quân Bắc Kinh bành trướng lại bình định quan Ponpot diệt chủng. 

Nói riêng về biển Đông, Cộng Sản Việt Nam trước tuyên bố chủ quyền theo đúng luật biển, sau đánh một trận anh dũng để giữ đảo ở Trường Sa (năm 1988) từ đó đến nay luôn ra sức gìn giữ và củng cố chủ quyền biển đảo, lại không ngừng tỏ ý chí dành lại những điểm đảo đã mất kiểm soát.

Còn trên biên giới, chúng ta liên tục đạt được thỏa thuận cắm mốc phân định biên giới với Campuchia, Lào, Trung Quốc. Đây là việc làm mang ý nghĩa ngàn đời, một thành tựu vô tiền khoáng hậu, khi chưa một ai, một triều đại nào có thể phân định rạch ròi biên giới với Trung Quốc.

Vậy bán nước chổ nào, giá bao nhiêu? 

Vô lý như thế nhưng tại sao chúng lại vẫn cứ ngày qua ngày đòi tố cáo Cộng Sản Việt Nam bán nước cho Tàu?

Bởi vì ở cái đất nước mà chiều dài lịch sử chỉ ăn rồi đi đánh ngoại xâm này, chẳng có tội nào lớn hơn cái tội bán nước. Muốn lật đổ Cộng Sản Việt Nam thì không gì bằng là gán cho họ tội danh bán nước.

Bọn này vô cùng kinh nghiệm, bởi chúng đã bán nước theo giặc, đã bị nhân dân đuổi chạy mất dép, nên chúng thấm thía, không gì xấu xa khốn nạ bằng tội bán nước ở Việt Nam. 

Vì sao lại là Trung Quốc? Trung Quốc thì cũng là Cộng Sản này (theo logic của bọn nó), Trung Quốc thì đang lăm le biển Đông của ta này, Trung Quốc thì lịch sử ngàn năm xâm lược nước ta này. Tố cáo bán nước cho Trung Quốc thì quá thuyết phục, lại nhất tiễn hạ song điêu, dù chẳng có bằng chứng nào cả. 


Cái này không phải bọn nó ngu đâu nghe, mà là Cố Tình Ngu, phương châm Nếu Chúng Ta Không Ngu, Ai? Ai Ngu Dùm Chúng Ta?

2. Thứ hai, chúng ra sức kích động chiến tranh Việt - Trung. 

Cái này cũng không hẳn là ngu, thiên về khốn nạn nhiều hơn. Chiến tranh Việt Trung là điều chúng khao khát, bởi có như thế mới có thể đục nước béo cò, có cơ hội lật đổ Cộng Sản Việt Nam để lên làm tổng thống, bộ trưởng các kiểu. 

Chẳng những thế mà Bùi Hằng, Trần Khải Thanh Thùy hè nhau lập đàn cầu cho Trung Quốc đánh Việt Nam.

Chẳng những thế mà mỗi lần Trung Quốc quây ngoài biển, thì chúng lại "yêu cầu nhà cầm quyền có biện pháp thích đáng" trong khi biện pháp thích đáng đã được thực thi trên thực địa lẫn trên bàn ngoại giao. Ý của chúng là phải kéo tàu quân sự ra bắn ì đùng mới là thích đáng.

Chẳng những thế mà khi biểu tình chúng lại hô "Đả Đảo Trung Quốc Xâm Lược", Trung Quốc xâm lược nước ta nhiều lần rồi, là gì. Nhưng hiện tại thì chưa có cuộc xâm lược nào cả nhé (đọc lại định nghĩa xâm lược) hiện tại chỉ là "xâm phạm chủ quyền" thôi. 

Chẳng những thế mà Mẹ Nấm Gấu và đồng bọn liên tục phao tin đồn thất thiệt gây ra sự hoang mang, để kích động chiến tranh.


Chẳng những thế mà, chúng luôn tổ chức biểu tình làm loạn trước lãnh sự quán, đại sứ quán Trung Quốc mỗi lần ngoài biển có động, nếu an ninh không kiểm soát thì không biết chúng đã tạo mấy cái cớ cho Trung Quốc phát động chiến tranh rồi.

3. Thứ ba, chúng đòi "theo Mỹ" để chống Trung Quốc. 

Chúng ta chưa có gì phải chống Trung Quốc cả, đừng nâng tầm căng thẳng, chỉ mới là nhảy đầm cục bộ ngoài biển thôi. Chưa có gì phải xoắn đâu.

Nhưng đám dâm chủ thì khác, chúng nhao nhao rằng chúng ta phải chống Trung Quốc bằng mọi giá, một trong số cái giá đó là "phải thay đổi chế độ" để được "làm đồng minh của Mỹ". 

Ôi, tôi nhớ làm sao năm 1974, Ngụy Quân VNCH là chế độ là đám dâm chủ ngày ngay khao khát, làm đồng minh thân cận của Mỹ, nhưng Mỹ ở đâu khi các anh VNCH bị Trung Quốc lấy mất Hoàng Sa chỉ trong vòng 30 phút đồng hồ. 

Bị Trung Quốc và Mỹ đi đêm ẵm mất Hoàng Sa mà vẫn chua thôi ảo tưởng về cụm "đồng minh bảo hộ", bài học của chính mình còn không nhớ lại bày đặt đi hiến kế. 

Kết lại, vẫn xin trích lời của bạn Hà Cao, nói về cái đám ngu dốt và khốn nạn này: 

"À, nếu như thấy Đảng Cộng Sản lãnh đạo tồi quá mà đây lại là cơ hội để mình sắn tay áo, lao vào thì sao nhỉ!? 

Thì anh phải chứng minh được sự tài ba, rằng năng lực quản lý đất nước của các anh đã vươn lên tầm thế giới chứ còn làm sao nữa. Phải thế thì nhân dân mới ủng hộ, mới chung tay lật đổ Đảng Cộng Sản để cái Đảng nào đó lên thay.

Đằng này ngồi moi móc như con đàn bà bới lông tìm rận, ngồi chế ảnh này rồi phịa ảnh kia, suốt ngày ngồi lu loa bịa đặt ba điều vớ vẩn cùng dăm bản hò vè dở như cám lợn. Lực lượng chả có, chỉ một dúm lèo tèo và quần chúng là lũ ất ơ, vô công rỗi nghề bâu vào đấy để thủ dâm rồi tự mớ mình sang trọng.

Các cô cứ ngồi đó mà mớ đi, đợi ngày tổ quốc ghi công, công bới bèo ra bọ.

Ngọc Hoàng

LONG MẠCH & ĐIỀU CẤM KỊ TRONG XÂY DỰNG


Long mạch và điều cấm kị trong xây dựng

    Thuận long: Loại long mạch này thế thuận mà xuất, phân nhánh đều bài bố thuận, thế đi đoàn tụ, tôn ty có trật tự cùng tiến tới, trên dưới chiếu cố nhau, phải trái ôm vào, đều là hữu tình mà không quên. Loại long mạch này rất quý. Nghịch long: Thế long mạch đang đi tới bỗng quay ra sau, cao thấp loạn xạ, ngọn núi nghiêng lệch, phân nhánh đều theo hướng nghịch lại, thanh long bạch hổ đều không hộ vệ thế đi trái khuấy. Loại long mạch này cũng rất xấu....

LONG MẠCH

     Phong thủy là một học thuyết dựa vào việc lựa chọn hoàn cảnh môi trường được phát triển trong thực tiễn cuộc sống trong suốt thời cổ đại ở Trung Quốc. Nó được sinh ra và phát triển dưới tiền đề của thực tế cuộc sống, là một hệ thống tri thức có tính ứng dụng rất cao, có những phương pháp thao tác ứng dụng đặc biệt. Qua một thời gian dài, do sự truyền bá của phong thủy có tính thần bí, phương pháp thao tác của phong thủybị người ta coi là điều cao sâu khó nắm bắt, vì vậy người hiểu biết phong thủy thường chỉ biết điều tất nhiên mà không biết nguyên nhân. Ngày nay, chúng ta nghiên cứu về phong thủy phải bắt đầu từ việc nghiên cứu phương pháp thao tác của phong thủy, có như vậy mới có thể hiểu được chính xác toàn bộ quá trình hình thành của môn phong thủy. Dù là phong thủy phái hình thế hay phong thủy phái lý khí, "Tướng địa" (xem hình dạng cuộc đất) đều phải tuân theo một trình tự là: trước tiên lựa chọn hình thế lớn của . núi sông, sau đó lựa chọn hoàn cảnh môi trường nhỏ của cuộc đất, tức là từ lựa chọn vĩ mô đến lựa chọn vi mô. Sự lựa chọn hoàn cảnh môi trường vĩ mô và hoàn cảnh môi trường vi mô đều không thể tách rời la kinh phongthủy.    Lựa chọn mô hình núi sông chủ yếu là việc lựa chọn hoàn cảnh môi trường lớn bên ngoài nơi ở, như long mạch, sa thủy, huyệt hình, tọa hướng, v.v... tức là tương đương với 5 yếu tố lớn là "long, huyệt, sa, thủy, hướng" ở trong "Địa lý ngũ quyết". LONG MẠCH LÀ GÌ     Long mạch là địa mạch mạnh mẽ, mềm mại, thoắt ẩn thoắt hiện như rồng. Địa mạch lấy hướng núi sông làm tiêu chí. Vì vậy, các nhà phong thủy gọi địa mạch là long mạch, là khí mạch đi theo mạch núi.    Nói về long mạch phải phân biệt mạch chính và mạch nhánh. Tìm được mạch chính mà lại đặt huyệt ở mạch nhánh là không cát.     Long mạch có quan hệ mật thiết với các núi, gò của huyệt mộ. Nếu chân long (long mạch chính) thì cần có nhiều gò núi bảo vệ. Nếu có nhiều gò núi hộ vệ, chủ về sự phú quý. Nhưng nếu mất khí của long mạch là đại hung. Nhận đúng long mạch sau đó phải quan sát thủy khẩu (gò, núi xung quanh hoặc ở giữa cửa sông), Án Sơn (núi che chắn phía trước huyệt mộ), Triều Sơn (núi ở phía trước nhưng xa huyệt mộ hơn Án Sơn), minh đường (khoảng trống phía trước huyệt mộ), Thanh Long (gò, núi ở bên trái huyệt mộ), Bạch Hổ (gò, núi ở bên phải huyệt mộ).    Thế của long mạch lấy mềm mại, linh hoạt làm quý. Long mạch lên xuống trùng trùng, uốn lượn như cá nhảy chim bay gọi là sinh long, là địa huyệt cát. Nếu long mạch thô thiển, ngang, ngược, cồng kềnh, uể oải như cây khô, cá chết là tử long, là địa huyệt hung.    Nhà phong thủy chia long mạch thành các loại: cường long, nhược long, phì long, thuận long, nghịch long, tiến long, thoái long, bệnh long, kiếp long, sát long, chân long, giả long, quý long, tiện long…    Long mạch được núi vây quanh dày đặc là sự bao bọc, hộ vệ tốt hay còn gọi là có tình - không lệch, không đi ngược. Hình thế long mạch được xem là cát thì phải đoan trang, nho nhã, tú lệ. Nếu chủ (long mạch chính) và khách (long mạch nhánh) không phân biệt được rõ ràng, núi mọc lung tung, đá núi lộn xộn, hình thù kỳ quái là ác hình. Nơi đây an táng rất hung, là đại kỵ.TẦM LONG     Công việc thứ nhất trong thao tác xem phong thủy là phải xác định hình thế của lai long (rồng đến, tức hướng long mạch đến) trên phạm vi vĩ mô. Liên quan đến khái niệm "long mạch", rất nhiều sách phong thủy đã bàn tới, tác giả Diệp Cửu Thăng trong tác phẩm "Địa lý đại thành, sơn pháp toàn thư" có ghi: "Long là gì? Chính là sơn mạch... đất là thịt của rồng, đá là xương của rồng, cỏ cây là râu tóc của rồng". Một tác phẩm phongthủy khác là "Âm Dương nhị trạch toàn thư" cũng có ghi: "Địa mạch đi đứng nhấp nhô là rồng". Thật ra, long mạch trong phong thủy là chỉ tình trạng mặt đất nhấp nhô (xét về ngoại hình, sơn mạch liên quan đến sinh khi ở trong đất).    Nhìn thế đi của núi non để tìm long mạch, trong phong thủy là nghiên cứu về nguồn gốc của long mạch đến, cũng tức là liên quan đến sinh khí. Hoàng Diệu ứng đời Tống đã viết trong tác phẩm "Bát sơn thiên": "Phương pháp tìm long, tìm tổ tông, tìm nơi ở của tổ tông, phụ mậu là phương pháp cao siêu". Tức ý nói là tìm long trước tiên phải tìm núi tổ tông, sau đó tìm núi phụ mẫu. Núi tổ tông là. nơi quần sơn phát mạch, núi phụ mẫu là đầu vào của sơn. mạch ở huyệt trường. Thông thường bắt đầu từ nơi quần sơn phát mạch, sự sắp xếp của các núi là: "Trước tiên đỉnh nhô cao là tổ, đỉnh thứ đến là tông, sau đó hai đỉnh bên trái bên phải là phụ mẫu", "Bắt đầu từ tổ tông mà thấy thai tức dựng dục của phụ mẫu", cuối cùng "xem xét hình thế mà tìm huyệt". Sở dĩ nhấn mạnh long mạch phải ở xa xôi đến là vì "Ở xa thì long mạch dài, đắc thủy nhiều, ở gần thì long mạch ngắn, đắc thủy ít". Trong phong thủy lấy đắc thủy làm ưu tiên, tàng phong là kế đến, vì vậy long mạch từ xa đến thường là nước chảy dài mà đến, cho nên mới nói "Nguồn xa chảy dài".    Long lớn thế lớn, đó là điều trong phong thủy thường yêu cầu.     Người ta đã dựa vào hình thái của dãy núi để chia long mạch ra làm 9 hình thức là:- Hồi long - Hình thế uốn lượn, hướng về tổ tông giống như rồng khoanh hổ ngồi.- Xuất dương long - Hình thế uốn lượn vươn tới giống như con thú ra khỏi rừng, con thuyền vượt biển.- Giáng long - Hình thế sừng sững uy nghi, núi cao dốc đứng, giống như nhập triều đại tọa, phi ngựa phất cờ- Sinh long - Hình thế cong lượn, tầng tầng lớp lớp, như con rết dương chân, như chuỗi ngọc, như dây leo.- Phi long - Hình thế bay lượn, trầm bổng nhanh nhẹn, như con nhạn vút lên, như chim ưng sải cánh, hai cánh mở rộng như phượng múa loan bay.- Ngọa long - Hình thế vững vàng chắc chắn như hổ ngồi, như voi đứng, như trâu ngủ, như tê giác nằm.- Ẩn long - Hình thế bàng bạc, mạch lý tiềm tàng, hiện lên như tấm thảm trải dài ra.- Đằng long - Hình thế cao xa, to lớn hiểm trở như vút lên trời cao, mây mù giăng tỏa.- Lãnh quần long - Hình thế dựa theo, thưa dầy tụ hợp như bầy hươu, bầy cừu chạy, như bầy cá bơi, như bầy chim bay.Ngoài ra, trong "Bát sơn thiên" còn đưa ra khái niệm "Ngũ thế" như sau:- Chính thế - Long mạch phát xuất từ phương Bắc hướng về phương Nam. .- Trắc thế - Long mạch phát xuất từ phía tây, kết huyệt ở phía bắc, mà hướng về phương Nam.- Nghịch thế - Long mạch ngược với thủy mà hướng lên, thủy thuận chảy xuống.- Thuận thế - Long mạch thuận theo thủy mà hướng xuống, thủy nghịch mà chảy lên.- Hồi thế - Thân long mạch quay về sơn tổ làm hướngVì long mạch biến hóa đa đoan, cho nên chủng loại của nó trong thực tế cũng rất nhiều. Nhưng khái quát lại, còn có một phương pháp phân loại khác là: sinh long, tử long, cường long, nhược long, thuận long, nghịch long, tiến long, thoái long, phúc long, bệnh long, kiếp long, sát long. Trong số đó, sinh long, cường long, thuận long, tiến long, phúc long là cát long (tức long mạch tốt) tử long, nghịch long, thoái long, bệnh long, kiếp long, sát long là các long mạch xấu.
Sinh long:

    Thế núi hùng vĩ, tinh phong tú bạt, thế đi lỗi lạc, phải trái có vây cánh, các chi hoạt bát mà hướng tới trước, đều có sinh khí. Cho nên loại long mạch đến này rất tốt.Tử long:    Thế núi cứng nhắc như rắn chết, thiếu tay chân, loại long mạch này không hiển linh.Cường long:    Thế núi hùng vĩ, thế đi ngang tàng, sức mạnh cực lớn như vạn mã phi nước đại. Cho nên, đây là loại long mạch rất tốt.Nhược long:    Thế núi đến ốm yếu, giống như bộ xương khô, phân nhánh co rút, lực của sơn thể cũng vậy. Loại long mạch đến này không tốt.Thuận long:    Loại long mạch này thế thuận mà xuất, phân nhánh đều bài bố thuận, thế đi đoàn tụ, tôn ty có trật tự cùng tiến tới, trên dưới chiếu cố nhau, phải trái ôm vào, đều là hữu tình mà không quên. Loại long mạch này rất quý.Nghịch long:    Thế long mạch đang đi tới bỗng quay ra sau, cao thấp loạn xạ, ngọn núi nghiêng lệch, phân nhánh đều theo hướng nghịch lại, thanh long bạch hổ đều không hộ vệ thế đi trái khuấy. Loại long mạch này cũng rất xấu.Tiến long:    Thế núi đế nhau dư, phân nhánh đều nhau giống như ôm xuống, hình thế hậu long từng đoạn tăng cao dần. Loại long mạch này cũng rất tốt.Thoái long:    Thế núi mất trật tự, tay chân ngắn dần, thế long mạch lùi về sau, thế đi gắng gượng, bắt đầu nhỏ về sau càng lớn. Loại long mạch này rất xấu.Phúc long:    Long mạch lấy tổ tông làm tôn quý, bản thân long mạch đến hai bên đều kín kẽ, trước sau chiếu cố nhau, chân tay tuy không lớn nhưng cồ kho có lẫm, sơn minh thủy tú, ngọn núi không không cao chót vót .nhưng không thô không xấu. Đây là long mạch chủ về phát phúc lâu dài.Bệnh long :    Bản thân long mạch bất toàn, có đẹp có xấu, phân nhánh bên có bên không, bên sinh tử, bên đẹp bên xấu, hoặc một bên thì kín kẽ, một bên thì khuyết hảm. Loại long mạch này thuộc về long mạch xấu.Đồng bệnh long:    Long mạch đến tinh phong tú bạt, hẻm núi kín kẽ, phân nhánh thuận nhiều trông rất ưu mỹ. Nhưng vì chỗ trọng yếu của long mạch đến: hoặc gãy khúc, hoặc nát vụn, hoặc lẫn lộn đất đá, nên không tốt.Kiếp long:    Loại long mạch đến này phân nhánh rất nhiều, nhưng lại không đoan chính, đông tây loạn xạ khiến chân khí phân tán, long mạch không tụ, không tốt.Sát long:    Long mạch đến mang theo sát khí, vì bản thân rời sơn tổ mà đến nên đá núi hiểm trở, lởm chởm. Loại long mạch này rất xấu."Cửu long", "Ngũ thế" và cách phân loại trên đều là những cách phân biệt long mạch trong quá trình xem cuộc đất trong phong thủy. Tên gọi của chúng bắt nguồn từ "Phái hình pháp", là một cách phân loại địa thế, địa thể theo hình dạng thế núi dựa vào địa hình địa thế. Nhưng những người đi tiên phong của phái Ly khí còn tiến hành phân loại những hình thế tổng quát của hình dạng núi, đã đưa ra thuyết "Ngũ tinh" và thuyết "Cửu tinh" .    Thuyết "Ngũ tinh" chủ yếu chịu ảnh hưởng của thuyết ngũ hành, đã phân chia hình thái của các đỉnh núi ra thành 5 loại kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Kim đầu tròn mà chân rộng, mộc đầu tròn mà thân thẳng, thủy đầu bằng mà có sóng giống như rắn bơi trong nước, hỏa đầu nhọn mà chân rộng, thổ đầu bằng mà chân thanh tú đẹp đẽ.Trong phong thủy cho rằng nếu như trong môi trường có đủ cả năm hình thế núi thì khí vận hành là tốt nhất, trong đó cũng có vẽ đính kèm rất nhiều những hình đồ của thuyết Mệnh lý tinh quái.    Vì chịu ảnh hưởng của Lạ thư cửu cung, trong phong thủy lại chia thế núi ra thành 9 loại hình, gọi là "Cửu tinh". Cửu tinh bao gồm: Tham Lang, Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân, Tả Phụ, Hữu Bật.    Cửu tinh thông thường liên hệ với quái vị, cát hung và ngũ hành sinh khắc hàm ý cơ bản của chúng đều theo thuộc tính của ý nghĩa tên tinh tú, ngũ hành và thứ tự cát hung như sau:- Tham Lang, Sinh Khí, thuộc mộc - thượng cát.- Vũ Khúc, Diên Niên, thuộc kim - thượng cát.- Cự Môn, Thiên Y, thuộc thổ - trung cát.- Tả Phụ, Phục Vị, thuộc mộc- tiểu cát.- Phá Quân, Tuyệt Mệnh, thuộc kim - đại hung.- Liêm Trinh, Ngũ Quỷ, thuộc hỏa - đại hung.- Lộc Tồn, Họa Hại, thuộc thổ - thứ hung.- Văn Khúc, Lục Sát, thuộc thủy - thứ hung.- Hữu Bật - Bất Định.Quan niệm cát hung của cửu tinh chủ yếu là dùng vào việc xem dương trạch (xem nhà ở).Khi phân biệt về hình thế của long mạch, còn phải chú ý đến hoàn cảnh chung quanh chủ long, phải có che chắn bảo vệ, hai bên long mạch phải có tiền hô hậu ủng mới có thể cho là khí thế to lớn hùng tráng.
 QUAN SA

    Sa trong phong thủy là chỉ những đồi núi nhỏ xung quanh chủ long, đặc biệt là chỉ những thế núi tầng tầng lớp lớp bao xung quanh huyệt trường. Có loại sa do vị trí sắp xếp và tác dụng khác nhau mà có những tên gọi khác nhau. Trong sách "Bát sơn thiên - Luận sa" có viết "Đứng thẳng hai bên, gọi là thị sa, có thể che chắn ác phong, rất có lực, bao bọc xung quanh long, gọi là vệ sa, có thể làm tán gió bên ngoài, tăng khí thế bên trong, bao bọc phía sau huyệt gọi là nghênh sa, thấp nhỏ như vái chào, nhường nhịn, giống như thị vệ đứng chầu phía trước, gọi là triều sa, bất kể xa gần đều rất quý"    Trong phong thủy còn đặc biệt chú trọng lựa chọn hộ sa bên trái, bên phải. Sa bên trái của huyệt trường gọi là thượng sa, hay còn gọi là Thanh long sa; sa phía bên phải gọi là hạ sa hay còn gọi là Bạch hổ sa. Sở dĩ có phân biệt trái phải trên dưới, ngoài việc liên quan hệ với quan niệm tôn trọng bên trái của người Trung Hoa, có thể còn có quan hệ đến vấn đề chắn gió, vì vậy thượng sa ở bên trái thường nên cao to hơn hạ sa ở bên phải.    Qua đó có thể thấy bất kể một huyệt địa phong thủy lý tưởng nào, cũng đều không thể tách rời sự bảo vệ của cát hộ sa bên trái bên phải, ở phía. trước cũng không được mở ra xa quá, mà phải có án sa, triều sa bảo vệ từ đó hình thành hoàn cảnh môi trường có thể chắn gió tụ khí.    Trong phong thủy cho rằng các tầng lớp của sa càng nhiều càng tốt, "tầng tầng hộ vệ" phải hơi nghiêng và ôm vào phía trong, trông rất hữu tình, vậy mới có thể hình thành “phát phú phát quý chi địa" (đất phát phú quý), còn dưới chân sa phải có nước chảy uốn khúc, chậm rãi, đó mới gọi là phong thủy tốt .    Trong phong thủy còn chú ý đến hình thái bên ngoài của sa, cho rằng sa có ba loại: đầy đặn tròn kín ngay thẳng là dáng phú (giàu); thanh tú nhỏ nhắn đẹp đẽ là dáng quý (sang), nghiêng ngả, phình to là dáng thấp hèn..., vỡ nát, nhọn hoắt, nhỏ hẹp, thấp bé, nghiêng ngả, thô kệch, gầy yếu, ngắn, lệch đầu, quay lưng, gãy quẹo, đều là loại tiềm ẩn mối họa". Nói tóm lại những sa nhìn bên ngoài dễ chịu thoải mái là sa tốt, sa quý nhìn bên ngoài mà cảm thấy khó chịu là sa hung, sa xấu.
 QUAN THỦY

    "Bát sơn thiên" viết: "Phàm khi nhìn núi (sơn, long mạch), đến nơi có núi, trước tiên phải xem nước (thủy)... nơi nước đến là nơi long mạch phát, nơi nước hết cũng là nơi long mạch tận. Vì sao xem núi (sơn) trước tiên phải xem nước (thủy)? Vì sơn và thủy luôn đồng hành với nhau. Biết nguồn gốc của thủy, là cũng biết nơi phát mạch của sơn; biết nơi tận cùng của thủy là cũng biết nơi long mạch chấm dứt).    Khi xem thủy, các thầy phong thủy căn cứ vào hình thái ngũ hành để chia trạng thái vây bọc của thủy ra thành năm loại hình: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Đây gọi là năm loại thủy thành. Thủy thành hình là lấy nước làm khuôn mẫu, thủy thành cố tác dụng giới hạn thủy, làm cho long khí không bị tán thất.    Trong "Ngũ thành" có Kim thành và Thủy thành, nước chảy như dải lụa, quanh co hữu tình cho nên là nơi đất thượng quý (tốt nhất), Mộc thành và Hỏa thành có thế nước như tấn công, vỡ vụn, nhọn nghiêng cho nên không thể cho là cuộc đất tốt; còn thổ thành thì có hung, có cát, dòng chảy nhẹ nhàng, sâu, dâng nhẹ là tốt dòng chảy xiết là xấu. Trong phong thủy người ta căn cứ tình hình nước chảy trên mặt đất để chia ra làm tốt xấu, cho rằng chảy vòng vèo uốn khúc bao quanh hữu tình là đẹp, là cát; chảy xiết, đâm thẳng, cuốn đi là xấu, là hung. Quan điểm về cái đẹp và cái xấu này thoạt nhìn tường như rất hoang đường, nhưng trên thực tế nó là sự kế thừa và phát triển từ kinh nghiệm thực tế của cuộc sống, từ đó hình thành nên nền văn hóa truyền thống với mục tiêu tìm kiếm phong cách kín đáo, sâu sắc trầm lắng.    Vì vậy yêu cầu đối với "Thủy khẩu" là: "Nguồn phải bao quanh hữu tình, không được đâm thẳng, bít kín; cửa ra phải kín kẽ, sợ nhất là đi thẳng ra xa mà không có uẩn khúc quay về.    "Thủy khẩu" là điểm quan trọng nhất trong việc xem thế nước. Thủy khẩu là chỉ nơi nước chảy vào và nơi nước chảy ra của một khu vực nào đó, thông thường là chỉ nơi nước chảy ra. Thủy chủ về tài vận, cho nên tác dụng của thủy khẩu là tụ tài (tập trung tiền tài) Sách "Nhập địa nhãn đồ thuyết - "Thủy khẩu" viết: "Phàm nơi thủy đến gọi là thiên môn, nếu đến mà không thấy nguồn nước thì gọi là thiên môn khai (cửa trời mở); nơi thủy đi gọi là địa hộ, không thấy thủy đi thì gọi là địa hộ bế (cửa đất đóng). Nước chủ về tài, cửa vào mở thì tài đến, cửa đi đóng thì tài dùng bất tận."    Vì vậy trong "Táng thư" mới viết: "Phép xem phong thủy, lấy đắc thủy là ưu tiên, tàng phong là kế đến." Trên thực tế một môi trường phong thủy tốt tuyệt đối không thể thiếu tác dụng của thủy. Thủy một mặt là phản ảnh của khí hậu, mặt khác lại có ảnh hưởng đến thổ nhưỡng, lớp phủ thực vật của khu vực, cuối cùng là ảnh hưởng đến cảnh quan sinh thái của một khu vực. Đối với cuộc đất để làm nơi ở mà nói, nước lại là thứ không thể thiếu được cho sản xuất và đời sống. Vì vậy các làng xóm thời xưa đều đặc biệt chú trọng việc lựa chọn thủy khẩu, lấy thủy khẩu làm đường giao thông chính, làm tiêu chí cho các vườn cảnh của làng xóm. Nhưng nơi này dân cư thường giàu có hơn những nơi khác, điều này chúng ta có thể thấy rõ trong thực. tế.    Chính vì nước là tiêu chí của tài nguyên, vì vậy ở rất nhiều khu dân cư ở Trung Quốc đều yêu cầu phía trước nhà phải có sông nước, phía trước nhà không có sông nước thì phải đào hồ ao để làm cho tài nguyên phong phú. Thông thường người ta cho rằng: "Trữ nước trong hồ ao đủ để dưỡng địa mạch, dưỡng chân khí". Công dụng của việc đào hồ ao trước nhà còn có lợi cho sản xuất và sinh hoạt.
 ĐIỂM HUYỆT

    Huyệt trong phong thủy cũng gần giống như huyệt vị trong cơ thể con người, là nơi có thể lấy được khí ra, khu được khí về, cũng giống như huyệt vị của cơ thể con người thông với kinh lạc, huyệt vị của phong thủy cũng thông với sinh khí của long mạch. Vì vậy trong phong thủy việc tìm huyệt là một việc hết sức quan trọng, muốn cảm thụ được sinh khí của long mạch, phải tìm được chân huyệt. Các thầy phong thủy cho rằng, huyệt là do trời đất tạo nên, tức là: có long mạch tồn tại thì phải có huyệt, chân long phải kết chân huyệt.    Hình dáng của huyệt phong thủy, thường do sự khác nhau của địa hình cục bộ nên chia ra làm các loại:- Oa huyệt; Kiềm huyệt, Nhũ huyệt, Đột huyệt.Oa huyệt hay còn gọi là khai khẩu huyệt (huyệt mở miệng). Trong Táng thư nói rằng loại huyệt này giống như tổ yến, thường gặp ở nơi núi cao.- Kiềm huyệt, giống cái kềm có hai chân mở ra, còn gọi là khai cước huyệt, ở nơi núi cao hoặc nơi bình địa đều có thể gặp loại huyệt này.- Nhũ huyệt, huyệt mở rộng, ở giữa sinh nhũ (vú), còn gọi là huyền nhũ huyệt, nhũ đầu huyệt, ở nơi đất cao hoặc bình địa đều có thể gặp.- Đột huyệt, huyệt bằng ở giữa nổi gồ lên, còn gọi là bào huyệt. "Táng thư" nói loại huyệt này hình dạng giống như chiếc nồi úp ngược, thường gặp ở nơi bình địa. Hình dạng huyệt trong phong thủy, từ trái sang phải là: oa huyệt, nhũ huyệt, kiềm huyệt, đột huyệt.

 Kiêng kị trong xây dựng nhà cửa

        Kiêng xây nhà, sửa nhà khi trong gia đình có người đang mang thai. Đặc biệt kiêng việc cải tạo bếp nếu không người chửa sẽ bị sảy thai

       Kiêng nền đất trước nhà cao sau thấp, đại hung.

       Kiêng phía tây bắc nhà khuyết một góc (lấy mặt nhà làm chuẩn) sẽ hãm đường con cái, mắc bệnh về đường hô hấp.

       Kiêng phía đông nam nhà khuyết một góc, không lợi cho việc sinh và nuôi dạy con cái.

       Kiêng phía tây nam khu đất của nhà khuyết một góc, sức khỏe sa sút.

       Kiêng khuyết một góc ở phía đông bắc khu nhà, sức khỏe sa sút.

       Kiêng đất ở hình tam giác, trước nhọn sau rộng, hao tổn người và của, bất lợi cho nữ giới. Nếu đất trước rộng sau nhọn gọi là “đuôi sao chổi”, đại hung, trong nhà có người tự sát hoặc gặp tai nạn.

       Kiêng khu đất ở hoặc mái nhà bên trái dài, bên phải ngắn sẽ tổn hại đến vợ con.

       Kiêng khu đất ở hoặc hình nhà bốn góc đều khuyết, đại hung.

       Kiêng đất ở hoặc hình nhà chữ nhật, mặt nhà quay về hướng đông tây, đại hung.

       Kiêng đất ở hoặc hình mái nhà phía nam, bắc đều khuyết, dễ có chuyện thưa kiện, bệnh tật.

       Kiêng khu đất ở hoặc hình mái nhà phía đông khuyết lõm, gia cảnh thiếu thốn.

       Kiêng khu đất ở hoặc hình mái nhà khuyết lõm phía bắc, rất dữ, đại hung.

       Kiêng khu đất ở hoặc hình mái nhà khuyết lõm phía nam, trong nhà thường cãi cọ, không yên.

       Kiêng khu đất ở hoặc hình mái nhà khuyết lõm phía bắc, rất dữ, đại hung.

       Kiêng trồng cây to trong khu đất ở, rất dữ.

       Kiêng giữa sân nhà ở khu đất trống (khu nhà kiểu hình móng ngựa) trồng cây hoặc làm bể nước, rất dữ.

       Kiêng rải sỏi, đá dăm mảng lớn trong sân vườn, sẽ có âm khí, gia cảnh sa sút.

       Kiêng dẫn suối vào khu nhà mình ở, rất dữ.

       Kiêng tường rào vây quanh nhà quá cao, người trong nhà như thú bị nhốt, dẫn đến cùng khốn.

       Kiêng nhà to, người ở ít, rất dữ, vận hạn sẽ nghèo khó.

       Kiêng nhà ở dài ngoẵng, người ở bệnh tật.

       Kiêng chia số phòng trong nhà làm 3, 4, 8 phòng, rất dữ.

       Kiêng nhà ở có phòng chia đôi sàn, rất dữ, con cháu hư hỏng, tiền tài thất tán, hoặc gia cảnh sa sút.

       Kiêng giữa nhà có khoảng không gian không sử dụng, rất dữ.

       Kiêng nhà ở mà cửa chính thành một đường thẳng, không tốt.

       Kiêng nhà ở có cửa hàng mà quay về hướng đông bắc hoặc tây nam, rất dữ, nhà có khí âm, buôn bán kém, địa vị, tiền tài sa sút.

       Kiêng nhà ở độc lập mà không có cửa sau, vợ chồng không sống với nhau dài lâu.

       Kiêng phòng ngủ sát vách bếp, rất dữ, nhất là với trẻ nhỏ.

       Kiêng đặt tủ quần áo quá cũ trong phòng ngủ, đại hung.

       Kiêng đặt nhà bếp quay về hướng tây nam.

       Kiêng bệ bếp quay ra cửa để ngọn lửa ở bếp lộ ra ngoài, làm ăn không thuận lợi, hao tài tốn của.

       Kiêng đặt phòng tắm ở hướng tây nam, đông bắc, rất dữ.

       Kiêng đặt phòng vệ sinh giữa nhà ở, chủ nhà đau ốm, bệnh tật.

       Kiêng bệ xí cùng hướng với cửa chính, rất dữ.

       Kiêng cầu thang đặt chính giữa nhà, đại hung.

       Kiêng nhà ở mở cửa sổ hướng bắc, phụ nữ kinh nguyệt không thuận.

       Kiêng để bàn thờ lộ ra ngoài, người ngoài đi lại nhìn thấy.

       Kiêng hiên nhà có cây to xuyên qua, rất dữ.

       Kiêng trong nhà có bốn cột bốn phía, sát cửa, đại hung, người nhà dễ mắc bệnh.

       Kiêng từ ngoài vào nhìn thấy cột chính lớn nhất của nhà, đại hung, con bất hiếu.

       Kiêng dầm nóc nhà không phải là một cây dài suốt mái, đặc biệt là nhà mái bằng, đại hung.

       Kiêng sàn trong nhà thấp hơn sàn ngoài nhà, dễ bị bệnh, tai họa, cãi cọ.

       Kiêng từ chính diện nhìn vào nhà, mái có hình lồi, chữ sơn có hỏa tai, tán tài, không tốt.

       Kiêng mái nhà ở có hình lồi chữ sơn, dầm nóc giữa cao, trước sau đều thấp dẫn đến hao tài, cô độc.

       Kiêng nền đất nhà tơi mềm, đại hung, người ở thường sa sút.

       Kiêng xây nhà trên ruộng cạn đã lấp, không lành vì ma quỷ thường quấy nhiễu.

       Kiêng xây nhà trên đất cỏ mọc tốt tươi. Phải nhổ cỏ tận gốc nếu không sẽ có tai họa, vận hạn, khổ sở liên miên.

       Kiêng xây nhà từ ngoài vào trong, phát triển không tốt.

       Kiêng sửa nhà cục bộ khi có người đang ở, gia cảnh sa sút, con cháu không thuận, có thể mất giống.

       Kiêng xây thêm tầng của một tầng với móng nhà cũ, đại hung.

       Kiêng nối hai ngôi nhà riêng biệt thành một, nối hai giọt gianh lại, đại hung. Vận nhà sa sút, gia sản khuynh bại. Nếu nối giọt gianh mà dỡ cột thì càng nguy hiểm, có thể dẫn đến chết người.

       Kiêng nhà ở có các khe hở giữa bốn bức tường, đại hung, trong nhà có người ốm, thường có ác mộng.

       Kiêng treo trên tường quá nhiều đồ trang trí, đại hung.

       Kiêng khi cất nhà, quay ngược đầu vật liệu để sử dụng chẳng hạn quay gốc cây (gần rễ) lên trên, ngọn xuống dưới để sử dụng, người trong nhà sẽ gặp bất trắc.

       Kiêng khuôn cửa hoặc trụ cửa cong, người trong nhà sẽ mắc bệnh khó chữa.

       Kiêng nhà nhỏ mà cửa lớn, không tốt.

       Kiêng nhà ở có sân vườn, hệ thống thoát nước đặt ở phía tây nam, không tốt.

       Kiêng rác đổ ở phía tây nam sân vườn, đại hung.

       Kiêng lò bếp gần sát giường, có họa hư hao.

       Kiêng phòng ngủ có dầm bắc qua giữa căn phòng, đại hung.

       Kiêng cửa kính nhà ở chiếu thẳng vào góc nhà của người khác, đại hung.

       Kiêng bắc cây tre để phơi quần áo trên kệ bếp, đại hung, dễ bị tai họa.

       Kiêng mở cửa mái ở phía tây nam, đông bắc, đại hung.

       Kiêng mở cửa mái quá lớn, dưỡng khí quá thịnh, dễ gặp tai họa.

       Kiêng bố trí bếp lò để sưởi ấm ở vùng giữa nhà ở, chủ nhân dễ gặp tai họa.

       Kiêng trổ cửa đi, cửa sổ phần phía nam nhà ở mà không có mái che, tình cảm vợ chồng đổi thay, không cãi cọ.

       Kiêng làm kho chứa dưới giường, đại hung.

       Kiêng kê giường hướng thẳng ra cửa, tối hay nằm mê thấy ma quỷ.

       Kiêng gương soi của bàn trang điểm chiếu thẳng vào giường không tốt.

       Kiêng phía trước bếp có đường cái, phía sau có đường ngang.

       Kiêng sau bếp có giếng, hại cho phụ nữ.

       Kiêng đặt bếp ở quay ra ngoài hai mái, dễ gây thị phi, thất tán tiền của.

       Kiêng phía trên bếp đặt dằm, phụ nữ sẽ sinh lắm bệnh.

       Kiêng mở cửa sổ lớn trên tường rào, thì phi, phiền phức.

       Kiêng tường bao trước rộng, sau hẹp, đại hung, người nhà có thể bị bệnh nặng hoặc tự sát.

       Kiêng tường bao phía trước nhọn, sau rộng dài, gọi là “thái điền bút”, người trong nhà kinh doanh thua lỗ.

       Kiêng tường bao nhà người khác thành hình góc nhọn hoặc góc nhà của người khác chĩa vào nhà mình, bất lợi, góc chĩa bên phải, nữ bị đau, người nhà hao tổn về vật chất và tinh thần.

       Kiêng trên tường bao có mái hiên kiểu cổ quá rộng, thành hình hành lang, sẽ có chuyện kiện tụng.

       Tường bao xung quanh ngoài cửa ra vào kiêng khuyết góc, sẽ ốm đau, kiện tụng.

       Kiêng tường bao quanh nhà cao quá hoặc thấp quá vì sẽ có con gái thọt.

       Kiêng xây nhà, mà xây tường bao trước, sẽ dẫn đến tù tội, hoặc gặp trắc trở.

       Kiêng nhà có cầu chọc thẳng vào nhà, sẽ mất hết tài sản.

       Kiêng trước nhà có rãnh nước mà người ta bắc cầu qua đó, đời sống tinh thần của người trong ngôi nhà đó sẽ bị quấy rầy.

       Kiêng cầu gỗ chọc thẳng vào nhà từ phòng phía tây bắc, chủ nhân ngôi nhà sẽ khuynh gia bại sản, tổn thọ.

       Kiêng trước nhà có đền miếu, gia đình không yên ổn, làm ăn thất tài, phụ nữ bị quỷ thần quấy nhiễu.

       Kiêng nhà xây lọt vào bốn phía xung quanh là núi cao, không tốt.

       Kiêng phía nam nhà có núi cao, học không thành đạt.

       Kiêng trước nhà có núi chạy liên tục từ phải sang trái, có nhà cũ nát, bất yên, hay gặp chuyện kiện tụng.

       Kiêng cổng nhà có đá chắn ngang đối diện với cổng, con cái gặp nạn.

       Kiêng trước nhà ở có đống đá, có thể mắc bệnh hô hấp.

       Kiêng trong cửa hoặc trong nhà có đống đá, sợ người chửa trong nhà bị sảy hoặc mắc bệnh về mắt.

       Kiêng trước nhà có đá mọc, phụ nữ trong nhà mắc bệnh đau tim.

       Kiêng quanh nhà, đặc biệt trước cửa có đá chắn ngang, chó trong nhà hay cắn người, người thường xuyên bị bệnh.

       Kiêng trồng cây cối ở giữa sân vườn, hay bị bệnh tật.

       Kiêng rễ cây trước cửa lộ trồi ra, tổn hại sức khỏe.

       Kiêng trước cửa nhà có bụi trúc, rừng trúc, người trong nhà không vui vẻ.

       Kiêng hướng tây hoặc tây nam gần nhà có cây, sợ trẻ con ngã từ trên cây xuống đất chết.

       Kiêng cây mọc gần nhà quấn nhiều dây leo, sẽ có chuyện thị phi, cãi cọ, tự sát.

       Kiêng hành lang nhà phụ có mái che nối với nhà chính vì sẽ có tai họa, gia đình không yên.

       Kiêng xây lầu hiệu cao lớn hơn nóc nhà vì sẽ thất tài, hỏa tai, trộm cắp, mất quan lộc.

       Kiêng gần nhà có ngã tư hướng về đông bắc, vợ vô sinh.

       Kiêng trước nhà có đường hình vòng cung vòng ra phía ngoài, sợ đàn ông trong nhà chết, phụ nữ dâm loạn, thua kiện, buôn bán thất bát.

       Kiêng trước cửa nhà có ao hồ hình dáng có góc nhọn chọc thẳng vào cửa nhà, người nhà có bệnh về mắt, phụ nữ mắc nhiều bệnh.

       Kiêng trước cửa nhà bên phải có ngã tư đường, đường ngang qua ngã tư lại là đường cong hướng ra ngoài, sẽ có người tự sát, tổn thất tiền của, kiện tụng.

       Kiêng trước cửa nhà có đường rẽ hai bên, lại có hồ nước, nhà ở rất dữ, bệnh tật, người nhà bị chết.

       Kiêng trước cửa nhà có nhà cũ nát, cửa không đóng được, sẽ có nhiều chuyện không hay, bệnh tật, ma quỷ quấy nhiễu.

       Kiêng nhà ở bốn phía là đường, sẽ rơi vào chữ “tù”, khó phát đạt.

       Kiêng dầm trong nhà là số chẵn, sợ tai họa, bệnh tật, phá sản hoặc chết người.

       Kiêng nhà cao lại nối với một nhà nhỏ thấp, sợ hao tổn tiền của, tai họa, bệnh tật.

       Kiêng phòng ngủ phía trước, phòng khách phía sau, sợ thoái tài, làm ăn sa sút.

       Kiêng cửa ra vào chiếu thẳng ra cổng, dễ ham muốn, dâm dục.

       Kiêng phòng ngủ vuông góc với hành lang hoặc đường qua lại, vợ dễ tư thông với trai.

       Kiêng nhà ở phía tây, có một gian làm thành hai tầng, các gian khác một tầng, người trong nhà ham mê tửu sắc.

       Kiêng tường bao quanh nhà dây leo phủ kín, sợ âm khí, kiện tụng.

       Kiêng nhà có tường và cổng đối diện nhà khác mà lại thấp hơn, sẽ suy thoái.

       Kiêng nước thải từ trong nhà ra chảy từ phải qua trái, đại bại.

       Kiêng đặt thần vị theo hướng thái tuế, tai họa rất nặng.

       Những năm thái tuế, kiêng đặt thần vị lưng quay về hướng nam, mặt nhìn ra hướng bắc, nguy hại đến tính mạng.

       Những năm sửu, kiêng đặt thần vị ngồi ở tây hoặc nam, mặt nhìn ra hướng bắc, bệnh tật hoặc chết người.

       Những năm mão, kiêng đặt thần vị ngồi ở tây, mặt quay về hướng đông, nhà có tang hoặc suy thoái.

       Những năm thìn, kiêng đặt thần vị ngồi ở phía tây hoặc tây bắc, nhìn ra hướng đông hoặc đông nam, con cái không tốt.

       Những năm tỵ, kiêng đặt thần vị ngồi ở bắc hoặc tây bắc, mặt quay về hướng nam hoặc đông nam, nhà không yên.

       Những năm ngọ, kiêng đặt thần vị ngồi ở hướng bắc, quay mặt về hướng nam, sẽ gặp thủy hỏa.

       Những năm mùi, kiêng đặt thần vị ngồi ở hướng bắc hoặc tây bắc, mặt nhìn về hướng nam hoặc tây nam, họa không lường được.

       Những năm thân, kiêng đặt thần vị ngồi ở đông bắc, quay mặt về hướng tây, tây nam, đặc biệt hại cho nam giới.

       Những năm dậu, kiêng đặt thần vị ngồi ở hướng đông, mặt quay sang hướng tây, sợ sẽ khóc quanh năm.

       Những năm tuất, kiêng đặt thần vị ngồi ở hướng đông hoặc đông nam, mặt nhìn ra tây hoặc tây bắc, đàn ông bị tổn hại.

       Những năm hợi, kiêng đặt thần vị ngồi ở hướng nam hoặc đông nam, mặt nhìn về phía hướng bắc hoặc tây bắc, bệnh tật quanh năm.

       Kiêng làm nhà bằng loại gỗ nhiều mắt, sợ mụn nhọt.

       Kiêng dùng gỗ âm khi xây nhà, chẳng hạn kiêng dùng các loại cây như dẻ, hòe.

       Kiêng tường đất hai bên cổng chính to nhỏ, bên trái lớn, sẽ thay đổi vợ, bên phải lớn, sẽ tổn thọ.

       Kiêng làm hai cửa nhỏ ra vào hai bên cổng chính, trong nhà không có trật tự, kỷ cương, lớn bé coi khinh lẫn nhau.

       Kiêng dùng tường bao hoặc lan can ở ngoài trời, sợ bị bệnh tim, đau mắt.

       Kiêng phòng ngủ đặt cạnh kho chứa, sẽ bệnh tật.

       Kiêng các phòng trong nhà hình chữ T hoặc tam giác, sợ bệnh tật, sống phải chạy vạy

       Kiêng mở cửa ra nhìn thấy mồ mả vì mồ mả thuộc âm địa, nên người trong nhà sẽ dễ bị ám ảnh không tốt cho sức khỏe.

       Kiêng lưng nhà dựa vào núi.

       Kiêng tường trắng ngói xanh vì đó là biểu hiện nhà có tang.

       Kiêng hành lang dài chạy xuyên nhà vì không lành.

       Kiêng vị trí lộ xung (hướng đường chĩa thẳng vào nhà)

       Khi động thổ, kiêng tuổi năm thái tuế vì ở trên đầu thái tuế sẽ gặp rất nhiều nguy hiểm, rủi ro.

       Kiêng nhà ở cạnh đường nơi trũng thấp khí hỗn tạp, có hại.

       Kiêng góc mái nhà nhọn uốn lượn chĩa thẳng vào cửa ra vào hoặc cửa sổ vì dễ gặp tai họa nghiêm trọng.

       Kiêng tượng đồng, tượng đá cỡ lớn.

       Kiêng ở chung cư cao tầng gần đường cầu vượt hay đường cao tốc vì nó giống như thanh kiếm dài chém ngang sườn, tinh thần không yên, dễ gặp rủi ro.

       Kiêng nhà ở thấp dưới đường sắt vì vận khí thấp, khó gặp may mắn.

       Kiêng nhà cửa cao đuồn đuỗn sẽ không an toàn, làm ăn bị cản trở.

       Kiêng nhà cao tầng đứng chơ vơ, ở lâu sẽ bị cô lập, khó gặp may.

       Kiêng cỏ và cây cối mọc um tùm vì đó là biểu hiện vận mạt, khó phát triển.

       Kiêng nhà ở chỗ đường giao nhau, dễ gặp chuyện bất ngờ, không yên ổn.

       Kiêng cửa ra vào thấp vì đó là biểu hiện vật mạt, không tốt.

       Kiêng xây nhà trên mảnh đất hình tam giác nhọn vì đó là đại hung do thế đất bị cắt. Cách chống lại vị trí theo hình cái kéo này là chừa chỗ góc nhọn để trồng cây sẽ giải được sự không may mắn.

       Kiêng nhà ở hình tròn vì theo quan niệm của người Trung Quốc, nhà ở phải tĩnh, vì thế mà không được tròn vì tròn là động, dễ xảy ra chuyện biến động, không yên ổn. Kiêng nhà ở có tường che cao ngăn trước mặt vì không may mắn, nhất là khi có đường cao tốc chạy qua.

       Kiêng nhà ở bắt đầu từ đoạn xuống dốc vì khí cũng như nước chảy xuống chỗ thấp nên ở trong ngôi nhà đó sẽ không may mắn.

       Kiêng ở nhà chung cư cao tầng lồi lõm, nhiều góc nhọn vì dễ có điều tiếng, không thể có điều lành.

       Kiêng nhà ở phía sau đền vì đền là đất âm, khó tụ khí, ở sẽ gặp điều chẳng lành.

       Kiêng nhà ở có ao hồ nằm phía đông vì ánh sáng mặt trời chiếu lên mặt nước, phản xạ gây hoa mắt.

       Kiêng nhà ở có ao hồ ở phía tây vì ao hồ ở phía tây tức là “bạch hổ khai khẩu” sẽ gặp chuyện chẳng lành.

       Kiêng xây nhà trên lớp phù sa của dòng sông cạn kiệt vì cửa sông bao giờ cũng là nơi “tán khí”, ở lâu không có lợi.

       Kiêng dỡ mái nhà và xây thêm tường cho cao hơn vì như thế dễ gặp rủi ro.

       Kiêng xây nhà bên vực, trên sườn núi vì dẽ nguy hiểm, tâm lý bất an.

       Kiêng xây nhà mà mở cửa nhìn thấy núi vì khí bị cản trở đại hung.

       Kiêng xây nhà nhìn vào cổng nghĩa trang, không lành.

       Kiêng khung cửa nhà cong vênh, luôn có tai họa, bệnh tật.

       Kiêng xây nhà ở tận cùng ngõ hẻm vì mọi tia xạ như tên bắn xuyên vào nhà, đại kỵ. Người ở trong căn nhà đó dễ bị điều tiếng thị phi, gặp nhiều bất lợi, thậm chí phá tài.

       Kiêng nhà ở có cây leo bò trên tường rào, sẽ có chuyện không lành.

       Kiêng trước nhà có cây cầu chĩa thẳng vào theo hướng tây bắc, gia đình sẽ lụn bại, sức khỏe giảm sút, hao tài, tốn của.

       Kiêng trước cửa rác rưởi chất đống vì sẽ hẩm hiu.

       Kiêng nhà ở gần nhà tang lễ vì đất ở đây âm khí rất nặng, không thể tốt lành.

       Kiêng nhà ở có cửa lớn đối diện với đường thẳng tắp, kiểu nhà này gọi là nhà ở đầu đường chữ T, không tốt, đại hung.

       Kiêng nhà ở ngoài đê, sức khỏe và vận thế không tốt.

       Kiêng nhà hình tàu thuyền, khó ở được lâu.

       Kiêng làm phòng ngủ nếu căn phòng có góc nhà bên cạnh chiếu thẳng vào.

       Kiêng xây nhà trên đất cũ là nhà xưởng vì đại hung.

       Kiêng trước nhà có cây to chắn lối hoặc cây khô vì dễ lụn bại.

       Kiêng tường bao quanh nhà quá cao, nhất là có dây thép gai vì ở lâu sẽ cùng khốn.

       Kiêng trước nhà có đường đi cong như hình cây cung, mặt chính ngôi nhà như có cây cung chĩa vào đe dọa, dễ có sự rủi ro, không có lợi cho mọi người, đặc biệt là phụ nữ.

       Kiêng mở thêm cửa bên cạnh để ra vào vì nhà bị thoát khí, không tốt.

       Kiêng nhà hai đầu cao, giữa thấp, khó an cư, không lành.

       Kiêng sau nhà có tầng đá nằm kê sát, vận nhà khó phát triển, không lợi cho công danh phú quý.

       Kiêng khi tầng dưới làm nhà ở, tầng trên mở cửa hàng, không lành.

       Kiêng nhà ở bên cạnh cầu vượt hoặc đường cao tốc nhất là nằm ngoài vành cung tròn của đường vòng cầu vượt hay đường cao tốc trên cao vì nó giống lưỡi liềm cứa ngang lưng, rất xấu.

       Kiêng nhà ở kiến trúc như bức màn thủy tinh trong suốt, phạm điều kiêng kỵ “tiết” (thoát ra), trong nhà hay cãi cọ, đàn bà dễ sinh ngoại tình.

       Kiêng có cây to che hướng đông, hướng nam nhà, âm khí nặng nề, hại cho sức khỏe.

       Kiêng mở cửa sổ ở tường rào vì người ta gọi kiểu nhà đó là “chim sẻ mở mồm”, ảnh hưởng xấu, dễ sinh điều thị phi, luôn buồn phiền, rầu rĩ, khó chịu.

       Kiêng mở cửa thấy sông hoặc mương to thoát nước vì khí ẩm, môi trường không sạch, có hại cho sức khỏe, tài khí dễ mất mát.

       Kiêng nhà ở gần các tượng đài có nhiều góc cạnh nhọn gây xung sát, không lành.

       Kiêng nhà ở có cây to xuyên qua nóc nhà hoặc mái nhà, không lành.

       Kiêng nhà hai mái tháo đi một mái, thể hiện sự suy sụp, không lành.

       Kiêng nhà xây ở giữa hai cầu vượt, một cái cao, một cái thấp như hình lưỡi kéo, khó tránh điều dữ, buôn bán không có lợi.

       Kiêng vào nhà thấy ngay bếp, nhà ăn hoặc buồng vệ sinh, vận nhà sẽ suy khi ở một thời gian.

       Kiêng cửa chính đối diện cửa buồng ngủ vì sẽ khiến người trong đó đắm say sắc dục.

       Kiêng cầu thang đi trong nhà hình thành chữ lồi vì vận nhà gặp nhiều bất lợi.

       Kiêng xây nhà nghiêng theo đường dốc, sợ gặp vận thoái.

       Kiêng luồng phản quang chiếu đến như lưỡi kiếm, không tốt.

       Kiêng nơi làm văn phòng không có cửa sổ, sợ ảnh hưởng xấu đến tài vận và sự phát triển.

       Kiêng nhà ở đầu cùng ngõ cụt, sẽ có nhiều chuyện không hay, lắm điều thị phi, kiện cáo, trở ngại cho sự nghiệp.

       Kiêng song sắt, lồng sắt quá dày, sẽ cản trở vận thế, khó hưng thịnh.

       Kiêng tường sụt, vách lở vì bại vận.

       Kiêng trước nhà có nhiều kiến trúc, cột trụ lớn sẽ áp chế khí nhà mình, khó phát triển.

       Kiêng trang trí bừa bãi trên nóc nhà, sẽ gặp điều không lành.

       Kiêng xây nhà giữa hai ngôi miếu, sẽ gặp vận xấu, sinh nhiều chuyện không lành.

       Kiêng nhà ở ngõ cụt lộ xung, bất lợi cho việc học hành, thi cử.

       Kiêng đặt bếp giữa hai buồng ngủ, bất lợi cho người trong hai buồng đó.

       Kiêng lò bếp đặt dưới cầu thang vì lửa bếp thể hiện vận khí của nhà, nếu bị đè lên cả nhà sẽ khó phát triển.

       Kiêng xây nhà trên bãi tha ma sau khi mồ mả đã được di dời đi. Để an toàn, phải làm lễ siêu độ theo nghi thức tôn giáo nếu không dễ gặp hung.

       Kiêng nhà nhỏ bé nằm giữa các nhà to, cao vì sợ buôn bán khó vươn lên.

       Kiêng để buồng tân hôn chiếu thẳng vào cửa đền, cửa miếu sẽ không tốt cho chuyện hôn nhân và người mang thai.

       Kiêng kỵ về nhà ở của người Đài Loan xưa

       Nhà ở tuyệt đối không được xây dựng trên sườn núi, đường phân hai phần núi hoặc lối ra vào khe núi nếu không sẽ ảnh hưởng tới phúc trạch và dễ bị bệnh tật.

       Kiêng xây nhà ở chỗ giao nhau của hình chữ đinh tức là phần đường vuông góc chọc thẳng vào nhà, trước mặt nhà kiêng không có con đường hẻm chạy xộc thẳng vào nhà vì vô cùng đại họa. Người ta cho rằng hỏa tai thường đến với nhà loại này, tai họa có khi giáng từ trên trời xuống hoặc bệnh tật, buôn bán thua lỗ, gây ra kiện tụng.

       Kiêng xây nhà ở ngõ cụt, dễ xảy ra tai họa, thua kiện thị phi, phá sản, bệnh tật.

       Kiêng cây to án ngữ trước cửa chính, âm khí khó thải ra, dễ nguy hiểm.

       Kiêng trước cửa chính có cây chết khô, gia chủ sẽ nghèo hèn, không tốt với người già.

       Kiêng chặt cây to ở phía tây bắc nhà vì theo quan niệm xưa, tây bắc là căn, cây to là mộc tinh canh giữ cho người trong nhà, nếu chặt đi sẽ gây đại họa.

       Nhà ở độc lập kiêng xây cao hơn xung quanh vì sẽ không giữ được tiền tài, tâm lý không yên ổn, âm dương không cân bằng, dương thịnh âm suy.

       Kiêng xây nhà của con cái (trừ con trưởng) trong phần đất của cha mẹ vì cả hai nhà sẽ sa sút.