Sunday, January 4, 2015

SỰ THẬT BỨC ẢNH ÔNG NGUYỄN BÁ THANH NẰM VIỆN

Gần đây trên facebook lưu truyền hình ảnh được cho là của Trưởng Ban nội chính Nguyễn Bá Thanh, nguyên Bí thư thành ủy Đà Nẵng đã bị đầu độc nhằm tung tin thất thiệt, gây hoang mang và tạo dư luận xấu trong xã hội, gây chia rẻ mất đoàn kết trong nhân dân và giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước.



Nhưng sự thật là thế nào? 

Trong hình là "ký giả Thanh Toàn" cựu phóng viên SBTN hải ngoại hay còn được biết với cái tên Ca Sĩ Trần Thiện Anh Chương hoạt động ở Mỹ vừa qua đời vào ngày 29 tháng 5 năm 2014 tại Houston, Texas.

"Ký giả Thanh Toàn" hay Ca Sĩ Trần Thiện Anh Chương

Một số điểm so sánh nhận dạng để phân biệt 2 nguồn ảnh:



- Thứ nhất, bức ảnh lan truyền trên mạng hình ảnh người bệnh trên giường là chụp bên má phải và đã bị đảo ảnh (nhận biết: chữ số điện tử trên các bảng điều khiển)

- Thứ hai: Sự khác biệt giữa ảnh Ông Nguyễn Bá Thanh và người bệnh nằm trên giường:

Người nằm trên giường bệnh:

- Dái tai người bệnh chảy xệ

- Cằm có sẹo lõm

- Trán hói cao nhẵn thín.

Còn Ông Ông Nguyễn Bá Thanh không có những đặc điểm đó.

Ông Thanh chân tóc ở trán thấp, cho dù có rụng hết tóc cũng không nhẵn thín như người hói được. 

Tóm lại bác Nguyễn Bá Thanh có 1 nốt ruồi đen rất to và rõ ở phía gò má, còn bức ảnh người đàn ông trên giường bệnh được cho là bác Thanh thì không có nốt ruồi này, dù zoom hết cỡ để soi. Tai trái bác Thanh có phần dáy tai không dày và nhiều thịt như dáy tai của người đàn ông trên giường bệnh. Phần chỏm đầu kéo ra phía sau gáy bác Thanh hơi bẹt, còn phần hộp sọ người đàn ông trên giường bệnh lại khá tròn.

Vậy nên kết luận những hình ảnh thời gian qua phát tán trên mạng và FB là của một người khác chứ không phải của bác Thanh, những thông tin xuyên tạc về Bác Thanh là của bọn phản động lợi dụng tình hình bệnh tật của ông để chuộc lợi cho chúng, là một người trẻ hãy tỏ ra thông minh khi tiếp nhận thông tin tránh mắc bẫy của lũ kền kền.

Bác Thanh luôn mong muốn một Việt Nam tốt đẹp văn minh chứ không phải là một lũ lừa bị một đám IQ thấp hơn dắt mũi kéo đi đâu là đi. Nếu yêu quý Bác Thanh hãy cầu chúc cho bác vượt qua được căn bệnh ung thư hiểm nghèo dù đến cả Steve Jobs CEO nổi tiếng của Appe cũng đã từng gục ngã vì ung thư quái ác.

Một lần nữa chúng tôi khuyên các bạn hãy tỉnh táo khi tiếp nhận thông tin đặc biệt là tin của lũ phản động luôn tìm cách phá hoại chống phá Đảng và nhà nước.

Khểnh

Saturday, January 3, 2015

BÍ ẨN CỦA BÙA YÊU

Bí ẩn ma lực không thể cưỡng của Bùa yêu

Khi đã bị thả bùa, người bị bỏ bùa kia sẽ cảm thấy nôn nao, mấy ngày không gặp sẽ lên cơn điên dại. Nếu một trong hai người không may chết đi, người kia sẽ phải cắt duyên. Bí kíp luyện bùa yêu của người Thái

Đường vào xã Nà Mèo, huyện Mai Châu, Hòa Bình vòng vèo qua từng con dốc uốn lượn trong sương sớm. Bản làng vẫn như đang khoác áo sương mù. Những ngôi nhà sàn khép mình bên lưng núi mờ ảo dần hiện ra như những câu chuyện nửa thực nửa hư ở miền đất này.
Theo sự chỉ dẫn của những người dân, chúng tôi tìm đến nhà ông Vì Văn Kiểu, 68 tuổi ở thôn Nà Mèo – người còn nắm được rất nhiều về bí quyết “mằn yêu” (bùa yêu – PV) của người Thái.

Trái với bùa yêu của người mường là cần phải lấy được một vật thân thuộc của đối tượng, như áo, chiếc lược, thỏi son, đôi dép… Bùa yêu của người Thái có loại để yểm vào những đồ vật thân thuộc đó chứ không cần lấy nó. Tuy nhiên, người Thái có một loại bùa có sức mạnh hơn bùa của người Mường. Đó là bùa “mằn yêu” bằng mọi thứ.


Một mâm cỗ để hóa giải bùa yêu

Cái “mằn yêu” này không cần phải vật thân thuộc của đối tượng mà chỉ cần một nắm muối, cốc nước, chén chè, chén rượu, một cái kẹo, thậm chí một cành cây, viên đá, sỏi cũng có thể làm đối tượng si mê không dứt ra được.

Khi đã “dính” bùa, đối tượng sẽ tự tìm đến người thả bùa. Chỉ cần một ngày mà không nhìn thấy, người bị “dính” bùa sẽ đứng ngồi không yên, bồn chồn và tìm đủ mọi cách để đến với người thả bùa. Người đó sẽ không thể làm chủ được lý trí, mọi sự tác động bên ngoài đều không thể chia lìa họ. Họ sẽ nên vợ nên chồng bởi sự kết mối, se duyên của bùa yêu.
Ông Kiểu cho hay: “Người bị yểm bùa yêu không thể nào bỏ nhau được nếu không được chính thầy “mằn” phá bùa. Ngay cả khi hai người đã là vợ chồng thì hai người cũng không hề rời xa nhau được hai ngày. Nếu vượt giới hạn, cả hai người có thể bị nổi cơn, biến thành điên dại vì nhớ nhau.

Chính vì vậy, người chồng hoặc người vợ có chuyện phải đi xa vài ngày thì người thả bùa phải đến xin “thầy” bùa hóa giải. Lễ vật hóa giải gồm một con gà hoặc vịt và thịt lợn để “thầy” tạm hoãn ma lực của bùa yêu.

Còn nếu muốn phá hủy bùa yêu hoàn toàn thì cần cúng “thầy” một con lợn, cộng thêm con gà hoặc con vịt. Khi đã phá hẳn bùa thì họ có thể ly hôn và đi thêm bước nữa”.


Theo sự lý giải của một “kỳ nhân 6 ngón” Vì Xuân Thu, người nắm giữ phương pháp “mằn” chữa bệnh nổi tiếng ở đây thì việc “mằn yêu” cũng giống như cách mà anh “mằn” chữa bệnh. Chỉ cần một chén rượu hoặc một chén nước đưa lên ngang miệng hà hơi, truyền một xung lực năng lượng huyền bí vào chén nước mà thổi vào người bệnh thì họ sẽ rơi vào trạng thái mất lý trí và không cảm thấy đau.

“Kỳ nhân 6 ngón” Vì Xuân Thu lý giải, có thể họ dùng đến nguồn năng lực siêu nhiên để luyện bùa yêu

Ám ảnh ma lực của “mằn yêu”
Đã có rất nhiều những câu chuyện bi hài lẫn ai oán liên quan đến “mằn yêu” của người Thái ở khu vực Mai Châu. Đó là chuyện tình của anh Hà Văn T. và chị Tòng Thị V. tại thành phố Hòa Bình đang yêu nhau tha thiết, nhưng rất bất ngờ, cô gái đó bỗng bỏ người yêu để đi lấy một người mà cô không yêu.

Đó là anh K. học cùng thời phổ thông vẫn thầm thương trộm nhớ cô gái đó nhưng  không được đáp lại tình cảm. Hay tin, anh chàng này đã tìm đến nhờ một “thầy” cao tay về “mằn yêu” ở xã Nà Mèo. Những người dân sống cạnh đó bỗng nhiên thấy V. thường xuyên tìm đến nhà K., khi thấy gia đình có việc gì thì cô gái liền đến giúp, cô V. tự vào bếp nấu cơm, rửa bát và phụ giúp mọi công việc khác của gia đình.

Vài tuần sau, K. đòi bố mẹ đem sính lễ đến hỏi cưới V. về làm vợ. Anh T. biết chuyện anh K. đã thả bùa yêu đối với V. anh ra sức can ngăn nhưng không được. Mấy ngày sau, cô gái biết chuyện người yêu cũ buồn phiền đã uống thuốc độc tự tử, cô gái mới về vặn hỏi K., người chồng tưởng rằng hai người đã thành vợ chồng thì cũng không cần giấu nữa nên đã nói hết mọi chuyện với vợ. Hôm sau, người chồng phát hiện vợ mình đã chết trong tay vẫn cầm một lọ thuốc sâu.

Người dân nơi đây vẫn cho rằng, hai người nhờ bùa yêu nên vợ, thành chồng sẽ không thể nào sống hạnh phúc đến suốt đời. Nếu một trong hai người chết đi, người còn sống mà không tìm được chính người đã yểm bùa thì người này cũng sẽ chết chỉ trong vòng một tuần.

Đó là trường hợp của ông Hà Văn Cao và bà Hà Thị Puồi ở thôn Nà Mèo, xã Nà Mèo. Thời còn trẻ, ông Cao rất thích bà Puồi, khi bà Puồi đi yêu người ở xã khác nhưng ông Cao vẫn theo đuổi. Được tin bà Puồi sắp làm đám cưới với người yêu. Ông Cao liền tìm nhờ ông thầy “mằn” cao tay nhất vùng để lấy được người mình thương. Theo những người dân nơi đây cho biết, họ rất bất ngờ khi biết bà Puồi bỏ người yêu và lấy ông Cao.

Cuộc sống của họ cứ êm đềm trôi, rồi sinh con đẻ cái, sống bình lặng bên xó núi hiu hắt. Bà vợ chết được một tuần thì thấy người chồng cũng chết. Những người dân nơi đây cho rằng, do người chồng thả bùa yêu nên họ mới đến được với nhau. Khi bà vợ chết, người chồng không còn cách nào để phá bùa vì ông thầy “mằn” cũng đã chết nên chết theo.

Trải qua hàng ngàn đời, người dân xã Nà Mèo đã đúc kết được những bài học quý giá, không những các cặp nên vợ thành chồng nhờ bùa yêu sống không hạnh phúc mà chính thầy “mằn” cũng có kết cục không tốt. Họ cho rằng đó là quy luật nhân quả: “Đời cha ăn mặn thì đời con khát nước”, đời cha làm nhiều tội lỗi thì đến đời con sẽ phải gánh chịu sự trừng phạt. Việc làm bùa yêu còn ít ảnh hưởng, chứ việc làm bùa ác thì tích tụ nghiệp chướng cho con cháu càng lớn.

Con cái họ sinh ra sẽ chịu báo ứng. Có trường hợp, ông thầy “mằn” đã se quá nhiều mối duyên dở dang, hai người con trai đi lấy vợ đều không ai có khả năng sinh con. Những câu chuyện đó như là bài học để những người dân răn đe nhau không làm công việc se duyên tội lỗi đó nữa.
Trao đổi với chúng tôi, ông Vì Văn Dang, trưởng thôn Nà Mèo cho hay: Được biết, trước đây ở huyện Mai Châu có gần chục thầy bùa. Tuy nhiên, bây giờ cũng không thấy người dân ở đây tìm đến nhờ các “thầy” bùa để “mằn yêu” nữa. Trai gái trong làng đã tự do yêu đương, không còn những hiện tượng “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó”, không còn việc tảo hôn, éo duyên nữa. Họ được tự do tìm hiểu nhau, nếu thấy hợp nhau thì nguyện nên vợ nên chồng. Bùa yêu chỉ còn được người dân lưu truyền như những huyền tích của người dân tộc Thái.

Không cần bùa yêu vẫn sống hạnh phúc
Ông Vì Xuân Thu, một người nắm giữ phương pháp “mằn” chữa bệnh nổi tiếng ở vùng Nà Mèo cho hay: Bây giờ cuộc sống văn minh, nhận thức của người dân đã được nâng cao. Trai gái trong làng đã không còn cần đến bùa yêu nữa. Họ có thời gian yêu và tìm hiểu rất kỹ trước khi tính đến chuyện hôn nhân. Phải có tình yêu, sự cảm thông, chia sẻ, biết yêu thương lẫn nhau thì khi thành vợ thành chồng mới hạnh phúc.

Sau khi đăng tải bài viết về việc sử dụng bùa yêu của một vị thầy lang Mường (Phú Thọ), PV Vietnamnet đã có cuộc nói chuyện với Ông Nguyễn Phúc Giác Hải, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu và ứng dụng tiềm năng con người xung quanh vấn đề này.

Theo công hiệu, nó được quy ra loại tốt, loại xấu
Theo ông Hải, bùa ngải, bùa yêu hay còn gọi là “Nèm yêu ” từ lâu đã tồn tại trong dân gian Việt Nam. Chính vì thế mới có câu: “ Ba cô đội gạo lên chùa; Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư; Sư về sư ốm tương tư ; Ốm lăn, ốm lóc cho sư trọc đầu”. Chính vì thế mà từ xa xưa con người đã biết có một năng lượng siêu nhiên tự điều khiển ý thức, hành động của con người theo mong muốn. Thậm chí khi bị bỏ bùa yêu, người đó có thể bị lú lẫn và không điều khiển được ý thức.

Ông Nguyễn Phúc Giác Hải, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu và ứng dụng tiềm năng con người 
Đó là về hiện tượng dân gian, còn thực tế nghiên cứu thì ông Hải cho hay, trước đây bản thân ông đã từng nghiên cứu về một vị thầy lang chuyên chữa bệnh bằng cách cho người ta sử dụng miếng giấy nhỏ, trên miếng giấy đó ông ta đã tích một loại năng lượng riêng để đặt vào chỗ đau của người bị bệnh. Sau khi sử dụng, người bệnh tự nhiên khỏi và trở lại cuộc sống bình thường.

Xét về khoa học, miếng giấy ông tích năng lượng chỉ là vật mang thông tin. Khi người ta đốt miếng giấy đó và cho vào cốc nước thì lúc này cốc nước đó chính là năng lượng đã được tích và người ta uống cốc nước đó sẽ khỏi bệnh. Theo lý giải của những nhà khoa học hiện đại, nước bây giờ không phải là nước đơn tuần nữa mà nó là một chùm phân H20 n lần và chùm phân này có thể bị thay đổi hình thù theo thông tin đưa vào.

Như vậy, không chỉ qua giấy, nước mà người ta có thể truyền năng lượng vào bất cứ đồ vật, con vật, quả chuối, quả cam để làm thuật bùa ngải: giữ người yêu, trói chồng…Tuy nhiên, năng lượng đó có thể là năng lượng tốt hoặc năng lượng xấu.

Năng lượng tốt tức loại năng lượng đó khi sử dụng có thể làm cho người ta khỏi bệnh, giúp cho vợ giữ được chồng, làm cho gia đình họ hạnh phúc hơn xưa …còn năng lượng xấu là sẽ làm cho họ lú lẫn về lý trí, ý thức và bị dẫn dụ theo ý muốn của người đưa năng lượng đó vào.
Việc có thể vừa làm, vừa giải bùa yêu của ông thầy Mường ở Phú Thọ như trên là có thực. Tuy nhiên đó là lý giải theo dân gian còn để nghiên cứu, tìm hiểu chi tiết về việc làm bùa yêu hay giải bùa yêu của ông thầy Mường như đã nói trên thì tôi vẫn chưa gặp ngoài đời thực mà chỉ gặp những ông thầy lang có khả năng chữa hóc xương, gãy tay, gãy chân…

Bùa yêu mang lại tình yêu hời hợt
Mang ba lát gừng mà mà vị thầy lang ở xóm M (Tân Sơn, Phú Thọ) yểm, PV đã gặp một vị Đông y chuyên nghiên cứu về cây cỏ và những được liệu chuyên dùng để bỏ bùa. Qua xem xét, vị thầy thuốc đông y này khẳng định, đây thực chất là loại gừng bình thường dùng để ăn hàng ngày và nó chưa hề được pha lẫn với một loại hợp chất nào khác. Còn việc trong những lát gừng này chứa những câu thần chú, bùa ngải để trói chồng là có thực hay không thì chỉ có người có khả năng siêu nhiên đó mới biết được.

Một loại cây cỏ dùng để làm "bùa yêu" của vị thầy lang

Theo một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã chứng minh thì việc sử dụng bùa yêu là có thực, tuy nhiên nó không quá thần kỳ và bí ẩn như người ta vẫn truyền tai nhau. Thậm chí bùa yêu chỉ là cách điều khiển theo ý muốn của các vị thầy lang và chưa hẳn mang lại tình yêu thực sự khi vợ chồng đã có mầm mống ly hôn.

Cũng theo họ, các loại bùa ngải, bùa yêu chủ yếu được làm bằng thảo dược, cây cỏ có tác dụng kích thích giác quan, điều khiển ý thức khiến người bị bỏ bùa nảy sinh ham muốn với đối tượng đã “bỏ bùa” mình. Chính vì thế, họ sẽ hành động theo sự kích thích của loại thảo dược đã được yểm chất đó, thứ đó vào.

Như vậy, theo lý giải của các nhà nghiên cứu, Đông y, nhà khoa học thì bức màn về thuật bùa yêu đã phần nào được sáng tỏ. Tuy nhiên, bản chất sự việc đều có hai mặt của nó và con người chúng ta nên cẩn thận, sáng suốt để không bị lôi kéo vào những thứ ma thuật mê tín đó. Những câu chuyện đồn thổi về việc bỏ vợ, bỏ chồng để đến với người thứ 2 và được người vợ, người chồng đó thuyết phục quay trở về vẫn diễn ra trong đời sống thường ngày mà không nhất thiết phải nhờ tới bất cứ loại phép thuật nào.

Theo: Người đưa tin

Các pháp không phải của ta

Hỏi: Kính thưa Thầy! Theo như trong kinh dạy, chúng con biết: thân, thọ, tâm, pháp cũng không phải của chúng ta, sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp và nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý cũng không phải của chúng ta. Như vậy, thân này còn có ý nghĩa gì?

Đáp: Trong kinh đức Phật dạy: Thân này không phải của ta, thọ, tưởng, hành, thức cũng không phải của ta, lục căn, lục trần cũng không phải của ta, cho nên nghiệp ác hay thiện cũng không phải của ta. Chỉ vì không hiểu rõ (vô minh) ta mới lầm chấp là của ta, do sự lầm chấp này, chúng ta mới bảo vệ nó tạo ra nhiều điều ác, khiến cho chúng ta phải thọ chịu khổ từ kiếp này đến kiếp khác không hề dứt, trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi.

Nhờ giáo pháp của đức Phật dạy, chúng ta mới hiểu rõ các pháp trong thế gian là do các duyên hợp mà thành, chứ không có một vật gì thường hằng vĩnh cửu, đức Phật nói: “Nếu còn có một vật gì thường hằng như một chút xíu đất trong móng tay Ta thì con người không thoát khổ và đạo Ta cũng không xuất hiện ở đời”.

Hiện giờ, chúng ta đã ngộ được lý duyên khởi ấy, nhưng tu cho thân, thọ, tâm, pháp, lục căn, lục trần, lục thức thật sự không phải là ta, của ta, thì phải tu hết sức và còn phải siêng năng, chuyên cần, tinh cần, tinh tấn và với một nhiệt tâm tha thiết tìm cầu sự giải thoát. Nếu không nỗ lực tu hành thì tất cả những thứ này chúng ta đều cho là thật có, là ta và của ta.

Khi muốn phá thân kiết sử này, ta phải sống một đời sống giới hạnh đầy đủ, phải độc cư trọn vẹn suốt 3 năm đến 5 năm, chứ không phải nói suông được với các pháp này. Hằng ngày phải tu cho đúng pháp, đúng cách, đúng căn cơ đặc tướng, nếu tu không đúng pháp, đúng cách, đúng đặc tướng căn cơ thì sẽ hoài công vô ích. Tất cả các pháp ấy vẫn bị dính mắc, đều là của ta, là ta. Nói thì rất dễ, nhưng bỏ cái ta và của ta rất là khó.

Tu cho đúng pháp của đức Phật dạy thì nghiệp quả của thân không còn ý nghĩa gì cả, vì chuyển nghiệp quả khổ thành nghiệp quả phước báo, nên thảnh thơi, an lạc và vô sự, còn tu sai thì muôn đời nghìn kiếp nghiệp thân cứ tiếp tục mãi tái sanh luân hồi và phải chịu thọ khổ vô lượng kiếp.

Nói các pháp không phải là ta, của ta thì dễ, nhưng tu tập để đến chỗ không còn là ta, của ta thì không phải dễ như trên đã nói. Chỗ này cái ta, của ta cần nên lưu ý: đây chỉ là một triết thuyết lý luận chơi, chứ không thể thực hiện được cái không ta của ta được. Người ta gán nhận cho đạo Phật là đạo vô ngã, nhưng thực ra chúng ta nghiên cứu kỹ lại đạo Phật thì đạo Phật là đạo “hữu ngã thiện pháp”“vô ngã ác pháp”. Do vậy đức Phật đã xác định có hai lộ trình: “Có hai đường đi, một là đường ác, hai là đường thiện, người làm ác từ đường ác đến chỗ khổ, người làm lành dạo chơi đường lành đến chỗ vui”. (Tăng Nhất A Hàm tập 3 trang 498). Đã đi trên con đường thiện thì làm sao gọi là vô ngã được? Thì làm sao gọi là không ta, không của ta được?

Do những điều trên đây, mà chúng ta suy ngẫm và tư duy biết rất rõ các pháp của đức Phật thực hiện được, còn tất cả các pháp của kinh sách phát triển và Thiền Đông Độ chỉ là những lý thuyết suông như: “Phật Tánh, vô ngã, vô sở đắc, ngã pháp đều không”, đó là những điều không thể thực hiện được.

Trích Đường về xứ Phật tập XIII
Trưởng lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây

Tinh thần khai sáng

Mưu cầu cái ăn, cái mặc, chỗ ở ổn định dựa vào hoạt động của khối óc và cơ thể là lẽ thường tình ở con người.

(...) Tất nhiên, đối với con người việc tự lập kiếm kế sinh nhai rất quan trọng. Người xưa thường dạy: "Hãy kiếm sống bằng chính mồ hôi của mình". Thế nhưng theo tôi, cho dù chúng ta có làm đúng theo lời dạy này thì cũng chưa phải là đã làm đúng trách nhiệm và nghĩa vụ với tư cách là con người. Lời dạy này mới dừng lại ở chỗ răn người ta làm người thì đừng để thua kém muông thú và cũng chỉ dạy có thế.

Các loài chim chóc, muông thú, tôm cá, côn trùng... tự chúng không kiếm mồi được sao? Ví như loài kiến chẳng hạn. Loài kiến không những biết kiếm mồi mỗi ngày mà còn biết làm hang, làm tổ, tích trữ mồi trong suốt mùa đông giá rét.

Vậy mà trên đời này, có không ít người, hành vi của họ cũng chỉ ngang với đàn kiến thôi mà cũng tự mãn.

(...) Nhưng, tôi lại hoàn toàn không nghĩ rằng loài người với tư cách là chúa tể của muôn loài - mới có được kết quả nhỏ nhoi như vậy mà đã coi là hoàn tất mục đích đích thực của cuộc đời.

Giải quyết được cái ăn, cái mặc, chỗ ở mà đã mãn nguyện, đã cảm thấy hài lòng rồi thì hóa ra cuộc đời con người trên thế gian này chỉ đơn thuần là được sinh ra rồi chết đi thôi hay sao? Tình trạng lúc anh ta chết đi có khác gì lúc được sinh ra. Tức là quanh quân vẫn chỉ là chuyện sao cho có nhà cửa, có cuộc sống ổn định và có của ăn của để nữa. Vẻn vẹn chỉ có vậy. và nếu đến thế hệ con cháu, cũng lặp đi lặp lại y hệt cuộc sống của anh ta thì dù có trải qua hàng trăm đời, làng xóm thị trấn nơi anh ta đã sống xưa thế nào nay chắc cũng vậy, không chút thay đổi.
Trích Khuyến học -Fukuzawa Yukichi

Giới trẻ Việt Nam hiện nay rất ư là “sành điệu”. Thế giới tranh nhau mua ipod, nội trong một tuần, ipod đã xuất hiện tại Việt Nam. Cả nước Mỹ lên cơn sốt vì PlayStation 3, Việt Nam cũng đâu tầm thường, cần thì cứ rao trên mạng là có người cung cấp ngay. Một nha sĩ Việt kiều Mỹ nói với tôi: “Ngày lễ Valentine ở Việt Nam cũng hoành tráng, không thua kém gì Mỹ”.

Trào lưu mua sắm hiện đại, sành điệu làm cho tôi cũng cảm thấy choáng ngợp, cứ ngỡ như mình đang sống trong một thế giới phẳng - một thế giới toàn cầu hóa không còn khoảng cách về biên giới mà Thomas Friedman mô tả. Thế giới có gì mình có đó, ở Việt Nam có thiếu gì đâu.

Thế nhưng một anh bạn của tôi là một PhD chuyên ngành kinh tế học ở Nhật kể lại một câu chuyện làm tôi suy nghĩ. Số là trong một cuộc trò chuyện có một đồng nghiệp của anh nói một câu rất bâng quơ: “Thanh niên bên đây được Fukuzawa khai sáng rồi, chừng nào thanh niên bên đó được khai sáng?”.

Anh bảo: “Về đến nhà ngồi vắt tay lên trán ngẫm nghĩ thì mới thấy thấm thía câu nói đó”. Tôi cũng phải suy nghĩ rất nhiều về câu đó bởi vì tôi biết Phúc Ông là ai và ông đã khai sáng, giúp cho dân tộc Nhật Bản phát triển như thế nào.

Fukuzawa Yukichi, tên theo âm tiếng Việt gọi là Phúc Trạch Dạ Cát nên còn gọi là Phúc Ông, là một nhà tư tưởng, giáo dục đã khai sáng cho tầng lớp thanh niên Nhật Bản lúc bấy giờ. Những tư tưởng về chính trị, xã hội, kinh tế mà Fukuzawa truyền bá là một căn nguyên phát triển của Nhật Bản cận hiện đại.

Trước một thực trạng giáo dục chỉ coi trọng hình thức bên ngoài, chỉ chú trọng đến việc dạy đọc/viết, nghĩa là chỉ quan tâm đến việc truyền bá kiến thức mà không quan tâm đến sự khuyến khích phát triển tư duy sáng tạo và độc lập, coi trọng chân lý và nguyên tắc, Fukuzawa đã dám “vượt lên chính mình” kêu gọi người dân hãy theo đuổi nền giáo dục thực học của phương Tây, dựa trên nền tảng khoa học và kỹ thuật.

Quan niệm của ông là học để thực hiện tốt hơn công việc của mình đang làm, để từ đó góp phần xây dựng đất nước chứ không phải học để có bằng cấp cao, để ra làm quan.

Fukuzawa là người đưa ra nguyên tắc nổi tiếng: "Độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân", tức là một xã hội muốn phát triển phải dựa trên những cá nhân có khả năng tư duy độc lập và sáng tạo, chứ không phải dựa vào chính phủ. Ông khuyên thanh niên tự tin vào sức mạnh cá nhân, sự suy nghĩ độc lập sáng tạo, mà không phụ thuộc vào sức mạnh của người khác, sự chỉ đạo từ bên trên. Nghĩa là hãy tự tin vào chính mình, đừng trông chờ, ỷ lại vào sự trợ giúp của chính phủ, đừng than van mà hãy bắt tay “làm một cái gì cho quê nhà tôi”.

Có thể nói không ngoa rằng nếu có Phúc Ông thì không có Nhật Bản ngày hôm nay. Ông đã giúp cho thanh niên Nhật Bản “thoát khỏi trạng thái vị thành niên” nghĩa là dám tin vào tư duy độc lập của mình mà không bị phụ thuộc hay ràng buộc bởi tư duy của người khác.

Trở lại với câu hỏi của diễn đàn: “Còn bạn, bạn đã chuẩn bị những gì? Khả năng ngoại ngữ, tin học, kiến thức chuyên môn, văn hóa, khả năng ứng xử, sự năng động... và gì nữa?”. Tôi cho rằng cái mà tôi và nhiều bạn trẻ khác đang thiếu chính là một tinh thần “khai sáng”, đó là tinh thần dám suy nghĩ một cách độc lập, tự tin vào khả năng của bản thân để có thể thực hiện được ước mơ và hoài bão của mình.

Rất nhiều, sẽ không thể biết hết và nói hết, nhưng cũng có thể chỉ tóm gọn lại trong một chữ: Cơ hội. Trong cuốn Thế giới phẳng đang gây xôn xao dư luận, Friedman đã viết một câu ngắn gọn và chí lý “Cơ hội đến với người luôn sẵn sàng”.

Và các bạn, hẳn các bạn cũng mong muốn mình có thể nắm bắt được nhiều cơ hội mới. Với những bạn trẻ đã đủ tự tin: tôi đang sẵn sàng - có lẽ đang rất háo hức đón chờ những thử thách phía trước. Song có người chắc rằng vẫn còn e ngại: tôi không đủ sức cạnh tranh với những bạn trẻ nước ngoài, những du học sinh VN khi mà vài năm nữa, tôi phải đứng trước nhà tuyển dụng song song với họ....

Vậy, theo bạn, chúng ta cần phải được trang bị những gì để có thể biết đâu là cơ hội và có cách nắm bắt lấy nó! Hãy cùng TTO chia sẻ sự chuẩn bị của mình và những cơ hội bạn đang tìm kiếm, bởi tất cả chúng ta đang và sẽ cùng với nhau nắm tay tiến bước ra thế giới...

Duy Linh
Nguồn: Tuổi trẻ

Ý chí tự do (free will)

Con người có quyền được lựa chọn và quyết định mọi suy nghĩ, mọi hành động, mọi kế hoạch cho mình hay không? Hay là do “Thượng Đế” sắp đặt trước. Nói một cách triết học là: “Con người có ý chí tự do hay không?” (Free will or not free will? Predetermined or not predetermined?)

Một việc xảy ra do ý trời (sự sắp đặt của vũ trụ) hay do ý người (sự tự do dùng ý chí của ta để sắp đặt sự việc). Ngôn ngữ Việt thường dùng chữ “thiên định” để ám chỉ một sự việc do trời, hay do quy luật vũ trụ, sắp đặt trước; và dùng chữ “nhân định” để ám chỉ một sự việc do chính ý chí của ta sắp đặt và quyết định. Cụ Nguyễn Du có lúc thì nhấn mạnh yếu tố thiên định, đến yếu tố nghiệp, như:

”Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng nên trách trời gần trời xa
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao”

Nhưng lại có lúc cụ lại nói như một lời an ủi:

“Có trời mà cũng có ta”

Hoặc: “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều!”

Vậy thì thế nào? Vũ trụ lập trình mọi sự kiện, mọi biến cố (thiên định), hay con người ta tự quyết định lấy số mệnh của mình (nhân định), hay là… năm mươi -năm mươi?

Trong suốt chiều dài lịch sử đây là một câu hỏi đau đầu, một vấn đề rất gai góc liên hệ đến mọi tôn giáo, mọi triết học, mọi khía cạnh nhân văn, xã hội, luật pháp, đạo đức v.v… Có vô số những lời giải đáp, có vô số những câu trả lời, đưa đến vô số những quan điểm và nhận định hoàn toàn trái ngược nhau.

Trong đời sống hàng ngày có vẻ như ta rất tự do. Ta muốn đi, đứng, nằm, ngồi, hay làm bất cứ việc gì đó, tất cả là do quyết định của ta, tức là do ý chí (will, volonte’) của ta. Nhưng có đôi khi ta lại thấy dường như không phải vậy. Ngay cả đối với bản thân ta nhiều khi, rất nhiều khi, ta chẳng có quyết định gì được cả.

Ta không muốn già, không muốn bệnh, nhưng cơ thể vẫn cứ già, cứ bệnh. Hoặc ta rất muốn có đủ trí thông minh để đối chọi với đời, hoặc ta rất muốn hoàn tất một dự định, hoặc ta rất muốn thành đạt; nhưng muốn là một chuyện, còn có thực hiện được không lại là một chuyện khác. Cầu thủ tiền đạo đến trước khung thành đối phương, rất muốn sút vào goal, tất cả cổ động viên hàng trăm ngàn người đều muốn như thế, nhưng muốn là một chuyên, banh có đi vào lưới hay không đó là chuyện khác. Rõ ràng: Man proposes but God disposes! Con người dự tính nhưng Thượng đế quyết định!

Từ hiểu biết về vấn đề vô thức, nghiệp, sự quy định sinh học của genes, khiến ta khó chứng minh được rằng con người ta có quyền tự do lựa chọn trong ý nghĩ và hành động của mình. Rồi trong thế kỷ này, thuyết Big Bang càng ngày càng được kiểm chứng. Nghĩa là sự thành lập vũ trụ tùy thuộc vào những hằng số lúc ban đầu, đưa đến một diễn tíến nhất định (determined process) để hình thành thế giới chúng ta. Chính đây là luận điểm mạnh mẽ nhất, chứng minh chúng ta đã bị lập trình từ trước. Lập trình từ cơ thể sinh học đến cơ chế tư duy, hành vi ứng xử v.v…

Về mặt Pháp luật, tất cả các bộ luật đều bắt con người phải chịu trách nhiệm về hành động của mình (trừ khi bác sĩ xác nhận bị bệnh tâm thần). Về mặt tôn giáo, nhiều tôn giáo lớn cho rằng con người ta có ý chí tự do (free will), có thể làm những gì mình muốn, có thể quyết định những lựa chọn của mình. Vì có ý chí tự do nên con người phải chịu trách nhiệm về tất cả những hành động của mình. Tín đồ Catholic phải chịu trách nhiệm về quyết định việc mình theo Chúa hay theo Satan, lên thiên đàng hay xuống địa ngục. Ngay cả Phật giáo cũng có những luân điểm như vậy. Anh phải làm điều thiện và tránh điều ác. Những lời dạy như vậy phổ biến trên hầu hết các tôn giáo, các bộ luật, các nhà xã hội, các nhà đạo đức…

Về mặt thế gian, luật pháp phải đòi hỏi con người có ý chí tự do, đòi hỏi con người phải chịu trách nhiệm với hành động của mình. Đó là chuyện đương nhiên, nếu không thì còn gì luật pháp, còn gì an ninh trật tự. Về mặt đạo đức, nếu anh không chịu trách nhiệm về tội lỗi của anh thì xã hội sẽ ra sao?

Về mặt tôn giáo cũng vậy? Những tôn giáo lớn, thường cũng đều cho rằng con người phải chịu trách nhiệm với hành động của chính mình, điều này gián tiếp cho rằng con người có ý chí tự do. Từ quan điểm này, tín đồ thường nguyện làm điều thiện tránh điều ác, nguyện làm điều này, nguyện tránh điều kia. Nhưng “nguyện” là phải dùng tới ý chí, nếu ý chí của tôi được tự do thì tôi mới thực hiện lời nguyện được. Ngay ở đây, một câu hỏi phải được nêu lên: Liệu con người ta thực sự có ý chí tự do để quyết định mọi hành động của mình hay không?

Ta thấy rằng tính tất định của vũ trụ, luật nhân quả, nghiệp, vô thức, genes đã chi phối, quy định toàn bộ hiện hữu của con người. Nghĩa là những nhận thức này đưa tới những hệ luận mâu thuẫn với phần lớn các quan điểm về tự do ý chí đang phổ biến trong xã hội con người. Tự do ý chí của con người dường như là nhận thức phổ thông và phổ biến. Tự do ý chí dường như là một chấp nhận hiển nhiên, không cần chứng minh. Vì thế, bài viết chỉ đưa ra đây một vài ví dụ cho quan điểm “con người không có tự do của ý chí”:

– Kinh cựu ước: Mỗi một sợi tóc rụng cũng là ý của chúa (tất cả mọi hiện tượng mọi sự kiện xảy ra là do ý chúa). Không hiểu sao Cựu ước nhận thức như vậy, mà đến Tân ước và nhà thờ hiên tại thì con người phải chịu trách nhiệm về hành động của mình. Đáng lẽ ra “ổng” làm “ổng” chịu chứ.

– Cả Do thái giáo lẫn Hồi giáo cũng rất lúng túng khi phải giải thích về ý chí tự do. Họ cố gắng giải thích sao cho có sự quân bình giữa quyền quyết định tối cao của thượng đế với cái ý chí tự do của mỗi con người, giống như giải pháp của cụ Nguyễn Du.

– Triết học tây phương cũng đau đầu về vấn đề này. Những khuôn mặt lẫy lừng như Kant, Nietzche, Schopenhauer, Hume, Spinoza và nhiều người nữa cũng đều cho là vũ trụ và con người đều bị quy định trước (predetermined) như vậy có gì còn được gọi là ý chí tự do? Triết gia Đức Schopenhauer viết:

“Nếu một hòn đá đang bị ném bay trong không trung mà nó biết suy nghĩ thì nó cũng nghĩ là nó đang bay bằng ý chí tự do theo quỹ đạo mà nó muốn.”

Hòn đá vô tri vô giác nếu có ý thức thì điều đầu tiên nó mơ ước là có được tự do trong hành động của mình, huống hồ là con người một sinh vật có ý thức! và luôn luôn tự hào về mình. Chính vì nỗi khao khát này mà rất nhiều người muốn chứng minh con người có ý chí tự do, có quyền quyết định và chịu trách nhiệm với hành động của mình.

– Sáu phái Triết học Ấn độ hoặc công khai hoặc không công khai cũng đều phủ nhận cái cho là Ý chí tự do.

– Mục Kiền Liên, đệ tử Phật, người rất nhiều thần thông và pháp thuật cuối đời bị một đám đông người của giáo phái khỏa thân bao vây và đánh hội đồng tan xương nát thịt cho đến chết. Bạn bè nói chuyện với thần thức của Mục Kiền Liên:

– Sao ông lại để chịu chết như vậy, những thần thông đệ nhất của ông đâu? Sao không tàng hình, hoặc đằng vân bay đi, mà đứng đó đưa lưng chịu đòn?

– Các ông chưa hiểu nghiệp là gì! Lúc nghiệp đổ ào ào tới, thần thông cũng chẳng xoay chuyển nổi!

Về Ý chí thì mình muốn làm mọi cách để sống nhưng nghiệp thì bắt mình chết, ai cũng biết điều đó. Câu chuyện Mục Kiền Liên chỉ dù là huyền thoại, nhưng sự xuất hiện của câu chuyện đó trong lịch sử Phật giáo chứng minh rằng đã có ý nghĩ về sự bất lực của con người trước nghiệp, trước định mệnh.

Tính tất định của vũ trụ, luật nhân quả (law of cause and effect), nghiệp, genes, là những cái quy định hình dạng cơ thể, trí thông minh, cho cả đến toàn thể vân mệnh một cá nhân. Sự chứng minh và tranh luận về quan điểm này, sẽ vượt quá khuôn khổ bài viết. Nếu ai đã tìm hiểu căn kẽ, và đã tin ở sự quy định đó, thì quả thực khó thấy được cái phần tự do trong mọi tư duy và hành động của mình. Tôi cũng khao khát tự do như bạn, tôi cũng muốn chứng minh rằng, dù bị nghiệp quản thúc, bị genes quy định nhưng tôi vẫn có tự do ý chí để thực hiện những nguyện ước của tôi. Nhưng thực sự là không thể được, thực sự rất khó tìm được chứng minh cho cái tự do của tôi.

Có người nói tình trạng bị quy định (predetermined) và ý chí tự do (free will) là hai vấn đề khác nhau. Ta phải phân ra làm hai lãnh vực, lãnh vực vật chất thì bị quy định, còn lãnh vực tinh thần thì tự do. Tiếc rằng lý luận vừa nêu rất khó thuyết phục, bởi vì tách thế giới ra làm hai phạm trù độc lập không phù hợp với tính thống nhất hiển nhiên của vạn vật.

Có người nói Cơ học lượng tử (quantum physics) chứng minh rằng dù thế giới vật lý có bị quy định (predetermined) bởi những hằng số nào đi nữa thì vẫn có những sai lệch xác suất (probability) do tính bất định của hạt. Nghĩa là trong thế giới hạt (micro world) không có sự qui định tuyệt đối. Nghĩa là thế giới vĩ mô mà ta đang sống (macro world) cũng không hẳn bị qui định tuyệt đối. Tuy nhiên những chống chỏi như thế đều rất yếu về mặt lý luận. Ví dụ như nói cơ học lượng tử bế tắc trước sự bất định của hạt thì đó là tại vì cơ học lượng tử bế tắc chứ biết đâu một nền cơ học khác thì không bế tắc và lại tuyên bố không có cái gì là bất định. Theo tôi nhìn vấn đề từ quan điểm vật lý là rõ ràng nhất:

Nếu vũ trụ được hình thành theo một quy trình nhất định với những hằng số (constants) được tự nhiên lựa chọn trước, thì mọi hiện hữu, mọi sự kiện của thế giới, xảy ra sau đó, tất yếu cũng đều diễn ra theo một diễn trình không thể thay đổi. Từ vận động vĩ mô của vũ trụ đến từng hành động hay suy nghĩ của một cá thể cũng đã đều được lập trình. Thuyết này gọi là tất định luận (determinism). Theo tất định luận, trên thế giới này không có gì gọi là tự do ý chí hay ý chí tự do cả.

Nếu bạn kể rằng, ngày xưa, có lần bạn thất bại trong cuộc sống, nhưng nhờ ý chí mạnh mẽ mà bạn đã đứng dậy, vươn lên, vượt qua được nghịch cảnh để trở thành con người thành đạt hôm nay. Nếu bạn tin rằng diễn trình này chứng minh bạn đã có tự do ý chí, thì xin thưa: Toàn bộ diễn trình đó, sự thất bại ban đầu, nỗ lực phấn đấu vượt khó sau đó và sự thành đạt hôm nay, tất cả đã được lập trình. Tất cả mọi hiện hữu, mọi diễn biến đều đã được định trước, kể cả sự xuất hiện ý chí mạnh mẽ của bạn lúc đó.

Thế sao thực tế là lúc nào tôi cũng cảm thấy dường như mình có tự dọ quyết định điều này điều nọ. Tình trạng “cảm thấy” này được giải thích như sau: ví dụ như có một con Robot được lập trình sao cho, trước một tình thế, nó phản ứng được với mười cách ứng xử khác nhau. Ta cho rằng con Robot này rất thông minh, nhưng ta biết nó không có ý chí tự do, vì tất cả mười cách phản ứng cùa nó đã được lập trình sẵn, nó không biết đến cách phản ứng thứ mười một và hơn nữa.

Nhưng nếu một nhà lập trình siêu việt trong tương lai viết được một phần mềm, sao cho con Robot có thể có đến vô số những lựa chọn, thì chắc bạn không dám gọi nó là Robot nữa. Lúc ấy Robot sẽ thông minh không khác người sản xuất ra chúng. Và lúc ấy con Robot cũng không chịu nhận mình là Robot, chúng sẽ nói chúng có ý chí tự do, chúng sẽ tự quyết định sự tồn tại của chúng, chúng sẽ làm một cuộc nổi dậy chống lại con người. Phim khoa học giả tưởng (science fiction) mà bạn xem trên TV chắc chắn có một giá trị nhất định.

Trường hợp con người cũng vậy, do tương tác duyên khởi trùng điệp, con người có một số quá lớn những lựa chọn trước một tình huống. Do đó ta luôn luôn có cảm giác như được tự do trong những lựa chọn hoặc quyết định của mình. Mà không biết rằng ngay từ lúc khai thiên lập địa, ở những phút đầu tiên của Big bang, toàn bộ hiện hữu và tiến trình vận động của vũ trụ đã bị quy định. Lúc nào protein được thành lập, lúc nào xuất hiện sinh vật đơn bào, lúc nào xuất hiện sinh vật đa bào, lúc nào có con người đầu tiên, sinh lý cơ thể con người vận hành thế nào, tư duy con người vận hành theo những phản xạ ra sao… Tất cả đều được định trước.

Khi nào hình thành xã hội, cấu trúc xã hội ra sao, khi nào chiến tranh, khi nào hòa bình tất cả đều được lập trình trước. Nhưng con người, sinh vật sinh sau đẻ muộn trong suốt chiều thời gian thăm thẳm đó, luôn luôn tin mình độc lập với tự nhiên và quyết định hết mọi diễn tiến của lịch sử loài người. Trong cuộc đời riêng tư của mình, thì con người còn lại tin chắc hơn nữa về sự tự do của nó. Sở dĩ thế, vì thiên nhiên đã lập trình cho con người rất nhiều lựa chọn trong cách ứng xử của nó.

Tại sao đa số con người tin tưởng ở ý chí tự do, tin tưởng mình có khả năng lựa chọn, mà lại có thiểu số rất ít người lại đặt dấu hỏi nghi ngờ về cái tự do này. Đây là thiểu số bi quan (pessimistic)? Đúng, tất cả các triết gia đã tìm thấy sự bất lực của con người, tìm thấy sự không tự do trong ý chí con người, đều nhận rằng mình là kẻ bi quan. Nhưng sự thật rõ ràng, không phải cứ lạc quan là chân lý. Nếu nhanh nhạy, ta sẽ thấy ngay, chính các triết gia đó mới là những người khao khát tự do nhất. Họ là thiểu số muốn tìm đến cái tự do tuyệt đối, cái tự do tuyệt đối mà đám đông không dám nghĩ tới và thực sự cũng không có khả năng nghĩ tới. Rất tiếc là các triết gia Tây phương luôn đặt vấn đề mà lại thường bất lực khi tìm giải pháp cụ thể.

Đạo học đông phương cũng đối mặt với vấn đề tự do ý chí, câu trả lời của đạo sư Vivekananda có thể là một trong những ví dụ cho minh triết của đông phương:

“Tự do ý chí” tự thân nó là một cụm từ mang những nghịch lý. Không thể có tự do ý chí. Vì ý chí là cái ta nhận thức được, mà cái ta nhận thức được, nghĩa là nó phải hiện hữu trong thế giới này. Bất cứ cái gì hiện hữu trong thế giới thì phải chịu chi phối của thời gian, không gian, luật nhân quả. Muốn tìm thấy tự do, phải vượt qua thế giới này.

“Therefore we see at once that there cannot be such thing as Free-Will; the very words are a contradiction, because will is what we know, and everything that we know is within our universe, and everything within our universe is moulded by conditions of time, space and causality…To acquire freedom we have to get beyond the limitation of this universe; it can not be found here.” (Free will in theology, Wikipedia)

Thế giới chúng ta đang sống bị quy định bởi hai chiều thời gian và không gian. Tất cả hiện hữu, hay hiện tượng, đều xuất hiện và diễn tiến theo một quá trình nhất định, chi phối bởi luật nhân quả. Người ta gọi đây là “thế giới nhân quả”. Trong thế giới nhân quả không thể có tự do ý chí.

Vũ trụ quan Phật giáo quan niệm có hiện hữu của vô lượng thế giới. Kinh Hoa Nghiêm gọi là “thế giới Hoa Nghiêm”. Trong đó có những thế giới không nằm trong vũ trụ của Vật lý học hiện đại, những thế giới không xuất hiện theo diễn trình Big Bang, những thế giới mà lý trí con người không thể nhận thức được. Vũ trụ quan Phật giáo còn phân biệt trong Tam giới và ngoài Tam giới. Lý trí hữu hạn chắc chắn không hình dung được khái niệm “Tam giới” của Phật giáo. Lý trí hữu hạn chẳng thể biết giới hạn Tam giới là thế nào. Nhưng chúng ta có thể biết chắc một điều, thế giới nhân quả nằm trong tam giới. Cứu cánh tối hậu của đạo Phật là vượt qua Tam giới, để đạt đến Niết Bàn. Niết bàn nằm ngoài tam giới. Do đó chỉ khi nào mức tiến hóa tâm linh vượt qua tam giới, vượt qua nhân quả, ta mới tìm thấy tự do tuyệt đối.

Cuối cùng là một cách nhìn rõ ràng nhất, cho thấy bản chất không tự do của ý chí. Đó là nhận ra mối quan hệ giữa ý chí và bản ngã. Đối với Phật giáo, “ngã” không tồn tại một cách độc lập, ngã không có tự tính. Cho rằng có một “bản ngã” tức có một cái ta, đó là một ảo tưởng. Trong chân lý tuyệt đối, “ngã” không có thực. Tất cả chân lý về “ngã” làm cho con người trần thế chơi vơi. Tương tự như thế với “ý chí”, cái xuất phát từ “ngã”. Ý chí xuất phát từ bản ngã (cái tôi), cái không có tự tánh, nên ý chí do đó cũng là giả hợp. Ý chí cũng chỉ là ảo tưởng hệt như chủ nhân của nó tức là bản ngã. Điều này càng làm cho con người trần thế hoảng loạn hơn nữa. Cho nên cần phải hiểu rõ toàn bộ vấn đề bản ngã hay ý chí trong nhận thức minh triết nhất.

Bài viết này cố gắng đưa ra một số lý luận về “ảo tưởng của bản ngã” hay “ý chí không tự do” trong ánh sáng của nhiều nguồn minh triết, và nhất là của đạo Phật, chẳng qua là muốn tự định hướng trên con đường tu tập. Căn bản của Đạo Phật là sự thực hành. Câu trả lời cho vấn đề “ảo tưởng của bản ngã” hay “ý chí không tự do” không chủ yếu nằm trong sự tranh luận. Trong quá trình tu tập, thực hành và thành tựu, hành giả (practitioner) sẽ tự tìm ra lời giải đáp cho mình.

Friday, January 2, 2015

KHÔNG AI ĐƯỢC QUYỀN ĐỨNG TRÊN PHÁP LUẬT!

Người công giáo Việt nam không thích chính quyền Việt nam? Đó là quan niệm sai lầm! Chả riêng gì Việt nam mà người công giáo trên khắp thế giới đều như vậy!


Không phải họ cho rằng chính quyền xấu, cũng không phải họ mất gốc. Sự thật là với họ, chúa là đấng tối cao, không ai cao hơn được. Cho nên các đức cha khi là đại diện của chúa trời sẽ phải cao hơn tất cả những người khác, kể cả tổng thống, chủ tịch nước, thủ tướng vân vân...

Phải vô cùng khó khăn họ mới có thể chấp nhận được việc một ông đức cha nào đó bị ra tòa vì tội phản bội tổ quốc hay chống phá cách mạng, giết người, hiếp dâm trẻ em, vi phạm pháp luật. Họ cho rằng, các đức cha của họ còn phải cao hơn cả một ông quan tòa mới nhậm chức được dù là vài chục năm hay vài năm.

Với họ: Chẳng có lý do gì mà một đức cha chỉ chấp nhận nghe lệnh từ chúa trời mà lại phải lên trình diện một ông chủ tịch phường, cái chức cỏn con, chẳng là gì so với thiên mệnh của đức cha ấy.

Thiên chúa đứng trên tất cả, với họ là vậy, kể cả pháp luật!

Họ không chấp nhận rằng, tôn giáo cũng phải chịu sự quản lý của pháp luật chứ không thể nào đứng trên pháp luật. Cho nên khi nước Anh đòi tự phong vương, khôn chấp nhận tuân thủ theo Vatican, ngay lập tức Tây ban nha thừa hành lệnh của giáo hoàng sang Anh trừng phạt và đã bị một bài học thích đáng. Rồi sau này tới Đức và nhiều quốc gia khác đang từng bước buộc Vatican phải chấp nhận luật chơi!

Duy nhất một số quốc gia, bao gồm cả Việt nam, nơi đó các con chiên vẫn chưa chấp nhận sự thật đó. Với họ, thiên chúa là cao nhất, không gì sánh nổi.

Đã tới lúc người công giáo Việt nam phải chấp nhận luật chơi! Thiên chúa của các vị cũng không thể đứng trên quyền lợi dân tộc!

Linh Nguyễn

Điều gì khiến chúng ta quay cuồng vì đồng tiền?

Điều gì khiến cho người ta quay cuồng với cuộc sống đến vậy? Kẻ nghèo lăn lộn với mưu sinh vì cái dạ dày đã đành, người khá giả cũng lặn ngụm trong vòng quay danh lợi. Vì lẽ gì mà nhiều người phải tối mắt tối mũi để kiếm tiền?

Cho dù tham lam là đặc tính cố hữu của con người, nhưng có lẽ không phải vì thế. Phải chăng nhiều người trong chúng ta “cày” ngày “cày” đêm là vì con? Nếu có chút gì đó vì bản thân thì đó chính là sức khỏe.

Hóa ra việc làm, giáo dục và y tế nó tác động tới con người ta ghê thật! Vươn lên để làm giàu cần khuyến khích, nhưng điên cuồng bằng mọi giá thì chứng tỏ xã hội đó đang có gì đó không ổn. Và cái “không ổn” ấy, tựu trung lại, liên quan đến việc làm, giáo dục và y tế?

“Hy sinh đời bố củng cố đời con” không chỉ là câu bông lơn cửa miệng mà nó đang được thực hiện ráo riết và triệt để. Là một nước Á Đông, chúng ta không có thói quen để con cái “tự bơi” khi tới tuổi 18 như các nước phương Tây. Và nền giáo dục của ta, đến thời điểm này, cũng chưa nhấn mạnh yếu tố tự lập. Con cái trưởng thành có gia đình riêng nhiều khi vẫn cậy nhờ bố mẹ hoặc được bố mẹ tự nguyện bao cấp.

Đời sống có chút cải thiện, cái ăn không còn thúc bách thì nỗi lo cho sự học nổi lên. Tiền trường là nỗi kinh hoàng của nhiều gia đình đầu năm học. Nhà khá giả thì tìm cách cho con vào trường điểm hoặc đi du học. Mọi người đều đồng tình: Đầu tư cho con là đầu tư bền vững. Và mọi người cũng đều thừa nhận: Muốn tìm được việc làm có thu nhập cao thì càng phải đầu tư vào việc học.

Thực ra lo cho con học cũng chỉ vì cái đích cuối cùng là việc làm. Việc làm thời suy thoái kinh tế đã hiếm thì chớ, những chỗ “mát mẻ”, dễ kiếm tiền thì không phải ai cũng thò chân vào được. Và thế là chỉ còn hai lựa chọn, hoặc là kiếm tiền thật nhiều để chi phí cho những chỗ làm “thơm tho”, hoặc là phải tạo điều kiện để con học giỏi hơn những ứng viên giỏi khác để lọt mắt xanh nhà tuyển dụng.

Với nền giáo dục trong nước èo uột như hiện nay thì đang có một cuộc chạy đua cho con đi du học. Đây là sự lựa chọn sáng suốt nhưng đồng thời cũng là cỗ máy xay tiền khổng lồ.

Như vậy, dù học trong nước thì chi phí cũng không nhỏ. Hiến pháp 2013, Điều 61 vẫn quy định tiểu học không thu học phí nhưng thực tế lại có quá nhiều các khoản phí khác phát sinh.

Xã hội càng phát triển, con người càng quan tâm đến sức khỏe. Khi chính sách bảo hiểm y tế chưa thỏa mãn được người bệnh, năng lực của bệnh viện còn hạn chế, còn nhiều tệ nạn…, thì không một ai yên tâm. Họ cần phải có thật nhiều tiền để phòng thân. “Vào viện không có tiền là chết” đừng xem là câu nói đùa.

Khi không phải quá lo cho việc học, việc làm; lo cho sức khỏe bản thân và gia đình lúc ốm đau, thì lúc đó người ta cũng bớt dần đi cái suy nghĩ tích cóp tài sản, tiền bạc; bớt đi cái tham vọng ngoi lên chiếc ghế quyền lực và củng cố các mối quan hệ với mục đích không trong sáng. Còn như hiện nay, nhiều người luôn quay cuồng để kiếm “một cục tiền” lo cho con cái, để phòng thân lúc về già hay khi sa cơ lỡ vận. Trong vòng xoáy man dại đó đôi lúc khiến người ta bất chấp tất cả.

Trong xã hội, các lĩnh vực đều gắn kết chặt chẽ và tác động qua lại. Song không phải ngẫu nhiên mà nhiều quốc gia đưa giáo dục, y tế, việc làm vào nhóm phúc lợi xã hội. Họ càng ngày càng làm tốt các lĩnh vực phúc lợi này vì nó giúp ổn định xã hội, giải phóng nguồn lực, kích thích và khơi nguồn cho những hoạt động lành mạnh, tích cực trong xã hội. Còn người dân thì yên tâm công hiến khi đã có trong tay bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp thất nghiệp, bảo hiểm y tế, còn giáo dục phổ thông được miễn phí hoàn toàn.

Theo VOV