Thursday, January 8, 2015

Sống trầm lặng

Đời sống của người tu sĩ đạo Phật phải trầm lặng, cô đơn độc cư và ít nói chuyện v.v.. Nhất là phải giữ gìn tâm mình trong trạng thái yên lặng, bất động, không được nhôn nhao, lăng xăng nghĩ ngợi, lo lắng, suy tư và sợ hãi, giận hờn, buồn rầu, lo nghĩ v.v..

Bài kệ nhất dạ hiền, đức Phật đã dạy chúng ta tu tập như thế nào để sống một cuộc đời tu sĩ trầm lặng?

Ông A Nan nhớ lại lời huấn thị bài kệ “Nhất Dạ Hiền”, ông đã thực hiện trong một đêm không ngủ, sáng hôm sau ông dùng thần thông đi xuyên qua cửa đá vào hang Thất Liệp để kết tập kinh điển cùng với năm trăm vị A La Hán khác. Đây bài kệ:

NHẤT DẠ HIỀN

“Quá khứ không truy tìm.
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã qua rồi (đoạn tận).
Tương lai lại chưa đến.

Chỉ có pháp hiện tại.
Chánh niệm tỉnh giác đây.
Tuệ tri quán vô lậu.
Không động không rung chuyển.

Biết vậy nên tu tập.
Hôm nay nhiệt tâm làm.
Ai biết ngày mai chết.
Không ai điều đình được.

Với bọn tử thần kia.
Nhiệt tâm quyết tu tập.
Đêm ngày không mỏi mệt.
Xứng gọi Nhất Dạ Hiền.
Bậc an tịnh, trầm lặng”.

Là một tu sĩ Phật giáo, luôn luôn phải giữ tâm mình không cho suy nghĩ những chuyện vu vơ, không cho lo lắng hối tiếc buồn phiền những chuyện đã qua, không cho giận, hờn, căm thù, bất toại nguyện những chuyện hiện tại. Vì có suy tư những chuyện đã qua cũng chẳng ích lợi gì mà ngược lại còn làm buồn phiền, đau khổ. Do chỗ buồn phiền, đau khổ, tâm ta không được thanh thản, an vui nên đức Phật mới dạy muốn giải thoát tâm hồn được thanh thản, an lạc thì đừng nhớ, lo, nghĩ về những chuyện đã xảy rồi; nhớ, lo, nghĩ những chuyện đã qua rồi khiến tâm bất an, chẳng có ích lợi gì.

Đạo Phật dạy phải đoạn dứt những sự suy tư về chuyện quá khứ, vì chuyện quá khứ đã qua rồi, có lo nghĩ có buồn phiền thì cũng chẳng giải quyết gì được mà còn làm tâm ta đau khổ, u tối thêm, không còn sáng suốt đối với chuyện hiện tại.

Vậy, chúng ta nên lấy 2 câu kệ này làm pháp hướng nhắc tâm mình để xa lìa quá khứ.

“Quá khứ không truy tìm
 Quá khứ đã qua rồi”.

Còn tìm kiếm có ích lợi gì cho ta nữa, ta hãy xả đi, buông đi.

Quá khứ đã không tìm trở lại thì vị lai đừng nuôi hy vọng ước mơ. Vì tương lai đến, đến không bao giờ đúng với sự mơ ước, thế là thất vọng, thất vọng là khổ đau.

Bởi vì, luật nhân quả đang chi phối từng phút, từng giây trong thời gian và không gian của sự vật. Nên sự mơ ước của con người còn tùy thuộc ở nhân quả của người đó, nên sự ước mơ không bao giờ đúng và đạt được.

Người thấu rõ luật nhân quả chẳng bao giờ mơ ước một điều gì về tương lai, chỉ lo giải quyết mọi việc đang xảy ra trong hiện tại, không làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sanh, thì vị lai không ước mơ nhưng vẫn thành sự tốt đẹp đến với mình.

Đạo Phật lấy mốc thời gian hiện tại để tu tập, để không nhớ nghĩ về quá khứ và cũng không lo lắng về tương lai.

Vậy thời gian hiện tại ta tu tập cái gì? Như trong bài kệ đã dạy:

“Chánh Niệm Tỉnh Giác đây.
Tuệ tri quán Vô Lậu”.

Đây là hai loại Thiền định mà đức Phật đã dạy người mới tu, cần phải siêng năng tu tập để tâm không nhớ nghĩ về quá khứ và cũng không mơ ước về tương lai.

Chánh Niệm Tỉnh Giác đây tức là Chánh Niệm Tỉnh Giác Định. Cách tu tập định này, trên thân quán thân tu về hành tướng ngoại (Tứ Niệm Xứ) nghĩa là thân đi biết thân đi, thân đứng biết thân đứng, thân ngồi biết thân ngồi, thân mặc y mang bát biết thân mặc y mang bát, thân làm việc gì đều biết thân làm việc nấy. Tâm luôn chú ý theo dõi hành động của thân đang hoạt động, không để thất niệm đang làm, mất niệm đang làm là thất niệm, thất niệm là mất tỉnh giác, mất tỉnh giác tức là mê, mê còn gọi là quên. Cho nên, tu tập mà để thất niệm là tu sai, tu như vậy không có kết quả, tu suốt đời cũng chẳng có ích lợi gì.

Thất niệm có hai trạng thái khác xen vào:

1- Quên mất niệm hành động của thân, xen vào những vọng tưởng, nghĩ ngợi chuyện thế gian (bị vọng niệm).

2- Quên mất niệm hành động của thân (vô ký) hành động theo thói quen, không nhớ, hay quên.

3- Quên mất niệm là quên pháp như lý tác ý, quên pháp như lý tác ý là ý thức chìm thì tưởng thức hoạt động, tưởng thức hoạt động thì sẽ rơi vào Thiền tưởng.

Định Chánh Niệm Tỉnh Giác, người mới tu phải dùng pháp hướng dẫn tâm tỉnh thức, nếu không dùng pháp hướng thì tâm dễ bị vọng tưởng và vô ký. Cái khó là ở chỗ tu tập nếu không có người có kinh nghiệm hướng dẫn thì khó mà tu tập tỉnh thức an trú thời gian dài được.

Tuệ tri quán vô lậu tức là Định Vô Lậu. Định Vô Lậu này được thực hiện trên thân quán thân tu về nhân tướng (Tứ Niệm Xứ) để khắc phục tham ưu tức là ly dục ly ác pháp. Cách thức tu tập định này có ba cách:

1- Ngồi kiết già thẳng lưng đặt niệm thân trước mặt quán xét tư duy, thấu suốt lý duyên khởi, lý duyên sanh, lý vô thường, khổ, không và vô ngã, lý bất tịnh, xấu xí, bẩn thỉu, hôi thúi, uế trược v.v..

Khi quán xét thân xong, ngồi đặt niệm thọ, tâm và các pháp trước mặt cũng quán xét như vậy.

2- Ngồi kiết già lưng thẳng đặt niệm thân trước mặt, quán xét tư duy về Nhân Quả, về Bốn Đại Duyên Hợp và Thập Nhị Nhân Duyên. Khi quán xét tư duy thân xong rồi đặt niệm thọ, tâm và các pháp cũng quán xét như vậy.

3- Khi đang tu Định Chánh Niệm Tỉnh Giác bỗng có một niệm khác xen vào ta nên lấy niệm đó đặt trước mặt quán xét tư duy, tu Định Vô Lậu liền, để xả bỏ niệm ấy cho rốt ráo, không còn tới lui, chớ không được buông ngang vì buông ngang niệm ấy sẽ sanh trở lại khiến cho tâm thất niệm.

Hai loại định: Chánh Niệm Tỉnh Giác và Định Vô Lậu sẽ hỗ trợ cho nhau, khi chúng ta biết câu hữu, chúng sẽ giúp chúng ta diệt ngã xả tâm ly dục ly ác pháp, nhờ thế tâm bất động trước các đối tượng, do vậy trong bài kệ có câu:

“Không động không rung chuyển”.

Nếu người siêng năng tu tập như vậy, tâm được thanh tịnh hoàn toàn, giống như cục đất không còn phiền não, khổ đau, giận hờn, thương ghét nữa.

Hiểu được và biết rõ sự lợi ích của hai loại định này chúng ta cần phải siêng năng tu tập nhiều hơn, không bỏ phí thì giờ. Kết quả mang đến tâm chúng ta được giải thoát, cuộc sống được an vui, thanh thản và vô sự, không có một vật gì, hoàn cảnh nào làm động tâm được, thì trên đời này còn có gì hạnh phúc và sung sướng cho bằng.

Này, quý Thầy và các Phật tử, khi đã nhận được hai pháp Thiền định quý báu vô giá này, thì trên đời không còn có vật gì quý báu hơn và sánh bằng được.

Biết nó quý báu vô giá như vậy, nên đức Phật khuyên chúng ta:

“Biết vậy nên tu tập.
Hôm nay nhiệt tâm làm.
Đêm ngày không mỏi mệt”.

Đó là một lời khuyên chơn thật của đức Phật, biết hai loại định này sẽ giải thoát tâm con người ra khỏi sông mê biển khổ. Vì thế, người tu sĩ phải thấy giá trị của nó to lớn và lợi ích biết dường bao.

Khi thấu suốt giá trị của hai pháp môn Thiền định này, thì đừng để mất thời giờ vàng ngọc của mình trôi qua quá uổng, dù là một phút cũng không tìm lại được. Phải nỗ lực siêng năng tu tập với một tâm thành nhiệt huyết, ngày đêm tinh tấn không biết mỏi mệt là gì.

Sự nhiệt tâm, tinh cần, tinh tấn, không biếng trễ, không bỏ qua một giây phút nào, thì kết quả sẽ nhanh chóng, giải thoát chỉ một đêm tu tập sẽ trở thành bậc Thánh Hiền.

“Xứng gọi nhất dạ hiền”.

Chỉ có một đêm tu tập không thất niệm, tâm hồn chúng ta sẽ trở thành trầm lặng, sống ít nói, tâm hồn không lăng xăng, không nhộn nhịp, sống độc cư an vui một mình.

Qua bài kệ này, quý Thầy và các Phật tử đã nhận ra được những kinh nghiệm trong hai pháp môn Thiền định quý giá để thực hành cụ thể và kết quả sẽ mãn nguyện.

Người cư sĩ tại gia cũng như người tu sĩ xuất gia đều dễ dàng tu tập hai pháp môn Thiền định này mà không sợ lạc Thiền, tẩu hỏa nhập ma hoặc rối loạn thần kinh, hoặc ông lên bà xuống như nhập đồng, nhập xác.

Kết quả của hai pháp môn Thiền định này nhanh chóng, ngay liền tức khắc, không phải chờ đợi.

Nếu ai tha thiết con đường tu tập của đạo Phật mà được hướng dẫn tu tập hai pháp môn này, như người đang chết đuối mà vớ được phao, như người bệnh sắp chết mà vớ được thần dược.

Người có hữu duyên gieo trồng chánh pháp của đạo Phật mới gặp được hai Thánh pháp này. Do thế, phải nỗ lực siêng năng tu hành ngày đêm không biết mỏi mệt để cứu mình ra khỏi biển khổ, để đền đáp ơn Phật, ơn sanh thành dưỡng dục của mẹ cha và ơn đàn na thí chủ, có như vậy mới xứng danh là người đệ tử của đức Phật, là những bậc Thánh Tăng, là những bậc Thánh cư sĩ, là những bậc chân tu sống trầm lặng tuyệt vời.

Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây

Thương yêu sự sống của muôn loài là thương yêu mình

Nếu xung quanh chúng ta toàn là sự chết thì chúng ta cũng không sống được. Ví dụ: ngàn cây nội cỏ chết khô và tất cả loài động vật cũng đều chết sạch thì phỏng chừng chúng ta có sống được hay không? Chắc là không. Phải là không hỡi các bạn? Mọi vật đều chết thì chúng ta sống với ai đây? Sống một mình trơ trọi làm sao sống được các bạn ạ! Thế mà mọi vật đang sống quanh ta thì chúng ta lại muốn chà đạp lên sự sống đó, để mà sống một mình.

Các bạn có thấy ai sống một mình chưa? Giả thử, nếu cỏ cây trên hành tinh này đều bị hủy diệt sạch, thì sự sống của các bạn có sống được hay không? Cỏ cây đều diệt sạch thì thú vật cũng không sống được huống là con người. Cho nên sự sống của ngàn cây nội cỏ rất quan trọng, nó chính là sự sống chung của muôn loài. Vì thế chúng ta hãy bảo vệ môi trường sống, bảo vệ môi trường sống tức là đạo đức hiếu sinh.

Sức sống của ngàn cây nội cỏ và vạn vật đều có một sự liên hệ với sự sống của chúng ta, rất rõ ràng và cụ thể. Thiếu sự sống của muôn loài thì thế gian này trở thành khô cằn; thì thế gian này trở thành là đất chết; thì môi trường sống này không còn gọi là môi trường sống được nữa.

Có thương yêu sự sống của muôn loài động vật và cỏ cây thì mới bảo vệ được sự sống của chính mình, mới có thật sự yêu thương mình, mới đem lại sự an lành, yên vui cho cuộc sống của mình. Mình mới thấy được đạo đức nhân bản - nhân quả là chính thiện pháp, là chân hạnh phúc của đời người.

Vì thương mình sao mình lại nỡ nhẫn tâm không thương loài vật khác, trong khi những loài vật khác cũng ham sống sợ chết như mình; vì thương mình sao mình lại nhẫn tâm chà đạp lên sự sống của người khác, vật khác bằng cách mắng mỏ chửi mắng họ, trong khi ai cũng muốn sống an vui, thanh thản không phiền não, không đau khổ. Vì thương mình sao mình lại nhẫn tâm gian xảo lừa đảo, cướp giựt tài sản của người khác, trong khi ai cũng muốn giữ gìn và bảo vệ tài sản của mình. Vì thương mình sao ta lại nhẫn tâm đốt phá rừng, giết hại sinh linh, trong khi mọi vật đều muốn sống bên loài người. Các bạn có thấy chăng? Những cây cỏ sống quanh bên người thì xinh tươi tốt đẹp hơn những cây cỏ sống xa người. Tình cỏ cây đối với con người mà còn vậy, thì con người sao lại nhẫn tâm cho đành. Phải không hỡi các bạn? Chúng ta hãy xem những loài vật sống quanh ta như là bạn, như là những người thân thương. Chúng ta có thấy chăng? Một con chó, một con mèo, một con gà, con vịt, cho đến trâu, bò, dê, ngựa, v.v... nói chung là tất cả những loài vật mà chúng ta nuôi, dù là cọp beo, rắn độc, thú dữ, khi đã được chúng ta nuôi dưỡng thì chúng trở thành những người bạn thân của chúng ta. Khi chúng ta đi xa về, lâu ngày vắng mặt, gặp lại chúng ta, chúng đều vui mừng hớn hở, quây quần bên ta, như không bao giờ muốn rời xa nhau.

Khi có những người thân trong gia đình mất, chúng cũng buồn rầu khổ đau, bỏ ăn, bỏ uống, chúng cũng biết thương yêu chúng ta như những người thân, như cha mẹ, như anh chị em trong nhà. Cớ sao chúng ta lại nhẫn tâm không thương chúng như những đứa con của chúng ta vậy. Nỡ tâm nào chúng ta bắt chúng đem ra làm thịt để ăn. Rồi còn bảo rằng: “Nhân dưỡng vật, vật dưỡng nhân”. Thật là lời nói che đậy, đầy lòng ác hiểm và sâu độc. Tâm lòng của những người này chai lì như cây đá. Họ đâu còn có tình cảm, tình người, tình vật. Họ đâu còn có cảm thông gì được lòng thương yêu của loài động vật đối với con người, với chúng ta. Có thương yêu sự sống của vạn vật thì mới bảo vệ được sự sống của chính mình, mới có thật sự thương mình. Tại sao vậy? Vì có thương yêu sự sống của muôn loài thì chúng ta mới có bảo vệ sự sống ấy. Có bảo vệ sự sống ấy thì chính là chúng ta bảo vệ môi trường sống chung, thì cuộc sống của chúng ta mới có sự an lành. Còn chúng ta hủy diệt sự sống của muôn loài chính là chúng ta hủy diệt sự sống của mình.

Ví dụ: Vì chặt cây, đốt rừng, phá hoại sự sống của loài thảo mộc, khiến cho đồi núi khô trọc, màu xanh tươi đã mất. Nhìn vào cảnh ấy như nóng cháy ruột gan, chúng ta có một cảm giác buồn thương và đau khổ. Màu xanh tươi của ngàn cây nội cỏ đã biến mất, khiến cho thời tiết khô khan cằn cỗi lại càng khô khan, cằn cỗi hơn. Vì thế, con người dễ sanh ra bệnh tật khó trị. Rừng cây bị phá hủy, bầu không khí thì ô nhiễm, con người thì luôn luôn thải ra những từ trường ác độc, thường sát hại sanh linh để ăn thịt. Do thế, cuộc sống con người thường hay bị thiên tai lũ lụt.

Thiên tai lũ lụt do con người tạo ra, chỉ vì phá hoại sự sống trên hành tinh này, chỉ vì làm ô nhiễm nó.

Khi rừng bị phá hủy thì loài thú vật cũng không còn chỗ sống, thế là phá rừng là phá sự sống của muôn loài. Lòng thương yêu sự sống của muôn loài vạn vật là đạo đức hiếu sinh, nó là những hành động đạo đức trong nền đạo đức nhân bản - nhân quả không làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sanh.

Nhìn chung, mọi người trong cuộc sống hiện giờ trên thế gian này, dù là người có tôn giáo hay không tôn giáo đều thiếu đạo đức hiếu sinh. Thiếu đạo đức hiếu sinh tức là thiếu sự bảo vệ và giữ gìn môi trường sống của quả địa cầu.

Có những tôn giáo dạy tín đồ ăn chay làm lành. Nhưng không phải vì đạo đức hiếu sinh mà ăn chay, mà vì giáo điều của tôn giáo đó. Vì ăn chay làm lành để được phước báo không tai nạn, bịnh tật và được sanh lên Thiên Đàng, Cực Lạc, để được chư Phật, chư Bồ tát gia hộ. Có những người ăn chay là để trị bệnh chứ không phải vì đạo đức hiếu sinh; cũng có những người ăn chay là để tu tập Thiền định, để có thần thông pháp thuật hoặc để trở về nhập vào với bản thể vũ trụ; cũng có người ăn chay là để đến khi chết, linh hồn được sanh lên cõi Phật, Niết Bàn, chứ không phải vì đạo đức hiếu sinh. Chính vì ăn chay làm lành như thế, nên thảo nào bịnh tật, thiên tai, hỏa hoạn, động đất, lũ lụt, bão tố, v.v...không năm nào là không xảy ra, không năm nào là không cứu trợ.

Trước cảnh tai họa người chết, của cải bị phá hủy này hằng năm, mà người ta không truy tìm nguyên nhân nào đã gây ra, để có biện pháp ngăn ngừa và khắc phục.

Này các bạn thân mến! Lòng thương yêu sự sống của chúng ta nếu thực hiện được đối với những loài động vật, từ loài động vật nhỏ tí ti như: loài côn trùng... đến những loài vật có thân mình to lớn như: rắn, voi, cá...; từ những loài gia súc nuôi trong nhà như: trâu, bò, heo, dê, gà, chó... đến những loài vật hoang dã như: nai, hươu, khỉ, vượn, chồn cheo, sóc, nhím... nếu chúng ta biết thương yêu chúng, thì chúng sẽ trở thành những người bạn thân thương của chúng ta, hay còn hơn thế nữa, chúng sẽ trở thành những đứa con thân yêu của chúng ta vậy. Do lòng thương yêu ấy mà mọi vật có một cuộc sống tươi mát, an lành, hạnh phúc, yên vui. Và vì vậy bịnh tật, thiên tai, hoả hoạn, lũ lụt, bão tố cũng không có. Thời tiết lúc nào cũng mưa thuận, gió hòa.

Các bạn có nhìn thấy chăng? Một vị tu sĩ có đạo đức hiếu sinh, đang sống với lòng thương yêu của mình đối với những loài thú vật hoang dã trong rừng sâu. Chúng luôn gần gũi bên vị tu sĩ như một người cha, một người mẹ, một người anh, một người chị, một người em thân thương, Mỗi khi người tu sĩ đi vắng, chúng cũng biết buồn rầu nhớ mong. Khi người tu sĩ trở về, chúng rủ nhau nhảy nhót, ra chào đón vui mừng hớn hở. Rõ ràng, tất cả loài động vật đều sống có tình cảm như nhau: biết thương yêu, biết buồn rầu, biết khổ đau khi xa vắng nhau, khi chia lìa nhau; biết vui mừng, hân hoan khi trùng phùng, sum họp.

Nhìn cảnh tượng này, thế sao chúng ta lại nỡ nhẫn tâm bắt chúng giết để ăn thịt cho đành. Thế sao chúng ta lại nhẫn tâm đánh đập chúng rên la, kêu thét mà chẳng chút lòng thương xót.

Gần nhà chúng tôi có một gia đình nhà kia nuôi một con chó, vì không cho ăn, đói quá nên chú chó vào ổ trứng gà tha đi một trứng. Chủ nhà bắt gặp liền dùng cây, gậy, gộc đánh đến đỗi con chó chết đi sống lại, đau quá con chó đã ỉa đái tứ tung. Nhưng chủ nhà nào có thương yêu, đánh đến đỗi con chó gẫy chân, bò lết cho đến khi chết. Chết rồi người chủ nhà còn đem làm thịt ăn.

Một cảnh tượng đau lòng đầy nước mắt, chỉ cần có một chút xíu lòng thương thì người ta cũng đủ rơi nước mắt, khóc cho thân phận làm loài vật, hay chính là khóc cho thân phận của mình. Phải không hỡi các bạn? Trong xã hội hằng ngày, chúng ta đã chứng kiến biết bao cảnh tượng đau lòng.

Chúng ta hãy đến lò sát sinh của Thành phố Hồ Chí Minh, họ đang giết trâu, bò, heo...Chứng kiến cái chết và cảnh máu đổ, thịt rơi, của loài súc sanh này thật là đau thương và thê thảm. Trước khi chết những con vật đều buồn thảm, cơ thể run rẩy. Một tiếng kêu thét, một tiếng la to, một tiếng rống lên là chiếc xác không hồn bất động, mặc tình cho ai mổ xẻ...

Trước cảnh tượng này, chúng ta mới thấy con người quá tàn nhẫn và độc ác, chẳng có chút lòng thương yêu và xót xa sự sống.

Chính con người đã tự đem sự đau khổ, bịnh tật, tai nạn và chết chóc cho mình mà không biết. Chính con người đã đem thiên tai, hỏa hoạn, lũ lụt, động đất, bão tố, chiến tranh...đến cho mình mà không hay. Ôi! Sao người ta vô tình đến thế? Lòng thương của họ ở đâu? Họ không nhìn thấy máu đổ, xương rơi sao? Dù là máu xương của loài vật, nhưng cũng là máu xương như máu xương của chúng ta. Họ có nghe tiếng kêu bi thương và thảm thiết của loài vật sắp bị giết chăng? Tiếng kêu ấy làm sao mà chúng ta nhẫn tâm giết chúng được. Phải không hỡi các bạn? Nhìn cảnh tượng này, chúng ta tự hỏi: Đạo đức hiếu sinh ở đâu hỡi các bạn? Nếu chúng ta không sống với đạo đức hiếu sinh, thì ai là người sống đạo đức hiếu sinh với chúng ta? Tại sao con người trên hành tinh đang sống chịu nhiều thứ khổ: thiên tai, thủy họa, chiến tranh, bịnh tật, tai nạn giao thông đang đổ trên đầu họ. Ai làm ra thảm cảnh này, hỡi các bạn?

Chứng kiến cảnh tượng người chủ nhà đánh đập con chó cho đến khi chết, chúng tôi không thể cầm nước mắt được. Chúng tôi khóc không phải vì khóc cho con chó, mà khóc vì cho người thiếu đạo đức hiếu sinh, đã gieo nhân ác, rồi đây làm sao thoát khỏi quả khổ đau này. Nhân ác thì quả phải khổ, người tàn nhẫn không thương loài chúng sanh, đánh đập con chó kêu la thảm thiết cho đến khi chết. Trước khi chết, con chó còn rên rỉ vài ba tiếng rồi tắt thở, thế mà người ta không động lòng bi ẩn, không động lòng thương xót chút nào. Rồi đây quả khổ sẽ đến, ai gánh chịu, người chủ nhà sẽ cũng bị người khác đánh đập ư? Và sẽ cũng bị đau khổ, đau khổ cho đến chết như con chó vậy. Ai tin lời chúng tôi nói này? Lương tâm của các bạn, các bạn ạ! Mắt bạn thấy, tai bạn nghe, chúng không cho phép bạn sống an vui được, mặc dù trước cái chết của con vật đó như vậy bạn rất thản nhiên, xem như không có sự kiện gì xảy ra, nhưng rồi ngày nào đó bạn sẽ trả quả ấy, không thể tránh khỏi.

Gần nhà chúng tôi có một người chuyên giết trâu, bò, heo, chó... đến khi sắp chết phải chịu khổ đau suốt cả năm trời. Lúc nào miệng cũng rên la, kêu thét như tiếng rống của bò trâu, như tiếng tru của loài chó, như tiếng la hét của loài heo thật là thảm họa và khổ đau. Do thiếu đạo đức hiếu sinh, mà những người này họ đành phải thọ lãnh những ngày tàn trong đau khổ.

Chúng tôi chỉ nghe tiếng kêu la rên rỉ của con chó mà động lòng thương tâm. Thương cho con chó phải trả nghiệp quả đời trước quá nặng nề khổ đau, và thương cho những ai sống không có đạo đức hiếu sinh. Sống mà không có tình thương, sống mà không thấy biết sự khổ đau của người khác, loài vật khác, mà chỉ biết có mình là trên hết. Vì thế mà sự sống của muôn vật trên hành tinh này trở thành thực phẩm cho con vật lớn hơn, cho những con người thông minh hơn.

Trên hành tinh này, nếu loài người cho đến các loài vật biết thương yêu nhau như anh em trong một nhà, như cùng cha cùng mẹ, thì đó là người và vật đã thực hiện được đạo đức hiếu sinh; thì hành tinh này là Thiên Đàng, là Cực Lạc; thì khi ấy môi trường sống này sẽ là một màu xanh tươi và mát mẻ mãi mãi. Mọi loài, mọi vật trên hành tinh này đều có lòng hiếu sinh như vậy thì làm sao có thiên tai, hỏa hoạn, lũ lụt, động đất, bịnh tật, tai nạn, chiến tranh, v.v... như trên chúng tôi đã nói. Làm sao còn có con người và loài vật chịu sự khổ đau nữa. Bởi vậy, đạo đức hiếu sinh rất là quan trọng cho những ai muốn tìm chân hạnh phúc trong cuộc đời này.

Đạo đức hiếu sinh là lòng thương yêu sự sống như chúng tôi đã nói ở trên, nó không những thương yêu loài động vật, mà còn thương yêu loài thảo mộc. Từ một cây rong rêu, cây cỏ nhỏ xíu tí ti, đến một cây cổ thụ to lớn vĩ đại đều có sự sống như nhau. Chúng chỉ khác loài động vật là không di chuyển và không cảm giác đau khổ, buồn thương, v.v...
Nhưng chúng hoàn toàn có một đời sống như loài động vật vậy.

Bởi vậy, vô tình nhổ một cây cỏ không đúng cách, chúng ta cũng cảm thấy như mình giết một mạng sống của một người, huống hồ chúng ta chặt cây, đốt phá rừng, biết bao nhiêu sự sống của ngàn cây nội cỏ đều phải chết trong điêu tàn của ngọn lửa.

Trông thấy một khu rừng bị cháy, người có đạo đức hiếu sinh không thể cầm được nước mắt, họ khóc thương vì sự sống trên hành tinh này do những người vô đạo đức đã gây ra bao nỗi tang tóc thương đau.

Nếu trên đời này ai cũng sống có đạo đức hiếu sinh, thì làm sao có máu chúng sanh đổ, thịt chúng sanh rơi. Phải không hỡi các bạn? Nếu trên đời này ai cũng có đạo đức hiếu sinh thì làm sao có nạn phá rừng, đốt rừng, thì làm sao có những đồi trọc khô khan cằn cỗi, thì làm sao có những núi đồi khô chết. Phải không hỡi các bạn?

Có người bảo rằng ăn thịt chúng sanh mới có sức khỏe, còn ăn rau cải thì không đủ sức khoẻ. Lời nói này có đúng chăng? Không đúng đâu các bạn ạ! Lời nói này chúng tôi e rằng không đúng, vì có những loài vật đâu cầu ăn thịt chúng sanh mà rất khỏe mạnh như loài: trâu, bò, voi, ngựa, v.v...

Về vấn đề ăn uống chỉ là vấn đề phụ, nó thuộc về vấn đề vật chất. Dù cho vấn đề vật chất có đầy đủ mà tinh thần bất an thì cuộc sống đời người vẫn là biển khổ. Còn vấn đề đạo đức mới là vấn đề chính.

Đạo đức thuộc về tinh thần. Người có đạo đức thì tinh thần được an ổn. Tinh thần được an ổn, dù ăn bất cứ một vật gì (thực vật) thì vật ấy vẫn là chất bổ dưỡng cho cơ thể của họ. Vì có đạo đức, dù ăn uống cơm dưa, rau muối và nước lạnh thì sức khỏe cũng đều tốt. Người không có đạo đức, dù ăn thịt cá hay cao lương mỹ vị đều vẫn bị bịnh tật và tai nạn. Chứ không phải ăn thịt chúng sanh, cao lương mỹ vị có đầy đủ chất bổ mà mạnh khoẻ, còn ăn rau cải, cơm dưa là đau ốm. Vấn đề này, đối với cuộc sống của con người đã xác định và chứng minh quá rõ ràng. Vì biết bao nhiêu người ăn thịt cá, cao lương mỹ vị mà vẫn bệnh tật đau ốm như thường, cũng như người ăn rau cải, tương dưa vẫn cũng chung số phận bịnh tật chứ chưa có ai thoát khỏi. Bởi vì ăn thịt chúng sanh cũng như ăn chay mà không có đạo đức hiếu sinh, không có lòng thương yêu sự sống của muôn loài nên vẫn có những hành động làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sanh.

Tuy không ăn thịt chúng sanh nhưng có những hành động khác làm khổ cho nhau. Vì nhân làm khổ mình, khổ người thì quả phải chịu khổ, chứ không phải do ăn uống. Ăn uống đầy đủ chỉ có lợi ích một phần nhỏ cho sức khỏe của con người mà thôi. Sức khoẻ của con người cần nhiều yếu tố khác, chứ không phải có riêng phần ăn uống.

Các bạn nên nhớ! Một con người có hai phần: tinh thần và vật chất, cho nên sức khỏe của con người luôn luôn ảnh hưởng hai phần này, nhưng phần tinh thần quan trọng nhất trong sức khỏe của các bạn.

Người có đạo đức hiếu sinh, thì ăn uống của họ cũng là những hành động hiếu sinh, chứ không phải ăn chay mà tâm dữ như cọp, như beo, v.v... Ăn chay mà tâm dữ như cọp, như beo, như rắn độc thì đâu được gọi là người có đạo đức hiếu sinh. Phải không hỡi các bạn? Các bạn đừng vì chúng tôi mà nói vừa lòng chúng tôi. Mà hãy sáng suốt tư duy, suy nghĩ những lời chúng tôi nói: có đúng hay sai. Để các bạn xác định được đường đi về đạo đức làm người, đem lại lợi ích cho mình, cho người, cho muôn loài vạn vật; đem lại cho sự sống chung nhau trên hành tinh này là một sự an vui, thanh bình muôn thuở.

Vì có đạo đức hiếu sinh mà đời sống con người mới biết thương nhau; vì có đạo đức hiếu sinh mà con người không nỡ ăn thịt nhau; vì có đạo đức hiếu sinh mà tâm hồn mới được thanh thản, an lạc và vô sự; vì có đạo đức hiếu sinh mà chúng ta không làm những điều ác, sống trong những điều thiện; vì có đạo đức hiếu sinh mà chúng ta không lừa đảo, lường gạt người khác; vì có đạo đức hiếu sinh mà xã hội có trật tự, an ninh; vì có đạo đức hiếu sinh mà thế giới mới có bình an, không còn có chiến tranh; vì có đạo đức hiếu sinh con người mới bảo vệ sự sống của muôn loài trên hành tinh này; vì có đạo đức hiếu sinh mà tai nạn giao thông không bao giờ xảy ra nữa; vì có đạo đức hiếu sinh mà cha con, chồng vợ đối xử với nhau êm thấm, thuận hoà; vì có đạo đức hiếu sinh mà vợ chồng mới thương yêu nhau chân thật, sống có tình, có nghĩa, mới có lòng chung thủy với nhau; vì có đạo đức hiếu sinh mà người, vật và cỏ cây mới thương yêu nhau như anh em trong một nhà.

Hiện giờ, con người trên hành tinh này thiếu đạo đức hiếu sinh, cho nên người giết người để cướp của, đoạt danh; vì thiếu đạo đức hiếu sinh, con người mới giết loài vật để ăn thịt và loài vật mới giết loài vật khác cũng để ăn thịt nhau, mà chẳng có chút lòng yêu thương. Vì vậy, thời tiết mưa không thuận, gió không hoà, thiên tai lũ lụt, bão tố thường xảy ra. Động đất, hỏa tai mang đến bao nhiêu thảm họa, khổ đau cho loài người và muôn vật. Chỉ vì thiếu đạo đức hiếu sinh. Cho nên, đạo đức hiếu sinh là những hành động rất quan trọng và cần thiết cho sự tồn vong của muôn loài đang sống trên hành tinh này.

Nếu chúng ta không kịp thời, sáng suốt chỉnh đốn lại nền đạo đức hiếu sinh của con người, thì e rằng con người còn phải khổ đau biết bao nhiêu lần và sẽ khổ đau mãi mãi. Có thể đi đến bước đường cùng là con người sẽ tự hủy diệt mình, hủy diệt trái đất.

Ngay từ bây giờ, con người không chuẩn bị xây dựng cho mình một nền đạo đức nhân bản làm người, thì không còn kịp nữa. Chừng đó không có một tôn giáo nào, một vị thần nào cứu khổ cho loài người được.

Đạo đức hiếu sinh là lòng thương yêu sự sống của muôn loài, chỉ là những môn học về hành động đạo đức, để biết cách thương yêu sự sống trên hành tinh này. Để chúng ta tránh xa những hành động gây tổn thương, làm đau khổ cho mình cho người khác, cho các loài động vật khác và cỏ cây.

Khi chúng ta tiếp xúc với mọi vật đang có sự sống trên hành tinh này, thì chúng ta phải khéo léo thiện xảo. Khéo léo thiện xảo như thế nào để sống có đạo đức hiếu sinh? Về ý thức, khi suy nghĩ chúng ta phả suy nghĩ tốt về mọi vật, mọi người khác, và thường nhắc tâm chúng ta: phải yêu thương sự sống của mọi người, của muôn loài vật khác. Vì không có loài vật nào mà không đáng yêu thương, chúng cũng giống như chúng ta, chúng cũng ham sống sợ chết, chúng cũng sợ đói, sợ khát và sợ bệnh đau. Cho đến như những loài cây cỏ vẫn muốn sống, chúng nó vẫn còn muốn sống, sợ chết huống là loài động vật. Phải không hỡi các bạn? Các bạn hãy nhìn xem một cành cây khô giữa đám lá xanh tươi, hay một cây cỏ khô héo giữa đám cỏ xanh tươi, thì chúng ta vẫn thấy xót xa trong lòng. Trong cái sống có cái chết thì lòng ai không đau buồn. Phải không hỡi các bạn?

Về lời nói, khi nói ra một lời nào chúng ta cũng nên cân nhắc kỹ lưỡng rồi mới nói. Nói ra không được nói lời ác, khiến cho người khác buồn khổ; nói ra không được nói lời thô lỗ tục tằn, hỗn láo; nói ra không được nói lời hung ác dữ tợn; nói ra không được nói lời lừa đảo, xảo ngôn, nói dối, nói không thật; nói ra không được dùng lời nói xấu người khác; nói ra không được nói lời vu khống người; nói ra không được nói lời oan ức cho người; nói ra không được nói lời nặng nhẹ người; nói ra không được nói lời mắng mỏ người; nói ra không được nói lời châm biếm người; nói ra không được nói lời chửi thề; nói ra không được nói lời gay gắt; nói ra không được nói lời giễu cợt; nói ra không được nói lời mỉa mai; nói ra không được nói lời móc họng; nói ra không được nói lời sai bảo người làm ác, làm đau khổ người khác, vật khác như: sai đâm chém người, giết hại những loài vật khác. Ví dụ: Hãy bắt con gà làm thịt nấu cháo ăn, bắt con cá nướng thui nhậu chơi, đánh cho chết cha nó, v.v... Những lời nói trên đây là những lời nói thiếu đạo đức làm người, thiếu lòng thương yêu sự sống của mọi người, mọi vật. Lời nói thoát ra là đã làm cho người khác đau khổ, chúng sanh đau khổ. Đó chính là lời nói thiếu đạo đức hiếu sinh, thiếu lòng yêu thương người khác và những loài vật khác.

Người có lòng hiếu sinh, biết thương yêu mọi sự sống là rất cẩn thận, dè dặt trong lời nói:

1- Khi nói ra là lời nói mang đến lòng thương yêu, xoa dịu những vết thương đau của người khác, vật khác.
2- Khi nói ra lời nói ôn tồn, nhã nhặn khiến cho người nghe không bực dọc, phiền muộn.
3- Khi nói ra lời nói nhẹ nhàng, êm ái khiến người nghe không còn lo sợ, buồn phiền.
4- Khi nói ra lời nói đầy lòng tha thứ, thương yêu và tôn trọng sự sống của người khác, vật khác.
5- Khi nói ra lời nói là mang đến nguồn an ủi, che chở, bảo vệ khiến cho mọi người an tâm.
6- Khi nói ra lời nói mang đến hạnh phúc, an vui cho người, cho vật.

Vì thế, lời nói rất quan trọng. Nó thể hiện được đạo đức hiếu sinh, mang đến cho đời niềm vui chân thật, nó mang đến cho đời một tình thương chan hoà sự sống giữa người, vật và ngàn cây nội cỏ.

Là con người, ai cũng có trí hiểu biết, cũng có trí thông minh, biết phải, biết trái, biết tốt, biết xấu, biết khổ đau, biết không khổ đau, biết thương, biết ghét, biết giận, biết hờn, biết ác, biết thiện, biết không làm khổ mình, khổ người, v.v...

Biết như vậy, thì chẳng lẽ nào không chấp nhận đạo đức hiếu sinh hay sao? Chẳng lẽ nào lại không biết đạo đức hiếu sinh là có ích lợi cho mình, cho người và cho muôn loài cùng có sự sống như nhau? Biết như vậy, thì chẳng lẽ nào không biết đạo đức hiếu sinh sẽ biến cõi thế gian thành cảnh giới Thiên Đàng, Cực Lạc? Biết như vậy, thì chẳng lẽ nào không biết đạo đức hiếu sinh là những hành động cao thượng tuyệt vời, khiến cho con người thoát ra khỏi bản chất của loài cầm thú, của loài động vật hung ác, dã man.

Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây

Xã hội đèn dầu

Chúng ta đang sống trong một thời đại mà sự thật bị bao vây tứ phía, bị cải trang bằng nhiều son phấn, nhiều mặt nạ. Cái tốt đẹp bị che chắn, bị vùi lấp… còn cái xấu, cái ác thì được phát biểu, được thể hiện với kèn trống với vòng hoa.

Đây là thời đại mà những chính khách có thể nói dối, có thể lừa gạt mọi người bằng sự hùng biện đầy thuyết phục được hỗ trợ bằng những giọt nước mắt xúc động. Họ thường nói những câu đại loại: “Tôi đang móc ruột ra nói với các đồng chí” mà quên rằng trong ruột chứa đầy những thứ chẳng thơm tho gì.

Xưa nay nhiều người vẫn tin tưởng rằng cái tốt sẽ thắng, chính nghĩa – dù có trải qua muôn vàn khó khăn – rốt cuộc cũng sẽ thắng. Nhưng nếu chịu khó quan sát thế giới một chút, chúng ta sẽ thấy ngay rằng cái xấu, cái ác đang thắng, đang tồn tại. Chẳng phải đó là điều đang xảy ra ở Việt Nam, Afghanistan, Bắc Triều Tiên, Cuba, châu Phi, Trung Đông… và nhiều nơi khác trên thế giới nữa hay sao?

Đây là sự thật ê chề nhất mà nhân loại phải gánh chịu!

Những người đã sống gần hết cuộc đời trên thế gian này, những người có học thức, có suy nghĩ độc lập mà nhiều khi còn rối trí không biết tìm đâu ra chính nghĩa, ra cái tốt, huống chi là lớp trẻ (nhất là thanh niên, học sinh, sinh viên Việt Nam ngày nay) gần như mù tịt: phải, trái, thiện, ác… lẫn lộn. Họ lâm vào cảnh “nhận giặc làm cha”, “xe duyên cùng tướng cướp”…

Họ giống như kẻ đang lạc vào một siêu thị bán toàn đồ giả, đồ nhái, không biết chọn cái nào, họ đành quay lưng, bỏ ra ngoài, tìm những nhu cầu khác.

Sự ra đời của những trang web, những blog cá nhân đã góp phần “giải vây” cho chính nghĩa, “tẩy trang” cho sự thật, nhằm cố gắng hé lộ bộ mặt thật của một xã hội, một chế độ chính trị, một sự kiện…

Như thế, sự thiếu vắng của các trang web hay blog này là những mất mát lớn cho cả một thế hệ đang lạc lõng, đang trôi dạt, đang đánh mất tự do và tính cách của mình.

Thế hệ này tìm thấy sự bình yên, sự hài lòng trong cái Tôi nhỏ bé với những nhu cầu vụn vặt, dễ dãi, dễ kiếm. Lớp người này ngày càng làm phình lớn cái xã hội tiêu thụ, thụ động, lười biếng và vô cảm. Đó là cái xã hội đang tiêu diệt mọi nhân cách và tiêu diệt chính nó, cái xã hội đang biến dạng – một cách chắc chắn, ung dung và không gì ngăn cản nổi – thành một bầy đàn hạ đẳng.

Một xã hội bao gồm nhiều cá nhân, nếu mỗi cá nhân là một ý thức độc lập, có sự sáng tạo tự do, thì xã hội đó sẽ rực rỡ vì mỗi cá nhân có ánh sáng riêng của mình, muôn màu muôn vẻ.

Nếu trong một xã hội mà mỗi cá nhân đều suy nghĩ giống nhau, sáng tạo giống nhau, ca ngợi và đả đảo giống nhau thì mỗi cá nhân đã tự thổi tắt ngọn đèn của mình và được phát cho một ngọn đèn dầu. Xã hội đó sẽ là một xã hội đèn dầu, chỉ tồn tại trong thứ ánh sáng lờ mờ, u ám. Chỉ có những đốm mắt của bọn linh cẩu, chó sói và hổ báo là rực lên trong đêm đen.
*
Đảng đã cho ta một mùa Xuân đầy ước vọng.
Một mùa Xuân tươi tràn ánh sáng khắp nơi nơi

Những câu hát ấy đã vang lên trong nhiều thế hệ thiếu niên nhi đồng Việt Nam và sẽ còn vang lên hoài như thế. Nhưng liệu có phải đó là sự thật không? Có phải ở Việt Nam hiện đang có một “mùa Xuân tràn ánh sáng khắp nơi nơi”  không? Nếu không thì sao? Chẳng lẽ từ thế hệ này sang thế hệ khác cứ tiếp tục hát như thế?

Trên ti-vi, trong các lớp học, trong các cuộc họp… cũng thế: các thầy cô giáo, các nhân viên nhà nước, các quan chức, nghệ sĩ sân khấu, cán bộ hưu trí, học sinh sinh viên, thậm chi cả những người lao động nghèo, những bác nông phu chân lấm tay bùn… khi được phỏng vấn cũng đều trả lời cùng cái giọng “Đảng đã cho ta một mùa Xuân” như thế.

Những em bé mẫu giáo, học sinh tiểu học chắc là không ý thức được mình đang nói gì, hát gì, còn những cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước thì biết mình đang nói dối nhưng hoặc là vì nịnh bợ để mưu lợi cá nhân, hoặc là nói cho qua chuyện, cho xong một cuộc phỏng vấn, một bài phát biểu.

Có một thành phần đặc biệt hơn, đó là những kẻ mới sinh ra là đã biết vâng phục, không hề có ý thức phản biện một cái gì, khi họ là cán bộ, đảng viên, họ biến thành những bõ già của Đảng, những ông từ giữ cái chùa Mác-Lênin suốt đời mãn kiếp. Họ đang sống mòn, sống cho hết cái kiếp gia nô buồn thảm, đìu hiu!

Nhưng đáng xấu hổ nhất là những kẻ ngụy tín, quen thói nói dối, nhập thân vào sự dối trá của mình một cách chân thật và cố thuyết phục người khác hiểu cái “sự thật” ấy.

Hãy tưởng tượng một đàn vịt đang lạch bạch đi trên bờ ruộng. Bỗng nhiên một con kêu: “cạc cạc!” rồi con thứ hai cũng kêu “cạc, cạc”, con thứ ba, thứ tư, con thứ mười đều kêu “cạc, cạc”. Rồi tất cả đồng loạt kêu “cạc cạc”… Ta sẽ thấy rất buồn cười, nhưng không sao, có khi còn dễ thương nữa vì chúng là đàn gia súc. Nhưng thử tưởng tượng có một đám người, đủ mọi thành phần: nông dân, giáo viên, tiến sĩ, kỹ sư, bác sĩ, nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, học sinh, sinh viên, nhà văn, nhà thơ, diễn viên điện ảnh, hoa hậu, á hậu, người mẫu thời trang, giáo sư đại học, cán bộ công nhân viên, học sinh mẫu giáo… vừa đi vừa kêu “cạc cạc” như thế thì sẽ ra sao? Đó không phải là một xã hội nữa, đó là một bầy đàn.

Rất may là đã có một thành phần dám nói sự thật. Đó là những trang web kiểu như talawas, Bauxite… những blog cá nhân kiểu như Osin, Mẹ Nấm, Lề Bên Trái, Người Buôn Gió… Họ đã lần lượt bị bắt nhốt, bị đe dọa, bị đóng cửa. Họ là những tập thể, những cá nhân đã tỏa sáng và đang bị dập tắt. Xã hội hiện nay chỉ còn hiu hắt những ánh đèn dầu của đám người mờ nhạt, bị thuần hóa, bị gia súc hóa một cách thảm hại.

Như thế, rõ ràng là hiện nay chúng ta đang có hai nước Việt Nam: một Nước Việt Khốn Khổ, bị rút ruột, bị đục khoét, bị bán tài nguyên, bán máu, bán phẩm giá, bị xâu xé, cướp bóc tả tơi và nợ như chúa Chổm. Và một Nước Việt Ảo đang được vẽ vời bằng những lời nói dối, nịnh bợ, cơ hội, lừa mị… của đủ mọi thành phần, từ cán bộ lãnh đạo cho tới học sinh mẫu giáo.

Mỗi ngày có một bộ phận người Việt đang sống và làm việc trong cái Nước Việt Ảo ấy trong khi một bộ phận người Việt khác lại đang sống và làm việc cùng một Việt Nam khác: khốn khổ, trần trụi, tơi tả.

Hôm nay talawas không còn, ngày mai có thể Bauxite cũng sẽ mất, nhưng những người tâm huyết với đất nước với dân nghèo thì mãi tồn tại, tiếp nối, bền bỉ và bất tận.

Tác giả: Đào Hiếu

Khi giả dối lên ngôi!

Trong bất kỳ thể chế và mô hình chế độ xã hội nào, sự trì kéo nền văn minh và ngáng trở mọi sự phát triển của xã hội là bệnh nói dối. Có ý kiến cho rằng sự giả dối nảy nở ngay từ trong phong trào thi đua mà sai động cơ, chạy theo thành tích. Tiếp đến là sự phát triển với những bài bản và thủ đoạn mới hơn kể từ khi những người có trách nhiệm tiếp xúc với kinh tế thị trường, không biết cách quản lý, sản xuất đình trệ, sa sút, đất nước nghèo đi, sợ mang tiếng nên mới sinh ra bệnh nói dối, dưới nói dối trên, trên nói dối dân!

Trước hết, nói dối là biểu hiện chủ nghĩa cá nhân ngay từ trong nhân cách và tư duy, hậu quả của nền giáo dục – đào tạo. Thể chế đã vẽ đường và cơ chế đi kèm cung cách quản lý, điều hành thiếu minh bạch đã phát sinh ngày càng nhiều và đa dạng các kiểu, các tầm mức nói dối. Nói dối ngoài đời, nói dối trong làm ăn, ký kết hợp đồng, trong sản xuất, đời sống, trong báo cáo thành tích, lẩn tránh khuyết điểm và thậm chí cả trong nghị quyết, kế hoạch công tác.

Ở nước ta, bây giờ giả dối đang thịnh hành ở khắp mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội. Các bản báo cáo thành tích có được bao nhiêu phần trăm là sự thật? Các danh hiệu, huân chương có đúng thực chất? Các tổ chức Đảng được công nhận là trong sạch vững mạnh có chứa chấp bọn tham nhũng? Quản lý, tiêu xài thất thoát hàng ngàn tỷ đồng tiền thuế của dân nhưng vẫn “luồn lách” báo cáo có lãi đến khi đổ đốn, vỡ nợ mới đổ lỗi dối trá cho nhau. Những người luôn rao giảng các tín điều cao cả có thực sự tin vào những điều mình nói? Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa của ta có đúng là vạn lần hơn dân chủ tư sản như đã khẳng định? Thi đua là có ăn thua, muốn ăn (thắng) phải nói láo thành tích. Ai cũng nói láo thành tích thì ai dám phê ai. Thành tật rồi. Người lớn nói láo, trẻ con biết, nói theo thành nếp sống. Vốn xã hội vơi đi là vậy. Bây giờ có ai nói thật không? Người có tự trọng thì làm thinh chớ không nói dối, tuy vậy là hèn, nhưng hèn còn hơn nói dối. Dân biết cán bộ nói dối mà không dám nói. Chết! Vậy là nói dối thống trị chứ sao. Có người, nhất là trí thức trong guồng máy lúc đầu cũng có tự trọng, nhưng càng tự trong càng thiệt thòi hoặc thiệt hai vậy mấy ai cầm lòng được. Nhưng có người nói dối gây hại, có người nói dối để yên thân.

Trong thời đại tin học, người dân được biết sự giả dối không phải do tiếp xúc với kinh tế thị trường. Tôi rất tâm đắc với câu nói của người đời: “Ta dùng con dao sắc bị đứt tay thì lỗi không phải ở con dao”. Thực tế không thể phủ nhận rằng nhiều nước trên thế giới theo kinh tế thị trường nhưng xã hội vẫn lành mạnh hơn ta gấp nhiều lần.

Tập quán giả dối đặc biệt ăn sâu ở các cơ quan liên quan tới tài chính. Chúng ta ai cũng biết nếu “mổ xẻ” lương tối thiểu theo khu vực được công bố sẽ thấy cái nghịch lý của các chính sách tài chính ở Việt Nam. Họ thừa biết mức lương tối thiểu ấy không thể đủ sống, nhưng không thể cân đối ra nguồn thì đành cân đối trên cái họ có thể tính. Đó cũng là cách tính của chế độ tập trung bao cấp. Quốc tế chưa công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường một phần cũng là vì thế.

Lo lắng nhất là tệ dối trá tiêm nhiễm trong giáo dục, ngay từ các lớp tiểu học, do bệnh chạy theo thành tích của các thầy cô. Bé mà đã gian dối mà là gian dối có sự chỉ bảo hoặc dung túng của thầy cô thì khi lớn lên làm sao thành người lao động trung thực được. Đã có nhiều ý kiến nên bỏ cách thi đua đẻ ra bệnh thành tích ở các trường như hiện nay nhưng chỉ vì “cái ghế”, danh hão và lợi ích nhóm, giới hữu trách vẫn còn bỏ ngoài tai.

Ngay trong giới khoa học, để thích nghi và tồn tại người ta cũng phải nói dối. Tôi nhớ có lần trong cuộc họp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trước mặt lãnh đạo Bộ, GS TS Nguyễn Văn Biên – Viện trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam – đã thẳng thắn, công khai phát biểu đại ý như sau: “Viện chúng tôi dành thời gian và công sức để làm công tác chuyên môn và thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học không lúc nào được toàn tâm, toàn ý chỉ vì phải lo đối phó với các quy chế bất hợp lý của chế độ tài chính. Nếu cứ thực hiện đúng theo quy định chẳng ai muốn làm vì rất nhiêu khê và không khuyến khích người lao động. Để tồn tại, và chịu trách nhiệm tập thể khi quyết toán và kiểm toán, chúng tôi phải họp Đảng ủy và Ban giám đốc Viện ra nghị quyết nói dối!”. Cả hội trường nghe tâm sự rất thật lòng của Gs Biên thật hài hước và bức xúc vì cái gọi là “cơ chế tài chính” nó làm méo mó cả những người làm công tác khoa học, một lĩnh vực luôn đòi hỏi phaỉ minh chứng sản phẩm nghiên cứu bằng định lượng chứ không phải định tính!

Anh Bảy Nhị, hồi những năm 1990, khi còn làm Phó Chủ tịch tỉnh An Giang phụ trách nông nghiệp, trong lần duyệt dự toán đào kênh cấp II huyện Châu Phú, trong hồ sơ dự toán 12.000 đồng/m3 nhưng anh Bảy chỉ duyệt 6.000 đồng/m3, bởi vì trước đó anh đã đến tận nơi khảo sát hỏi dân và các chủ xáng cạp. Nhưng cán bộ kế hoạch hiểu nỗi khó của người thực hiện, đề xuất 8.000 đồng/m3. Để dung hòa, anh Bảy duyệt 7.000 đồng/m3. Thực tình, anh Bảy không “ác”, nhưng phải du dzi vì biết chủ xáng phải cống nạp nhiều chỗ, kể cả xã, ấp hưởng lợi từ công trình và lo khâu thanh toán, giải ngân. Nhiều công trình khác cũng phức tạp hơn, rốt cuộc chủ thầu không rút ruột công trình thì chỉ có điên mới làm, nếu anh dự toán đúng, kể cả lãi định mức và trượt giá (nếu có) cũng được tính đủ. Có lần buồn quá, nhìn rộng ra trên toàn quốc, anh Bảy tâm sự với bạn hữu “Những công trình hư hao, những lổ lã của các công ty nhà nước… tổng của nó bằng tổng tài sản của các quan cộng lại!”.

Câu khẩu hiệu “phải sạch từ cơ sở, từ người dân lên!”. Câu này để hiệu triệu chơi thì được. Dân nào mà không muốn sạch? Cũng như dân Nhật Bản không phải chỉ có kêu gọi và một nền giáo dục đặc sệt “phổ thông” mà họ thánh thiện như đã tỏ rõ bằng thái độ và hành xử trong và sau vụ động đất – sóng thần mới gần đây.

Nói tóm lại: Nói dối, đơn giản là nói sai sự thật. Nguyên nhân vì nói thật có hại cho người nói. Sứ mệnh cao cả của nhà báo ở bất cứ chế độ nào cũng phải tôn trọng sự thật. Thật trớ trêu, có nhà báo ở Việt Nam phải cay đắng công khai thừa nhận: “Nhiều người cầm bút giờ còn bi kịch hơn khi hàng ngày phải viết những điều không giống với sự thật… hàng ngày, dù không tin nhưng vẫn phải viết ra một điều không thật một cách khéo léo đến dối trá để thuyết phục người đọc tin rằng đó là sự thật”.

Nói dối trong bất cứ lĩnh vực nào đều là biểu hiện sự xuống cấp của xã hội nhưng cái nói dối trong chính sự còn tệ hại hơn nhiều. Chúng ta đừng quên rằng cựu Thủ tướng Nga thời đầu cải tổ Rưgiơcốp, lý giải sự sụp đổ của Liên Xô, đã nêu ra lý do đầu tiên là “do xã hội Xô Viết một thời gian dài đã được xây dựng trên sự GIẢ DỐI”!

Tô Văn Trường

ĐỪNG VƠ VÀO MÌNH

Có một câu chuyện như thế này: Ông bố dắt thằng con đi làm khai sinh, chả hiểu thế nào trong sổ hộ tịch ghi thằng nhỏ đã chết ngoài mặt trận lúc bố nó còn chưa ra đời nên không thể làm khai sinh được. 


Cậu nhóc lớn lên bị bắt lính, ông bố van xin "cháu nó chết cách đây 60 năm rồi ạ". Lão sĩ quan gào to "ông muốn con trốn lính hả, muốn ở tù không". 

Hết quân dịch chàng ta không xin được giấy ra quân vì "mày chết hồi thế chiến rồi đòi giải ngũ sao được". Chàng đành nhận cái giấy chứng nhận "có phục vụ trong quân đội". 

Cha chết, chàng ta xin thừa kế ngôi nhà, chính quyền trả lời "anh chết tự đời nào rồi mà con đòi thừa kế hả?" 

Chán đời, chàng ta đi trộm cắp bị cảnh sát bắt vào tù. Chàng ta nói "ngài cảnh sát ơi tôi đã chết lâu lắm rồi còn ở tù thế nào được, ngài lật sổ hộ tịch mà xem". Ông cảnh sát gào to " A ha, mày muốn trốn tù hả, đã thế cho mày ở rục xương ..". 

Thế, cần bắt lính hay bỏ tù thì người ta bảo anh còn sống, khi cần làm giấy khai sinh, giấy xuất ngũ hay thừa kế thì người ta bảo anh đã chết. 

(Lược trích từ truyện ngắn của Azit Nê -xin) 

Cách hành xử của chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ thật buồn cười, nhưng đó là truyện, thực hư thì ai mà biết. Chuyện thiệt ở Mỹ thì hay hơn nhiều và năm nào cũng diễn. Đó là mấy anh "người Việt quốc gia". 

Chuyện như này:

Khi "chống cộng" thì kêu gào "Đừng gởi tiền về Việt Nam vỗ béo cộng sản". Cuối năm khi có tổng kết về kiều hối thì nhơn nhơn cái mặt "không có kiều hối của bọn anh thì kinh tế cộng sản sập ngay" cứ như họ là người hùng, là đấng cứu thế của Việt Nam. 


Vậy là sao? Sao có lúc kêu gào đừng gởi tiền về "cho cộng sản chết vì nghèo", lúc lại kể công "đã gởi chục tỷ obama". Rốt cục "người Việt quốc gia" đang hành xử kiểu gì vậy?

Mời bà con đọc đôi lời của bạn Khai Phùng thương gởi "người Việt quốc gia" 

Gần 40 năm qua, giới chống cộng lưu vong vẫn luôn chung một luận điệu khi họ hàng năm kêu gọi:

- Không gửi tiền về Việt Nam!

- Không mua hàng từ Việt Nam!

- Không đầu tư về Việt Nam!

- Không đi du lịch về Việt Nam


Nhưng gần như đã trở thành thông lệ, cứ tới dịp cuối năm, khi người ta nhắc tới khoản tiền kiều hối hay những khoản tiền lớn mà người Việt hải ngoại mang về nước khi hồi hương, để tiêu khi về phép thì họ lại nhận trong đó có phần của họ!???

Thật là vô duyên và kịch cỡm!

Đã tẩy chay mà lại không phải tẩy chay trừ khi họ chỉ là một nhúm người chẳng là gì trong cái cộng đồng 3,5 triệu này. Và thật vậy, trong 1,5 triệu người Việt ở Mỹ hay 3,5 triệu người Việt ở nước ngoài, có bao nhiêu người đi theo họ? 100 ngàn hay 500 ngàn thì vẫn chỉ là thiểu số với nước Việt Nam và với cả những người Việt đang sinh sống ở nước ngoài. Những người đi hợp tác lao động thời nay ở nam Triều Tiên, các nước Ả rập,... chắc chắn không phải người của họ. Những người hiện đang sinh sống và làm việc ở châu Âu chẳng bao giờ họ thuyết phục được bất cứ điều gì. Trong số những người ở Mỹ, những người làm theo họ cũng chỉ là một thiểu số vô cùng nhỏ nhoi.

Chúng tôi hoàn toàn khác họ

Nhớ lại những lần đầu tiên khi thấy những món hàng hóa từ Việt Nam sang bày bán, chúng tôi vui mừng không thể nào tả được. Cả một thời gian dài, bất kể ai trong số người Việt ở đây khi đi cửa hàng châu Á đều hỏi mua hàng từ Việt Nam. Bao nhiêu năm trời chỉ quen ăn bún Tàu, phở Thái, gạo Thái uống chè Tàu thành ra nhiều khi cứ thấy hàng có chữ "Made in Vietnam" là chúng tôi mua về. Bây giờ đã khác, hàng Việt Nam bày bán khắp nơi và chẳng ai cần phải hỏi bởi vì nó như một điều tự nhiên: Bún, phở khô, mì ăn liền chắc chắn phải là VIFON, chè phải là Tân Cương, cà phê Trung Nguyên..... Một phần coi đó là hương vị quê nhà, một phần nữa hợp với khẩu vị của người Việt hơn. 

Chúng tôi không đao to búa lớn, không cần phải hô khẩu hiệu, không cần phải vỗ ngực là Việt kiều yêu nước cũng không ai cần phải kêu gọi và dù ông chủ cà phê Trung Nguyên trong mỗi hộp Cà phê đều để một bức thư nhưng bản thân tôi chưa bao giờ đọc qua và cũng chẳng quan tâm tới nó. Bởi vì chúng tôi là người Việt Nam và trong số 12 tỷ kia chắc chắn có một phần đóng góp của gia đình tôi.

Bảo Bình

Kiếp người, tôn giáo và vài cách nhìn viễn tưởng

Kiếp Người - Sinh-Lão-Bệnh-Tử là tiến trình sống bình thường của một kiếp người. Với một lý do nào đó nếu con người bị chết lúc còn trẻ như chết vì tai nạn hoặc chết bất thường khi chưa tới tuổi già, thì tiến trình sống kia chỉ còn Sinh-Tử hoặc Sinh-Bệnh-Tử. Trong suốt cuộc đời, cũng có lúc ta tự hỏi tại sao ta phải sinh ra ở thế giới này?

Con người được sinh ra trong cõi đời này thường không biết lý do tại sao mình được sinh ra. Khi đến một khoảng độ tuổi nào đó trong cuộc đời, Con Người tự tìm lại cội nguồn và mong tìm cho ra lý do vì sao mình được sinh ra. Cho đến cuối đời, cuộc tìm kiếm đó vẫn chỉ có tính cách phỏng đoán, không có gì là chắc chắn và chân lý đích thực vẫn còn để mở và vẫn chưa có câu trả lời chính xác.

Trong văn chương, nhà văn Vũ Trọng Phụng nhận định trong cuốn tiểu thuyết Giông Tố, con người được sinh ra một cách hài ước nhưng thực tế, đại khái: Tôi sinh ra chỉ vì bố tôi có ham muốn một phút điên rồ của xác thịt. Con người cũng tìm lại được chính mình ở trong phạm vi tôn giáo nếu có Đức Tin mãnh liệt. Dưới lăng kính của tôn giáo, như Công Giáo con người được sinh ra vì ý của Chúa (đấng Tạo Hoá); như Phật Giáo, nói nôm na, con người sinh ra là để trả nợ đời theo luật Nhân-Quả. Dưới lăng kính của tự nhiên, âm-dương sinh vạn vật! Dưới lăng kính của tiểu tuyết viễn tưởng, Con Người được sinh ra là thuộc về trò chơi của Đấng Sáng Tạo. Diễu cợt hơn nữa, tiểu thuyết dựng một bối cảnh cho rằng: Đấng Sáng Tạo dùng Khủng Long làm thú tiêu khiển như Con Người có thú vui khi nuôi cá cảnh trong lồng kính. Sau này, Đấng Sáng Tạo chán nên dùng Người làm thú vui, do đó, Con Người được sinh ra và Khủng Long bị diệt vong!

Một kiếp người được ví như là những đoạn phim ngắn, nó được dựng lên theo mốc thời gian để trở thành những tác phẩm có một không hai. Nếu đem ghép những đoạn phim đó gộp thành một thì chúng đúng là một bức tranh sống động vô tiền khoáng hậu. Ở mỗi chặng đường của cuộc đời, con người ta có những thú vui buồn riêng và không ai giống ai, nhưng tựu chung: Họ lớn lên, lấy vợ lấy chồng, sinh con, và đến tuổi già rồi thác. Trong tiến trình đó đối với một đất nước văn minh, tuổi thiếu thời là tuổi đẹp nhất có nhiều ước mơ; tuổi thanh niên là tuổi tạo công danh, nhiều hẹn hò, trai gái tìm kiếm nhau thành mái ấm; tuổi trung niên tuổi săn sóc gia đình con cái và dự tang lễ của người thân hay của ông bà bạn bè; tuổi già là tuổi mọi ham muốn đã xế chiều, nhìn đời thật nhẹ và xum vầy với con cháu vào những dịp lễ. Và lâu lâu lại tiễn đưa vài ông bạn già hoặc người thân trên xe tang để về an nghỉ bên kia thế giới; cuối cùng rồi cũng đến lượt mình, nói cách khác đó cũng là tuổi đang nằm chờ chết!

Nếu cuộc đời con người được giàn xếp và trôi chảy như vừa mô tả ở trên thì quá hạnh phúc rồi phải không? Vâng, nó đúng là mẫu mô hình lý tưởng và hạnh phúc cho mọi người. Nhưng xét kỹ lại, nếu sinh ra để được như vậy, thì thà đừng được sinh vì cuộc đời nó thật nhạt nhẽo và phũ phàng làm sao! Vì cuộc vui nào mà không tàn, mà phần lớn trong suốt cuộc đời thường để lại những trống vắng. Đến khi gần kề đến cái chết, mới thấy cái phũ phàng trong thân phận làm kiếp người. Nhưng trên thực tế, có những thú vui mà chúng ta chưa biết đấy thôi. Nếu tinh ý, ta cũng thấy rằng: Mọi thứ trên đời này đều phải có nguồn gốc, tức là phải có ai đó phát sinh ra hay dựng ra nó. Ví dụ, ta có thể hiểu ai đó mà xây dựng vũ trụ quan và thế giới quanh ta dưới cái tên nào đó, tùy theo ngôn ngữ hay tập quán, ta có thể gọi người đó là Trời, Thượng Đế hay Đấng Sáng Tạo hoặc tên nào đó gọi theo địa phương. (Người viết không có nhã ý thuyết phục người đọc phải tin vào thần thánh được cho là dị đoan hay chứa ít nhiều tính chất Đạo.) Bạn sẽ thấy những thú vui vì sao các nhà nghiên cứu hay khoa học lao vào làm việc không biết mệt mỏi.

Đến đây, người viết tạm gọi tên người Đấng Sáng Tạo là ông A nào đó đi, để tránh mang tính duy tâm. Thế thì khi truy tìm lại nguồn gốc của vạn vật, ví dụ khi nhìn một bông hoa dưới kính hiển vi, bạn thấy cấu trúc kỳ lạ và được sắp sẵn hoàn hảo theo tính đối xứng và nét văn của nó trên bông hoa theo một tính toán rất tinh tế. Nếu có phương tiện, bạn thử tiếp tục khảo sát đến đơn bào (tạm gọi là nhỏ nhất), bạn sẽ thấy gì trong đó? Đây là kết quả của nhà khoa học đã nghiên cứu về đơn bào vì họ muốn chế tạo ra đơn bào nhân tạo: Lần đầu tiên nhà khoa học nhìn đơn bào đó bằng kính hiển vi, họ thấy có những đơn bào khác đang hoạt động trong đơn bào mà họ đang quan sát, không những một vài đơn bào mà là nhiều triệu đơn bào. Chưa hết, họ lại thử tiếp tục quan sát bên trong một vài đơn bào nhỏ kia bằng kính hiển vi cực đại hơn, họ ngạc nhiên bên trong của một trong nhiều triệu đơn bào kia, nhà khoa học lại thấy nhiều vô số (triệu) đơn bào khác nằm bên trong một đơn bào đó và chúng đều đang hoạt động. Cứ tiếp tục quan sát tiếp bằng kính hiển vi cực đại hơn, họ vẫn thấy được nhiều cỗ máy nằm trong mỗi đơn bào ở các tầng bên trong, cứ thế và mãi mãi! Sau cùng, các nhà khoa học kết luận rằng: Rất khó cho con người (nhà khoa học) tự tạo ra một đơn bào.

Các nhà thần học mới đặt câu hỏi: Ai là người tạo ra đơn bào? Từ những câu hỏi đơn giản, đã đưa con người ta tiếp cận và tìm hiểu đến người tạo ra nó. Nói cách khác, chính sự phát hiện đó đã đem đến cho các khoa học gia một nguồn cảm hứng vừa tự hào và luôn có một niềm kính sợ và kính phục người sáng tạo ra đơn bào. Chúng ta nghe nói nhiều về nhân bản (clone), và ta tưởng là người ta (khoa học gia) "chế tạo" và làm sinh ra con cừu hay con bò. Không, họ chỉ làm lại quá trình đã có sẵn trong tự nhiên bằng cách đặt vào trong đó một bản sao DNA của vật nào mà họ muốn nhân bản, chứ đâu có sáng tạo hay chế tạo gì đâu vì đơn bào mà còn làm chưa được nữa mà. Chính thiên nhiên đã ban tặng cho con người nhiều vạn vật và mang đến nhiều nguồn cảm hứng để giúp con người gián tiếp cận với ông A nào đó (người sáng tạo) mà con người tự cổ chí kim chưa bao giờ gặp mặt. Để trịnh trọng, người viết từ đây gọi ông A đó là Đấng Sáng Tạo.

Chính Đấng Sáng Tạo mới là nguồn cảm hứng để con người ta mới thấy cuộc sống có ý nghĩa đích thực và con người sẽ thấy mình thật nhỏ bé trước vũ trụ bao la. Trong thiên nhiên có chứa nhiều mẫu mô hình tuyệt vời mà con người cần phải tìm hiểu và ứng dụng. Đấng Sáng Tạo không che dấu điều chi, vì các mô hình đó đã có tự bao giờ và chỉ vì con người không tìm kiếm nên không thấy, nhưng nếu tìm kiếm cũng phải trả một giá thật đắt, hy sinh cả cuộc đời!

Ví dụ, cách đây 500 năm, nhà toán học người Đức ông Johannes Kepler đã thiết lập ra định luật về chuyển động của thiên thể (laws of planetary motion). Ông hy sinh cả cuộc đời và thức trắng nhiều đêm quan sát bầu trời để tìm ra định luật này. Vào thời điểm đó, thuyết của ông được coi là dị giáo và bị cấm. Nhưng vì ông thấy dáng dấp của Đấng Sáng Tạo đã sắp đặt mô hình và quỹ đạo các thiên thể trong vũ trụ, ông tin mạnh mẽ rằng thuyết của ông là đúng dựa vào sự hiển nhiên của các phương trình toán học. Trước khi chết trên tay ông còn nâng niu quyển sách ở dạng bản thảo vừa được in ấn xong và mong nó được chuyển đến những thế hệ sau. Đó cũng là ước mơ cuối cùng trong đời ông, với niềm tin mạnh mẽ rằng phần lý thuyết của ông sẽ được phục vụ nhân loại.

Thời nay, nhà vật lý lừng danh đương đại ông Stephen Hawking và cũng là cha đẻ của thuyết dây (String Theory), trước đây đã từng tuyên bố là ông không tin có Đấng Sáng Tạo hay Trời (God). Sau này ông đã rút lại lời tuyên bố đó và cho xuất bản cuốn sách "God Created the Integers", tạm dịch, Chúa Tạo Ra Những Số Nguyên. Phải chăng những ai một khi đã tiếp cận về khoa tự nhiên, họ có nhiều cơ may phát hiện ra Đấng Sáng Tạo là có thật chứ không phải nghe đồn hoặc nói suông vì người khôn thường không nghe lời đồn. Trong một nước văn minh như Hoa Kỳ, chữ "God" đã được in trên các đồng tiền qua hàng chữ "In God We Trust", và trong các bài kết thúc diễn văn của các diễn giả hay nhậm chức của tổng thống, ta thường nghe "God Bless America". Như vậy kiếp người thật không phũ phàng nếu tự đi tìm để có niềm vui mà không cần phải là một khoa học gia. Ví dụ, xây dựng một mái ấm gia đình và nhất là khi thấy có những đứa trẻ lớn khôn khi chúng hiểu được sự vật quanh ta một cách khéo léo và tài tình thì cũng là một hạnh phúc đích thực của cuộc sống.

 Nếu dựa vào nhận định trên, con người sinh ra là tìm kiếm điều chưa biết, tìm cách tiếp cận đến Đấng Sáng Tạo làm nguồn cảm hứng. Kết quả của công việc tìm kiếm đó sau cùng cũng là phục vụ con người. Nói cách khác, kiếp người được sinh ra chính là để phục vụ tha nhân.

Tôn giáo gắn liền con người

Nếu chúng ta nhìn thoáng hơn khi đứng trên phương diện xã hội nhân sinh quan, tôn giáo là cái cần và có nhằm để ổn định xã hội. Con người ai cũng có ít nhiều dục vọng riêng. Chúng có thể trở thành xấu đi nếu chúng không được đi vào khuôn khổ; điều này cũng được ví như những cây cảnh (bonsai) có lá cành mọc túa ra theo mọi hướng. Nhờ nhà chơi cảnh mà lá-cành-cây mới được uốn nắn và trao chuốt theo bóng dáng rất riêng của chính nó. Tương tự, nhờ các tôn giáo ra đời với mục đích cảm hoá con người theo hướng tích cực, ngõ hầu đào tạo nhân tính tốt và cách cư xử tình người trong thế giới chúng ta sống. Nhìn chung, về mặt triết lý sâu xa của các tôn giáo (mặc dù có hình thức khác nhau) luôn gặp nhau ở ngã ba đường - đó là làm lành tránh ác, giúp con người luôn hướng thượng và đem đến hạnh phúc không những ở đời này hay kiếp sau. (Xin mở ngoặc ở đây - Tại sao phải nói đến kiếp sau? Nếu không có kiếp sau hiện hữu, thì tôn giáo cũng bị sụp đổ vì bị thừa - một nhận định thật chua chát!) Mặc dù tôn giáo không cảm hoá được tất cả mọi người, nhưng về mặt xã hội, tôn giáo vẫn cho hiệu quả cao theo số đông về mặt ổn định của Đại Chúng. Và chính vì vậy, tôn giáo vẫn tồn tại qua nhiều thời đại khác nhau.

Sách vở đã bàn luận rất nhiều khi nói đến âm-dương vì nó tồn tại khắp mọi nơi trong thế giới ta sống nói riêng và trong vũ trụ nói chung. Học thuyết âm dương đã được biết từ ngàn xưa. Khi đối chiếu và so sánh với vật lý hiện đại, tính chất của chúng không có gì khác nhau, ngoại trừ những ký hiệu, ngôn ngữ và có thêm các hạt mới được phát hiện. Học thuyết âm dương là nền tảng căn bản cho phát sinh mọi vật. Đối với người nam và nữ, họ chính là dạng bậc cao của hình thức âm-dương với mục đích tối hậu để duy trì nòi giống. Gần đây, một số nhà nghiên cứu khoa học tự nhiên cho rằng, bất kỳ người nào cũng đều có bản thân nam và nữ tồn tại trong chính họ. Nó chỉ bộc phát khi một trong hai được phát triển mạnh để cho người đó là Nam hoặc Nữ. Nếu không có phần mạnh nào lấn át nhau, thì cho ra người đó thuộc bán nam bán nữ. Nhà nghiên cứu cho rằng: Suy nghĩ, cảm xúc, các cơ quan trên thân thể, vân vân trong người nam và nữ luôn có nhiều điểm giống nhau. Tùy theo môi trường sống, tính tình và khí phái trong con người đó sẽ được phát triển. Nhà thơ Trần Tế Xương (Tú Xương) cách đây ba thế kỷ đã có nhận xét rất tinh tế:

Mình với ta tuy hai mà một
Ta với mình tuy một mà hai

Nếu nhà nghiên cứu khoa học tự nhiên nói trên mà đọc được thơ của Tú Xương, chắc cũng thầm ngợi khen vì ông đã đi trước thời đại của chúng ta bằng hai câu thơ với ngôn ngữ thật bình dân và rất độc đáo!

Trong tôn giáo, luôn đề cao về nhân sinh quan, thân phận con người luôn được bảo vệ triệt để, từ bào thai cho đến lúc sinh ra và làm kiếp người. Một đứa trẻ tàn tật, gợi ý trong ta một tình cảm đồng loại, một tình yêu đặc biệt dành cho những đứa trẻ bất hạnh đó. Khi một người mắc bệnh khờ từ lúc nhỏ và ít nói vì họ không nói được những ngôn ngữ của những người bình thường. Nhưng cũng có thứ ngôn ngữ mà người bình thường không mấy ai làm được, mà chính người khờ đó lại làm được. Ví dụ, khi bạn bắt gặp mẹ của người khờ đó qua đời, trong lúc hòm được hạ huyệt, thì chính người khờ đó lại nắm một bó hoa ném theo, vẫn đứng nghiêm trang và tự bật khóc thành tiếng, thì chính lúc ấy bạn sẽ thấy được ngôn ngữ trong thế giới của người bệnh khờ muốn truyền đạt đến bạn. Khi bạn thấy điều này, bạn tự hiểu tại sao các tôn giáo hô hào tránh phá thai trên thế giới.  

Viễn tưởng về hành tinh Đỏ - Sao Hoả

Sao Hoả là hành tinh thứ tư tính từ mặt trời trong hệ mặt trời. Từ năm 1970 tới nay chi tiết về sự sống trên Sao Hoả, được NASA và chính phủ các nước tiết lộ một cách dè dặt vì sợ gây dao động trên thế giới, nhất là về mặt tôn giáo. Nếu bạn là tiểu thuyết gia, bạn có thể dựng sự sống trên Sao Hoả theo bối cảnh tưởng tượng vắn tắt sau đây:

Trước đây khi mặt trời còn gần với sao Hoả (Mars), thì nhiệt độ trên đó cũng giống như trên trái đất của chúng ta bây giờ, và nhiệt độ trên trái đất của chúng ta cũng giống như sao Kim (Venus) bây giờ. Sự sống trên sao Hoả tồn tại và cũng giống như chúng ta. Khi bầu khí quyển đã bị vỡ do những dầu thô trong lòng đất bốc cháy theo núi lửa phun trào qua nhiều thế kỷ và khói và bụi phủ kín hành tinh đỏ, sao Hoả trở thành đất chết, và con người dần dần bị đưa đến chỗ diệt vong. Chỉ có một số ít sống sót nhờ có những kỹ thuật tiên tiến và họ di cư đến hành tinh cạnh đó về hướng mặt trời, nói nôm na là di cư đến trái đất của chúng ta.

Trong tương lai, khi sức nóng của mặt trời nguội tạnh dần, thì sao Kim có nước tụ lại thành sông biển, có không khí và khí quyển hình thành. Lúc đó, nó đúng là chỗ dung thân của con người một khi trái đất đã hoá ra như sao Hoả vì lý do khác nào đó. Đúng là bối cảnh viễn tưởng phải không bạn? Nếu một ngày nào đó mà NASA hay những cơ quan chinh phục không gian tìm thấy được bộ xương người hay sinh vật như trên trái đất nằm dưới lòng đất sao Hoả, thì viễn tượng của bạn có lẽ trở thành huyền thoại!

An bình trong bão tố

Ðược sinh ra làm người là một cái phước, nhưng làm người không phải là dễ, vì luôn luôn phải đối phó với mọi vấn đề đa đoan trong đời sống. Ai cũng muốn được sống thỏa thích theo ý mình, nhưng những ước muốn đó phải được cân bằng với những liên hệ ràng buộc và bổn phận đối với gia đình, xã hội và chính bản thân mình.

Cuộc sống càng văn minh, càng sinh ra nhiều nhu cầu và ràng buộc. Thế giới càng văn minh, càng sinh ra nhiều bất an. Chiến tranh, khủng bố, tội ác bạo tàn luôn luôn đe dọa đời sống của chúng ta, không kể những thiên tai càng ngày càng khốc liệt do hiện tượng hâm nóng địa cầu, hậu quả của kỹ nghệ hóa gây ra. Văn minh kỹ thuật đem lại những tiện nghi lý tưởng, cũng như cải thiện tuổi thọ và sức khỏe của con người, nhưng cũng có mặt trái của nó. Sự lệ thuộc vào máy móc quá nhiều sẽ làm mất đi tính tự do trong đời sống. Phương tiện truyền thông hoàn hảo và nhanh chóng lan tuyền đi những cái xấu và nguy hiểm nhiều không thua gì những cái tốt. Hiện tượng hoàn cầu hóa cải thiện đời sống kinh tế cho các quốc gia, nhưng cũng gây ra những tệ nạn và thảm cảnh do sự du nhập lực lượng lao động trên khắp thế giới. Cái đẹp bao giờ cũng đi đôi với cái xấu, ưu điểm bao giờ cũng đi đôi với khuyết điểm, hai cái đối nghịch nhau nhưng luôn luôn song hành với nhau như ngày và đêm, như ánh sáng và bóng tối. Ðó là đời sống, là bản chất của mọi hiện tượng.

Trong tình huống đó, con người phải sống như thế nào để có được hạnh phúc và sự an bình? Người ta thường mong mỏi có một nơi chốn an lành để sống, hoặc cầu cho mọi sự bao giờ cũng tốt đẹp, được nhiều an lạc. Nhưng không phải lúc nào an lạc cũng đến với chúng ta. Ðời người như một giòng sông, có lúc lên thác xuống ghềnh, có lúc êm đềm chảy trôi, và khi ở trong giòng nước cuốn của nghịch cảnh, nhiều khi không có đủ sức mạnh để vượt qua. Nhưng chúng ta không thể nào chối bỏ được nghịch cảnh, vì đó cũng là một mặt của đời sống.

Ngay trong kiếp nhân sinh cũng tiềm ẩn sẵn những yếu tố của sự đau khổ và bất như ý, với tiến trình sinh, lão, bệnh, tử. Dù có tiền tài, danh vọng, có một hạnh phúc nhân gian lý tưởng, một ngày nào đó hạnh phúc ấy cũng sẽ không còn nữa, và khi đó không khỏi thấy sợ hãi và đau khổ. Tuy nhiên, dù thân có bệnh, có già và chết, nhưng tâm thì vô tướng, vô hình, không có bệnh, già, và chết. Cho nên hạnh phúc do duyên hợp chỉ là hư ảo, tạm thời, còn hạnh phúc trong tâm mới là miên viễn. Hạnh phúc đó là ở nơi tâm bình an. Phật Pháp có câu: “Tâm bình, thế giới bình”. Sự bất an là do những tư tưởng, cảm xúc khởi động trong tâm đối trước cảnh, nếu không trụ vào và bị lôi cuốn theo chúng thì tâm sẽ được vững chãi, yên ổn, và có thể tạo ra một thế giới an bình cho chính mình, dù hoàn cảnh có thế nào chăng nữa. Một câu chuyện ý nghĩa về hòa bình được kể lại như sau:

“Xưa có một vị vua nọ treo giải thưởng cho người nào vẽ nên bức tranh về hòa bình đẹp nhất. Nhiều họa sĩ cùng nhau thi thố tài năng. Sau khi xem qua một lượt những bức vẽ dự thi, vị vua chọn ra hai bức ưng ý nhất. Bây giờ, ông ta phải chọn một trong hai bức này để trao giải.

Bức thứ nhất là cảnh hồ yên tĩnh. Mặt hồ phẳng lặng như một tấm gương soi, được bao bọc xung quanh bởi những ngọn núi cao ngất. Phía trên cao là bầu trời xanh thẳm với những dải mây trắng lững lờ trôi. Tất cả những ai ngắm bức tranh này đều nghĩ rằng đây hẳn là bức tranh tả cảnh hòa bình tuyệt vời nhất.

Bức tranh thứ hai cũng có những ngọn núi. Nhưng chúng trông trần trụi và khô cằn. Bên trên là bầu trời giận dữ. Mưa, sấm chớp thi nhau chui ra từ những cuộn mây đen kịt. Bên dưới, một thác nước lớn đang gào thét. Trong bức tranh này chẳng kiếm đâu ra một chút êm ả.

Thế nhưng, khi vị vua nhìn kỹ vào bức tranh thứ hai, ông ta phát hiện ở phía sau thác nước có một tổ chim nhỏ đang bám vào đá. Trong tổ, một con chim mẹ đang gắp từng cọng cây xây tổ của nó. Ơû nơi đó, giữa tiếng ầm ầm của nước, chim mẹ vẫn bình yên trú trong ngôi nhà của mình.

Bạn biết cuối cùng vị vua đã chọn bức tranh nào rồi chứ? Bức tranh thứ hai, đúng vậy! “Bởi vì”, vị vua giải thích, “hòa bình không có nghĩa là ở một nơi không có tiếng ồn ào, không có những vấn đề rắc rối hay gánh nặng công việc. Hòa bình có nghĩa là ở trong tất cả những điều đó nhưng vẫn cảm nhận được sự bình an trong tâm hồn.”

Trong “Nhập đạo tứ hạnh quán” của Tổ sư Ðạt Ma, có nói về hai thái độ sống cần có để được tự tại. Ðó là “Báo oán hạnh” và “Tùy duyên hạnh”. Báo oán hạnh là chấp nhận nghịch cảnh, vì biết đó là nhân quả chúng ta đã tạo ra. Vì vậy khi quả xấu đến chấp nhận chúng với tâm rộng mở không oán than. “Tùy duyên hạnh” là biết mọi sự do duyên hợp đều vô thường, khi duyên hết phước hay họa rồi cũng sẽ qua đi, nên tâm vẫn bất động trước những xao động của cuộc đời.

Chúng ta hãy như con chim nhỏ, kiên trì xây dựng tổ ấm của mình trong bão tố. Tổ ấm ấy, nếu xây dựng trên nền tảng ý thức tâm linh, sẽ mãi mãi là nơi nương tựa vững chắc nhất cho chúng ta trong tất cả mọi biến đổi vô thường của cuộc đời.

Ngọc Bảo