Wednesday, February 25, 2015

HUYỆT ĐẠO QUỐC GIA AM TIÊN TRÊN ĐỈNH NGÀN NƯA XỨ THANH

Kỳ bí huyệt đạo Quốc gia Am Tiên trên đỉnh ngàn Nưa xứ Thanh


     Văn hóa và tín ngưỡng Việt Nam chịu ảnh hưởng đạo Lão rất mạnh mẽ, không ít địa danh trên toàn quốc đã gắn với " tiên" và mang màu sắc huyền bí như chùa Tiên, đền Tiên, giếng Tiên, động Tiên, am Tiên, cồn Tiên, bãi Tiên. Có ba nơi là địa danh nổi tiếng: 
1. Động Am Tiên ở Hoa Lư tỉnh Ninh Bình.
2. Núi Am Tiên là hệ thống gồm 99 ngọn của dãy núi Hồng Lĩnh tỉnh Hà Tĩnh. 
3. Huyệt đạo Am Tiên tỉnh Thanh Hóa 
         Trong đó, huyệt đạo Am Tiên là quan trọng nhất trong ba huyệt đạo quốc gia ( huyệt đạo thứ hai là ở Đá Chông trên đỉnh Ba Vì; huyệt đạo thứ ba ở núi Bà Đen tỉnh Tây Ninh).
Huyệt đạo Am Tiên nằm trên đỉnh núi Nưa ( còn có tên là núi Na), ở độ cao 585m so với mặt biển, thuộc địa phận xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn tỉnh Thanh Hóa. Địa danh đã gắn liền với cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu năm 248 chống giặc Ngô xâm lược. Theo quốc lộ 47 nhằm hướng Tây đi từ thành phố Thanh Hóa khoảng 30 km, bạn đã có mặt ở chân núi Nưa, hoặc đi xe Bus số 17 xuống điểm đỗ ngã ba xã Tân Ninh... nhưng vẫn còn đường đi tắt khác ngắn hơn, chỉ khoảng 15 km. Từ thành phố Thanh Hóa đến ngã ba cầu Trầu khoảng 200m, rẽ trái vào xã Đông Yên và đi tiếp trên con đường liên xã. Hai bên đường là cánh đồng mạ xuân xanh non, ngút tầm mắt.
Trên đỉnh núi Nưa nên thơ và quyến rũ này, ngoài động Am Tiên, Giếng Tiên, Bàn cờ Tiên, Vườn Thuốc Tiên và Vườn Đào Tiên mà sử sách và truyền thuyết đã nhắc đến như một chốn tu tiên đắc đạo, còn có ngôi chùa cổ gọi là chùa Am Tiên (sách Đại nam nhất thống chí có chép về chùa này), đền chúa Thượng Ngàn (dân gian cho rằng đó là Bà Triệu hoá thân ) và miếu Tu Nưa, thờ vị đạo sĩ thời Trần – Hồ. Ngoài ra ở đây còn có cả một ban thờ lộ thiên thờ thần núi Tản Viên. Năm 2009 thắng cảnh này được nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
       Theo tín ngưỡng dân gian, huyệt đạo trên đỉnh núi Nưa là huyệt khí thiêng- là nơi giao hòa linh khí trời đất. Ngày mùng 9 tháng giêng là ngày mở cửa Trời, chính hội từ 15 tháng giêng đến 20 tháng giêng. Người dân các nơi hành hương về đây cầu cho quốc thái dân an, sức khỏe, hạnh phúc, công danh. Khách du lịch vẫn đến huyệt thiêng suốt các tháng trong năm.
       Bên cạnh các di tích trên, còn các địa danh có trong truyền kỳ: " Truyện người tiều phu núi Na" của Nguyễn Dữ thế kỷ XVI có liên quan đến chúa Hồ Hán Thương mà có lẽ người tiều phu ấy chính là kẻ sĩ đắc đạo; vết tích của ẩn sĩ Trần Tu hiệu Hoàng Mi tiên sinh đời Trần- gặp cuộc loạn đến tu trên đỉnh núi; vết tích nhà ở của Nguyễn Thượng Hiền dưới chân núi...Sự linh thiêng trên đỉnh Ngàn Nưa còn lưu truyền trong dân gian câu:
“Na Sơn nhất phiến, nhất hộ thiên hạ biến!”,.
tạm dịch: 
“Một tiếng hô ở núi Nưa chuyển cả thiên hạ!”.
Các ẩn sĩ có rất nhiều thơ phú, đều thuộc về loại văn chương lãng mạn của Đạo học, giàu tâm lý và nghệ thuật.
Bài thơ thứ nhất bày tỏ cái lý tưởng sống ngoài vòng lễ giáo phép tắc của nhân quần xã hội đã đặt ra để trói buộc con người, coi rẻ tất cả giá trị nhân văn, hoàn toàn buôn thả theo thiên nhiên, không lo nghĩ tính toán "được-mất-sống-chết". Bởi có cái tâm trạng vô tâm, quên mình vào thiên nhiên, không nghĩ việc đã qua, không mong việc sắp tới, không thắc mắc tính toán việc hiện tại nên: 


...Ngẫm lại cổ kim bao đời khanh tướng,
Rêu phủ bia tàn. 
Sao bằng ta: mặt trời đã cao ba thước, 
Giấc điệp hãy mơ màng
Đến hai bài sau (Thích ngủ và Thích cờ), đề trên vách am, thì bày tỏ hai phương diện mâu thuẫn biện chứng của thực tại Sống: "tĩnh" và "động". Thích ngủ, nghĩa là muốn yên ổn, thư thái tâm hồn, thích hợp với bản tính tự nhiên. Nhưng nhà xử sĩ Núi Na còn thích cờ nữa, vì thế sự chẳng khác chi cuộc cờ, biến hóa không thường như mây với gió. Đấy là phương diện động của thực tại. Theo đấy thì nhà xử sĩ trên có lý tưởng muốn thể hiện cả hai phương diện của một thực tại sống, cả "thể" lẫn "dụng", chứ không hẳn một mặt thiên lệch mà quên đời.... Là danh sơn kỳ thú nổi tiếng nên từ xưa núi Nưa đã trở thành nơi hò hẹn của các kẻ sĩ và tao nhân mặc khách. Nhiều người đã lấy núi Nưa làm đề tài sáng tác, ngâm vịnh, mà hiện nay vẫn còn những bài thơ về núi Nưa đặc sắc như: "Na Sơn ca"; "Bài ca thích ngủ" và "Bài ca thích cờ" của Nguyễn Dữ thế kỷ thứ XVI... v.v... 
     Cổng Nghinh môn được xây dựng từ thời Vua Tự Đức, đây là cổng đền có kiểu dáng kiến trúc giống cổng Nghinh môn các đền đài lăng tẩm ở Huế. Mặt trước mặt sau Nghinh môn trang trí những bức tranh sơn thuỷ đắp nổi, tô mầu cảnh núi sông đất nước, linh vật rồng phượng và hoa lá cúc dây hình triện.


    
Cổng tam quan ngôi đền Na Sơn ngay dưới khu chân núi Nưa-  trước và sau khi tôn tạo để vào mùa lễ hội xuân 2013.


 
Đường lên đỉnh huyệt đạo vô cùng cheo leo và hiểm trở.


Có những chỗ dốc cua tay áo như thế này, trập trùng…


Đây vốn là con đường mòn đi lấy củi của những người tiều phu xưa



 .... đầy lau lách trắng xóa giờ đây đang được mở rộng



  Đi trong sương mây mù mịt bằng xe chuyên dùng Uoat để biết cảm giác mạnh, xe luôn cài số 1.



 
Cũng có thể trải nghiệm xe đua như thế này cùng với bạn “ phượt”.


 Rất nhiều các cấp lãnh đạo của Đảng và nhà nước đã đến thăm, trồng cây lưu niệm và đặt đá ở đây.
Người ta đặt xung quanh chùa và cả con đường các cây cổ thụ quý và những phiến đá có hình thù đẹp mắt.


  Phía sau chùa Tiên có một ban thờ ngoài trời. Không thấy có biển đề tên, nhưng xem qua trang phục và thần thái pho tượng, thấy toát nên vẻ đạo cốt giống như một vị tiên của Đạo Lão, có người nói đây là tượng Sơn Thần ( thần núi).



 
   Giếng Tiên- nguồn nước mát trên đỉnh ngàn Nưa không bao giờ cạn. Ai lên đến huyệt đạo cũng muốn mang về một can nước lấy may, để thờ cúng và rửa mặt cho da dẻ thêm phần sáng sủa đẹp đẽ.


 
Sương mù đậm đặc, phủ trắng không gian. Từ rất sớm khách hành hương đã có mặt ở cổng nơi dẫn tới huyệt đạo 
Hai bên đường đi là vườn đào, sắc đào làm ấm hồng một khoảng không trắng bạc.


Lối vào là một con đường nhỏ mờ sương, hai bên rào bằng nứa tép rất thơ mộng


Cổng vào của huyệt đạo


Toàn cảnh huyệt đạo...


...là một khoảng đất rộng được rào nứa xung quanh , chừa ra một lối vào nhỏ.


Khí trời thật thoáng đãng tạo cảm giác vô cùng sảng khoái.


Toàn cảnh huyệt đạo giữa đỉnh ngàn Nưa.



Sau khi thắp hương, khách hành hương đứng giữa trời đất vái 4 phương, họ ngồi xuống đặt tay lên 3 phiến đá xếp giữa huyệt đạo, nhắm mắt lại và lầm rầm cầu xin. Được biết, họ làm như vậy với mong muốn được tiếp thêm một chút năng lượng, sinh khí từ trời đất vào cơ thể




...hoặc đặt bàn tay vào phiến đá giữa huyệt đạo với mong muốn được truyền năng lượng từ trời đất.
 

  
 Một điều kỳ diệu và vô cùng kỳ lạ là : Đứng trong giới hạn của huyệt đạo, thả lỏng cơ thể , nhắm mắt lại thì sẽ thấy một toàn bộ là một màu đỏ lựng bao trùm, màu đỏ ấy tiếp tục đỏ rực lên và chuyển dần sang màu vàng rồi màu xanh nhạt và sau nữa là màu trắng với các hạt bụi li ti lơ lửng…



 Nhưng chỉ cần bước chân ra khỏi vòng rào giới hạn huyệt đạo, nhắm mắt lại thì mọi cái trở nên bình thường, không có gì xảy ra cả. Nếu không tự mình trực tiếp trải nghiệm bằng tâm thức thì khó lòng mà tin được.



 * Mời các bạn xem bản đồ đường đi đến Huyệt đạo



. Mời các bạn xem đường (bấm xem) Video về huyệt đạo: 


INTERNET

Ngục tù lương tâm

Tù ngục có mặt trên thế gian này thiết nghĩ chắc cũng đã lâu lắm rồi, có lẽ từ khi con người biết sống quần tụ với nhau tạo thành xã hội thì tù ngục cũng đã xuất hiện theo đà phát triển của đời sống, có mở rộng tầm mắt, có làm ra của cải, có biết hưởng thụ thì cũng có tội phạm, mà có tội phạm thì có tù ngục, vì đó là phương thế khống chế của nhà cầm quyền, thay mặt xã hội để mưu cầu sự an ninh cho cuộc sống cộng đồng.

Bất kể thời nào cũng có tù ngục, mỗi thời mỗi khác, mỗi nơi một kiểu, nhưng đó là những khái niệm dành cho các nhà chính trị và xã hội học nghiên cứu, khác với điều chúng tôi định nói ở entry này, vì ở đây chúng tôi muốn nói đến một loại ngục tù khác, đó là ngục tù của lương tâm con người.

Thật vậy, phàm là con người, ai cũng có những ngục tù của riêng mình, chiến thắng nó hay không? Vượt qua nó hay là bị nhốt chặt trong nó, đều là do chính mình mà thôi. Ngục tù đó là những ham muốn, là những ganh ghét đố kỵ, là những kiểu hợm mình khoe mẽ, là những thói xấu ta biết đấy, ta không muốn làm, nhưng ta vẫn cứ làm, vẫn cứ bị trói buộc trong ngục tù của chính ta.

Chẳng ai tài giỏi gì mà dám nói tôi không có loại ngục tù ấy, vì trong mỗi con người cái điều thiện điều ác nó hay đi song hành cùng nhau, lúc thì bên này mạnh hơn, lúc thì bên kia mạnh hơn, do vậy mà con người ta thường bị dằn vặt bởi cám dỗ, ham muốn, u mê rồi sinh ra lầm lạc, tự mình nhốt mình vào trong tù ngục của chính mình.

Thí dụ như thấy bạn mình thành đạt hơn mình thì mình sinh ra tức tối thù hằn. Thấy vợ bạn đẹp hơn vợ mình liền sinh lòng ham muốn, rồi tìm cách ruồng rẫy, xa cách, trách móc, nhạt nhẽo với vợ mình. Thấy chồng người ta siêng năng giỏi giang thì tủi hổ vì sao mà chồng mình tầm thường như vậy, mà không biết tìm cho ra cái tốt cái trội của chồng mình.

Thấy thiên hạ giàu hơn mình thì sinh ra hằn học trách móc ông Trời sao bất công. Thấy người ta giỏi hơn mình thì mình bèn kiếm cách hạ bệ, nói xấu, vu oan. Thấy người ta làm nhiều việc tốt hơn mình thì mình sinh ra ganh ghét bực dọc. Thấy người ta có nhiều người quý mến hơn mình thì mình sinh ra ganh tị, ghen ghét, nói xấu. Thế đấy! Ngục tù của con người là ở chỗ ấy đấy. Ham muốn, đòi hỏi không thành rồi sinh ra ganh ghét, tự mình làm điều xấu xa tội lỗi là vậy. Ngục tù là vậy.

Lật bài ngửa ra đi! Ta đã ở trong ngục tù ấy bao năm rồi? Ta còn định trói chặt trong ấy bao lâu nữa? Ta đây nào cũng có hay ho gì đâu, cũng luôn bị ba cái xiềng xích ấy nó lôi kéo, nó cứ rù quến ta, lôi ta đi theo những ham muốn đòi hỏi cho bằng người, cho hơn người mới được, có khi ta thấy cũng cao sang danh vọng đấy, tưởng rằng ta đang đứng ở trên nấc cao của cuộc đời, của xã hội, kỳ thực đó chỉ là những nấc thang đầu tiên, mà có khi cái nấc thang ấy cũng đã rũ mục, không đỡ nổi cho ta đủ sức bước lên nấc thang trên đâu, ta tưởng rằng đời ta nay đã vinh quang, đã thoát khỏi tù ngục của lòng ham muốn, nhưng kỳ thực ta đang ở trong tù ngục của lòng vị kỷ ấy mà chẳng biết.

Thế thì phải làm sao nhỉ? Chắc chắn là ta phải biết nhìn lên trên để hướng tới những điều tốt đẹp mà vươn tới, nhưng cũng phải biết nhìn xuống dưới chân để nhận ra rằng ta còn sung sướng hơn nhiều người, đồng thời cũng xin hãy nhìn chung quanh để thấy người, để nhìn người, để học hỏi, để đỡ nâng, để sẻ chia là vậy, có thế thì ta mới thấy cái xiềng xích ngục tù của tội lỗi sẽ dần dần nhẹ đi trong lương tâm ta, thế cũng là quá đủ phải không bạn nhỉ?

Nhà Nho với Dân chủ

Nghe nói dạo trước đây, tại Dân viện Trung Kỳ có một cuộc bỏ thăm phi chính thức để biểu quyết về vấn đề chính thể; kết quả, trong 49 vị dân biểu, 22 lá thăm ngả về trực trị, không địch nổi với 27 lá ngả về lập hiến; phe lập hiến hát bài khải ca vang dậy trên sông Hương.

Nhiều ông thanh niên nghe thấy thế mà không vui, có kẻ đến bứt đầu bứt cổ. Nhưng tôi, hình như tôi đã biết trước được cái kết quả ấy, nên tôi chẳng hề ngạc nhiên chút nào. Một dân tộc trong khi phần rất đông còn ôm những tư tưởng cũ thì có thể nào nghĩ và làm được những sự ích lợi mới?

Thứ nhất là chủ nghĩa dân chủ, trong khi tư tưởng của nhà nho còn ngầm ngấm thống trị mọi cái óc Việt Nam thì nó, cái chủ nghĩa ấy, chẳng làm sao thực hiện ra được giữa xã hội Việt Nam.

Nhà nho với dân chủ, hai cái ấy không có thể dung hợp nhau, còn là cừu thù nhau từ đời đức Khổng Tử cho đến đời ông Hà Đằng.

Giữa viện Dân biểu Trung Kỳ, ông Hà Đằng làm nghị trưởng, lại thêm bọn các ông Ngô Văn Khải, Nguyễn Đơn Quế, Phan Triệu Khanh, Ngô Đạm, Đặng Cao Đệ, là những cử nhân, tú tài, làm nghị viên; mỗi một người họ lại kéo dăm ba kẻ khác theo mình nữa, linh hồn nhà nho đã thành ra linh hồn của viện, thì phe dân chủ phải thất bại là lẽ tất nhiên.

Đừng lấy làm lạ. Từ hồi nào đến giờ, chúng ta chưa hề có một phen bạo dạn và mạnh mẽ tuyên truyền tư tưởng mới, đánh đổ tư tưởng hủ bại của nhà nho; thứ tư tưởng này nó đâm rễ mọc mầm trong đầu người ta đã sâu rồi thì tự nhiên nó còn vững chãi lắm, dẫu là khi nho giáo đã điêu linh. Lại còn bởi cái nguyên tắc di truyền nữa: trong đám nghị viên có người theo Tây học mà vẫn ôm thứ tư tưởng hủ bại ấy, là vì tiền nhân họ vốn là nhà nho, tư tưởng hủ bại.

Bạn đọc hẳn muốn biết vì sao nhà nho không dung hợp được với dân chủ, hai cái lại còn là cừu thù với nhau. Phải, người Việt Nam ở thế kỷ này, nếu còn chưa biết điều ấy thì nguy hiểm cho cái đời chính trị của mình lắm; phải biết mới được.
*****

Tổ nhà nho là đức Khổng Tử, thì ngài đã nêu ra một cái tiêu biểu quá đáng về sự thờ vua. Trong sự đó hình như có quan hệ với nhân cách, ta rất nên chú ý. Lạ làm sao, cũng đồng là giáo chủ mà các đấng kia uy nghiêm hách dịch bao nhiêu thì đức Khổng Tử lại xù xì lụm thụm bấy nhiêu! Kìa, Thích-ca xưng mình “Trên trời dưới đất, một mình ta là lớn”; Jésus-Christ bảo mình là con của đức Chúa Trời; Mahomet một tay cầm quyển kinh, một tay cầm thanh kiếm. Trước mặt ba vị đó, Khổng Tử chường mình ra, trông rất là thảm hại!

“Khi vào cửa nhà vua, ngài cúi mình xuống dường như chẳng lọt… Vén gấu áo bước lên đền, ngài cúi mình xuống, nín hơi dường như chẳng thở”. Đương thuở đó, lạy vua, người ta đều lạy ở trên đền; một mình ngài lạy ở dưới. Ngài nói rằng: “Lạy ở dưới mới phải lễ; nay lạy ở trên là kiêu. Mặc dù trái với phần đông, ta cứ việc lạy ở dưới”. Những cái cử chỉ đó chép trong sách Luận ngữ là sách đáng tin. Tôi chẳng biết ngài làm làm chi cho khổ thân đến thế! Chắc lúc ấy cũng có người đã chỉ trích, cho nên có lần ngài phải tự giải rằng: “Thờ vua hết lễ, người ta lại cho là dua nịnh!” Theo con mắt chúng ta ngày nay, sự dua nịnh chẳng biết có hay không, nhưng hai chữ “hết lễ” thì thật chẳng biết đến đâu là giới hạn. Lễ gì lại có lễ: đã lạy, còn phải lạy ở dưới đền, tức là ngoài sân?

Đối với vua, đức Khổng Tử đã như thế, cho nên về sự lập thân hành đạo, ngài cũng trông ở vua chứ không dám cậy ở mình. Như ngài thường nói “nếu có ai dùng” thì ngài sẽ làm thế này thế khác. Dùng mới làm, không dùng thì thôi, cái thái độ ấy thật không dùng được dưới chính thể dân chủ.

Thế rồi đến đối với dân, cố nhiên ngài chủ trương cái chính sách ngu dân (obscurantisme). Đức Khổng nói rằng: “Dân, có thể khiến chúng noi theo, chứ không thể khiến chúng hiểu biết” (Câu này còn có hai lối cắt nghĩa khác nữa, song gióng theo cả hai học thuyết của Khổng thánh thì duy có cắt nghĩa như thế mới phù hợp với nhau mà thôi).

Xem một thực sự ngài đã làm, càng thấy đức Khổng chẳng những ưa dùng ngu dân chính sách mà còn đến thẳng tay chuyên chế hay độc tài là khác nữa! Ấy là việc ngài mới lên làm quan toà có bảy ngày mà đã giết một viên quan ở triều là Thiếu Chính Mão. Theo ngài lên án thì viên quan ấy chỉ có tội: 1/ ở đâu có đồ đảng theo đó; 2/ nói ra chúng hay nghe; 3/ trái với lẽ phải, một mình một thế. Ấy chính là lập hội kết xã tự do, ngôn luận tự do, tư tưởng tự do vậy! Chỉ có thế mà bị tử tội, đủ thấy ở dưới trị quyền của Khổng Tử, các quyền tự do dân chủ là quyền mà người Việt Nam chúng tôi đương nài xin, đều bị bóc lột. Trên kia nói nhà nho với dân chủ cừu thù nhau, là thế.

Cái giáo dục của đức Khổng lại tuyệt nhiên không phải là bình dân giáo dục nữa. Coi như sách Đại học, ngài chỉ dạy những việc tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, là việc của vua và các quan mà thôi; trong sách của ngài chưa hề nói đến phận sự làm một người dân phải thế nào. Rất đỗi đến cái vấn đề dân sinh ngài cũng không thèm giảng đến nữa. Có lần đệ tử của ngài là Phàn Trì xin học cấy lúa làm vườn, ngài đều không bảo cho. Khi Phàn Trì ra khỏi, ngài kêu tên tục ông ấy mà mắng rằng: “Thằng Phàn Tu thật là tiểu nhân thay! Người trên ưa lễ thì dân chẳng ai dám chẳng kính; người trên ưa nghĩa thì dân chẳng ai dám chẳng phục; người trên ưa tín thì dân chẳng ai dám chẳng dụng tình: Được thế thì các dân ở bốn phương đều cõng mang con cái nó mà đến, lọ phải cấy lúa làm chi?” Tôi dẫn đoạn sách đó vào đây để làm chứng chắc chắn rằng đức Khổng chỉ dạy cho một hạng người chực làm “người trên”, còn việc dân sinh như cấy lúa, làm vườn thì trối mặc, quả là hợp với cái ngu dân chính sách của ngài. Điều này cũng trái nhau với chủ nghĩa dân chủ nữa, vì theo chủ nghĩa ấy, trước hết phải lấy sự giáo dục công dân làm gốc.

Khổng Tử là thế, nhà nho là thế! Hạ mình một cách thái quá trước mặt vua, và khinh miệt một cách thậm tệ sau lưng dân. Chính ông giáo chủ đã tỏ bày ra cái thái độ như vậy, và cái thái độ ấy rất rõ ràng trong các sách.

Bên Tàu từ xưa có ba cái đạo đã thành lập, tức là Khổng, Lão, Mặc. Đạo Lão ít thịnh, còn đạo Mặc đã diệt vong rồi, là tại không có cái thái độ như đạo Khổng. Khổng giáo thịnh hành ở Trung Quốc hai ngàn năm nay, chẳng có cớ gì khác hơn nó làm lợi cho nhà vua, nhà vua tin dùng nó. Dù kém uy nghiêm hách dịch, nhưng được vinh quang trường cửu, cái mánh khoé ở đời cũng khôn khéo lắm chứ phải chơi đâu!
*****

Khổng giáo với dân chủ đã thế, không lẽ nào tín đồ của nó lại chịu làm trái giáo nghĩa đi mà thoả hiệp riêng. Bởi vậy mà dăm ba mươi năm nay, từ ngày cái chủ nghĩa dân chủ ở phương Tây truyền sang phương Đông, nó chẳng những không được nhà nho hoan nghinh mà còn luôn luôn bị họ phản đối và cự tuyệt.

Ở bên Tàu đã nghiệm thấy điều đó trước nhất. Trong lúc Tôn Văn lập những Hưng Trung hội, Đồng minh hội, cổ xuý cuộc cách mạng cộng hoà, thì thầy trò Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu lập Bảo hoàng hội để duy trì cái ngôi vua của nhà Mãn. Mở lý lịch họ ra mà xem, Khang là tiến sĩ, Lương là cử nhân, đều nhà nho đặc, thì còn đợi gì nữa mà chẳng bài xích cái chủ nghĩa dân chủ của Tôn Trung Sơn, học sinh tốt nghiệp ở một trường y học Thái Tây?

Phải chi cái công việc Khang, Lương làm đó mà thành, thì ta có thể bảo họ chẳng qua tuỳ thời để lập công danh. Nhưng họ đã thất bại, mỗi người đã bị rao mua cái đầu đến mười vạn bạc, lẩn lút ra ngoại quốc mới khỏi chết. Điều ấy chứng tỏ rằng họ đã liều mình theo chủ nghĩa, theo tư tưởng: Bảo hoàng mà đến chết là họ cũng bảo hoàng! Chẳng vậy mà sáu ông nhà nho nữa, gọi là “lục quân tử” cũng trong đảng Khang Lương, đã cùng nhau làm hy sinh cho chủ nghĩa, đồng một ngày bị phơi thây ra giữa chợ sau cơn chính biến năm mậu tuất.

Thế cho biết họ dốc lòng thờ vua, dù có thiệt thòi đến tính mạng cũng lăn vào mà thờ cho kỳ được, nhà nho đã nhiễm sâu cái tư tưởng của đức Khổng mà có cái hoài bão trung thành chân xác như thế, thì họ không có thể thoả hợp được với chủ nghĩa dân chủ, ta cũng không nên trách họ làm chi.

Ở nước ta, ngoài cái trường hợp các ông Hà Đằng còn có trường hợp khác nữa để chứng minh nhà nho với dân chủ là không thể dung nhau. Nhưng tôi thấy lý thuyết ấy đã rõ ràng chắc chắn quá lắm rồi, không cần phải viện thêm ra nữa. Chỉ trừ ra một vài người như ông Phan Chu Trinh, đã thoát được tư tưởng hủ bại thì mới có khuynh hướng về dân chủ. Trái lại, một người Tây học mà ông cha là nhà nho, thì, như tôi đã nói, có lẽ người ấy lại vì lẽ di truyền mà có cái khuynh hướng bảo hoàng.
*** **

Sự lý rành rành ra giữa đó, bây giờ chúng ta nên làm thế nào? Chúng ta nên làm thế nào trong khi các dân tộc khác đều ngả về dân chủ và chúng ta lại thấy dân chủ là có lợi?

Tuyên truyền dân chủ chăng? Một việc đó mà thôi, không đủ. Chúng ta phải hết sức tảo trừ những tư tưởng hủ bại của nhà nho, tức là của đức Khổng Tử mà trong bài này tôi đã kể ra một mớ. Hễ tư tưởng nhà nho còn thống trị cái óc mọi người thì tư tưởng dân chủ không thể nảy sinh ra được.

Chúng ta chớ thấy chữ Hán đã bỏ rồi mà tưởng rằng nho giáo không còn có ảnh hưởng nữa giữa người Việt Nam chúng ta. Chính ở giữa xã hội ta ngày nay, hầu hết mọi việc đều chịu ảnh hưởng của nho giáo từ trước. Chúng ta phải chọn ra cái nào hủ bại thì tẩy nó đi.

Nguồn: Đông Dương tạp chí, Hà Nội, s. 33 (25 Décembre 1937), tr. 14-15.

Phân tâm học Freud với lưỡng đề “Nhân chi sơ tính bản thiện hay tính bản ác trong con người”

Phân tâm học là một học thuyết triết học mang đậm sắc thái đạo đức học được khởi thảo bởi Sigmund Freud, một bác sĩ người Áo. Việc xem xét tồn tại người trong thế giới, như mục đích chủ yếu của triết học phân tâm học, đòi hỏi phải quan tâm đến phương diện đạo đức, vì việc làm rõ bản tính người có liên hệ mật thiết với nhận thức các vấn đề về thiện và ác, các động cơ của hoạt động và các cấm đoán đạo đức, tự do ý chí và số phận, lương tâm và tội lỗi. Do vậy, điều dễ hiểu là Freud phải giải quyết hệ vấn đề bản thể luận và nhận thức luận nhằm mục đích đưa ra quan điểm riêng của mình về các cơ sở đạo đức của con người. Mặc dù Freud không có tác phẩm dành cho xây dựng học thuyết đạo đức, song ông thường xuyên đề cập đến những vấn đề đạo đức trong các tác phẩm khác nhau của mình.

Quan tâm nghiên cứu những quá trình tâm thần ở bên trong và quan hệ qua lại giữa các dục vọng vô thức với ý thức con người, Freud vấp phải hàng loạt vấn đề đạo đức có liên quan với việc xem xét lưỡng đề “nhân chi sơ tính bản thiện hay tính bản ác”. Lưỡng đề này bắt nguồn từ quan niệm triết học về bản tính người, có truyền thống lâu đời trong lịch sử phát triển tư tưởng triết học. Khi giải quyết vấn đề này, các nhà triết học đưa ra những ý kiến rất khác nhau, kể cả đối lập nhau.

Đặt trọng tâm vào các dục vọng vô thức ẩn náu trong miền sâu tâm thức con người và thể hiện là sự không kiềm chế được của cá nhân, Freud quan tâm xem xét phương diện “đen tối” trong tâm thức con người. Giải mã ngôn ngữ biểu tượng của vô thức, chú giải giấc mơ, phát hiện ra các triệu chứng rối loạn tâm thần của cá nhân tất yếu sẽ dẫn ông tới việc thừa nhận bản tính “xấu xa” ẩn náu trong con người, bộc lộ ra ở tính dục bẩm sinh như cái chống đối lại những thành tựu văn hóa của loài người.

Trên thực tế, theo Freud, ngay giấc mơ đã cho thấy các khát vọng phản xã hội, phản luân lý của con người, chúng chứng tỏ những tố chất bẩm sinh “xấu xa” của con người. Những khát vọng đó tự bộc lộ ra dưới hình thức biểu tượng, vì trong giấc mơ, kiểm duyệt của ý thức bị suy giảm, sự tự giám sát của con người bị loại bỏ, những sự cắn rứt của lương tâm vắng mặt. Nhân đây Freud nhắc đến câu cách ngôn của Platon rằng, người tốt dừng lại ở việc nó mơ thấy những gì người xấu làm trong cuộc sống hiện thực. Phân tâm học cùng với việc đặt trọng tâm vào chú giải giấc mơ chỉ khẳng định cách ngôn ấy, vì việc làm rõ ngôn ngữ biểu tượng của vô thức cho phép vạch ra tất cả những ham muốn “xấu xa” của cá nhân mà khi thức bị gạt bỏ và đè nén. Freud quan niệm, vô thức là bình chứa “toàn bộ cái ác của tâm thần con người”[1].

Như vậy, quan niệm phân tâm học về con người căn cứ trên việc thừa nhận hiện diện bản tính “xấu xa”, “ác độc” ở trong nó. Hơn nữa, Freud không những nói về biểu hiện tâm thần “xấu xa” trong thời gian mơ và những ham muốn “ác độc” bị gạt ra khỏi ý thức con người mà còn chỉ ra khả năng tạo ra những xung đột tâm thần bên trong do xung đột giữa các dục vọng vô thức bẩm sinh với các quy định đạo đức của văn hóa. Một mặt, theo ông, có những xung động thù địch đa dạng chống lại người thân, sẵn sàng bộc lộ ra và biểu thị bản chất hiếu chiến, vì “thiên hướng hiếu chiến là thiên hướng bẩm sinh quan trọng nhất trong con người” và có “bản năng hiếu chiến bẩm sinh của con người, có thái độ thù địch của mỗi người đối với mọi người và của mọi người đối với mỗi người”[2].

Mặt khác, bất kỳ xã hội nào cũng căn cứ trên những quy định đạo đức và những yêu cầu luân lý kiềm chế tự do biểu hiện các thiên hướng hiếu chiến và góp phần gạt bỏ những ham muốn bẩm sinh ra khỏi ý thức. Freud nhận xét: “Từ thời thơ ấu của chúng ta, cũng như từ thời thơ ấu của văn hóa nhân loại, những xung động thù địch chống lại người thân đã bị cấm đoán, gạt bỏ ngày một tăng giống như đam mê tình dục của chúng ta. Chúng ta vẫn chưa trưởng thành tới mức có khả năng yêu thương mọi kẻ thù hay chìa cho họ má trái sau khi bị họ tát vào má phải”[3].

Theo Freud, chính việc gắn kết những dục vọng vô thức của con người với những cấm đoán đạo đức thường dẫn tới những sa sút và khủng hoảng tâm thần, đặc biệt trong trường hợp cá nhân không có khả năng phục tùng các quy định của văn hóa đạo đức hiện tồn do thể tạng bẩm sinh hay tâm thế cá nhân của mình. Với cá nhân như vậy, kết cục có thể là khác nhau: từ việc thực hiện những hành vi phản xã hội, những tội ác cho tới việc mắc bệnh rối loạn tâm thần.

Còn đối với những người có cảm tưởng dễ dàng cam chịu những quy định đạo đức của văn hóa, thì theo Freud, họ chỉ giả vờ làm cho hành vi của mình phù hợp với những yêu cầu đạo đức, phục tùng sự cưỡng chế, trong khi luôn sẵn sàng đáp ứng những dục vọng vô thức của mình. “Vô số những người có văn hóa xa lánh việc sát nhân và loạn luân, nhưng lại không khước từ việc đáp ứng những ham muốn tình dục của mình, không bỏ qua cơ hội làm hại người khác bằng cách nói dối, lừa gạt, vu khống, nếu điều đó không làm cho họ bị trừng phạt, sự thật là như vậy trong suốt bao thế kỷ nay”[4]. Theo Freud, điều này có quan hệ như nhau với khát vọng hiếu chiến và với đam mê tình dục của con người.

Ham muốn tình dục bộc lộ một cách hỗn loạn và mạnh mẽ nhất khi chúng được giải thoát khỏi sự kiềm chế của những quy định đạo đức. “Được giải phóng khỏi mọi cấm đoán đạo đức, cái Ngã dễ dàng đón nhận mọi ham muốn tình dục nhất thời, thậm chí cả đam mê đã bị giáo dục đạo đức của chúng ta bác bỏ từ lâu và mâu thuẫn với những yêu cầu đạo đức”[5].

Nếu Freud thừa nhận bản tính “ác” trong con người, thì phải chăng ông đã khẳng định con người sinh ra là ác? Có cảm tưởng là những luận điểm của Freud về bản năng hiếu chiến của con người, về thái độ thù địch giữa người với người, về ham muốn ác độc và chủ ý xấu xa chứng tỏ điều đó là như vậy. Hơn nữa, ông thường xuyên nhấn mạnh quyền lực của vô thức như cội nguồn của cái ác đối với ý thức con người trong sinh hoạt thường nhật.

Tuy nhiên, nếu không phân tích đến cùng các quan điểm đạo đức học của Freud thì sẽ là vội vàng nếu rút ra kết luận rằng, triết học phân tâm học hoàn toàn căn cứ trên tiền đề “nhân chi sơ tính bản ác”. Trên thực tế, lập trường của Freud trong vấn đề này hoàn toàn không nhất quán. Các quan điểm đạo đức học của ông không hoàn toàn phù hợp với truyền thống triết học tuyệt đối hóa bản tính “ác” trong con người.
 
Freud sẵn sàng thừa nhận có yếu tố sự thật trong luận điểm của hàng loạt nhà triết học về bản tính “thiện” trong con người. Nhưng ông kiên quyết chống lại những người giữ lập trường “nhân chi sơ tính bản thiện” mà lại coi việc quan tâm đến những ham muốn “xấu xa” và “độc ác” của con người là không cần thiết. Trái ngược với quan điểm như vậy, Freud cố nghiên cứu chính phương diện “đen tối” của tâm thần con người để chỉ ra con người hoàn toàn không có bản tính thiện, khôn ngoan và cao cả như một số nhà triết học quan niệm khi lý tưởng hóa bản tính người.

Việc Freud hướng vào phương diện “đen tối” của bản tính người được nhiều nhà bình chú sử dụng làm căn cứ để rút ra kết luận về quan niệm phân tâm học về bản tính người như bản tính ác bẩm sinh. Chính các nhà nghiên cứu phương Tây bảo vệ các quan điểm khác đã phê phán phân tâm học trên chiều cạnh này. Song, bất chấp những luận điểm của Freud về thiên hướng hiếu chiến bẩm sinh của con người, ông vẫn không tán thành luận điểm “nhân chi sơ tính bản ác”. Các quan điểm đạo đức học của Freud thực ra chống lại cả hai thái cực “nhân chi sơ tính bản thiện hoặc tính bản ác”.

Freud không phủ định “bản tính thiện” của con người và những mong muốn tốt đẹp của mỗi cá nhân. Với những người không hiểu quan điểm đạo đức học của ông và buộc tội ông tuyệt đối hóa “bản tính ác” của con người, ông lưu ý rằng, ông không bao giờ cố coi nhẹ giá trị những khát vọng tốt đẹp của con người: “Chúng tôi nhấn mạnh toàn bộ cái ác trong con người chỉ vì người khác phủ định nó, nhờ đó đời sống tâm thần con người mặc dù không trở nên tốt hơn, song trở nên dễ hiểu hơn. Nếu chúng ta khước từ đánh giá đạo đức học phiến diện, thì tất nhiên chúng ta sẽ có thể xác định hình thức quan hệ qua lại giữa tính thiện và tính ác ở trong bản tính người”[6].

Đây chính là đặc thù của quan điểm đạo đức học Freud. Nó thể hiện rõ ở nỗ lực của Freud xem xét những ham muốn “ác độc” và những dục vọng “xấu xa” của con người nhằm mục đích làm sáng tỏ các “động cơ” ứng xử chân thực của nó và vạch ra bản chất của các xung đột tâm thần bên trong. Một vấn đề khác là việc đặt trọng tâm vào thiên hướng phá hủy và tình dục thường làm cho Freud xuyên tạc bức tranh hiện thực về tồn tại người trong thế giới. Điều này tất yếu để lại dấu ấn ở quan điểm đạo đức học nói riêng và triết học Freud nói chung.

 Với Freud, điều quan trọng xét trên phương diện đạo đức học là trả lời cho hai vấn đề: thứ nhất, phải chăng những hiện tượng tâm thần xấu xa bộc lộ ra trong giấc mơ thực sự khẳng định ý kiến của một số nhà triết học về bản tính ác của con người? thứ hai, vì chú giải giấc mơ cho thấy những thiên hướng và ham muốn xấu xa của con người, chúng là gì và bản chất của chúng là gì?

Trả lời cho vấn đề thứ nhất là không nan giải đối với Freud, vì ông không thể nhất trí với các nhà tư tưởng tuyệt đối hóa bản tính ác trong con người. Với ông, điều xấu xa trong giấc mơ chỉ là một phương diện biểu hiện những dục vọng vô thức của con người. Phương diện khác thể hiện ở chỗ, việc triển khai cái tâm thần vô thức đi liền không những với sự tụt xuống bản tính thú vật, thấp hèn của con người mà còn với hoạt động nhằm tạo ra những giá trị tinh thần cao cả, như sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo khoa học,...

Điều khủng khiếp bộc lộ ra trong giấc mơ, làm cho con người văn minh lo lắng do tính thấp hèn và thú vật của mình là kết quả đền bù những ham muốn không được thỏa mãn của cá nhân trong cuộc sống hiện thực, nơi mà nó cần phải tính đến những đòi hỏi đạo đức của xã hội. Chỉ trong suy nghĩ, trong giấc mơ, trong mơ ước, con người chịu sự chi phối của những dục vọng vô thức và bản tính “xấu xa” của mình, nhưng trên thực tế thì lại cố ứng xử một cách xứng đáng để không trở thành kẻ đê tiện trong con mắt của những người xung quanh khi mà biểu hiện công khai tình dục và tính hiếu chiến bẩm sinh sẽ bị lên án về mặt đạo đức và xã hội.

Thực ra, với một số người thì lối ứng xử xứng đáng biến thành sự giả nhân giả nghĩa hay thừa nhận một cách không phê phán những giá trị sinh hoạt hiện có, kể cả những mệnh lệnh đạo đức quan phương và phổ biến, trong khi với số khác thì nó dẫn tới rối loạn tâm thần song không động chạm tới thế giới bên ngoài. Trong cả hai trường hợp, theo Freud, con người trở nên nếu không phải hoàn toàn xứng đáng thì ít nhất cũng là ác độc như nó được phác họa theo trí tưởng tượng của các nhà triết học thừa nhận bản tính xấu xa và độc ác của con người. Ông nhận xét: “Trên thực tế, chúng ta hoàn toàn không xấu xa như chúng ta có thể nghĩ dựa trên chú giải giấc mơ”[7].

Trả lời cho câu hỏi thứ hai cũng gây ra những trở ngại cho Freud. Quan niệm phân tâm học về những điều xấu xa bộc lộ ra trong giấc mơ hoàn toàn phù hợp với các định hướng phân tâm học chung, theo đó nhà nghiên cứu hoàn toàn không thể nói gì về các ham muốn vô thức hiện tại của con người nếu không quy giản chúng về các sự kiện quá khứ, về các dục vọng đã từng tồn tại ở giai đoạn thơ ấu của con người riêng biệt hay của toàn bộ văn minh nhân loại. Nếu khi vạch ra những nguyên nhân làm xuất hiện rối loạn tâm thần, Freud quan tâm tới thời thơ ấu của cá nhân, đến những cảm xúc thời thơ ấu của nó, thì khi làm sáng tỏ bản chất của những động thái tâm thần “xấu xa” ở trong giấc mơ, ông viện dẫn vào cuộc sống nguyên thủy, sơ khai của con người, vào những trạng thái tình cảm của nó.

Với Freud, cần phải tìm kiếm nguồn gốc của những ham muốn “ác độc” và chủ ý xấu xa trong giấc mơ không hẳn ở hiện tại mà chủ yếu trong quá khứ, vì chúng “thể hiện là sự quay về với điểm khởi đầu phát triển sắc tộc của chúng ta”[8]. Phù hợp với luận điểm này, Freud gắn liền những suy ngẫm về các thiên hướng xấu xa và các dục vọng vô thức của con người với việc xem xét hệ vấn đề đạo đức tự thân của nó, cụ thể là với việc xem xét nguồn gốc của đạo đức, của các quy định và các yêu cầu đạo đức khác nhau xuất hiện trong tiến trình lịch sử văn minh nhân loại.

Trong tác phẩm Vật tổ và kiêng kị (1913), Freud tiến hành luận giải hàng loạt vấn đề đạo đức từ lập trường phân tâm học. Trước hết, ông quan tâm tới các cội nguồn xuất hiện của đạo đức, cố tách nó ra từ thái độ mang tính hai mặt của con người với những người xung quanh. Chính ở đây, Freud xác lập sự tương đồng giữa rối loạn tâm thần với các cơ sở đầu tiên của những quy tắc đạo đức, giữa các cấm đoán áp đặt của người rối loạn tâm thần sống trong nền văn hóa hiện đại với cấm kị, tức cấm đoán cổ xưa nhằm chống lại dục vọng của con người trong xã hội nguyên thủy.

Tâm thế hai mặt của con người xuất hiện trong cả hai trường hợp, nó thể hiện ở ý thức ràng buộc và tao nhã, nhưng đồng thời là ý thức căm thù và thù địch đối với đối tượng yêu thương hay sùng kính. Đây là một phương diện của sự giống nhau giữa bệnh rối loạn tâm thần và tabu được chế định bởi sự phân đôi của ý thức con người. Phương diện khác của nó thể hiện ở sự hiện diện đồng thời khát vọng hoan lạc bị gạt xuống tiềm thức và cấm đoán được áp đặt từ bên ngoài và được lĩnh hội như thế lực quỷ dữ, xấu xa, hay ngược lại như cái thần thánh, bất khả xâm phạm.

Rốt cuộc, Freud xuất phát từ việc xem xét về phương diện lịch sử và phương diện chức năng, trạng thái bị áp đặt của người rối loạn tâm thần và các cấm đoán cổ xưa có một điểm tương đồng - sự hiện diện “mệnh lệnh tuyệt đối” cho thấy các cơ sở đạo đức của tồn tại người. Dẫu sao ông cũng cho rằng, vốn xuất hiện từ thời đại lịch sử xa xưa của xã hội nguyên thủy, tabu giữ nguyên ý nghĩa của mình trong đời sống tâm thần của con người hiện đại. Theo Freud, xét về bản chất tâm thần của mình, nó không phải cái gì khác như là “mệnh lệnh tuyệt đối” của Kant”[9]. Do vậy, quan niệm phân tâm học về đạo đức được ông rút ra từ nghiên cứu lịch sử xuất hiện của tabu, vì “việc luận giải tabu có thể làm sáng tỏ cội nguồn mờ ám “mệnh lệnh tuyệt đối” của bản thân chúng ta”[10].

Theo Freud, các tabu cơ bản lần đầu tiên đã xuất hiện trong lịch sử phát triển của loài người, chúng có định hướng loại bỏ những mong muốn thái quá của con người có tâm thế hai mặt thể hiện ở cám dỗ và kiềm chế, ở mong muốn đáp ứng dục vọng và đồng thời kiềm chế vi phạm tabu. Đó là luận giải phân tâm học về lịch sử ra đời các nền tảng đạo đức của loài người dựa trên cơ sở cấm đoán, đè nén và gạt bỏ những ham muốn khởi thủy của con người và có nguyên nhân đầu tiên của mình là “tội trọng” gắn liền với việc giết cha ở trong bầy người nguyên thủy và với sự ra đời của ý thức tội lỗi về hành vi thực hiện. Do vậy, theo Freud, nếu xã hội căn cứ trên sự tham dự vào tội ác cùng thực hiện, thì đạo đức căn cứ “một phần trên những nhu cầu của xã hội ấy, một phần trên sự sám hối do ý thức tội lỗi đòi hỏi”[11].

Chúng ta có thể đánh giá quan niệm phân tâm học của Freud về đạo đức như thế nào? Thứ nhất, việc đem đối lập giữa những điều tiết hành vi con người căn cứ trên thỏa thuận giữa những người con trai về vấn đề không động chạm tới vật tổ như cái thay thế người cha, với cái bức chế có quyền uy lúc đầu hiện diện ở trong bầy người nguyên thủy không thể trở thành căn cứ đầy đủ để khẳng định các điểm khởi đầu của đạo đức. Vả lại, xét về thực chất, vấn đề không hẳn là những quy tắc đạo đức ở trong xã hội nguyên thủy, mà chủ yếu là điều tiết xã hội đối với hành vi của con người ở trong nó. Nhưng, bản thân việc thay đổi các cơ chế điều tiết xã hội ở trong xã hội, loại hình quan hệ giữa người với người, giữa con người với giới tự nhiên bao quanh, vẫn chưa chứng tỏ các nguyên tắc đạo đức của tồn tại người. Tabu mà Freud nói tới trước hết là hình thức cổ xưa của chuẩn tắc xã hội, khi mà việc cấm đoán sát nhân và loạn luân không phải là các cấm đoán đạo đức thuần túy. Các cấm đoán này là các điều tiết vô cá tính đối với hành vi con người, căn cứ không hẳn trên ý thức đạo đức, mà chủ yếu trên quy định xã hội chiếm ưu thế trong xã hội nguyên thủy.

Do vậy, không nên thừa nhận việc tách biệt tabu như xuất phát điểm xuất hiện của đạo đức là thỏa đáng. Dẫu sao thì cách tiếp cận như vậy cũng không cho phép giải thích sự đặc thù của đạo đức, khác biệt của các quy tắc và các cấm đoán đạo đức với các điều tiết xã hội. “Đạo đức căn cứ trên sự tự trị của tinh thần con người”[12]. Chính sự tự trị này, sự cao hứng của con người thông qua các điều tiết bên ngoài tự động, mù quáng đối với hành vi của nó không đơn giản dẫn tới sự tự giác suy xét hành vi mà còn dẫn tới sự xuất hiện ý thức đạo đức, sự hình thành đạo đức. Với quan niệm phân tâm học, nguồn gốc của đạo đức hóa ra bị đồng nhất với sự thay thế các hệ chuẩn (paradigme) điều tiết xã hội trong xã hội nguyên thủy, điều này cho phép xem xét một số đặc điểm của tabu và totem, nhưng không đảm bảo vạch ra bản chất của các chuẩn tắc đạo đức tự thân chúng.

Thứ hai, việc Freud viện dẫn sự kiện giết cha trong bầy người nguyên thủy vào ý thức tội lỗi và sám hối của các anh em trai vì tội ác họ đã thực hiện không thể trở thành nguyên tắc phương pháp luận xuất phát đáng tin cậy, cơ sở để luận giải nguồn gốc của đạo đức. Trên thực tế, Freud tách biệt đạo đức ra từ sự kiện kinh nghiệm, tức là sự kiện gắn liền với việc giết cha, trong khi thực tại kinh nghiệm tự thân nó không cho phép vượt lên trình độ ý thức đạo đức, trong đó các quan niệm đạo đức hình thành.

Ngoài ra, khi cố giải thích cội nguồn xuất hiện của đạo đức, Freud đã sử dụng các khái niệm như tội lỗi và sám hối. Song điều này lại có nghĩa rằng, việc khảo cứu đạo đức được thực hiện thông qua bản thân các khái niệm cần được giải thích. Như vậy, Freud bị sa vào “vòng luẩn quẩn trong chứng minh”, vì triết học phân tâm học tách biệt đạo đức ra từ ý thức đạo đức về tội lỗi và sám hối, trong khi bản thân ý thức này lại được luận giải trên phương diện phản ứng tâm thần đối với hành vi phạm tội, đặt cơ sở cho sự xuất hiện của đạo đức.

Freud đã đưa ra quan niệm rộng về đạo đức, vì sám hối được ông liên hệ hoàn toàn với lĩnh vực đạo đức. Vị tất có thể xem xét sám hối của con người hoàn toàn thông qua lăng kính những định hướng đạo đức. Vả lại không phải mọi sám hối đều là hệ quả của ý thức đạo đức. Nó có thể có các nguyên nhân khác nằm ngoài lĩnh vực đạo đức. Do vậy, trước hết cần phải làm sáng tỏ sự đặc thù của sám hối đạo đức và chứng minh chính nó trở thành cơ sở cho những chuẩn tắc đạo đức của tồn tại người trong xã hội nguyên thủy, nếu Freud muốn viện dẫn vào việc giết cha.

Nhưng sự luận giải phân tâm học về đạo đức bỏ qua chứng minh như vậy. Nó căn cứ trên giả định rằng, nguyên tắc xuất phát trong nghiên cứu vạn vật là “phức hệ Eudip” được Freud sử dụng như nhau để giải thích các nguyên nhân xuất hiện của rối loạn tâm thần hay hoạt động sáng tạo, cũng như các cội nguồn hình thành đạo đức, xuất hiện ý thức đạo đức về tội lỗi và sám hối. Ông nhấn mạnh: “Ở toàn bộ loài người, ý thức về tội lỗi của mình - nguồn gốc đầu tiên của tôn giáo và đạo đức đã xuất hiện ở điểm khởi đầu đời sống lịch sử của loài người từ phức hệ Eudip”[13].

Cách tiếp cận như vậy với nghiên cứu hệ vấn đề đạo đức sẽ không hữu hiệu vì, một mặt, đạo đức được xem xét thông qua các khái niệm đạo đức, điều này dẫn tới nhảm nhí, mặt khác, nó làm mất sự đặc thù của các hiện tượng đứng cùng một dãy, bởi lẽ “phức hệ Eudip” trở thành phương tiện vạn năng, được áp dụng cho mọi trường hợp, điều này trái ngược với tinh thần nghiên cứu khoa học đích thực về tồn tại người trong thế giới, kể cả các nền tảng đạo đức của nó. Thứ ba, việc Freud tách biệt đạo đức ra từ ý thức tội lỗi và sám hối, rốt cuộc là từ “phức hệ Eudip”, dẫn tới các trở ngại và mâu thuẫn về phương pháp luận và đạo đức học không giải quyết được. Trên thực tế, tại sao sau khi giết cha, các anh em trai lại bị ý thức tội lỗi và sám hối xâm chiếm? Lẽ nào chỉ vì họ trở thành phạm nhân xâm phạm các điều tiết ứng xử trong xã hội nguyên thủy? Song, thậm chí ở trên trình độ tổ chức đời sống xã hội cao hơn, không phải mỗi phạm nhân đều có ý thức đạo đức và biết sám hối về những hành vi đã thực hiện. Lập trường phân tâm học cho thấy, hoạt động vô thức của những người con trai ở trong bầy người nguyên thủy chuyển biến một cách huyền bí thành thái độ tự giác, có đạo đức đối với hành vi của mình. Thậm chí nếu giả định rằng, ý thức đạo đức đã xuất hiện ở họ, thì điều này không có nghĩa họ nhất định thừa nhận tội lỗi của mình. Thực ra ở đây xuất hiện các kiểu tự biện minh khác nhau gắn liền với sự cần thiết đấu tranh vì tồn tại.

Những ràng buộc máu mủ là trạng thái tự nhiên của con người, không phải bao giờ cũng đi liền với những mệnh lệnh đạo đức. Từ đó không thể tách biệt ý thức đạo đức một cách nhất quán, như Freud đã làm. Chính vì vậy mà ông đã gắn liền tất cả mọi chuẩn tắc đạo đức chính với “phức hệ Eudip”. Thí dụ, Freud không những luận giải ý thức đạo đức như cái bắt nguồn từ hành vi đáng hổ thẹn mà còn xem xét hành vi như cái do ý thức tội lỗi quy định, khi mà tội ác được thực hiện nhờ xuất phát từ ý thức về tội lỗi do “phức hệ Eudip” quy định. Ông kiến giải lương tâm của con người một cách tương tự khi cho rằng, “loài người có được nó nhờ phức hệ Eudip”[14].

Tất cả những điều nói trên hoàn toàn không có nghĩa rằng, việc Freud khảo cứu hệ vấn đề đạo đức học là hoàn toàn vô nghĩa. Ông đã khám phá ra các phương diện quan trọng trong hoạt động có động cơ của con người, việc hiểu biết chúng là cần thiết để phát hiện ra bản tính người, cũng như tồn tại người trong thế giới. Vấn đề là tính quy định hai mặt của hành vi con người gắn liền với những dục vọng bẩm sinh của cá nhân và những yêu cầu đạo đức xã hội của môi trường xung quanh, với những kích thích bên trong và bên ngoài, cũng như với những cấm đoán áp đặt cho con người. Đóng góp của Freud là ở chỗ, khác với những suy luận tư biện của một số nhà triết học quá khứ cùng với sự đặt trọng tâm phiến diện của họ hoặc vào các tính quy định bên ngoài, hoặc vào các tính quy định của hành vi con người, ông quan tâm đến các cơ chế tâm thần của hoạt động người, cố khảo cứu quá trình “nội hiện hóa” các cấm đoán đạo đức dẫn tới những xung đột tâm thần bên trong và rối loạn tâm thần của cá nhân.


1 З.Фрейд. Психология масс и анализ человеческого Я [Tâm lý học đại chúng và phân tích cái Ngã con người], Мatxcơva, 1925, tr. 10.
2 The Standard Edition of the Complete Psychological Works of Sigmund Freud [Toàn tập các tác phẩm phân tâm học của Freud, Bản chuẩn], Vol. 21, London, 1961, tr. 122.
3 З.Фрейд. Остромие и его отношение к бессознательному [Thông minh và quan hệ của nó với vô thức], Мatxcơva, 1925, tr. 137.
4 З.Фрейд.  Будущность одной иллюзии [Tương lai của một ảo tưởng], Мatxcơva,-Л., 1930, tr. 14.
5 З.Фрейд. Лекции по введению в психоанализ [Những bài giảng nhập môn phân tâm học], Т.1, Matxcơva, 1989, tr. 148.
6 Sđd, tr. 152-153.
7 З.Фрейд. Лекции по введению в психоанализ, Т.1. M, 1989, tr. 219.
8 Sđd, tr. 219.
9 З.Фрейд. Тотем и табу. Психология первобытной культры и религии [Vật tổ và cấm kị, Tâm lý học văn hóa và tôn giáo nguyên thủy], М, 1923, tr. 13.
10 Sđd, tr. 36.
11 Sđd, tr. 155.
12 C.Mác. Toàn tập, T. 1, tr. 13.
13 З.Фрейд. Лекции по введению в психоанализ, Т.1. M, 1989, tr. 121.
14 З.Фрейд. Некоторые типы характеров из психологической практики // Психоанализ и учение о характере [Một số loại hình tính cách được rút ra từ thực tiễn phân tâm // Phân tâm học và học thuyết về tính cách], Мatxcơva, 1923, tr. 191.

Tuesday, February 24, 2015

THẾ NÀO LÀ VĂN MINH?

Ngày nay với thời đại công nghệ thông tin, việc tiếp xúc những thông tin không những trong nước mà còn đối với cả nước ngoài, trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Bên cạnh những mặt tích cực thì cũng có những mặt hạn chế do những nguồn thông tin đó mang lại, với hiệu ứng đám đông tâm lý bầy đàn, căn bệnh sính ngoại của bộ phận không nhỏ cư dân mạng trở thành những kẻ dựa vào những thông tin trên một số tờ báo nước ngoài, hay những nguồn thông tin chém gió tào lao câu like, ở đâu đó rồi bắt đầu quay trở lại chửi ngay chính đồng bào mình, chửi cả cái nôi và nền văn hóa nuôi dưỡng họ bấy lâu nay.

Chúng ta đều biết mỗi nước đều có mỗi nền văn hóa khác nhau, không nước nào giống nước nào,mỗi nước đều mang những bản sắt khác nhau, thế nên anh không thế lấy chuẩn mực của những nền văn hóa của các nước phương tây rồi đem ra so với người việt từ đó đánh giá dân việt thiếu văn minh mọi rợ.



Ví dụ: Như người Phương Tây xem nhẹ chuyện trai gái bồ bịch là điều bình thường, còn người Phương Đông chúng ta xem đó là hủ hóa. Vậy trong trường hợp này bạn nghĩ ai văn minh hơn ai?



Rồi như một số chuyện trong thời gian gần đây, có một số du khách nước ngoài sau khi đến việt nam du lịch, thấy cảnh người việt ăn thịt chó rồi bắt đầu chụp ảnh đăng đàn lên. Rồi thời gian gần đây, báo chí, truyền hình và trên các trang mạng xã hội đều bình phẩm về tục chém lợn của người dân Ném Thượng ở Bắc Ninh....thế là một số báo trong nước adua theo phong trào, bắt đầu chí trích những người ăn thịt chó, chém lợn là man di mọi rợ, trong vòng khoảng 2 tháng trên tất cả các mặt báo tràn ngập những thông tin khóc thương chó mèo, chửi những người ăn thịt chó, chém lợn là bất nhân, thiếu văn minh, rồi những căn bệnh nguyên nhân từ chó nỗi đầy trên các mặt báo.

Còn cộng đồng mạng thì tràn ngập nước mắt khóc thương chó mèo, lợn gà cho dù từ nhỏ tới lớn tôi dám đảm bảo họ chưa bao giờ nuôi một chú chó nào?

Đó chính là hiệu ứng đám đông, tâm lý bầy đàn adua theo phong trào của một số không ít cộng đồng mạng Việt Nam trong đó có nguyên nhân trực tiếp có sự adua của một nền báo chí bát nháo.

Nếu xem việc ăn thịt chó, chém lợn của người việt là thiếu văn minh thì việc người Nhật săn bắt cá voi giết thịt lại càn man di mọi rợ không kém. Đối với dân việt, nhất là dân đi biển thì cá voi được gọi tôn kính và gọi bằng ông, đi biển mà gặp cá voi được xem là điều may mắn, khi có con cá nào chết thì dân lập đền thờ không bao giờ xé thịt. Vậy mà người Nhật thì sao, trong những cuộc săn cá voi hàng năm ở vịnh Taiji, người Nhật sử dụng sóng âm dồn khoảng 2500 con cá voi vào một vịnh nhỏ và để chúng mắc kẹt ở đó qua đêm. Sáng hôm sau, họ đâm chết đàn cá bằng lao móc, lưỡi câu và dao. Máu cá voi nhuộm đỏ cả vùng vịnh.

Vậy xem ra ai văn minh hơn ai? Tại sao tôi chả thấy người dân Nhật hay người dân các nước chê bai đất nước hay nền văn hóa của họ vì việc họ săn cá voi vậy? Phải chăng cái gì nước ngoài đều tốt ta đều xấu?

Quay trở lại với việc ăn thịt chó của người việt. Vì sao Tây không ăn thịt chó còn ta thì ăn thịt chó?

Nói thắng ra là vì nó không biết ăn. Thịt chó Tây nhạt thếch, đó là lời cụ Vũ Bằng nói trong tác phẩm “Thương nhớ mười hai”. Muốn tạo ra một món ăn lên thành số dzách phải hội đủ hai thứ đó là nguyên vật liệu và nghệ thuật chế biến. Bọn Tây cái gì cũng có, cũng to, củ hành nó to hơn ta, gừng nó to hơn, chuối nó to hơn, cái gì nó cũng hơn, cũng có, ngoại trừ riềng, mẻ, mắm tôm và bàn tay khéo léo của người Châu Á. Hồi xưa, cách đây độ trăm năm thôi, nó cũng biết làm thịt chó, cũng ăn thịt chó ầm ầm nhưng có lẽ trình độ chế biến kém cỏi vì chỉ lo chế động cơ hơi nước, động cơ đốt trong gì gì đó nên không được ngon, nâng lên tầm nghệ thuật như ta. Thật đáng tiếc.

Chất lượng thịt đã dở, nguyên liệu cấu thành để khử mùi, tạo mùi quyến rũ không có, cộng với bàn tay đồ tể du mục truyền lại thì làm sao chế ra được món ăn tuyệt hảo hội đủ âm dương ngũ hành như món cẩu nhục bá đạo của ta.

Nói ăn thịt chó nhưng chúng ta lại quên mất là phải có mấy thứ đi kèm bao gồm: rượu, lá mơ tam thể, bánh đa nướng, húng chó, hành sống, sả, ớt…và bạn nhậu.

“Rượu Tây đắng nghét như c** bọ lẹt, tao đổ hết, giữ lại cái vỏ vì nó đẹp” đó là lời lão Chộp làng An Đoài nói với đám con cháu sau khi ghé Tòa đại sứ Mỹ ở Hà Nội (Cụ là dân quân từng bắt sống phi công Mỹ Pete Peterson trong CTVN, sau ông này được cử làm đại sứ, có mời cụ đến làm vài chén để anh em ôn lại kỷ niệm cũ).

Rượu thì dở, lại không có bánh đa, lá mơ thì ăn làm gì được. Bạn nhậu thì hết tuần vợ mới cho đi, không cho thì phải ở nhà, chả như bên ta, ới cái là có mặt, thịt chó, rượu ngon, bạn hiền, xả ga, tha hồ nói xấu mụ vợ già, sếp lớn sếp nhỏ, chả sợ bố con thằng nào. Cho nên bọn Tây tuyền đạo đức giả, gato nên toàn nói bậy.

Tàn ác hay vô nhân đạo hay không là nhận thức của từng người. Đừng lấy cảm giác của mình áp đặt lên người khác. Nhà bạn nuôi chó, bạn có cảm tình với nó. OK. Thế thì bạn đừng ăn thịt cho, thấy người khác ăn thịt chó thì bạn có thể quay đi. Chứ đừng quy cho người ta là tàn ác hay vô nhân đạo, vì trong mắt họ con chó chẳng có ý nghĩa gì cả.

Ví dụ:  Tôi có 1 anh bạn nuôi gà cảnh. Phải nói là nó yêu gà còn hơn yêu người yêu, gà ốm nó cũng lăn ra ốm. Giờ thấy bạn ăn thịt gà nó nói bạn tàn ác và vô nhân đạo thì bạn nghĩ thế nào?

Bạn lôi người nước ngoài ra để nâng tầm lập luận của bạn. Thế thì bạn hãy sang Nhật Bản đấu trang hộ mình cái vụ tàn sát cá heo với. Mình thấy nó còn tàn ác và vô nhân đạo hơn cái khoản thịt chó này nhiều.

Thế nên đừng lấy văn minh của người này áp dụng chuẩn mực cho người kia,chưa hắn gì tây đã là văn minh còn ta thì mọi rợ.

Linh Nguyễn


HOÀI NIỆM VỀ TẾT XƯA VÀ TẾT NAY

Mỗi dịp Tết đến, xuân về người ta thường hoài niệm về Tết của những “ngày xưa” thơ ấu. Vật đổi, sao dời, mỗi thời, mỗi khác! Vẫn biết thế nhưng những ký ức về Tết “xưa” luôn chất chứa nhiều cảm xúc. 


Ngày trước, miếng cơm, manh áo vẫn là gánh nặng, là nỗi ám ảnh choán kín tâm hồn của nhiều gia đình Việt. “Ăn Tết” được hiểu theo đúng nghĩa đen của nó vì chỉ đến ngày Tết các gia đình mới có thể mạnh dạn vung tay để có những bữa ăn ngon và mặc đẹp sau một năm làm việc cơ cực.

Quê Lúa, ăn Tết gói gọn trong những sản phẩm “tự cung, tự cấp”. Nhà nào cũng trồng lúa, chăn nuôi gà lợn, thả cả. Chuẩn bị cho cái Tết, 4 – 5 nhà trong xóm thường rủ nhau thịt một con lợn chừng 65 kg. Sau đó tùy khẩu phần ăn trong gia đình mà mỗi nhà “đụng” nhiều hay ít. Tùy từng năm được hay mất mùa mà thịt con lợn to hay bé. Trong năm gia đình nào có nhiều niềm vui, làm ăn thắng lợi thì ăn Tết sẽ to hơn và phần “đụng” sẽ lớn hơn. Sau đó có nhà sẽ trả bằng tiền hoặc bằng lúa tùy thỏa thuận với gia đình thịt lợn.

Đến bây giờ nghĩ lại vẫn thấy thú vị vì việc thanh toán bằng hình thức trao đổi ngang giá từ hàng nghìn năm trước nhưng vẫn được duy trì ở làng quê mình cách đây hơn 1 thập kỷ.

Tết thường chính thức bắt đầu từ ngày 27 đến 28 tháng 12 âm lịch khi các nhà hò nhau đi thịt lợn, hái lá dong, xay gạo nếp gói bánh chưng…Thời đó pháo chưa bị cấm nên nhiều gia đình tự gói pháo nổ. Thỉnh thoảng đây đó lại vang lên tiếng pháo như tiếng chuông đồng hồ đếm ngược nhắc nhở mọi người thời khắc giao thừa đang đến gần. Càng gần ngày Tết, lượng pháo nổ càng dồn dập hơn, làm nhịp tim đập rộn ràng hơn.

Niềm vui của trẻ con ngày ấy cũng thật giản đơn. Có khi là đi chợ quê làm nhiệm vụ trông xe và được mẹ “trả công” bằng những chiếc bánh rán bọc đường. Cũng có khi là được tham gia vào việc gói bánh chưng, bóc hành, đuổi mèo, giã giò, hái rau thơm…

Nói tóm lại là những việc rất lặt vặt nhưng “ì òm” tạo nên một không khí Tết rất đặc trưng. Khi gói gần hết bánh lớn còn thừa ít gạo sẽ gói thành bánh nhỏ không cần khuôn. Mình rất háo hức với những chiếc bánh này vì nó thường chín trước khi luộc xong cả nồi bánh lớn và đương nhiên là tôi được ăn trước ngay cả khi chưa thắp hương các cụ!

Ngày đó bánh kẹo cũng khá hiếm chưa có thương hiệu như Kinh Đô, Bibica, Hữu Nghị… nên ở quê các bà mẹ thường tự làm kẹo gừng, kẹo lạc bằng đường phên. Những chiếc kẹo cay nồng vẫn còn nguyên mùi đường là thứ gia vị tuổi thơ không bao giờ quên đối với một thân hình còm nhom (cho đến tận bây giờ) như mình!

Tivi, xe máy thời đó là một thứ rất xa xỉ mà gia đình nào có sẽ được xếp vào một đẳng cấp riêng. Số đó đếm trên đầu ngón tay, cả xã chỉ có một đến hai gia đình. Nhà nào có casset, ngày Tết bật lên những bản nhạc Chế Linh, Trường Vũ cũng là cả một sự sang trọng đáng mơ ước.

Xa quê ngót 15 năm, năm nào mình cũng về quê ăn Tết. Tết quê bây giờ đã khác xưa nhiều lắm. Xe máy nhiều hơn khiến ngày Tết như ngắn lại. Qua ngày mùng 1 đã cảm giác hết Tết vì chỉ trong vòng 1 ngày mọi người đã có thể đi chúc tết hết lượt.

Cuộc sống hiện đại tạo ra nhiều giá trị mới, mang đến nhiều niềm vui mới nên ngày Tết phai phôi đi ít nhiều ý nghĩa. Đó là thành quả phải mất nhiều năm mới có được.

Nhưng Tết “xưa” vẫn còn nguyên giá trị in đậm trong tâm trí mỗi người bởi nỗi ám ảnh về miếng cơm, manh áo.

Viết tới đây chợt nhớ đến bài thơ Ông Đồ đầy hoài niệm của nhà thơ Vũ Đình Liên. Ngày đó nhà thơ Liên thấy nhớ thầy đồ với áo the, khăn xếp, viết câu đối. Có lẽ cho dù ở thời nào, tết luôn mang lại hoài niệm với bất cứ ai.

15 năm nữa thế hệ sau sẽ lại hoài niệm về Tết bây giờ với những cảm xúc rất riêng. Có thể lúc đó mình sẽ về quê bằng tàu điện ngầm, đường săt trên cao.

Sự tiếp nối ấy là sợi dây kết nối các thế hệ mà mỗi mùa xuân như một nấc thang hướng đến cuộc sống tốt đẹp hơn ./.

Phong Linh

Căn bản khi đi kinh hành

Đi kinh hành để chánh niệm tỉnh giác thì mới đầu đừng nhìn xuống chân, vì nhìn xuống chân như vậy sức gom tâm mạnh quá, tập trung quá, mặc dù biết rằng cái biết bước chân đi rất rõ bởi vì mắt ta nhìn ở đâu thì ý tập trung ở đó. Mới tập luyện thì chỉ nên tập để biết bước đi.

Nếu đếm trước khi bước đi thì số đếm đó là một lệnh. Khi ra lệnh để bước thì sức tỉnh giác cao hơn đếm sau bước đi. Tác ý “Tôi đi tôi biết tôi đi” rồi ra lệnh “Bước!”. Ra lệnh rồi mới bắt đầu đi sau lệnh đó và mắt thì nhìn tới trước độ 2 hay 3 mét nhưng ý thì lắng nghe bước đi của mình. Nên nhớ ý lắng nghe bước đi còn con mắt thì hãy nhìn ra xa để thư giãn bớt sự tập trung, nhờ thế sẽ thấy thoải mái dễ chịu nhưng ý không rời biết bước chân. Nếu gom mắt, tai, thân, ý vào bước đi thì ức chế quá.

Đi kinh hành thì cần phải nhiếp phục tâm và an trú tâm được xong quý vị đi mới không bị hao năng lượng. Nếu chưa nhiếp phục tâm và an trú tâm thì bị hao năng lượng, vì thế lúc đầu mới tập quý vị bị hao năng lượng nên cần phải ngủ để bù đắp. Khi nhiếp phục và an trú tâm được rồi thì bắt đầu từ đó sự tập luyện sẽ phát sinh ra năng lượng cho quý vị. Lúc đó nó sẽ tự động làm giảm giờ ngủ, tăng giờ tập luyện lên, quý vị sẽ đạt được kết quả vững vàng, sung mãn và thâm sâu trong các pháp và sức tỉnh giác tăng cao.

Không phải là khi đạt được không niệm khởi trong 20 bước hay trong 10 bước và tất cả mỗi 20 bước đều không niệm khởi thì tăng số đếm bước lên. Không phải vậy. Vẫn giữ số 20 bước và tập luyện làm sao để tâm được an trú trong số bước đó, khoan tăng số bước lên. Nếu tăng số đếm bước lên thì quý vị bị hao năng lượng nhiều hơn nữa, như vậy quý vị sẽ bị hôn trầm thuỳ miên, không tập luyện được.

Tập luyện cho đến khi chỉ cần bước vài bước là quý vị đã an trú được, có sự an lạc trong bước đi, trong thân tâm nên không bị hao năng lượng. Sự an trú sẽ từ từ tăng từ thấp lên cao, càng ngày càng mạnh rõ ràng và mau đạt được. Phải hoàn toàn chủ động cho được, muốn nhiếp là nhiếp được. Tập luyện 20 bước chứ càng tập luyện quý vị càng khoẻ.

Pháp Phật tập luyện đúng rồi thì năng lượng ngày càng được sung mãn; xả tập luyện ra, thấy trong người khoẻ khoắn thích thú, trong khi tập luyện thì được an vui, an lạc. Căn bản là ngay từ đầu tập luyện ta phải biết cách chế ngự cho đúng, đừng rơi vào ức chế mà cho là chế ngự. Thường sáu thức mắt, tai, mũi,lưỡi, thân, ý bị ức chế thì tưởng thức mới hoạt động. Sự ức chế là nguyên do, là động lực làm tưởng thức hoạt động.

Qúy vị đi, đừng đi nhanh, mà phải đi chậm, nhắc từng bước đi của “Trái bước!”, “Mặt bước!” rồi dơ chân đi và lưu ý từng bước. Quý vị tập luyện như vậy, năng lực rất cao. Cái ý biết điều khiển tổng thể bước đi. Các động tác đi có sự điều khiển của ý. Ý phải tác động hành động đi nên nó phải đi trước hành động thân.

Đếm số bước là để làm sao trong số bước đó ý phải điều khiển thân để không còn vọng tưởng xen vô. Tập luyện như vậy thì chất lượng rất cao. Nếu trong 20 bước mà vọng tưởng vẫn còn thì quý vị lùi lại 15 bước; 15 bước vọng tưởng vẫn còn thì lùi lại 10 bước hay 5 bước đi. Như vậy mới tập luyện kĩ. Là tập luyện kĩ.

Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sưu tập (tạm thời) sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã download từ các trang web trên, bạn có thể tải về: Click tại đây