Thursday, March 5, 2015

HÃY ĐỂ MỌI NGÀY LÀ NGÀY 8 THÁNG 3

Có lẽ hầu hết chị em phụ nữ trên toàn thế giới đều mong chờ đến ngày 8 tháng 3 để được nhận những bó hoa, lời chúc tốt đẹp và những món quà (chủ yếu là từ cánh mày râu) theo đủ mọi cách để cảm thấy mình được tôn trọng, như mọi công dân bình đẳng trong xã hội. Tôi được biết ở Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác còn có cả ngày của mẹ (Mother’s day) để tôn vinh các bà mẹ, ở nước ta thì chị em phụ nữ còn có cả ngày 20 tháng 10 là ngày Phụ nữ Việt Nam, đối với các cô giáo thì họ còn có cả thêm ngày 20 tháng 11 cùng với các thầy giáo. Ngẫm ra thì thấy hầu hết chị em phụ nữ ngày nay dường như đều đã được tôn vinh và coi trọng sau cả hàng ngàn năm đấu tranh vất vả vì quyền lợi như mọi công dân khác, để được bình đẳng như nam giới.

Nhưng tại sao ta lại chỉ tôn vinh họ vào mỗi những ngày như vậy? Một năm có đến 365 ngày, ở mỗi quốc gia và vùng miền thì trong từng đấy ngày có thể có hàng trăm, hàng nghìn ngày lễ, tôn vinh, kỷ niệm khác nhau, nhưng vai trò của người phụ nữ dường như vẫn ít khi được nhắc đến đầy đủ và trọn vẹn, chỉ khi có những cá nhân xuất chúng nổi bật xuất hiện trong lịch sử thì chúng ta mới nhắc đến. Lịch sử nước ta có những vị anh hùng như chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị là hai vị anh hùng dân tộc xuất hiện sớm nhất. Sau đó đến nữ anh hùng Triệu Thị Trinh (Bà Triệu). Bên cạnh đó là những người phụ nữ khác không nổi danh nơi sa trường trận mạc, họ là hoàng hậu Dương Vân Nga, Nguyên phi Ỷ Lan, công chúa An Tư, công chúa Huyền Trân, Bắc cung hoàng hậu Lê Ngọc Hân… họ cũng đáng được tôn vinh vì những đóng góp và sự hi sinh to lớn cho đất nước, nhưng dường như họ vẫn ít khi được nhắc đến.

Có người từng nói: “Thời chiến, phụ nữ còn khổ hơn cả đàn ông”, câu này chẳng sai tí nào. Lịch sử đất nước ta có 4000 năm dựng nước thì có tới 2000 năm chiến tranh để giữ nước, và cả những cuộc nội chiến phân chia nam bắc kéo dài cả trăm năm. Trong bất kỳ cuộc chiến nào, máu đều đổ, và luôn có những người vợ, người mẹ đằng đẵng chờ chồng hoặc con mình cả cuộc đời mà không bao giờ được nhìn thấy lại họ. Chúng ta có mẹ Nguyễn Thị Thứ, người đã chờ chồng, 9 người con trai, 1 người con rể và 2 cháu ngoại suốt 30 năm chiến tranh chống Pháp và Mỹ và rồi sự chờ đợi của Mẹ đã kết thúc vào năm 2010 khi Người trút hơi thở cuối cùng và gặp lại họ. Và còn biết bao nhiêu bà mẹ Việt Nam anh hùng khác vẫn đang mòn mỏi chờ đợi, dẫu biết chẳng bao giờ gặp lại nhưng họ vẫn ngày ngày nhìn về phía bầu trời với hi vọng nhìn thấy người thân của mình ở đâu đó, dù là trong ký ức, trong suy nghĩ và cả trong những giấc mơ. Đất nước đã thống nhất và hòa bình, nhưng họ mãi mãi chẳng được sum họp với người thân của mình. Dường như chỉ một ngày 8 tháng 3 cũng không đủ để tôn vinh sự hi sinh của họ, cũng như nhiều người phụ nữ Việt Nam khác, những người đã vất vả một mình nuôi dạy cả gia đình khi xa chồng trong những năm máu lửa đầy hào hùng mà cũng không kém phần đau thương của đất nước, của cả dân tộc Việt Nam.

Mà tôn vinh người phụ nữ đâu chỉ là mỗi qua bó hoa, gói quà, thiệp chúc mừng hay những thứ tương tự. Một người chồng khi về nhà có thể giúp vợ một tay công việc gia đình thay vì đi ăn nhậu tối khuya và về thì nôn ra giữa sàn nhà và lăn ra ngoài đấy, hoặc về đánh vợ chửi con kể cả lúc tỉnh táo hay say xỉn, hãy đừng như nhà văn Hộ trong Đời thừa để đến lúc tỉnh dậy mới biết thương vợ con, mà hãy biết yêu thương và giúp đỡ họ từ những việc làm nhỏ nhất trong cuộc sống gia đình, chỉ điều đơn giản nhỏ nhoi thế thôi nhưng đó cũng đã là sự tôn vinh lớn dành cho họ rồi. Đối với các bà mẹ, họ chỉ cần nhìn thấy con mình, bên cạnh thành tích học tập ổn đinh, trưởng thành mà không vấp phải những thói hư tật xấu mà giới trẻ ngày nay vẫn hay đưa lên mạng thì thế cũng đã là mãn nguyện lắm rồi. Chỉ cần làm được như thế, thì đối với mọi người phụ nữ, 365 ngày trong một năm đều là ngày 8 tháng 3.







Những lúc này đây ở các nước trên thế giới, vẫn có những người phụ nữ phải chịu cảnh đói khổ, vất vả, sỉ nhục, bạo hành, bóc lột, hãm hiếp, đe dọa tính mạng và đủ mọi điều khốn khổ khác. Đối với họ, ngày 8 tháng 3 chẳng có ý nghĩa gì nếu cuộc sống của họ không thoát khỏi những ngày đen tối như mực giống chị Dậu ở nước ta thời bán con bán chó ngày xưa.

Hải Trang

Canh bí đỏ và nấm oyster–Kim

canhbido

Vật liệu:

  • 1 trái bí Kapocha vỏ xanh
  • 1 bịch nấm king oyster
  • Muối, đường, bột nêm chay
  • Tiêu, ngò

Cách làm:

- Bí chà rửa cho thật sạch lớp vỏ bên ngoài.

- Khoét 1 lỗ nhỏ ở đáy trái bí, xong cho vào microwave hâm 2 -3 phút lấy ra, làm thế này bí hơi mềm sẽ dễ cắt hơn.

- Bổ đôi trái bí ra, lấy muỗng cạo bỏ hột, cắt miếng vuông vừa ăn.

- Cho tí nước vào nồi, cho bí vào nêm tí muối, bột nêm, đường đảo đều, nấu khoảng 10-15 phút thì bí chín.

- Nấm king oyster cắt múi vừa ăn, cho vào chảo xào sơ với ít muối, khi nấm hơi chín thì tắt bếp.

- -Cho nước soup chay hoặc nước lạnh vô nồi nấu sôi. Thả bí đỏ và nấm đã xào vào, nêm nếm cho vừa ăn, cho  ngò vào canh, trộn đều. Cho tí dầu olive vào. Tắt bếp, nhắc xuống.

canhbido2

Wednesday, March 4, 2015

Schopenhauer và học thuyết triết học của ông

Arthur Schopenhauer (22 tháng 2 1788 - 21 tháng 9 1860) là một nhà triết học người Đức, nổi tiếng nhất với tác phẩm "The World as Will and Representation" (Thế giới như là ý chí và biểu tượng). Schopenhauer là người đã đồng thời phản bác cũng như mở rộng tư duy triết học của Immanuel Kant về cách mà chúng ta trải nghiệm thế giới. Những chỉ trích của ông về quan điểm của Kant, các phương pháp sáng tạo liên quan đến những vấn đề kinh nghiệm của loài người và quan điểm của ông về việc cho rằng tầm hiểu biết của con người là hạn chế chính là những thành tựu lớn nhất trong sự nghiệp của triết gia người Đức này. Lý thuyết siêu hình của ông chính là nền tảng cho các tác phẩm về đề tài tâm lý học, mỹ học, đạo đức học và chính trị học, những tác phẩm đã để lại tầm ảnh hưởng tới các danh nhân sau này như Friedrich Nietzsche, Wagner, Ludwig Wittgenstein, Sigmund Freud và nhiều người khác.

Sinh thời, Schopenhauer (1788- 1860) là một người lập dị. Ông không bao giờ cho phép thợ hớt tóc cạo râu cho ông, vì sợ người ta có thể cắt cổ mình. Trong phòng ngủ, ông luôn có một khẩu súng nạp đạn sẵn, vì sợ người đời có thể bất ngờ ám hại ông. Một nhà thợ may tốt bụng nhưng lắm điều gây phiền hà cho ông đã bị ông xô ngã xuống nền nhà. Hậu quả là ông phải chịu mọi phí tổn nuôi dưỡng người đàn bà tật nguyền này suốt đời. Sau nhiều lần cãi nhau quyết liệt, mẹ ông đã từ ông, vì không thể chấp nhận một đứa con "lúc nào cũng ca thán về trần gian ngu xuẩn và sự khốn cùng của kiếp người".

Trong lịch sử triết học thế giới, ít có triết gia nào lại phê phán đồng nghiệp như Schopenhauer. Ông phỉ báng Hêgen, xem học thuyết của Hêgen là "một thứ triết học vô nghĩa tuyệt đối", là "trò tào lao của kẻ sống trong nhà thương điên". ông kết tội Phichtơ là "một tên ngụy biện" và là "kẻ lường gạt". Có điều, để khỏi bị ra tòa vì tội xúc phạm danh dự người khác, Schopenhauer cũng đã thận trọng thuê luật sư cố vấn cho mình, để ông phê phán mà không hề phạm luật.

Schopenhauer là người căm ghét và kinh miệt phụ nữ. Với ông, đó không phải là phái đẹp, mà chỉ là một giống người thấp bé, vai gầy, chân ngắn, phi thẩm mỹ. Chỉ có thứ đàn ông tăm tối bởi dục vọng mới ngợi ca đó là phái đẹp. Đẹp vì đâu? Đó chỉ là những sinh linh ngu dốt về âm nhạc, thi ca, nghệ thuật, chỉ thích bắt chước, thích làm đỏm, thích hoang phí và dối trá, là sinh vật nửa vời, nằm giữa đứa con nít và người đàn ông.

Schopenhauer không có vợ, ông sống độc thân. Người bạn đời duy nhất của ông là một chú chó xù...

Sự thù hận của Schopenhauer đối với đồng nghiệp, với phụ nữ và thế giới con người nói chung xuất phát từ bi kịch cuộc đời ông, từ sự thất bại chua cay trong khát vọng vinh quang, từ sự đổ vỡ của tình mẫu tử, và hơn hết là từ một cách nhìn đầy bi quan, ảm đạm đối với cuộc sống. Với ông:

1. Thế giới là bể khổ.

Cuộc sống là sự lường gạt triền miên. Ý muốn của con người thì vô hạn, còn sự thỏa mãn lại hữu hạn. Con người không bao giờ có hạnh phúc và bình yên. Một ước vọng được thỏa mãn chính là cái nôi nảy sinh ra một ước vọng mới. Cái hiện thực duy nhất trong đời sống chính là sự đau khổ. Hạnh phúc và niềm hoan lạc chỉ là âm bản thiếu vắng sự khổ đau trong chốc lát. Cuộc đời thực sự là một "địa ngục mà trong đó con người vừa là những linh hồn bị đầy đọa, vừa là những ác quỷ".

Để minh chứng cho quan niệm của mình rằng sự sống chính là sự khổ đau và cuộc đời là địa ngục, Schopenhauer đã đưa ra vô vàn thí dụ trong các nhà thương, các phòng mổ, trại giam, tòa án, trại nô lệ, bãi chiến trường và khẳng định chính Đantơ đã lấy thế giới này làm nguyên mẫu để viết nên "Địa ngục của ông”. Và, cũng chính Đantơ đã thất bại khi viết niềm vui và cõi thiên đường, vì cái thế giới mà ta đang sống đây không hề có những điều như thế. Nó chỉ có đau khổ, không gì khác ngoài đau khổ. Vì thế, cuộc sống không có gì đáng sống. Sự sống chính là sự chết được phanh lại, cũng như sự đi chính là sự ngã được níu kéo, kìm giữ. Schopenhauer quan niệm rằng con người đang sống cũng chính là con người đang điên rồ hy vọng "khiêu vũ trong đôi tay thần chết". Nguồn gốc của đau khổ có rất nhiều. Nhưng theo ông, nếu không kể đến sự khốn cùng của phần đông nhân loại, thì con người khổ đau do hai nguyên nhân chính: Một là, con người là một sinh vật có ham muốn vô hạn, không gì có thể làm đầy nơi thẳm sâu không đáy của trái tim con người, hai là, sự buồn chán luôn luôn là bạn đồng hành của hiện hữu. Sự buồn chán và những ước vọng không được thỏa mãn đã cố kết nên nỗi đau khổ triền miên của kiếp người. Suy cho cùng, số phận con người gắn chặt với cô đơn. Và mỗi người đều cô đơn với chính mình.

Hơn thế nữa, mỗi một cá thể khổ đau vì buồn chán, vì những ham muốn không bao giờ được thỏa mãn kia đâu có dừng lại ở chính mình. Nó không những làm khổ nó bằng dục vọng mà còn biến cuộc sống của kẻ khác thành địa ngục. Biểu trưng cho hành vi con người đối với nhau là sự đối xử bất công, tàn nhẫn, hà khắc hoặc thậm chí dã man. "Kẻ dữ thì ăn thịt lẫn nhau, kẻ lành thì lường gạt lẫn nhau. Và người ta gọi đấy là lộ trình của thế giới". Không chỉ con người là sinh linh chịu đau khổ, Schopenhauer còn đi xa hơn trong nhận định của mình. Ông cho rằng mọi vật đều chịu chung số phận ấy. Toàn bộ thiên nhiên là một cuộc vật lộn không khoan nhượng vì sự tồn sinh. Thiên nhiên là một trường náo loạn của các sinh vật bị hành hạ và khiếp hãi. Chúng chi tồn tại bằng cách con vật này nghiến ngấu con vật kia. Và mỗi vật đều là nấm mồ sống của trăm ngàn con khác. Một thế giới như vậy, một thiên nhiên như vậy nơi con người là hiện thân của khổ đau, nơi con vật này là mồ chôn của con vật khác, nơi kẻ dữ ăn thịt nhau và kẻ lành lường gạt nhau ... theo ông, thế giới ấy "không nên tồn tại", hoặc nói khác đi, sự tồn tại phải nhường chỗ cho sự không tồn tại.

Quan điểm của Schopenhauer coi cuộc sống là sự khổ đau, nguyên cớ của khổ đau là sự ham muốn vô độ nơi con người cho ta thấy ông rất gần với giáo lý nhà Phật. Có lẽ thời kỳ sống ở Vai-ma và nghiên cứu văn hóa Ấn Độ cổ đại đã để lại nhiều dấu ấn trong ông và, cũng thật lý thú khi ta nghe ông bàn về sự giải thoát. Schopenhauer đã đưa ra khái niệm về ý chí nguyên thủy (Urwille), coi đó là cội nguồn của tất cả, là sự khởi phát của mọi khổ đau. Muốn giải thoát mình, con người cần phải phủ định ý chí và nhận thức được rằng trong thẳm sâu của mọi hiện thực đều có ý chí nguyên thủy ngự trị, mọi đau khổ trên thế giới đều chỉ là những hiện tượng của một ý chí nguyên thủy luôn luôn xung đột và đối lập với chính nó. Hiểu được như thế, trong tâm tưởng con người sẽ có sự thư thái, không bận lòng vì những hiện tượng khổ đau, sẽ thanh thản từ chối những gì mà trái tim ham muốn, sẵn sàng chịu khổ đau để cuối cùng đến được với sự yên tĩnh hoàn toàn trong tâm khảm, không còn ham muốn.

Và, Schopenhauer khẳng định: thay cho những khát vọng không bao giờ được thỏa mãn, những thôi thúc và đòi hỏi không ngừng, ta sẽ có sự yên bình, sẽ đến được với "sóng yên biển lặng của tâm tại. Phủ định ý chí và dục vọng bằng cách nhìn nhận mọi sự việc, mọi hành vi trên đời chỉ là những hiện tượng bên ngoài của một cội nguồn sâu thẳm không thể lý giải và nhận thức, đó là cách giải thoát về phương diện lý thuyết, còn về thực hành, Schopenhauer cho rằng con người cần "đồng cam chịu khổ" (Mitleiden) với người khác để giúp cho người khác đỡ khổ. Lập luận của ông là như sau: nếu mọi sinh linh đều bị bao trùm bởi một ý chí nguyên thủy thống nhất thì các sinh linh đó đều gắn bó với nhau từ cội nguồn. Nghĩa là, về thực chất, tất cả chỉ là một. Không có những giới hạn lường gạt các cá thể. Coi cái khổ của người khác như cái khổ của chính mình, từ đó sẽ hình thành sự thương cảm, đồng cam chịu khó, và con người, không còn là một cá thể, sẽ gánh chung nỗi khổ của toàn nhân loại, của mọi sinh linh. Sự thương cảm sẽ là cội nguồn của những hành vi đạo đức vượt qua tính vị kỷ, sẽ thể hiện trong lòng thương người và sự công bằng. Tóm lại: sự thương cảm, đồng cam cộng khổ là cội nguồn của cái thiện, còn sự ích kỷ là cội nguồn của cái ác. Đó chính là nguyên tắc cơ bản trong đạo đức học Schopenhauer.

2. "Thế giới là ý chí và tưởng tượng".

Tác phẩm chủ yếu này của Schopenhauer, người đã tự xưng là "hoàng đế của triết học" và tấn phong các học trò của mình là "các thánh tông đồ", được viết ra khi ông mới 30 tuổi. Cuốn sách ra đời năm 1819, phần lớn bị bán làm giấy vụn. Tác giả và tác phẩm rơi tõm vào quên lãng, mặc dù ông đã khẳng định tác phẩm này... "là một hệ thống triết học mới.... là một chuỗi tư tưởng gắn bó với nhau ở mức cao nhất mà xưa nay chưa có đầu óc nào nghĩ ra". Mãi hai mươi năm sau, khi làn sóng bi quan bao trùm khắp nước Đức sau thất bại của cuộc cách mạng năm 1848, người ta mới đổ xô nhau tìm đọc tác phẩm của ông, coi ông như một thần tượng của triết học và cuốn sách bị vứt đi kia bỗng trở nên sáng giá.

Có thể nói, toàn bộ tư tưởng triết học của Schopenhauer được gói gọn trong mệnh đề "Thế giới là ý chí và tưởng tượng". Tất cả những gì ông viết ra sau này chỉ là sự bình giải, bổ sung hoặc chi tiết hóa mệnh đề đó. Tùy theo giác độ nghiên cứu và quan sát, công trình nói trên của ông có thể được nhìn nhận là siêu hình học (quyển I, quyển II), là đạo đức học (quyển III), hoặc mỹ học (quyển IV).

Mở đầu tác phẩm, Schopenhauer viết: "Thế giới là sự tưởng tượng của tôi". Với mệnh đề này, ông muốn khẳng định rằng toàn bộ hiện thực tồn tại trước hết là hiện thực thuần túy, do con người tưởng tượng ra. Những gì mà con người trực tiếp lĩnh hội được chưa phải là cái cách mà vật thể tự nó là như thế hoặc đúng như thế Con người không biết gì hết về cái cây tự nó mà chỉ biết sự tưởng tượng của chính mình về cái cây, cũng như "không biết gì về mặt trời, về trái đất, mà chỉ là con mắt nhìn thấy mặt trời, bàn tay cảm nhận được trái đất", nói cách khác, vạn vặt chỉ là những hiện tượng. Ở điểm này, Schopenhauer rất gần với Cantơ. Bản thân ông đã khẳng định triết học Cantơ là cửa ngõ để đi vào triết học của ông, ai muốn hiểu ông, người đó cần hiểu Platôn, Cantơ, và triết học Ấn Độ.

Schopenhauer cũng theo sát ý tưởng của Cantơ khi ông gạt bỏ khỏi đối tượng không gian, thời gian, tính nhân quả mà quy chúng vào tinh thần con người, khi ông nhận định rằng mọi vật tự nó không mang tính không gian, thời gian hay tính nhân quả mà là do con người khởi thủy đã mang trong mình thời gian, không gian và tính nhân quả rồi gán chúng vào thế giới. Luận đề này về tính hiện tượng của thế giới đặc biệt có ý nghĩa đối với những yếu tố bi quan chủ nghĩa trong học thuyết triết học của Schopenhauer. Có thể nói rằng luận đề thứ nhất của ông chưa phải là khám phá mới mẽ trong triết học, nó cũng tương tự như Cantơ hay Platôn. Một khi Schopenhauer khẳng định: thế giới là sự tưởng tượng của tôi, thì trước ông, Cantơ đã viết: mọi vật được mang lại cho ta chỉ là những hiện tượng, Platôn cũng đã nói: thế giới hiện ra đối với mọi cảm giác không phải là tồn tại đích thực, hoặc kinh Vệ đà cũng đã chỉ rõ: thế giới nhìn thấy được là cái bên ngoài không có bản chất, là lớp màn che phủ, hay nói ngắn gọn là maya.

Tuy nhiên, nếu cách nhìn nhận hiện thực của Schopenhauer chỉ dừng lại ở luận đề "thế giới là sự tưởng tượng của tôi" thì ông cũng chỉ mới bước tới chủ nghĩa duy tâm thuần túy, còn thế giới thì chẳng là gì khác ngoài cái "bên ngoài", ngoài sự tưởng tượng muôn thuở. Khi nghiên cứu sâu hơn về sự tưởng tượng ấy Schopenhauer muốn tìm xem đằng sau những hiện tượng là cái gì? Điều này Cantơ đã nói tới khi ông đưa ra một khái niệm rất khó xác định, đó là "vật tự nó". Schopenhauer đã đi xa hơn Cantơ khi ông tìm ra bản chất của cái gọi là "vật tự nó" ở Cantơ. Bản chất ấy chính là ý chí. Và luận đề thứ hai của Schopenhauer chính là: Thế giới là ý chí.

Nếu chỉ nghiên cứu từ bên ngoài thì không sao đến được với bản chất của vạn vật, cũng giống người đi quanh một ngôi nhà mà - không sao tìm được lối vào. Schopenhauer cho rằng con đường duy nhất để đi đến bản chất nằm trong chính chúng ta, trong từng cá thể, bởi vậy ông đã nghiên cứu cơ thể con người dưới góc độ triết học. Theo ông, cơ thể con người là một biểu trưng của hai dạng thức: một là, nó là sự tưởng tượng đã được khách thể hóa, "có thể nhìn thấy được", là khách thể trong mối quan hệ nhân quả của mọi hiện tượng, hai là, cơ thể con người còn là một cái gì đó tiềm ầm sâu xa mà chỉ chính nó mới cảm nhận được. Sự tiềm ẩm sâu xa ấy chính là ý chí . Nghĩa là, cơ thể con người không những là một hiện tượng, một khách thể, mà là sự biểu đạt của ý chí. Mọi vận động của cơ thể đều xuất phát từ những xung động của ý chí, đều là những hình thái biểu đạt ra bên ngoài của ý chí. Cả những cơ quan chức năng lẫn hình dáng cơ thể đều là những phương thức biểu đạt.

Từ đó Schopenhauer đã đi đến luận điểm cho rằng cơ thể con người chính là ý chí đã được khách thể hóa thành đối tượng có thể nằm thấy được. Nó vừa là một vặt thể, nhưng xét theo góc độ "Vật tự nó" thì đó là ý chí. Schopenhauer cho rằng chính ông là người đã khám phá ra bản chất của cái mà Cantơ gọi là "Vật tự nó", rằng ý chí chính là bản chất sâu xa nhất của con người. Theo ông, cơ thể người chính là ý chỉ được khách thể hóa theo không gian và thời gian. Đó là chân lý triết học đích thực nhất. Bản chất của con người (hiểu theo nghĩa là ý chí) không nằm trong ý thức, trong tư duy hay lương tri. Đó là sự làm ác muôn thuở của các triết gia mọi thời đại. ông quan niệm rằng ý thức chỉ là bình diện bên ngoài của bản chất, y như lớp vỏ ngoài của trái đất chúng ta. Cả những tư tưởng, ý nghĩ cũng chỉ là bề mặt bên trên của một nguồn nước ngầm sâu thẳm. Quá trình hình thành những phán xét của chúng ta không phải là sự liên kết những ý nghĩ mạch lạc theo quy luật lôgic mà nó diễn ra từ nơi sâu thẳm, gần như là vô thức, giống như sự tiêu hóa.

Con người thường kinh ngạc vì chính mình bất chợt có những ý nghĩ, những quyết định nảy sinh không thể lý giải được vì đâu. Trong chốn thâm sâu đầy bí hiểm luôn có ý chí ngự trị, nó điều khiển kẻ nô bộc của mình là con người. Nhưng ý chí chí là kẻ cai trị mù lòa. Nó vác trên vai mình một kẻ bị tê liệt nhưng nhìn được vạn vật. Con người dường như được kẻo về phía trước, nhưng thực ra thì nó được đẩy từ phía sau, từ một nơi bí huyền sâu thẳm. Sức mạnh ấy chính là ý chí sống vô thức, nó không hề biến đổi, tồn tại trong mọi mạch tư duy và hành vi con người. Cả trí nhớ cũng chỉ là cô hầu gái của ý chí. Những gì con người gọi là tính cách hay nhân cách cũng đều do ý chí quyết định. Mọi chức năng hữu thức đều thấm mệt và cần đến giấc ngủ, duy chỉ có ý chí là vĩnh viễn tỉnh táo, giống như sự hô hấp, như hoạt động của trái tim, không ngừng và không bao giờ mệt mỏi, vì tất cả đều diễn ra một cách vô thức.

Schopenhauer cũng đã vận dụng quan điểm coi "cơ thể người vừa là hiện tượng vừa là ý chí được khách thể hóa" như một chiếc chìa khóa để lý giải bản chất của mọi hiện thực. Theo ông, mọi sự vật đều là một sự biểu đạt, một sự hiện thực hóa của ý chí ngự trị trong nó. Sức mạnh của ý chí ngự trị khắp nơi. Sức mạnh ấy khiến cho cỏ cây đâm chồi nẩy lộc và úa tàn, khiến cho cho nam châm quay về hướng bắc cực, khiến viên đá rơi xuống trái đất, kéo trái đất về hướng mặt trời... Nghĩa là cả thế giới đều là sự khách thể hóa của ý chí, thế giới là ý chí.

Với quan niệm ý chí là bản chất, là động lực điều hành vạn vật, Schopenhauer đã có những kiến giải đáng chú ý về con người, nhất là về quan hệ lứa đôi. ở nơi con người, sự biểu đạt mạnh mẽ nhất của ý chí sống là động lực duy trì nòi giống. Động lực này mạnh tới mức khiến con người phớt mặc cả cái chết của cá nhân. Một khi sự bảo tồn cá thể được thực hiện thì sinh vật người vươn tới sự duy trì nòi giống nhằm bảo tồn chủng loại. Nếu nhận thức của con người ngự trị trong bộ não thì bộ phận sinh lý của nó là nơi ngự trị của động lực tính dục, là tiêu điểm của ý chí và đối cực của não bộ. Hai cá thể khác giới có sức hút mạnh mẽ đối với nhau, đó là nhờ sức mạnh bất khả kháng của ý chí sống thể hiện trong chủng loại. Tình yêu chỉ là trò lường gạt của tự nhiên vì mục đích duy nhất là bảo tồn nòi giống.

Hai cá thể tìm đến nhau hoặc gọi là "yêu nhau", về thực chất là việc thực hiện sự lựa chọn để bảo tồn một "kiểu" chủng loại. Cá thể "yêu' cái mà mình không có. Nó chọn cho mình một đối tượng phù hợp nhất với sự bảo tồn của một kiểu chủng loại nhất định, ví như cá thể nam tính nhất sẽ tìm chọn một cá thể nữ tính nhất hoặc ngược lại. Trong sự lựa chọn này, cá thể hành động nhưng không biết vì sao lại hành động, bởi nó thực thi một sứ mạng của cái cao cả hơn, đó là chủng loại. Do đó, sự đam mê cái khác giới bị mê hoặc bởi ý chí chủng loại hơn là bởi cá nhân . Một khi mục đích bảo tồn nòi giống được bảo tồn từ phía cá thể thì trò chơi lường gạt của tự nhiên là tình yêu cũng mất đi mọi ý nghĩa. Sắc đẹp của đàn bà, một thứ nghệ thuật quan trọng nhất, một phương tiện dẫn đến mục đích truyền giống và bảo tồn nòi giống sẽ sớm tàn phai sau khi đã thực hiện được chức năng. Trong tình yêu tình dục, mỗi cá thể thực chất chỉ là công cụ của chủng loại. Tình yêu chết dần trong hôn nhân vì thiên nhiên không cần chơi trò lường gạt nữa. Chỉ có ý chí sống thể hiện trong chủng loại là mãi mãi không đổi theo không gian và thời gian. Đó là một hình thái không thay đổi, chỉ có vật chất ở mỗi cá thể đổi thay theo thời gian và không gian mà thôi, giống như cái bình muôn đời cũ chỉ thay bằng rượu mới.

Schopenhauer cũng đã áp dụng quan điểm này vào lịch sử. Theo ông, đằng sau tất cả mọi hiện tượng là ý chí bất di bất dịch của thế giới. Dù có sự khác biệt giữa các dân tộc, thời đại, trang phục, tập quán, ngôn ngữ... thì ở mọi nơi, một thời đại cũng vẫn chỉ là nhân loại ấy. Chỉ có sự khác biệt về vật chất, còn hình thái vẫn thế, vẫn là nhân loại muôn thuở. Do đó, theo ông, không có cái gọi là sự tiến bộ của lịch sử. Biểu tượng của mọi diễn biến đều là một vòng tròn. Mọi thời đại các nhà thông thái cũng chỉ nói những điều giống nhau, mọi kẻ gàn cũng chỉ nói những điều như nhau, và đàn ông đàn bà mọi thời đại cũng vẫn chỉ là những công cụ thực hiện ý chí sống trong chủng loại.

Đánh giá các quan điểm siêu hình của Schopenhauer, các triết gia đương đại cho rằng ở Schopenhauer có những nhận định giống các nhà duy tâm như Selinh hay Phichtơ. Ông cũng tìm cách khám phá bí mật của thế giới trong bản thân cái tôi, giống như Phichtơ nói bản chất của cái tôi là ý chí và sẽ nhìn thấy ở giới tự nhiên và tinh thần một sức mạnh vô thức, có khả năng kiến tạo và thúc đẩy. Nhưng cái khác ở Schopenhauer là ở chỗ: trong khi đối với các nhà duy tâm thì cái cuối cùng và tuyệt đối là tinh thần, ý niệm, lý trí phát triển trong một quá trình vận động hướng đích, thì đối với Schopenhauer lại là một ý chí mù lòa, một cội nguồn thế giới phi lý tính và ngược lại với lý trí. Đối với ông, thế giới không phải là lôgic hay phi lôgic, mà là phản lôgic, lý trí là công cụ của ý chí phi lý tính. Chính ở điểm này Schopenhauer đã phá vỡ mạch tư duy xưa nay về sự hài hòa của một thế giới chỉnh thể. Và, ông đã thực sự là người thực hiện bước quá độ từ chủ nghĩa lạc quan sang chủ nghĩa bi quan. Công lao mãi mãi của ông đối với giới triết học là ở chỗ: chính ông đã hướng triết học vào chiều sâu thăm thẳm nằm phía dưới tầng ý thức của con người, và với châu Âu, ông là người đã mở đường cho triết học và tâm lý học vô thức ra đời và phát triển.

Theo Tạp chí Triết học

Thời khóa tu tập cho người cư sĩ

Hỏi: Kính bạch Thầy! Xin Thầy hướng dẫn và chỉ rõ thời khóa tu tập cho cư sĩ tại gia, nhất là những cư sĩ bận việc buôn bán, chỉ rảnh vào buổi tối, ngưỡng mong Thầy hết lòng chỉ dẫn cho, con xin thành kính tri ân.

Đáp: Vào mỗi tối Phật tử được rảnh rang, nên chọn ngay buổi tối tu tập, phải tu tập liên tục. Khi đã chọn buổi tối, đừng bỏ qua một buổi tối nào cả thì sẽ có kết quả giải thoát ngay liền, đó là làm chủ được sự sống của mình, do tâm biết buông xả các ác pháp. Nhất là tu tập được như vậy thì Phật tử sẽ sống trong mọi oai nghi đạo đức nhân bản – nhân quả cao thượng không làm khổ mình khổ người. Nếu không tu thì thôi mà đã tu thì phải cố gắng tu tập hết sức mình để trước báo ân đức của Phật, sau báo ân của cha mẹ, của Thầy và của Tổ Tiên Ông Bà, v.v..

Trước khi tọa thiền tu Định Niệm Hơi Thở, con nên đến trước bàn thờ Phật, ngồi xếp bằng ngay ngắn, chắp tay trước ngực, mắt nhìn tượng Phật, con thầm ước nguyện trong lòng: “Hôm nay con nguyện ước, mong rằng thân, miệng, ý của con không làm điều ác, xin đức Phật chứng minh”. Sau khi ước nguyện xong, con quan sát, xem xét từ sáng đến tối xem coi thân, miệng, ý của con có làm khổ mình khổ người không? Tức là có làm điều gì không phải, khiến cho mình hay người khác buồn, giận, phiền não, v.v.. Nếu từ sáng đến tối không có một việc gì làm khổ mình khổ người, thì con biết rất rõ trong thân tâm của mình hơn ai hết. Khi thấy biết rõ như vậy con thầm nói trong lòng: “Đây là một ngày tốt lành, đẹp đẽ, thanh thản, an lạc và vô sự nhất của đời con, con xin đức Phật chứng minh cho”.

Bằng ngược lại có những việc làm khổ mình, khổ người con thầm nói trong lòng: “Đây là một ngày xấu nhất trong đời con. Con xin sám hối với chư Phật và nguyện ước khắc phục tâm con ngăn ác diệt ác pháp sẽ không làm khổ mình khổ người nữa, ngưỡng mong đức Phật từ bi chứng giám cho con”. Khi ước nguyện như vậy xong, con tiếp tục ngồi kiết già hay bán già lưng thẳng, hai bàn tay đặt vào lòng hai bàn chân tu tập Định Niệm Hơi Thở như Thầy đã dạy trong sách Đường Về Xứ Phật ở trên.

Bắt đầu tu tập con nên cố gắng ngồi từ 5’ rồi từ từ tăng dần lên 30’. Khi tu tập được 30’ con đừng tăng lên nữa. Lúc bấy giờ con tu đề mục khác. Ví dụ: Con tu tập Định Niệm Hơi Thở với đề mục thứ nhất xong, con bắt đầu tu tập đề mục thứ hai, nếu đề mục thứ hai tu tập xong, con nên tu tập đề mục kế và tu tập như vậy cho đến khi các đề mục trong Định Niệm Hơi Thở tu tập xong hết mới chuyển qua pháp khác.

Thầy gửi cho con tập sách Cẩm Nang II để con tham khảo thêm về pháp môn tu tập.

Thăm và chúc con dồi dào sức khỏe, tu tập xả tâm tốt.

Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sưu tập (tạm thời) sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã download từ các trang web trên, bạn có thể tải về: Click tại đây

Dưa món không cần sấy–Diệu Sương

Tet 337

Lâu lắm rồi không đăng bài. Hôm nay có món này dễ, DS làm thử thấy được nên đăng bài mở hàng đầu năm nha.

Làm được 3 hủ mủ cao, ăn với bánh tét hay cơm nóng ngon lắm, nó giòn rụm luôn.

Vật liệu:

  • 2 củ cải trắng lớn, gọt vỏ rửa sạch, cắt cọng hơi dầy (nếu có đu đủ sống và cà rốt thì càng ngon)
  • 1 chén đường
  • 2 chén rưỡi nước tương
  • 2 chén rưỡi đường
  • ớt tùy thích (DS dùng ớt bột Hàn Quốc)

Cách làm:

1. Cho củ cải vào thau lớn, rắc 1 chén đường vào, trộn đều, để qua đêm cho ra nước và thấm đường

2. Hôm sau cho củ cải trắng ra rổ để ráo thật ráo

Tet 319

3. Nấu nước tương với phần đường còn lại cho tan đường, để nguội

4. Cho củ cải vào hủ, ép chặt, chế nước tương đường vào hủ cho ngập củ cải, cho ớt vào nếu thích

5. Ba ngày sau là ăn được.

Món này DS làm được thì chắc chắn ai làm cũng được.

Nam Mô A Di Đà Phật.

Diệu Sương

NÊN TIN CÁI GÌ ĐÂY?

Truyền thông phương Tây rất tích cự miêu tả IS là những con thú khát máu đội lốt người, bên cạnh việc hành quết dã man nhiều con tin thì IS còn thực hiện chính sách ngu dân đốt sách, nghiêm cấm mọi người học các kiến thức về khoa học hiện đại, nhất là những kiến thức khoa học có nguồn gốc từ phương Tây.



Thế nhưng ở đây, người ta thấy IS mở một thư viện qua một đoạn video. Và dường như IS không chỉ tuyển các chiến binh mà còn tuyển cả những người như bác sĩ, kỹ sư... Nếu điều đó là thật, chứng tỏ IS cũng rất ý thức rằng muốn xây dựng một đất nước của riêng mình thì đâu chỉ cần chiến binh với súng ống, mà cũng cần phải có tần lớp trí thức để góp phần xây dựng đất nước, mặc dù đó là đất nước tự xưng không được ai thừa nhận. Còn sách vở mà chúng đốt thì chúng tuyên bố đó là văn hoá phẩm đồi truỵ. Và điều này cũng chứng tỏ các cuộc không kích liên miên của liên quân do Mỹ đứng đầu không làm IS suy yếu, thậm chí còn phát triển hơn nữa.

Không biết nên tin vào ai hay cái gì, lẽ dĩ nhiên không mấy ai ủng hộ những hành vi hành quyết dã man của IS. Thế nhưng, truyền thông phương Tây vốn nổi tiếng với những chiêu trò lừa bịp thế giới, ví dụ như bộ phim Rambo 2 năm 1985 miêu tả việc Rambo đi giải cứu tù binh Mỹ còn bị giam giữ ở Việt Nam với mục đích tuyên truyền rằng Việt Nam còn giam giữ tù binh Mỹ, bất chấp thực tế Việt Nam đã thả hết tù binh Mỹ từ năm 1973, và cả sự kiện Vịnh Bắc Bộ năm 1964 để kiếm cớ đánh phá miền bắc Việt Nam. Do đó có thể nói, truyền thông phương Tây khi nói đến IS 10 phần thì có khi đang dối trá đến 5 phần.

Victor Charle - CT03

TƯỞNG NIỆM ĐỘC VÀ LẠ!

Hôm qua, thứ 3 ngày 3 tháng 3, ấy thế mà mới sáng ra, trên trang Fb của Việt Tân đã có ngay bài viết bàn về việc tưởng niệm ngày 14 tháng 3!


Ngày 14/3/1988, người ta thường nói đó là một cuộc hải chiến, thế nhưng thực chất đó là cuộc cưỡng chiếm Gạc Ma và các đảo đá Trường Sa của Trung Quốc, và trong cuộc chiến này đã có 64 chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam ngã xuống trong sóng biển Đông, tạo nên giá trị lịch sử vô cùng to lớn.




Con người Việt Nam ta ai ai cũng có lòng nồng nàn yêu nước, và đều quý trọng lịch sử, quý trọng những con người đã không tiếc máu xương hy sinh vì độc lập, tự do cho dân tộc mình. Vậy nên, hằng năm, nhân ngày 14/3, Các cựu chiến binh Trường Sa vẫn tổ chức dâng hương, thả bè hoa đăng ra vịnh Nha Trang nhằm tưởng nhớ các chiến sĩ đã hi sinh trong trận chiến này. Mỗi một chuyến tàu ra thăm đảo Trường Sa, người ta lại không quên thả vòng hoa tưởng niệm cá liệt sĩ hy sinh tại đảo Gạc Ma. Và có ai không biết đến chương trình nghĩa tình Hoàng Sa, Trường Sa do Tổng liên đoàn Lao động VN phát động trong năm qua không? Đấy thực sự là một chương trình vô cùng thiết nhằm vận động xây đền tưởng niệm 64 chiến sĩ Hải quân nhân dân VN hi sinh trong trận Gạc Ma (14-3-1988), hỗ trợ gia đình của những người đã hi sinh trong hai trận chiến bảo vệ Hoàng Sa (1974) và Gạc Ma thuộc Trường Sa (1988). Đấy, những hành động thiết thực và ý nghĩa đó đã gọi là tưởng niệm hay chưa?

Ấy vậy mà, các anh chị “dân chủ” vẫn cứ khăng khăng là chỉ họ mới nhớ tới ngày này, và kêu gọi biểu tình để tưởng niệm ngày hải chiến Hoàng Sa. Và cách mà các anh chị tưởng niệm, đó là kéo nhau ra Bờ Hồ, kéo nhau ra tượng đài Lý Thái Tổ, rồi hò hét, giăng băng rôn biểu ngữ “đả đảo Trung Quốc”, “tự do cho Bùi Hằng” “tự do cho Lê Quốc Quân”….

Vâng, nhìn vào đó, chúng ta có thể hiểu, cái cách mà các nhà “dân chủ” tưởng niệm, nó độc và lạ tới mức nào!

Vậy nên, đừng bao giờ nghe những gì “dân chủ” nói, mà hãy nhìn vào thực tế “dân chủ” làm. Nhiều lúc kêu gọi rõ hay, nhưng khi thực hành thì nó thành ra..bung bét!

Cẩn thận kẻo bị lời lẽ trăng hoa của các anh chị “dân chủ” lừa nhé!

 Gió Lặng