Friday, July 17, 2015

DANLAMBAO - CẮT XÉN, XUYÊN TẠC "NGUYỄN ÁI QUỐC BỊ ÁM SÁT VÀO NĂM 1932"!

Lang thang trên mang, đọc được cái tít rất giật gân "Tin chấn động: Báo đảng xác nhận Nguyễn Ái Quốc ‘bị ám sát vào giữa năm 1932" của đội quân "chống cộng" Dân làm báo. Có vẻ như chúng rất hoan hỷ và phải nói là hạnh phúc lắm khi phát hiện được tin này trên chính website của Đảng Cộng sản Việt Nam cơ mà. Bọn chúng chắc phải ngửa mặt lên trời cười và phun nước bọt xối xả.


Nhưng gần đây, một số người trích đoạn thư này đưa lên một số mạng xã hội: “Nguyễn Ái Quốc đã bị ám sát vào năm 1932”. Đây là cách đưa tin cắt xén, mập mờ với dụng ý xấu.



Ơ kìa chúng mày ngu bẩm sinh hay là có logic nhỉ danlambao! Việc báo Đảng đăng bài “Văn kiện Đảng toàn tập, tập 4” là phản ánh sự trung thực, khách quan, tôn trọng lịch sử của Đảng. Tập văn kiện này được viết bởi đồng chí Hà Huy Tập là hoàn toàn chính xác. Và trong văn kiện có thông tin đồng chí Nguyễn Ái Quốc bị ám sát vào giữa năm 1932 trong các nhà tù địa ngục của Hồng Công là hoàn toàn đúng. Các bạn đọc cho kỹ nhé, tôi nói thông tin này có trong văn kiện là hoàn đúng chứ tôi không nói thông tin đó là đúng nhé. Và để làm rõ thông tin này tôi xin mời các bạn một lần nữa cùng tìm hiểu về cuộc đời cách mạng vĩ đại và đầy gian truân của Bác Hồ kính yêu trong giai đoạn Bác ở Hồng Kông và trong vai trò thiếu tá bát lộ quân Hồ Quang của quân đội giải phóng nhân dân Trung Hoa năm từ 1938 đến 1940.

Trước hết tôi xin nói về đồng chí Nguyễn Ái Quốc – Bác Hồ kính yêu của chúng ta khi ở Hồng Công từ 1931 đến 1933. Ngày 6/6/1931 mật thám Anh ở Hồng Kong bắt được Tống Văn Sơ – tức Nguyễn Ái Quốc. Tuy nhiên, được sự giúp đỡ và bào chữa của các luật sư như Loseby, J.C. Jenkin, Denis Noel Pritt và Stafford Cripps mà ngày 28/12/1932, Tống Văn Sơ được thả tự do. Sau đó Người đi đến Singapore nhưng bị buộc quay trở lại vì nơi này không cho nhập cảnh. Và đến ngày 19/1/1933, Người lại bị bắt giam – có lẽ vì vi phạm lệnh trục xuất (do cấm nhập trở lại Hồng Kong). Một lần nữa được sự giúp đỡ của luật sư Loseby mà Tống Văn Sơ được ra khỏi tù và bí mật rời Hồng Kông đến Hạ Môn ngày 25/1/1993. Sau khi Người rời Hồng Kông, luật sư Loseby vẫn chưa cảm thấy yên tâm nên ông đã tung tin Tống Văn Sơ – tức Nguyễn Ái Quốc đã chết trong bệnh viện ở Hương Cảng nhằm đảm bảo an toàn cho Bác. Tiếp đó báo chí Hồng Kong nhanh chóng đăng tải tin này, đồng thời Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Ban chấp hành Đảng cộng sản Pháp cũng làm lễ truy điệu cho đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Nhờ vậy đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã được đảm bảo an toàn tuyệt đối đến nỗi hồ sơ của sở mật thám Đông Dương về Nguyễn Ái Quốc cũng ghi “Nguyễn Ái Quốc đã chết trong nhà tù tại Hương Cảnh”. Đây cũng là lý do vì sao mà đồng chí Hà Huy Tập viết trong Tập 4 của Văn kiện Đảng toàn tập rằng đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã bị ám sát trong các nhà tù địa ngục của Hồng Kong. Bởi lẽ thông tin Nguyễn Ái Quốc chết vào lúc đó là hoàn toàn tốt và việc truy điệu đồng chí làm cho thông tin này trở nên đúng sự thật hơn.

Không những chết giả lần này, Bác Hồ kính yêu của chúng ta còn chết giả một lần nữa trong khoảng thời gian bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt – khoảng thời gian mà Nhật ký trong tù ra đời. Cái chết giả của Bác lần này còn được đồng chí Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng…tổ chức đám tang và đọc điếu văn. Chỉ đến khi Bác viết thư và bí mật gửi về thì các đồng chí mới biết rằng Bác vẫn còn sống.

Thứ hai, xin nói về vai đóng thiếu tá Bát lộ quân Hồ Quang của Bác. Đầu tháng 10/1938, Bác Hồ rời Matxcơva, tìm đường về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người qua biên giới Xô - Trung, vào Urumsi (Tân Cương) để đến Lan Châu. Một cán bộ cao cấp trong quân đội của Đảng Cộng sản Trung Quốc phụ trách văn phòng Bát Lộ Quân đóng ở Lan Châu thời gian này nhận được lệnh đón một cán bộ quan trọng của Quốc tế Cộng sản đi qua đây, chuẩn bị cho đồng chí đó một chứng minh thư Trung Quốc với tên Hồ Quang, cấp bậc thiếu tá. Người cán bộ đó chính là Nguyễn Ái Quốc. Có thể nói việc vào vai Thiếu tá Hồ Quang của Người đã rất thành công và cùng với việc bắt liên lạc lại với các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt… để trực tiếp chỉ đạo cách mạng ở Việt Nam.

Qua hai sự kiện trên, chúng ta đã thấy được phần nào cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại nhưng cũng đầy gian truân của Bác. Ấy vậy mà cái đám danlambao đã ngu thì chớ, mà đã ngu thì tốt nhất nên ngậm cái gì đấy để được nghe giảng giải. Đằng này chúng lại cứ bô bô ra cho người ta biết cái ngu của chúng cơ chứ. Thật đúng là ngu không phải là cái tội mà cái tội là không biết mình ngu danlambao à!

Tâm Bình

Thursday, July 16, 2015

ĐƠM ĐẶT, DỰNG CHUYỆN CĂNG THẲNG BIÊN GIỚI TÂY NAM LÀ LŨ KHÔNG CÓ NÃO!

Gần đây, trên các trang mạng xã hội xuất hiện những hình ảnh về xô xát giữa người dân hai nước Việt Nam và Campuchia ở khu vực biên giới chưa hoàn thành việc phân giới và cắm mốc. Mặc dù đã có sự can thiệp kịp thời của lực lượng chức năng nhằm đảm bảo an ninh, trật tự nhưng hậu quả vẫn là hàng chục người ở cả hai phía bị thương. Không dừng lại ở đó, những người gây rối ở phía Campuchia vẫn tiếp tục leo thang căng thẳng, cả trên thực địa lẫn trên các diễn đàn mạng xã hội, nhân cơ hội này, một số tờ báo/kênh phát thanh, truyền hình nước ngoài vốn không có thiện cảm, thậm chí thù địch với Việt Nam đã đăng lại những thông tin chưa kiểm chứng hoặc thông tin lập lờ dẫn dụ độc giả có những bình luận tỏ thái độ hằn học, chống phá Việt Nam. Thậm chí, nhiều kẻ xuyên tạc chuyên nghiệp còn tung tin Việt Nam vận chuyển vũ khí hạng nặng, quân đội áp sát biên giới phía Tây Nam. Một số khác thì tung tin Trung Quốc báo động và chuyển quân đội, vũ khí áp sát biên giới Việt Nam...




Đơm đặt, dựng chuyện căng thẳng ở biên giới Tây Nam của đám phản động

Có thể khẳng định, tất cả những thông tin trên là bịa đặt, vô căn cứ hoặc là kết quả của việc đơm đặt, xuyên tạc, dựng chuyện từ những sự kiện nhỏ nhặt, tự phát, bất hợp pháp của nhóm nhỏ dân chúng bị phe đối lập ở Campuchia xúi giục, thuê tiền nhằm gây rối trật tự ở khu vực nhậy cảm nhằm chia rẽ Việt Nam và Campuchia, phục vụ cho mưu đồ chính trị của họ tại Campuchia và kích động tâm lý ghét người Việt của một bộ phận người dân Campuchia. Những hành động chống phá và thông tin sai trái, xuyên tạc này lại được sự hưởng ứng, tiếp tay, thậm chí tiếp tục đơm đặt, dựng chuyện của các nhóm CCCĐ và Dân chủ cuội ở Việt Nam nên thông tin càng nhiễu loạn. Tuy nhiên, người dân Việt Nam luôn tỉnh táo và đã quá hiểu bản chất của CCCĐ và Dân chủ cuội nên không dễ mắc mưu. Mọi luận điệu xuyên tạc dối trá đều bị phát hiện và phản đối, chính người dân đã vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch từ Campuchia và cả ở nước khác, cũng như âm mưu chống phá của các nhóm CCCĐ và dân chủ cuội...

Tuy nhiên, không thể và không nên phủ nhận vẫn còn những điểm bất đồng, chưa thể thống nhất được giữa chính phủ hai nước trong quản lý và phân giới, cắm mốc biên giới chung giữa Việt Nam và Campuchia. Tuy nhiên, đây là những vấn đề mang tính kỹ thuật hoặc phát sinh từ thực tế quá trình quản lý biên giới trên thực địa. Dù mức độ không quá gay gắt và không thể vì thế mà gây ra căng thẳng giữa 2 nước nhưng nó vẫn có thể là cái cớ để các lực lượng thù địch quốc tế và CCCĐ, Dân chủ cuội trong nước lợi dụng chống phá Việt Nam ta, đồng thời phá hoại tình đoàn kết, hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Campuchia. Mời các bạn đọc bài dưới đây để có thêm thông tin về tình hình biên giới phía Tây Nam và quan điểm của Nhà nước ta về vấn đề này:


Campuchia không đáp ứng đề nghị thiện chí của Việt Nam về việc không xây dựng công trình trong phạm vi 100m tính từ đường quản lý thực tế về mỗi bên tại các khu vực biên giới chưa phân giới cắm mốc, đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết.

Ông Lê Hải Bình, người phát ngôn ngoại giao Việt Nam hôm 16/7 cho biết trong các công hàm trao đổi với Bộ Ngoại giao và Hợp tác quốc tế, Cơ quan phụ trách về Biên giới Campuchia cũng như tại cuộc họp hai Chủ tịch Ủy ban liên hợp Phân giới cắm mốc tại Phnom Penh từ ngày 6-9/7 vừa qua, Việt Nam đã khẳng định rõ tất cả các công trình Việt Nam xây dựng ở khu vực biên giới trong thời gian qua đều được tiến hành trong phần đất hiện tại đang do phía Việt Nam quản lý.


Tại Điểm 8, Thông cáo Báo chí chung Việt Nam - Campuchia ngày 17/1/1995 quy định “Hai bên thỏa thuận, trong khi chờ đợi giải quyết những vấn đề còn tồn tại về biên giới, thì duy trì sự quản lý hiện nay; không thay đổi, xê dịch các cột mốc biên giới; giáo dục, không để nhân dân xâm canh, xâm cư và cùng nhau hợp tác giữ gìn an ninh, trật tự biên giới”.

"Việt Nam đã tuân thủ nghiêm túc thỏa thuận giữa hai nước về việc quản lý biên giới trong quá trình phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam - Campuchia", ông Bình nói.

Theo người phát ngôn, để tỏ thiện chí và nhằm tạo thuận lợi cho công tác phân giới, cắm mốc đang ở vào giai đoạn then chốt hiện nay, tại công hàm ngày 6/7 mới đây gửi Bộ Ngoại giao và Hợp tác quốc tế Campuchia và tại cuộc họp hai Chủ tịch Ủy ban liên hợp phân giới cắm mốc, Việt Nam cũng đã chính thức đề nghị phía Campuchia cùng cam kết “không xây dựng công trình trong phạm vi 100 m tính từ đường quản lý thực tế về mỗi bên tại các khu vực chưa phân giới, cắm mốc hoặc chưa hoàn thành hoán đổi theo ‘Bản Ghi nhớ về việc điều chỉnh đường biên giới trên bộ đối với một số khu vực tồn đọng giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Campuchia ký ngày 23/4/2011 (MOU)”.

"Nhưng rất tiếc phía Campuchia không đáp ứng đề nghị thiện chí đó của phía Việt Nam”, ông Bình cho hay.

Trả lời câu hỏi một số trang mạng đưa tin Việt Nam đưa vũ khí, khí tài về phía biên giới Tây Nam, ông Bình chiều nay khẳng định "những thông tin phóng viên nêu không có tính xác thực".

Hôm 28/6, khoảng 250 người Campuchia với sự tham gia của một số nghị sĩ đảng đối lập Cứu nguy Dân tộc Campuchia (CNRP) đã tiến sâu vào khu vực mốc 203 do Việt Nam quản lý, thuộc địa bàn tỉnh Long An. Lực lượng chức năng Việt Nam và người dân địa phương đã ngăn chặn, giải thích nhưng bị một số phần tử quá khích Campuchia tấn công, khiến 7 người Việt Nam bị thương.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao khi đó đã yêu cầu Campuchia xử lý thỏa đáng vụ việc và khẳng định hành động bạo lực của một số phần tử quá khích Campuchia đã vi phạm pháp luật của cả hai nước, các hiệp ước, hiệp định và thỏa thuận giữa Việt Nam và Campuchia, ảnh hưởng đến tiến trình phân giới cắm mốc cũng như quan hệ tốt đẹp song phương.

Trong 9 năm qua, hai nước đã phân giới được 920 km trong tổng số chiều dài đường biên giới khoảng 1.137 km, xác định được 260 vị trí mốc, xây dựng được 305 cột mốc. Hiện nay còn 7 đoạn biên giới trên toàn tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Campuchia mà hai nước chưa thống nhất được cách giải quyết.

Hoàng Trường

Wednesday, July 15, 2015

CHIẾN TRANH 1954 – 1975 - CÓ PHẢI LÀ CUỘC NỘI CHIẾN? (Phần 2)

(Tiếp phần 1)

Chính quyền Sài Gòn là một chính quyền phụ thuộc, chính quyền tay sai của Mỹ, vì Mỹ mới là người điều khiển cuộc chiến tranh xâm lược. Chẳng thế mà năm 1963 khi Tổng thống chính quyền Sài Gòn Ngô Đình Diệm không hợp với Chính phủ Mỹ nữa thì Mỹ đã bật đèn xanh cho cuộc đảo chính giết chết anh em Ngô Đình Diệm – Ngô Đình Nhu để dựng nên một chính phủ tay sai khác. Về mặt pháp lý, khi ký Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam ngày 27 – 01 – 1973, là bốn bên ký: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Hợp chủng quốc Hoa Kỳ; Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Bốn bên nhưng hình thù hai bên rất rõ: bên cách mạng Việt Nam và bên Hoa Kỳ có sự giúp sức của Việt Nam Cộng hòa, chứ không phải hai bên theo nghĩa nội chiến: bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và bên Việt Nam Cộng hòa.


Cố tình đánh lận con đen Nguyễn Gia Kiểng đang xuyên tạc lịch sử

Sau khi Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết ngày 27 – 01 – 1073, mặc dù quân Mỹ và đồng minh rút khỏi miền Nam Việt Nam nhưng ở giai đoạn 1973 – 1975, tính chất của cuộc chiến tranh vẫn là cuộc chiến của Mỹ. Chiến tranh xâm lược thực dân mới do Mỹ phát động chưa chấm dứt. Ngay trước năm 1973, Mỹ đã viện trợ ồ ạt cho chính quyền Sài Gòn một khối lượng phương tiên chiến tranh khổng lồ; chủ trương hiện đại hóa, tinh nhuệ hóa quân đội Sài Gòn bằng kế hoạch quân sự 6 năm (1974 – 1979). Mỹ còn chủ trương làm cho kinh tế miền Nam….bằng kế hoạch kinh tế hậu chiến 8 năm (1973 – 1980). Năm 1973, quân chính quy của chính quyền Sài Gòn là 710 nghìn quân và 1,5 triệu bảo an dân sự. Toàn bộ lực lượng đó đều do Mỹ bảo đảm về trang bị, tác chiến. Như vậy, bất chấp Hiệp định Pari đã được ký kết, Mỹ vẫn là một tác nhân chính cho việc tiêu diện lực lượng cách mạng ở miền Nam, muốn xóa bỏ tình trạng hai chính quyền, hai quân đội và ba lực lượng hiện có, biến miền Nam Việt Nam thành lãnh thổ chỉ có một chính quyền tay sai của Mỹ. Do vậy, giai đoạn 1973 – 1975, thoạt nhìn bề ngoài có vẻ như đó là cuộc chiến giữa lực lượng cách mạng Việt Nam với một bên là quân đội Sài Gòn, nhưng thực chất tính chất cuộc chiến vẫn không hề thay đổi, nghĩa là vẫn hai phía: phía cách mạng Việt Nam và phía Mỹ cộng với lực lượng tay sai là chính quyền Sài Gòn.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kéo dài, trong khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với tiềm lực kinh tế, quân sự rất hạn chế. Từ giữa những năm 60 của thế kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu viết Thư để lại cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân (sau này được gọi là Di chúc). Trong thư, Chủ tịch Hồ Chí Minh tin rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam chắc chắn sẽ thắng lợi hoàn toàn. Trong bản năm 1968, Người viết: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể sẽ kéo dài mấy năm nữa. Đồng bào ta có thể phải hi sinh nhiều của nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn. Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định sẽ phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam, Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”. Đến bản bổ sung ngày 10 – 05 – 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định lại: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ hi sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn.

Thực tế, lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam đã đúng như dự đoán của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhân dân Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Mnh với thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh ngày 30 – 04 – 1975. 

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là thắng lợi chung của cả dân tộc Việt Nam đối với đế quốc Mỹ xâm lược chứ không phải là thắng lợi của miền Bắc đối với miền Nam, với cái nghĩa là sự kết thúc của cuộc nội chiến như một số người quan niệm.

Chiến tranh bao giờ cũng để lại hậu quả vô cùng nặng nề cho tất cả các bên tham chiến. Tuy không phải là nội chiến, nhưng cuộc chiến tranh 1954 – 1975 ở Việt Nam đã để lại vết thương lòng sâu đậm cho người Việt Nam. Người Việt Nam tham gia chiến tranh với hai phía rõ rệt: phía cách mạng và phía theo Mỹ. Chiến thắng 30 – 04 – 1975 cho đến nay, thì một bên hằng năm kỷ niệm một cách long trọng, còn một số người khác thì lấy đó là “ngày quốc hận”, tâm lý này có cả ở một số cộng đồng người gốc Việt xa xứ. Ngày đó đã xác nhận một tâm lý dân tộc, như cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói, là có hàng triệu người vui và hàng triệu người buồn. Không có ở đâu trên thế giới này như đất nước Việt Nam, tâm trạng giằng xé đó lại hiện diện trong nhiều gia đình, nghĩa là trong cùng một nhà vừa có người tham gia phía cách mạng và vừa có người tham gia phía chính quyền Sài Gòn.

Chỉ có điều là cuộc chiến tranh này đã lùi xa 4 thập niên, song những nỗi đau vẫn còn đó, cả nỗi đau về vấn đề hòa hợp, hòa giải dân tộc. Mong muốn “đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà” được Chủ tịch Hồ Chí Minh nếu trong Di chúc, chắc chắn có chỗ đứng xứng đáng cho sự hòa hợp, hòa giải dân tộc.

Tuy đất nước thống nhất đã 40 năm, nhưng phải chăng vẫn còn “nội chiến” dai dẳng ở lòng người? Hãy san phẳng mọi trở ngại và chấm dứt cái nội chiến ấy, nếu có. Riêng đối với Hoa Kỳ thì Việt Nam đã bình thường hóa từ năm 1995, hiện nay quan hệ hai nước là quan hệ hợp tác toàn diện và đang đi những bước vững chắc lên quan hệ chiến lược. Đối với một dân tộc như Việt Nam mang nặng khát vọng hòa bình, hòa hiếu thì việc hòa hợp, hòa giải dân tộc chắc chắn sẽ đạt được. Từ mọi góc bể, chân trời, người Việt Nam vẫn tìm thấy nhau ở tinh thần đó trong sự phát triển văn minh của nhân loại./.

Hải Trang

Tuesday, July 14, 2015

CHIẾN TRANH 1954 – 1975 - CÓ PHẢI LÀ CUỘC NỘI CHIẾN? (Phần 1)

Đã 40 năm sau ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước, ở đâu đó còn có người cho rằng, cuộc chiến tranh 1954 – 1975 là một cuộc nội chiến, nghĩa là cuộc chiến tranh giữa một bên là “Việt Cộng” được sự ủng hộ của các nước hệ thống các nước XHCN, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc, với một bên là lực lượng của Việt Nam Cộng Hòa được sự ủng hộ của Mỹ và một số nước đồng minh. Gọi đó là cuộc nội chiến tức là chiến tranh huynh đệ tương tàn, người Việt Nam đánh lẫn nhau. Ý kiến trên có đúng hay không? Bài viết góp phần làm rõ vấn đề này đến các bạn đọc.


Bài viết trên RFA đặt câu hỏi Nội chiến hay không nội chiến. Ảnh: chụp từ bài viết

Trong lịch sử Việt Nam hiện đại đã diễn ra tình trạng có hai chế độ chính trị khác nhau ở hai miền Nam, Bắc do hậu quả của Hiệp định đình chiến Giơnevơ năm 1954 về Việt Nam. Trong các văn kiện của Hội nghị Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương thì nhiều vấn đề lớn của chính trị không nằm trong Hiệp định đình chiến mà lại nằm trong bản Tuyên bố cuối cùng. Theo bản Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương thì sau hai năm, tức là đến tháng 07 - 1956, hai miền Nam, Bắc phải tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Đáng tiếc là bản Tuyên bố cuối cùng đó thiếu sự ràng buộc trách nhiệm của các thành viên tham dự Hội nghị Giơnevơ, bởi đơn giản là nó không để lại bất kỳ một chữ ký nào và gần như để ngỏ cho trách nhiệm thực thi. Các bên tham gia Hội nghị đều có thể đưa ra cách giải thích khác nhau về thực hiện những nội dung của bản Tuyên bố. Chính đây là cơ hội mà phía Mỹ, bao gồm cả chính quyền Sài Gòn do Mỹ lập nên, đã triệt để lợi dụng, nhất là về nội dung và thời hạn tổng tuyển cử đi đến thống nhất đất nước Việt Nam.

Việc tổng tuyển cử thống nhất đất nước Việt Nam không thành. Thực tế diễn ra sau Hội nghị Giơnevơ là Mỹ đã ủng hộ Việt Nam Cộng hòa từ chối tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho rằng Mỹ và chính quyền Sài Gòn (trước đó là Chính phủ Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại làm Quốc trưởng) là đại diện cho hai trong chín bên đã ký vào bản Hiệp định đình chiến của Hội nghị Giơnevơ năm 1954 nhưng lại không tán thành bản Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị (ra Tuyên bố riêng), cho nên việc này chứng tỏ rằng Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã sớm rắp tâm chia cắt lâu dài hai miền Nam, Bắc Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã nhận thức rõ rằng, Mỹ coi miền Nam Việt Nam là địa bàn quan trọng trong chiến lược chống sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Nam châu Á và trên thực tế Mỹ đã viện trợ tích cực cho Pháp chống lại cách mạng Việt Nam (giai đoạn cuối cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1945-1954), Mỹ đã đóng góp cho Pháp tới gần 80% chiến phí. Sau Hiệp định Giơnevơ, Mỹ đẩy mạnh việc chuẩn bị cho những bước can thiệp sâu hơn vào nội tình Việt Nam Cộng hòa. Năm 1954, Mỹ thực hiện các hoạt động tuyên truyền tâm lý chiến, kêu gọi và vận động nhân dân miền Bắc Việt Nam, chủ yếu là đồng bào theo đạo Thiên Chúa, di cư vào miền Nam; huấn luyện các lực lượng vũ trang của Việt Nam Cộng hòa; xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ quân sự tại Philippines, bí mật đưa một lượng lớn vũ khí và thiết bị quân sự vào Việt Nam; giúp đỡ phát triển các kế hoạch “Bình định Việt Minh và các vùng chống đối”, v.v …

Trong khi đó, chủ trương của Đảng Lao động Việt Nam là “Củng cố miền Bắc, chiếu cố miền Nam”, tập trung xây dựng miền Bắc, đồng thời tranh thủ về mặt ngoại giao để kêu gọi một giải pháp hòa bình cho miền Nam. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã kêu gọi các đồng chủ tịch Hội nghị Giơnevơ, lưu ý phía Pháp về trách nhiệm đối với việc thống nhất hai miền đất nước Việt Nam thông qua Tổng tuyển cử theo đúng tinh thần của bản Tuyên bố cuối cùng tại Hội nghị Giơnevơ. Tháng 6-1955, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố sẵn sàng mở hội nghị hiệp thương với chính quyền Sài Gòn nhưng không được đáp ứng. Tháng 7-1956, sau khi yêu cầu đàm phán không được chính quyền Ngô Đình Diệm trả lời, thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã yêu cầu các đồng chủ tịch Hội nghị Giơnevơ tổ chức một cuộc hội nghị mới. Các yêu cầu đàm phán với Chính phủ Ngô Đình Diệm tiếp tục được phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiên trì nêu tại các thời điểm tháng 6 và 7-1957, tháng 3 và 12-1958, tháng 7-1959 và tháng 7-1960, nhưng đều bị từ chối. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn muốn thiết lập quan hệ thương mại giữa hai miền nhưng chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng khước từ.

Thậm chí, trong khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa chối bỏ hiệp thương tổng tuyển cử tự do, đồng thời ra sức đàn áp khốc liệt những người kháng chiến cũ và khủng bố những đảng viên Đảng Lao động Việt Nam bằng những chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng”, thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn kiên trì theo đuổi chính sách chuẩn bị cho tổng tuyển cử và cố gắng duy trì các giải pháp ôn hòa.

Hòa bình là hằng số mang bao khát vọng cho cách mạng Việt Nam sau nhiều năm chịu khói lửa chiến tranh. Sự kiên trì cho đường lối hòa bình của Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một cố gắng lớn cũng như là một sự kiềm chế lớn, trong khi phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa ra sức phá hoại nền hòa bình. Chính điều này đã làm cho một số người trong lực lượng cách mạng Việt Nam, nhất là ở miền Nam trong thời gian 1954-1959 “chưa tâm phục khẩu phục” chủ trương giữ gìn lực lượng cách mạng của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Thái độ hiếu chiến và sức mạnh của Mỹ cùng với máy chém của chế độ Sài Gòn đã tiến công trực diện vào những giá trị của Hiệp định Giơnevơ, làm cho những người cách mạng ở miền Nam bức xúc, đòi quyền đứng lên đấu tranh vũ trang sau thời hạn 2 năm quy định của Hiệp định Giơnevơ (7-1957). Và điều này chính là một kích hoạt quan trọng cho sự ra đời Nghị quyết Hội nghị 15 (mở rộng) của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam năm 1959 – Nghị quyết “cho phép đánh”. Nghị quyết nêu rõ: “Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì con đường đó là lấy sức mạng của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị ủa đế quốc và phong kiến, dựng nên chính quyền cách mạng của nhân dân.”

Còn phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn thì cho rằng, “Việt Cộng” có ý đồ vi phạm Hiệp định Giơnevơ khi một mặt cho tập kết quân ra miền Bắc theo những điều khoản quy định của Hiệp định, một mặt thì lo tính ém lại lực lượng cách mạng “nằm vùng” để chờ thời cơ giành lấy chính quyền mà điển hình là sự kiện liên quan đến một yếu nhân của phía cách mạng.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta kéo dài tới 21 năm với biết bao máu xương đã đổ xuống, làm cho kinh tế sa sút, xã hội bị xáo trộn. Mỹ đã bị sa lầy vào cuộc chiến đó. Hội chứng về chiến tranh Việt Nam tại Mỹ vẫn còn, có lẽ cũng phải mấy lần 40 năm nữa vẫn chưa thể phai nhạt.

Đúng là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được sự giúp sức của Liên Xô, Trung Quốc và các nước trong hệ thống XHCN, nhưng thực sự đó là cuộc chiến đấu của chính bản thân nhân dân Việt Nam, không có sự tham gia trực tiếp của nước ngoài. Đường lối chính trị, quân sự, kế hoạch tác chiến, … đều do Đảng ta đề ra. Còn chính quyền Việt Nam Cộng hòa thì lại khác, thực chất cuộc chiến là của Mỹ, quân Mỹ trực tiếp tham chiến, rõ nhất là từ năm 1965, với sự tham gia của quân đội Sài Gòn và cả quân của một số nước đồng minh của Mỹ, như Hàn Quốc, Austalia, New Zealand, … (riêng quân Mỹ có lúc đã lên tới gần 1 triệu quân). Mỹ còn tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc Việt Nam. Kế hoạch ném bom, bắn phá miền Bắc là của Mỹ, máy bay, tàu chiến, phi công, bom đạn là của Mỹ, và cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ đối với miền Bắc Việt Nam chính là một bộ phân không thể tách rời của toàn bộ chiến lược chiến tranh mà Mỹ tiến hành ở Việt Nam (và ở cả ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia).

(Còn tiếp phần 2)

Hải Trang

THÁI ĐỘ CỦA CÁC NHÀ DÂN CHỦ VỀ CHUYẾN ĐI MỸ CỦA ÔNG NGUYỄN PHÚ TRỌNG

Ngày 6.7 TBT Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã có chuyến thăm chính thức tới Hoa Kỳ theo lời mời của Tổng thống B.Obama. Dư luận trong và ngoài nước hoan hỉ coi đây là dấu mốc quan trọng đánh dấu một bước phát triển trong quan hệ giữa hai nước sau gần đúng 20 năm bình thường hoá quan hệ.



Còn đối với các “nhà dân chủ” Việt coi đây là dịp để mổ xẻ xuyên tạc, chê bai chuyến thăm như một đòn tâm lý nhằm hạ hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế. Sau đây là tổng kết các ý kiến xoay quanh chuyến đi Mỹ của của những kẻ mang danh “nhà dân chủ”:

Các nhà dân chủ ôn hòa đều cho rằng đây là cơ hội thắt chặt mối quan hệ Việt – Mỹ. Khi Mỹ bắt tay với Việt Nam, Việt Nam sẽ không lo ngại về mối đe dọa từ Trung Quốc nữa. Ta có thể thấy trên facebook hoặc blog của họ một sự hồ hởi.

Các nhà dân chủ cực đoan thì mỉa mai chuyến đi này. Nếu quả thật Việt – Mỹ mà bắt tay nhau thì họ hết giá trị lợi dụng, đồng thời cũng hết các nguồn quỹ từ chính phủ Mỹ đổ vào các phong trào lật đổ chính quyền ở Việt Nam. Đây là lý do họ phản đối Việt Nam tham gia vào TPP, họ đắc chí khi thấy Tổng Bí Thư của Việt Nam bị Phó Tổng thống Mỹ lấy kiều xỏ xiên chính phủ Việt Nam.

Nhưng cho dù có ý kiến như thế nào, ta cũng thấy được rằng những người này đều quỳ gối quỵ lụy Mỹ, mong muốn Mỹ trở thành cứu tinh bao bọc che chở nước Việt Nam nhỏ bé. Cho dù họ chửi bới chính quyền Việt Nam là nhu nhược trước nước lớn thì thái độ luồn cúi của họ cũng chẳng khác gì.

Sự thật là:

Mỹ liệu có thể che chở được cho Việt Nam hay không? Thời Việt Nam Cộng Hòa, Mỹ đã bỏ rơi cả chính quyền bù nhìn mà họ dựng lên vào đúng thời điểm then chốt nhất, tại sao có thể tin rằng bây giờ Mỹ sẽ sống chết để bảo vệ Việt Nam

Tất cả các nước có bàn tay của Mỹ tham dự vào các phong trào chính trị như Ai Cập, Ukraina, Ả Rập… đều dẫn đến bạo động và chiến tranh. Trong các cuộc chiến tranh ấy, Mỹ trục lợi bằng việc đưa quân đến chiếm đóng và vơ vét tài nguyên.

Với những nước trong bè cánh của Mỹ, họ phải chấp nhận luật chơi do “đại ca” đưa ra, đó là phải mở cửa để các tập đoàn của Mỹ xâm lược thị trường nội địa. Người dân của các nước ấy trở thành nô lệ kiểu mới, hàng ngày đi làm vất vả để mua các sản phẩm do các tập đoàn ấy tạo ra với giá cắt cổ. Những ngành công nghiệp độc hại, Mỹ sẽ đẩy sang các nước “đàn em” này để giữ an toàn cho nhà của “đại ca”.

Muốn thoát khỏi thân phận tiểu nhược, phải nỗ lực để phát triển đất nước bằng tiềm lực nội tại chứ không phải nương nhờ vào nước lớn. Các nhà dân chủ Việt Nam muốn mình thực sự là nhà dân chủ hoạt động vì dân vì nước hay là các nhà dân chủ nô lệ cho chính phủ Mỹ.

Khểnh

Monday, July 13, 2015

CÔNG AN KHÔNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ GIÀU NGHÈO TRONG ĐIỀU TRA NHƯ LŨ KỀN KỀN RÊU RAO!

Những ngày qua dư luận trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm và kinh hoàng trước hai vụ thảm sát kinh hoàng diễn ra trong những ngày đầu tháng 7 nắng nóng của những kẻ sát nhân máu lạnh. Trước tình hình vụ thảm sát xảy ra tại Bình Phước khiến 6 người trong gia đình ông Lê Văn Mỹ (48 tuổi, trú tại xã Minh Hưng, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước) vào ngày 7/7, bằng trí tuệ, bản lĩnh, kinh nghiệm, tài năng và sự kiên trì, chịu khó của mình, các chiến sĩ Công an chỉ trong vòng 3 ngày sau khi xảy ra vụ án thì truy tìm ra thủ phạm gây án và 2 hung thủ máu lạnh là Nguyễn Hải Dương (SN 1/2/1991, quê quán: An Giang) và Vũ Văn Tiến (SN 21/10/1991, quê quán: Bình Phước) đã phải ra trước ánh sáng, khuất phục trước sự tài năng của các cơ quan điều tra và chúng sẽ phải chịu những hình phạt thích đáng, nghiêm khắc của pháp luật.


Và trong thời điểm đó, lại có một vụ thảm sát với tính chất đặc biệt nghiêm trọng xảy ra tại bản Phồng, xã Tam Hợp, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đã gây ra sự hoang mang trong dư luận những ngày qua khi những kẻ hung thủ máu lạnh đã ra tay dùng dao chém vào cổ một cách dã man 4 người trong gia đình bao gồm cụ Viêng Thị Chương (60 tuổi) cùng con trai, con dâu và cháu nội 8 tháng tuổi.

Được biết khoảng 15h chiều 2/7, hai cha con ông Vi Văn Hoài (cha) và Vi Văn Tuyên (con, cùng trú xã Tam Hợp) mang dụng cụ, lội bộ khoảng 5km đường rừng vào đánh bắt cá ở khu vực khe Cát Tả (bản Phồng, xã Tam Hợp).Tuy nhiên, khi đang lội ngược con khe để đánh cá thì hai cha con ông Hoài hốt hoảng khi phát hiện tới bốn thi thể bên con khe và trước chiếc lán dựng trên rẫy. Trong đó, anh Lô Văn Thọ (27 tuổi), bị chém ở cổ, nằm chết trước lán trên rẫy, bà Viêng Thị Chương (60 tuổi, mẹ anh Thọ) bị chém ở cổ, vết thương ở bụng, nằm gục chết bên bờ khe, suối. Chị Lê Thị Yến (25 tuổi, vợ anh Thọ) đang ôm con nhỏ 8 tháng tuổi cũng chém chết cả hai mẹ con. Ngay lập tức, hai cha con ông Hoài chạy về báo với Đồn Biên phòng Tam Hợp (đóng tại huyện Tương Dương) và Công an xã Tam Hợp. Đồn Biên phòng Tam Hợp đã triển khai lực lượng cùng Công an xã và UBND xã Tam Hợp đi vào hiện trường, xác minh thông tin và bảo vệ hiện trường để phục vụ điều tra. Thời gian qua, bà Chương cùng vợ chồng anh Thọ, chị Yến vào khu vực khe Cát Tả dựng lán tranh tre, nứa lá để trồng lúa kiếm cái ăn.

Trong khi vụ việc vẫn đang tiếp tục được cơ quan Điều tra của Bộ Công an và Công an Nghệ An và các tỉnh lân cận tiến hành điều tra, xác minh và sớm tìm ra hung thủ đã ra tay giết người một cách dã man những nạn nhân trên thì những bầy kền kền, lũ rận – những kẻ chuyên lợi dụng các vụ việc được dư luận quan tâm để tiến hành tuyên truyền, xuyên tạc chống đối Đảng, Nhà nước đã đăng tải những thông tin sai sự thật, phao tin bịa đặt và gây nhiễu và hoang mang dư luận về 2 vụ thảm sát kinh hoàng được dư luận đặc biệt quan tâm trên.

Đầu tiên là những trang mạng thiếu thiện chí với Việt Nam như BBC, RFA, RFI, Dân làm báo, Tễu cho đến những trang cá nhân của các nhà dâm chủ đã đăng tải những thông tin tuyên truyền, xuyên tạc sai về những vụ việc trên và cho rằng các cơ quan điều tra đã không quan tâm, chú ý đến điều tra vụ án ở Bình Phước mà chỉ chú trọng vào điều tra vụ án ở Nghệ An. Điển hình những nhà đội lốt “bảo vệ dân oan” trên trang http://danoan2012.blogspot.com đã đăng tải bài viết: “Hai vụ án, hai cách ứng xử?” khi cho rằng báo chí, người dân, các cơ quan chức năng và cơ quan điều tra đã làm ngơ trước vụ việc xảy ra ở Nghệ An và bọn chúng còn đặt ra câu hỏi và yêu cầu phải đối xử “công bằng” trước vụ việc.

Đúng là với lũ rận, với bầy kền kền thì không việc gì là chúng không thể xuyên tạc, phao tin bịa đặt được đặc biệt là những vụ việc được dư luận đặc biệt quan tâm như 2 vụ án trên. Phải chăng chúng đã thấy thất vọng khi lực lượng Công an điều tra đã tìm ra hung thủ sát hại 6 người tại Bình Phước hay chúng thấy lạc lõng khi trước đó khi vụ việc xảy ra lũ rận đã ngay lập tức cho rằng Công an sẽ không bao giờ tìm ra hung thủ và nếu tìm ra thì phải mất thời gian dài và phải chăng khi Công an phá được án thì chúng không vui bởi chúng sẽ không thể xuyên tạc, bôi nhọ được lực lượng Công an nữa? Chúng đã lộ nguyên hình về bản chất của mình bởi lẽ chiến công phá án của lực lượng Công an đã được nhân dân cả nước ghi nhận và khâm phục.

Còn đối với vụ việc ở Nghệ An thì như đã nói ở trên sau khi vụ việc đã xảy ra thì ngay lập tức các cơ quan chức năng, các cơ quan điều tra đã vào cuộc điều tra làm rõ. Và tại cuộc họp báo vào ngày 11/7 thông tin về vụ án 6 người bị giết ở Bình Phước Thứ trưởng Lê Quý Vương cũng đã cho biết Bộ Công an đã tăng cường lực lượng để tiến hành điều tra làm rõ vụ việc này. Do địa điểm xảy ra vụ án này nằm ở miền núi, vùng sâu vùng xa, gần giáp với biên giới Việt – Lào. Thêm vào đó, thi thể các nạn nhân được phát hiện sau khi đã bị sát hại hơn 1 tuần nên lực lượng công an cần thêm thời gian để thu thập chứng cứ, tiến hành điều tra, làm rõ vụ việc.

Vậy nên sẽ không có chuyện “không công bằng” như lũ rận và bầy kền kền đã nói mà bản thân tôi tin rằng hung thủ máu lạnh cũng sẽ phải sớm phải ra ánh sáng mà thôi. Còn đối với việc báo chí hay dư luận ít đưa thông tin về vụ án ở Nghệ An cũng là điều dễ hiểu bởi lẽ lượng thông tin ít thì không thể chém gió, phao tin bịa đặt được như lũ rận, bầy kền kền thường xuyên làm đâu.

Tống Giang

ĐỪNG TRÁCH BỌN TRẺ!

Chúng ta mổ xẻ tại sao hội đồng thi môn lịch sử chỉ có một thí sinh? Chúng ta thảng thốt khi con trẻ trả lời ngây ngô nhầm lẫn về các anh hùng dân tộc? Chúng ta chê trách lớp thanh niên hôm nay thờ ơ với cội nguồn, bỏ bê tìm hiểu chính sử nước nhà? …


Video gây tranh cãi trên mạng Internet mấy ngày qua

Có lẽ chính người lớn chúng ta mới đang sai chứ không phải những học sinh còn đang mài quần trên ghế nhà trường và bố mẹ cho đi học cái gì thì học cái đó, thầy cô dạy cái gì thì chép cái đó đâu... Tại sao từ bộ học cho đến các nhà trường không bao giờ cho môn lịch sử là quan trọng? Từ cách học cho đến cách thi? Tại sao sách giáo khoa, truyện lịch sử in sai sự thật, tô vẽ bậy bạ về các nhân vật truyền thuyết? Tại sao đến đại biểu quốc hội, quan tỉnh, quan huyện còn phát biểu linh tinh về lịch sử? Tại sao lễ hội, đình chùa, tượng miếu, văn bia… còn tái hiện, ghi chép sai lịch sử? Tại sao đài báo, phim ảnh chỉ toàn chiếu phim Tàu, phim Mỹ, nhạc Hàn, nhạc Thái…? 

Quang Trung - Nguyễn Huệ là 2 người, 2 anh em hay bạn cùng chiến đấu?

Tại sao các phụ huynh bằng mọi cách chỉ muốn cho con mình học tiếng Anh, tiếng Pháp, học Toán, học nhạc, học hát, học khiêu vũ… chứ không hứng thú cho bọn trẻ học các ngành khoa học xã hội nhân văn. Và họ càng không quan tâm đến học lịch sử. Tại sao người lớn thoải mái mua đồ chơi, trang bị điện thoại thông minh, máy tính bảng, sắm hàng hiệu, đưa con cái đi siêu thị, công viên, nhà hàng… nhưng lại không nghĩ đến việc dẫn bọn trẻ đến thắp hương nghĩa trang liệt sĩ, vào thăm bảo tàng, tặng một cuốn sách lịch sử, kể cho chúng nghe về quê hương và dòng họ… Tại sao người lớn cũng chỉ thích quan tâm tìm đọc và đàm tiếu với nhau thường xuyên về những chuyện “cướp giết hiếp”, tiền tài danh vọng… Để rồi rất nhiều người trẻ lớn lên thờ ơ với lịch sử, vô cảm với cộng đồng, sính ngoại, thích hưởng thụ, thậm chí là ích kỷ và độc ác… Đừng trách bọn trẻ vì chính chúng ta đã làm sai.

Sử sách không chỉ là ghi nhớ những việc đã qua mà còn phải suy xét gốc ngọn, tìm tòi cái căn nguyên để hiểu cho rõ những vận hội của nước nhà, những trình độ tiến hóa của một dân tộc. Chủ đích của sử là làm cái gương để đời đời soi vào đấy mà biết cái sự sinh hoạt của người trước đã phải lao tâm lao lực thế nào, mới chiếm giữ được cái địa vị ở dưới bóng mặt trời này. Không biết và hiểu sơ lược những sự tích nước mình thì làm sao có lòng yêu nước, biết cố gắng học hành, hết sức làm lụng, để vun đắp thêm vào cái nền xã hội của tiên tổ đã xây dựng mà để lại cho mình. Dân tộc nào đã có đủ cơ quan và thể lệ làm cho một nước độc lập thì đều có sử cả. Nhưng bấy lâu, việc dạy, học, truyền bá sử ta có khi vẫn bị coi là nhạt tẻ. Sử truyền không hay, mà lại không mấy người biết sử. Là vì cái cách học tập làm cho người mình không thích tìm hiểu sử. Bất kỳ lớn nhỏ, hễ ai cắp quyển sách đi học thì cũng thường chỉ học cho xong, học lấy điểm rồi đi thi mà thôi.

Nhưng dẫu thế nào đi nữa, dân tộc ta, đất nước ta đã có sử và sử rất dài, rất hào hùng thì ta phải học. Không ai có thể học hết sử, kể cả những người làm sử. Nhưng ta cũng cần biết sơ lược, khái quát và những cứ liệu căn bản về nước nhà. Đừng nghĩ rằng lịch sử không quan trọng vì rồi ai trong chúng ta cũng sẽ trở thành lịch sử. Những người lớn của hiện tại hôm nay phải thay đổi cách giáo dục, truyền thụ, hướng dẫn về lịch sử cho con cháu mình. Để không chỉ một thời gian không dài nữa, chúng ta sẽ là lịch sử “không mấy bận tâm” trong suy nghĩ của tương lai.

Năm xưa Hùm thiêng Yên thế Hoàng Hoa Thám sa cơ lỡ vận, khởi nghĩa tiêu vong nhưng vẫn dặn lại đời sau:
“Tôi ở đất nước tôi, đất của tổ tiên tôi. Chúng tôi đây, những thần dân trung thành của nước Việt. Chúng tôi vô cùng thiết tha với phong tục trong nước, không bao giờ chịu dời bỏ phong tục đó, cho dù đứng trước cái chết, vì chúng tôi hoàn toàn tin tưởng vào Trời Đất, thần linh phù hộ cho chúng tôi làm tròn sứ mệnh”.
Hải Trang