Monday, October 19, 2015

BÀN VỀ NHỮNG NHẬN XÉT QUY CHỤP, MÉO MÓ VỀ NHÂN QUYỀN VIỆT NAM (P2)

Các Dự luật mà Hạ viện Mỹ ban hành nhận xét: "Từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương Mại thế giới ngày 11-01-2007, chính quyền Việt Nam bắt bớ tùy tiện đối với nhiều người đấu tranh ôn hòa cho tự do tôn giáo, dân chủ và nhân quyền, như: Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Cù Huy Hà Vũ, Lê Công Định, Nguyễn Ván Hải, Tạ Phong Tần và Lê Văn Sơn". Hay "Chính quyền Việt Nam tiếp tục giới hạn quyền tự do tôn giáo, kiềm chế hoạt động của các tổ chức tôn giáo độc lập, sách nhiễu các tín đồ nào có hoạt dộng tôn giáo bị chính quyền coi là mối đe dọa tiềm tàng cho vị trí độc tôn quyền lực của họ. Đây là những nhận xét không đúng với tình hình thực tiễn của Việt Nam trong việc bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền, cố tình tôn giáo hóa, dân tộc hóa các vấn đề liên quan, cố tình gán ghép các nhân quyền và pháp luật. Các vụ việc, trường hợp cụ thể với vấn đề quyền con người với dụng ý can thiệp, vu cáo Việt Nam. 

Khái niệm vè bắt giam giữ tùy tiện đã được LHQ nêu rõ, đó là việc bắt, xử lý không theo một quy trình pháp lý sẵn có để đảm bảo việc bắt, xét xử công bằng, độc lập và phù hợp với chuẩn mực luật nhân quyền quốc tế. Đối với những trường hợp cụ thể mà dự luật đề cập, họ là những người có hoạt động vi phạm pháp luật Việt Nam (Điều 79, Điều 88 Bộ luật Hình sự Việt Nam) và bị bắt, xử lý theo đúng quy trình luật định. Phiên tòa xét xử các trường hợp trên được tổ chức công khai, độc lập. Trong đó, một số phiên xử, đại diện Đại sứ quán các nước Mỹ, EU và G4, các hãng thông tấn AP, DPA, Reuters... đều tham dự. Các trường hợp này đều có luật sư bào chữa và tranh tụng tại các phiên tòa. Ngoài ra, pháp luật Việt Nam cũng nghiêm cấm việc bắt giữ hoặc giam ngườỉ trái pháp luật (Điều 123 BLHS). Rõ ràng, nhận xét của các dự luật về việc bắt giữ tủy tiện dối với các trường hợp nêu trên là không dứng với văn kiện pháp lý của LHQ về vấn đề bắt giữ tùy tiện, không đúng với tình hình thực tế tại Việt Nam. 

Ed Royce và Chris Smith tác giả của các dự luật về Nhân quyền Việt Nam
Dự luật đề cập đến việc một số bloggers, một số người theo tôn giáo bị bắt và cáo buộc Việt Nam đàn áp tôn giáo, đàn áp người bắt đồng chính kiến, vi phạm tự do ngôn luận. Đây là nhận xét quy chụp, lập lờ, cố tình gán ghép hoạt động thực thi pháp luật của lực lượng chức năng với vấn đề nhân quyền, tôn giáo. Bản chất của vấn đề không phải là các trường hợp trên bị bắt vì họ theo tôn giáo hay chỉ vì họ là các blogger, họ bị bắt vì đã có các hoạt động vi phạm pháp luật Việt Nam. 

Tương tự như vậy, chả lẽ chúng ta lại gán ghép, cáo buộc lực lượng chút năng Mỹ đã phân biệt đối xử; đàn áp ngườỉ theo đạo Hồi chỉ vì họ đã thực hiện nhiệm vụ khi bắt một tín đồ Hồi giáo về các hoạt động khủng bố. Như tại bất cứ quốc gia nào, việc xem xét hành động của những công dân nói trên không phụ thuộc vào những cái “mác” họ tự gắn cho mình như “blogger”, “người bảo vệ nhân quyền”, mà cần căn cứ vào những quy định của hệ thống pháp luật của Việt Nam. 

Các trường hợp cụ thể mà dự luật đề cập đã có hành vi lợi dụng tự do ngôn luận xuyên tạc chính sách, pháp luật Nhà nước Việt Nam, thậm chí đã có các hoạt động thực tiễn và công khai kêu gọi, kích động các hoạt động lật đổ Nhà nước Việt Nam. 

Các hoạt động trên đã đe dọa trực tiếp an ninh quốc gia, vi pham pháp luật Việt Nam. Việc bắt, xử lý các trường hợp trên là đúng và cần thiết, ở đây cũng cần nêu thêm Điều 79, Điều 88 Bộ luật Hình sự Việt Nam là hoàn toàn hợp hiến và phù hợp luật nhân quyền quốc tế, là cụ thể hóa luật nhân quyền quốc tế. Nội dung của các điều luật trên không hạn chế quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, chỉ xử lý các hoạt động lợi dụng tự do ngôn luận nhằm xâm phạm an ninh quốc gia và quyền lợi ích hợp pháp của người khác. 

Khoản 3 Điều 19 Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị nêu rõ: "Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể dẫn tới một số giới hạn nhất định, những hạn chế này phải dược pháp luật quy định và cần thiết để: “Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác, bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc dạo đức cộng đồng". 

Đối với nước Mỹ, họ luôn tự nhận là nước đi đầu trong việc bảo đảm quyền con người. Nhưng cộng đồng quốc tế nói chung và nước Mỹ nói riêng đang gặp phải những thách thức về an ninh phi truyền thống mà nước Mỹ đang phải đối mặt. Vấn đề quyền cá nhân và an ninh quốc gia luôn là bài toán, là thách thức đối với chính nước Mỹ. Và trong nhiều trường hợp, các chính sách và hoạt động của chính quyền Mỹ lấy lý do an ninh quốc gia đã gặp phải sự chỉ trích dữ dội của dư luận tại Mỹ vì vi phạm quyền con người, quyền riêng tư đó sao? 

Sau vụ khủng bố 11-9-2001, Đạo luật Yêu nước Mỹ được ban hành, với nhiều quyền hạn cho lực lượng chức năng, vi phạm quyền thư tín, riêng tư cá nhân. Gần đây nhất, qua vụ Snowden cho thấy, quyền tự do ngôn luận, quyền thư tín bị chính quyền Mỹ vi phạm nghiêm trọng và có hệ thống. Do vậy, có thể thấy, các nhận xét của các dự luật là không công bằng, áp dụng tiêu chuẩn kép, có chủ ý can thiệp công việc nội bộ và một mặt nào đó có thề làm phức tạp thêm vắn đề quan tâm của Việt Nam. 

Quan hệ Việt - Mỹ đà có bước đi vững chắc, từng bước được nâng cấp với quá trình dịch chuyển từ bao vây, cấm vận sang đối tác, hợp tác, trong đó có hợp tác về nhân quyền. Tuy nhiên, hiện nay tại nước Mỹ vẫn còn một số thế lực có tâm lý chống Việt Nam, dùng vấn đề nhân quyền như là công cụ để can thiệp vào công việc nội bộ Việt Nam, đi ngược lại với xu thế chung và cam kết của lãnh đạo hai bên, không tôn trọng thông lệ quốc tế và khuôn khổ các cơ chế nhân quyền LHQ trong việc giải quyết các vấn đề nhân quyền. Do vậy, sẽ không phải là mảnh ghép cuối cùng trong ý đồ tạo dựng một bức tranh giả về tình hình nhân quyền Việt Nam. 

Hiện nay, trong khuôn khổ hợp tác về nhân quyền giữa Việt Nam và Mỹ, hai bên vẫn tổ chức đối thoại thường niên, mặc dù còn có sự cách biệt về cách tiếp cận, nhưng trên tinh thần thẳng thắn, cởi mở, các phiên đối thoại đã góp phần giải tỏa những vấn đề hai bên cùng quan tâm. Để vấn đề hợp tác trên có hiệu quả, thiết nghĩ một số Nghị sỹ Mỹ cũng như Hạ viện Hoa Kỳ hãy từ bỏ sự thù hận, tôn trọng Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế về nhân quyền, tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam và có cách nhìn thực tế hơn trong quan hệ, hợp tác nhiều mặt, đối tác toàn diện giữa Việt Nam và Hoa Kỳ mà hai bên đã cam kết. 

Kiên Hoàng

BÀN VỀ NHỮNG NHẬN XÉT QUY CHỤP, MÉO MÓ VỀ NHÂN QUYỀN VIỆT NAM (P1)

Thời gian qua, Hạ viện Mỹ đã thông qua "Dự luật nhân quyền Việt Nam - HR 2140, H.R.1897 do hai Hạ nghị sỹ Ed Royce và Chris Smith đề xuất. Nội dung chủ yếu của dự luật đòi "thúc đẩy" nhân quyền cho Việt Nam bằng cách đề ra các biện pháp cấm tăng viện trợ ngoài viện trợ nhân đạo cho Việt Nam trong các năm tài khóa, trừ khi Việt Nam có những tiến bộ "nghiêm túc" và "đáng kể" về nhân quyền (như trả tự do cho tất cả các "tù nhân chính trị và tôn giáo", bảo vệ quyền tự do lập hội, tự do tôn giáo...), đưa Việt Nam trở lại danh sách các nước đặc biệt quan tâm về tôn giáo (CPC), xem xét lại Việt Nam trong Báo cáo về buôn bán người thế giới, hỗ trợ Đài châu Á tự do (RFA) có đủ nguồn lực duy trì các chương trình tiếng Việt...

Một số Nghị sĩ Hạ viên Mỹ luôn có cái nhìn tiêu cực về tình hình nhân quyền Việt Nam
Các Dự luật lần này không có gì mới so với dự luật Nhân quyền Việt Nam các năm mà Hạ viện Mỹ thông qua. Từ năm 2004 đến nay, Hạ Nghị sỹ Chris Smith cùng một số Hạ Nghị sỹ khác như Ed Royce, Sanchez, Frank Wolf... đã 4 lần giới thiệu các dự luật Nhân quyền Việt Nam và đã được Hạ viện Mỹ thông qua, lần gần đây nhất là 5/2015. Năm nay, phát biểu tại phần thảo luận về dự luật, Chủ tịch ủy ban Đối ngoại Hạ viện Ed Royce và Hạ Nghị sỹ Chris Smith đã nhấn mạnh: “Tình hình dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam rất xấu, ngày càng thụt lùi và cho rằng một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là do chính quyền Mỹ chưa có các cơ chế, chế tài gây sức ép với Việt Nam và coi đây là trách nhiệm của cơ quan luật pháp Mỹ.”

Sau khi Dự luật được Hạ viện thông qua, dư luận đã có phản ứng mạnh mẽ, trong đó có cả giới chức chính trị Mỹ cũng cho rằng, dự luật đã không phản ánh đúng tình hình thực tế về nhân quyền ở Việt Nam, tư duy lệch lạc, có ý đồ chính trị, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền... Quy chiếu các hoạt động trên của Hạ viện Hoa Kỳ với khung cơ chế của LHQ và thông lệ trong quan hệ quốc tế về việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền quôc gia, chúng ta sẽ thấy ai vi phạm luật quốc tế về nhân quyền!

Nhân quyền đã trở thành giá trị chung của nhân loại, là mục tiêu cao đẹp của mọi quốc gia, có tính chất toàn cầu, mọi cá nhân và tổ chức đều có trách nhiệm bảo vệ và thúc đầy. Tuy nhiên việc này trước hết thuộc về trách nhiệm quốc gia, sau đó là cơ chế LHQ và cơ chế khu vực nếu có. Trong khuôn khổ đó, không một quốc gia, một tổ chức nào có đủ tư cách để phê phán, chỉ trích một quốc gia khác về tình hình nhân quyền. 

Việc đánh giá về vi phạm quyền con người của một quốc gia, vị thế pháp lý này dành cho cơ chế LHQ. Đại hội đồng LHQ là cơ quan có trách nhiệm cao nhất, là cơ quan quyết định cuối cùng về hình thức và biện pháp xử lý đối với một quốc gia vi phạm nhân quyền, bao gồm việc chỉ trích, lên án hành vi vi phạm trước dư luận quốc tế và có quyền yêu cầu quốc gia liên quan phải thay đổi chính sách, hành động để chấm dứt hoặc hạn chế các hoạt động vi phạm nhân quyền. 

Việc đưa các vi phạm quyền con người của một quốc gia ra trước Đại hội đồng LHQ được thực hiện theo quy trình, thủ tục chặt chẽ, có sự hỗ trợ của các cơ quan chuyên môn của LHQ, trước hết là Hội đồng Nhân quyền, để bảo đảm chính xác, không tùy tiên, nhằm hạn chế tối đa việc bị lợi dụng vào mưu đồ chính trị của các bên liên quan.

Theo bộ máy tổ chức của LHQ hiện nay, việc bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền ở các quốc gia thành viên có hai khối cơ quan chịu trách nhiệm chính: Khối cơ quan dựa trên Hiến chương và khối cơ quan dựa ữên Công ước. Theo đó, định kỳ 4 năm, các quốc gia thành viên phải báo cáo tổng quan trên tất cả các lĩnh vực về tình hình thực hiện đảm bảo quyền con người (UPR) và báo cáo việc bảo vệ việc thực hiện công ước quốc tế về nhân quyền mà quốc gia mình đã tham gia. 

Do vậy, không một quốc gia hay tổ chức nào có đủ tư cách pháp lý để lên án, chỉ trích về tình hình nhân quyền của một quốc gia khác. Quan điểm của một quốc gia hay tổ chức về tình trạng nhân quyền của một quốc gia khác chỉ mang tính chất tham khảo và cần được thể hiện dưới các hình thức có tính xây dựng, tôn trọng chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác theo các nguyên tắc và mục tiêu đã được đề ra trong Hiến chương LHQ.

Trong khuôn khổ hợp tác về nhân quyền giữa Việt Nam và Mỹ, hai bên đã ữao đổi, tiếp xúc qua nhiều kênh, cấp độ, trong đó có việc tổ chức các phiên đối thoại nhân quyền thường niên về các chủ đề liên quan cùng quan tâm. Được biết, trước mỗi phiên đối thoại, phía Mỹ nhận được nhiều "kiến nghị" từ một số nghị sỹ và các tổ chức, cá nhân "quan tâm" đến tình hình nhân quyền Việt Nam. 

Đến nay, hai bên đã tổ chức 18 phiên đối thoại nhân quyền, trao đổi thẳng thắn nhiều vấn đề quan tâm cụ thể, như: Tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do internet, đề cập nhiều đến những vấn đề, đối tượng cụ thể. Mặc dù giữa hai bên còn có sự khác biệt trong cách tiếp cận về nhân quyền, nhưng phía Mỹ đã ghi nhận những nỗ lực của Việt Nam trong việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền, trong đó quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam được đảm bảo và đã đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo (CPC). Hai bên cũng đồng thuận trong việc tôn trọng sự lựa chọn con đường phát triển của mỗi nước. Bên cạnh đó, thông qua cơ chế LHQ, phía Mỹ có thể tham vấn, cung cấp thông tin về các vấn đề liên quan việc bảo vệ nhân quyền ở Việt Nam, nhằm đảm bảo đúng với khuôn khổ hệ thống các nguyên tắc làm việc của LHQ, không can thiệp công việc nội bộ của quốc gia thành viên, tôn trọng Hiến chương LHQ.

Như vậy có thể khẳng định, việc một nhóm các nghị sỹ Mỹ đã trình lên Quốc hội Mỹ "Dự luật nhân quyền Việt Nam HR 2140, H.R.1897", có nội dung lên án, chỉ trích vỉ phạm nhân quyền của Việt Nam và kiến nghị đưa ra các biện pháp chế tài là trái vớí tỉnh thần Hiến chương LHQ, và làm suy yếu vai trò của tổ chức này trong quan hệ quốc tế, không đúng với thông lệ ngoại giao quốc tế trong việc bày tỏ sự quan tâm về vấn đề nhân quyền trên tinh thần xây dựng, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.

Điểm qua một số nội dung cụ thể của dự luật nhân quyền Việt Nam mà Hạ viện Mỹ vừa thông qua, chúng ta càng thấy rõ những người ủng hộ dự luật này đã vi phạm thô bạo luật quốc tế về nhân quyền. Có thể thấy rõ đây là những đánh giá tùy tiện, thiếu xây dựng, không tôn trọng quyền dân tộc quốc gia, xuyên tạc bản chất của Nhà nước Việt Nam hiện nay, can thiệp cồng việc nội bộ của Việt Nam, vi phạm Hiến chương LHQ và trái với Công ước quốc tế về quyền con người. Khoản 2, Điều 2 Hiến chương LHQ ghi: "Phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và tự quyết của các dân tộc và áp dụng các biện pháp phù hợp khác để củng cố hòa bình thế giới". Hay khoản 1, Điều 1 Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị nêu rõ: "Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa". Đặc biệt, nhận định này của dự luật này đã đi ngược lại với cam kết của hai quốc gia nêu trong Tuyên bố chung giữa Tổng thống Mỹ B.Obama và Tổng bí thư nước CHXHCN Việt Nam Nguyễn Phú Trọng trong chuyến thăm và làm việc tại Hoa Kỳ năm 2015, hai bên dã nhấn mạnh các nguyên tắc trong quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ, trong đó có tôn trọng Hiến chương LHQ, luật pháp quốc tế, tôn trọng thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau.

Kiên Hoàng

Sunday, October 18, 2015

TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI XII LẠM BÀN VỀ QUYỀN THAM CHÍNH CỦA DTTS

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với dân tộc Kinh là dân tộc đa số và 53 dân tộc thiểu số, gồm 12,3 triệu người, chiếm tỷ lệ 14,3% dân số cả nước. Nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam là bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng phát triển. Nguyên tắc đó đã xuyên suốt trên chiều dài đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và là cơ sở cân bằng đảm bảo thực hiện quyền con người đối với các dân tộc thiểu số, trong đó có quyền tham chính.
Đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) được đảm bảo tham gia trong hệ thống chính trị 

Quyền tham chính của người dân tộc thiểu số (DTTS) là quyền tham gia quản lý đất nước, tham gia điều hành các công việc xã hội, được thực hiện một cách trực tiếp hoặc thông qua người đại diện được chọn qua bầu cử và ứng cử. Thể hiện chủ yếu trên các mặt: Quyền bầu cử và ứng cử của người DTTS hoàn toàn bình đẳng như mọi công dân, quyền tham gia giữ các chức vụ trong các tổ chức thực hiện quyền lực chính trị được xã hội chính thức thừa nhận, quyền của người dân trong việc tham gia vào các quyết định liên quan đến đồi sống kinh tế - xã hội của cộng đồng.

Các quyền trên đã được thực thi nhất quán trong đời sống chính trị, xã hội của đất nước. Trong Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, số lượng đại biểu Quốc hội là người DTTS luôn chiếm tỷ lệ cao so với tỷ lệ dân số. Bốn nhiệm kỳ Quốc hội gần đây chiếm từ 15,6% đến 17,27% (so với tỷ lệ dân số dân tộc thiểu số là 14,3%). Ở các địa phương, số người DTTS tham gia đại biểu Hội đồng Nhân dân (HĐND) cũng chiếm tỷ lệ cao; nhiệm kỳ 2004 - 2009, ở cấp tỉnh là 20,53%, cấp huyện 18,9% và cấp xã là 23,3%. 

Nhiều người DTTS đã và đang giữ những chức vụ quan trọng trong các cơ quan lãnh đạo, các cơ quan quyền lực của đất nước như: Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Bộ trưởng... Trong các cơ quan tư pháp, chỉ huy lực lượng vũ trang ở tất cả các cấp từ Trung ương tới địa phương đều có sự tham gia của người DTTS.

Các quyền tham chính của người dân tộc thiểu số không chỉ được đảm bảo bằng pháp luật mà còn được Nhà nước hỗ trợ, giúp đỡ để có đủ năng lực, điều kiện thực hiện các quyền đó thông qua nhiều chính sách ưu tiên đặc thù để phát triển giáo dục các cho các DTTS, ưu tiên cho đào tạo cán bộ người DTTS như: chính sách cử tuyển, lập dự bị đại học dân tộc, thực hiện luật trợ giúp pháp lý cho người DTTS.

Vấn đề đáng quan tâm là việc thực thi quyền của người dân ở cơ sở trong việc tham gia vào các quyết định liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng. Đây là vấn đề cực kỳ quan trọng để đảm bảo cho các quyết định của chính quyền được lòng dân, đáp ứng đúng nhu cầu của nhân dân.

Chúng ta đã có không ít bài học về việc chính quyền quan tâm hỗ trợ cho đồng bào DTTS nhưng lại không được dân đồng tình ủng hộ như xây hàng loạt nhà cho người dân tộc nhưng họ không vào ở mà lại dựng một nhà sàn nhỏ để ở cạnh đó. Có những khu tái định cư cho dân di dời từ lòng hồ thủy điện nhà cửa san sát như thành phố nhưng dân không phấn khởi vì không có vườn, ở một số nơi. Nhà nước hỗ trợ cho dân tự làm nhà thì được sự đồng thuận, vừa phù hợp, lại vừa tiết kiệm. Nhiều khu rừng do kiểm lâm quản lý không chống nổi nạn lâm tặc, trong khi rừng được giao cho dân quản lý được bảo tồn và phát triển. Có những vụ việc chính quyền bắt người vi phạm pháp luật bị đối tượng kéo cả gia đình, dòng họ ra ngăn cản, chống người thi hành công vụ. 

Nhưng cũng có nhiều gia đình, dòng họ đã vận động người thân là tội phạm lẩn trốn ra đầu thú, cam kết từ bỏ con đường tội lỗi. Nhiều nơi xử lý tội phạm theo giáo luật hoặc luật tục của dòng họ, làng bản có tác dụng răn đe, giáo dục, ngăn ngừa tái phạm hiệu quả hơn các biện pháp xử phạt hành chính hoặc hình sự.

Nguyên nhân quan trọng dẫn đến những hệ quả khác biệt, thậm chí đối lập nhau trong các vụ việc nêu trên chính là vấn đề có hay không việc phát huy vai trò của nhân dân các dân tộc trong việc tham gia các quyết định cũng như thực thi các quyết định đó.

Đây là vấn đề lớn được Nhà nước quan tâm và đã đề cập trong nhiều văn bản, đặc biệt được thể chế hoá bằng Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn được uỷ ban Thường vụ Quốc hội Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam ban hành ngày 20-4- 2007. Pháp lệnh này là một bước phát triển mới trong việc thực hiện dân chủ, minh bạch hóa hoạt động của chính quyền và thực hiện quyền tham chính của công dân. Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, do đặc điểm cư trú chủ yếu ở các vùng sâu, vùng xa, một bộ phận dân trí còn thấp... Nên có nhiều hạn chế trong việc tiếp cận với các văn bản chính sách, pháp luật, phương tiện thông tin đại chúng thì việc pháp lệnh quy định những hình thức công khai bắt buộc để thông tin được đến từng người dân và lấy được ý kiến của họ có ý nghĩa rất thiết thực và đặc biệt quan trọng. 

Việc thực thi Pháp lệnh trong đời sống những năm qua đã đem lại chuyển biến tích cực trong việc tạo được sự đồng thuận của nhân dân đối với việc thực thi các chủ trương, chính sách, pháp luật đồng thời giảm bớt được những vụ mâu thuẫn, tranh chấp, khiếu kiện ở nhiều vùng DTTS.

Đi đôi với việc ban hành các văn bản pháp luật, hành chính để quyền tham chính của nhân dân được thực hiện, Nhà nước Việt Nam luôn nhấn mạnh cán bộ, công chức công tác ở vùng dân tộc thiểu số DTTS phải dựa vào nhân dân các dân tộc để giải quyết các vấn đề ở vùng dân tộc. Trong đó, đặc biệt chú ý phát huy vai trò của người có uy tín trong DTTS và những yếu tố tích cực của luật tục, tập quán, vãn hoá truyền thống. 

Người có uy tín trong dân tộc là những người được nhân dân tín nhiệm, tin nghe, tiếng nói, việc làm của họ có tác dụng chi phối đối với cộng đồng. Họ vừa đại diện cho cộng đồng trong việc phản ánh tâm tư, nguyện vọng của đồng bào các dân tộc đối với chính quyền các cấp vừa có vai trò tích cực, hiệu quả trong vận động tổ chức đồng bào tham gia xây dựng và thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật, góp phần thiết thực ương sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Người uy tín còn là hạt nhân đoàn kết cộng đồng, là người hòa giải có hiệu quả những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, họ có vai trò rất quan trọng trong việc bảo tồn văn hoá, tập quán tốt đẹp của dân tộc, chống lại sự xâm nhập tác động tiêu cực của văn hóa ngoại lai...

Trong phòng ngừa, đấu tranh chống tệ nạn xã hội, người uy tín với tư cách là người nắm giữ luật tục dân tộc, vận hành thiết chế xã hội truyền thống đã cảm hóa, thuyết phục được các đối tượng lầm đường, vi phạm pháp luật trở về làm ăn lương thiện. 

Xuất phát từ đặc điểm hiểu biết về chính sách, pháp luật của một bộ phận đòng bào DTTS còn hạn chế nên dễ bị lừa bịp, lôi kéo vào các hoạt động vi phạm pháp luật và từ chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước Việt Nam, thay vì xử lý hình sự đối với những người vi phạm pháp luật, chính quyền nhiều địa phương đã áp dụng cho thân nhân bảo lãnh họ về sinh sống cùng gia đình, bản làng, giao cho người uy tín trong bản làng quản lý, giáo dục đi đôi với giúp đỡ, tạo điều kiện để họ tái hoà nhập cộng đồng. 

Nhiều người phạm pháp được cộng đồng xử lý theo giáo luật hoặc luật tục vừa có tác dụng giáo dục bản thân vừa có ý nghĩa giáo dục chung trong cộng đồng, bảo vệ những nét đẹp của truyền thống dân tộc, của gia tộc, dòng họ, làng bản và tính hướng thiện của tôn giáo. Trong trường hợp này, chính quyền kiểm soát để việc xử lý theo luật tục và giáo luật không cấu thành một hành vi vi phạm pháp luật mới.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đảm bảo quyền tham chính của đồng bào các DTTS sẽ phát huy được tối đa truyền thống yêu nước và đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần đưa cả nước nói chung, vùng dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng phát triển trên tất cả các lĩnh vực của đời sống - xã hội.

Ngọc Tuấn

CÁC QUYỀN DÂN SỰ, CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM LUÔN ĐƯỢC ĐẢM BẢO

Trải qua gần 70 năm dựng nước và giữ nước, xây dụng và bảo vệ Tổ quốc, Nhà nước và nhân dân Việt Nam hiểu rõ quyền con người gắn với độc lập, hòa bình, dân chủ và phát triển. Mọi sự phát triển chỉ có ý nghĩa khi thành quả là của mỗi con người và vì mỗi con người. Khi con người được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển, thì sự tăng trưởng kinh tế, sự phát triển của nguồn lao động, cũng như sự phát triển các lĩnh vực khác của xã hội cũng đều vì mục tiêu phát triển con người và vì hạnh phúc của con người. Mọi chính sách phát triển của Việt Nam luôn lấy con người làm trung tâm, phát triển kinh tế vì con nguời; tăng trưởng kinh té gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong tùng bước phát triển và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, giáo dục, nâng cao dân trí, bảo vệ và cải thiện môi trường.


Ngụy tạo, bịa đặt về các quyền dân sự, chính trị tại Việt Nam của blog Danlambao
Từ năm 1946 đến nay, Quốc hội đã từng bước xây dựng các khung pháp lý cho sự phát triển bền vững và toàn diện của đất nước. Hiến pháp và pháp luật đã thiết lập những chế định quan trọng nhất, định hướng cho sự phát triển của Nhà nước, điều chỉnh mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế và xã hội, đảm bảo sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế, ổn định, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Việt Nam đã triển khai các Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, Chiến lược cải cách tư pháp, Chương trình cải cách hành chính... nhằm mục tiêu xây dựng và hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, bảo đảm các quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân.

Nội dung các quyền này được thể hiện xuyên suốt qua các chương, mục của Hiến pháp và được cụ thể hóa tại nhiều văn bản pháp luật quan trọng, trực tiếp liên quan đến lĩnh vực dân sự, chính trị như Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Bầu cử Đại biểu Hội đồng Nhân dân, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban Nhân dân, Luật Tổ chức Tòa án Nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát Nhân dân, Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Đặc xá, Pháp lệnh Tín ngưỡng tôn giáo... Các văn bản pháp luật trên đã thể hiện đầy đủ các quyền dân sự, chính trị được thừa nhận trong Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới và các công ước quốc tế về nhân quyền, đặc biệt là Công ước về Quyền dân sự và chính trị năm 1966 của LHQ.

Nhà nước Việt Nam nỗ lực xây dựng và kiện toàn các thiết chế đảm bảo quyền con người trên thực tế. Hệ thống các cơ quan Nhà nước thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, bảo vệ pháp luật, đảm bảo các quyền và lợi ích của công dân. Nổi bật là vai trò của Quốc hội thực hiện chức năng giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước; bảo đảm tính độc lập của hệ thống tư pháp; hiệu quả của hệ thống cơ quan điều tra Nhà nước cũng như vai trò ngày càng tăng của các tổ chức chuyên môn như các Đoàn luật sư, Hội luật gia, cơ quan công chứng, văn phòng trợ giúp pháp luật... Vai trò và tiếng nói của các tổ chức, đoàn thể nhân dân như Hội Chữ Thập đỏ, Tổng Liên đoàn Lao động, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Người cao tuổi... trong việc tham gia quản lý nhà nước và xã hội ngày càng được coi trọng. Quy chế dân chủ ở cơ sở do Chính phủ ban hành năm 1998 đã tạo điều kiện cho các tầng lớp nhân dân tham gia tích cực vào tiến trình xây dựng, hoạch định và giám sát việc thực hiện chính sách của nhà nước, được nhân dân đồng tình, hưởng ứng.

Hệ thống luật pháp của Việt Nam từng bước được bổ sung và hoàn thiện phù hợp với sự phát triển kinh tế, xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế phải đi đôi với phát triển hài hòa các mặt xã hội, bảo đảm cải thiện mọi mặt đời sống của người dân. Với nhiều nội dung mới, phù hợp với thực tiễn của cuộc sống, Hiến pháp năm 1992 và hệ thống các văn bản pháp luật như Luật Bảo vệ sức khỏe người dân 1989, Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi và bổ sung năm và 2006), Luật Giáo dục 1998 (sửa đổi năm 2005), Luật Đất đai hiện nay đang tiếp tục sửa đổi), Luật Bảo hiểm xã hội 2006, Luật Phòng chống HIV/AIDS 2006... đã tạo hành lang pháp lý trong việc cụ thể hóa và thực hiện các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội của người dân. Hệ thống pháp luật của Việt Nam trên lĩnh vực này đã tiếp cận với những chuẩn mực quốc tế và tạo tiền đề vững chắc cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước.

2002 Chính quyền các cấp được giao quyền mạnh hơn về quản lý tài chính, ngân sách, đầu tư, y tế, giáo dục... để chủ dộng triển khai những chính sách phát triển phù hợp với tình hình của từng địa phương. Các ủy ban như ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, ủy ban Quốc gia về người cao tuổi được thành lập để thực hiện chức năng tư vấn cho Chính phủ về chính sách và giải pháp đối với những vấn đề liên quan; tuyên truyền, phổ biến và vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời giám sát việc thực hiện của các cơ quan chính phủ. Các tổ chức, đoàn thể nhân dân như Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam... đóng vai trò ngày càng quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân.

Những thành tựu đạt được trong việc đảm bảo quyền dân sự, chính trị và quyền kinh tế, xã hội, văn hóa cho người dân thể hiện cam kết mạnh mẽ và nỗ lực không ngừng của Nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, trong điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước còn nhiều khó khăn. Đây là tiền đề quan trọng để Việt Nam tiếp tục phấn đấu đảm bảo ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản của người dân.

Hoàng Trường

Saturday, October 17, 2015

MẠN ĐÀM VỀ CÔNG TÁC BỔ NHIỆM CÁN BỘ TRẺ HIỆN NAY

Có những chuyện vui về công tác cán bộ như thế này: 

1. Chuyện thứ nhất
Ngày công bố quyết định bổ nhiệm cán bộ mới, sếp lên giới thiệu:
- Hôm nay công ty ta vui mừng chứng kiến việc chính thức ra mắt của đồng chí A - tân phó giám đốc, một người còn rất trẻ, rất tài năng, có thể nói là thần đồng. Đề nghị chúng ta nhiệt liệt chào mừng!

- Xin sếp giới thiệu về phó giám đôc mới ạ!

- Tôi nói cậu ấy là thần đồng, có thể so sánh với cả Bill Gate, bởi dù học dang dở cấp 3, nhưng vừa qua chỉ sau 2 năm cậu ấy đã hoàn thành chương trình Đại học, nửa năm sau đã bảo vệ thành công đề tài cao học, tất cả đều là những trường danh tiếng của nước ngoài. Khi về công ty, chỉ trong vòng 1 năm với sự năng động của mình, cậu ấy đã từ một nhân viên hành chính trở thành phó phòng kế hoạch, rồi trưởng phòng kinh doanh... Và hôm nay, chính thức nhận quyết định bổ nhiệm phó giám đốc công ty ta khi vừa tròn 21 tuổi...
- Ôi, giỏi quá, thật tuyệt vời...
- Nhưng có thể nói, để có được sự thăng tiến như vậy là nhờ sự ủng hộ, giúp đỡ của tập thể cán bộ nhân viên công ty ta. Có phải vậy không đồng chí A?
- Vâng, đúng vậy đấy ạ, thưa bố!
Sáng nay bố mẹ dặn mãi con nói điều đó rồi mà..
- ???!!!

2. Chuyện thứ hai:
Làm quy hoạch cán bộ cho nhiệm kỳ mới, cán bộ tổ chức lên báo cáo lãnh đạo:
- Báo cáo anh, thực hiện chủ trương trẻ hoá cán bộ, em dự kiến xây dựng cậu Nguyễn Văn A vào danh sách kỳ này, cậu này 30 tuổi, trong diện tuổi trẻ, cậu này rất được anh à..
- Sao, cậu A à, ừ, cậu này giỏi nhưng còn trẻ quá, không được.
- Dạ, còn trường hợp nữa..
- Đọc tiếp đi!
- Đó là cậu Trần Văn B, nhưng cậu này lại còn trẻ hơn, mới 28 ạ..
- À, cháu B hả, đúng, cậu này còn trẻ nhưng quá giỏi, NHƯNG QUÁ GIỎI, đưa vào danh sách ngay... Mà trẻ hoá, nó 28 chẳng trẻ hơn 30 là gì mà còn băn khoăn hả ông tổ chức?
- ???
Sếp thật sáng suốt ạ! 

Những ngày qua, dư luận sốt xình xịch về việc bổ nhiệm, bầu các cương vị lãnh đạo ở các tỉnh thành, trong đó có rất nhiều cán bộ trẻ, trên dưới 30 tuổi. 

Song, sự băn khoăn, nghi ngờ và cả phản đối từ mọi người và báo chí mới chỉ chủ yếu xoáy sâu vào khía cạnh những cán bộ trẻ đó là con các vị lãnh đạo và nguyên lãnh đạo, cũng như tập trung tìm những bất hợp lý trong quy trình cán bộ mà hầu như chưa tìm hiểu kỹ, phân tích sâu về phẩm chất, năng lực cá nhân của những gương mặt mới này.

Quay lại lịch sử một chút, chúng ta có thể thấy đồng chí Trần Phú đã là Tổng bí thư khi mới 26 tuổi, đồng chí Hoàng Văn Thái làm tổng tham mưu trưởng QĐND Việt Nam khi vừa tròn 30 tuổi, đồng chí Chu Huy Mân (Hai Mạnh) làm phó bí thư Huyện uỷ khi mới 23, đến 32 tuổi là phó bí thư Tỉnh uỷ, Anh Cả Võ Nguyên Giáp được Bác Hồ phong Đại tướng khi mới 36 tuổi, và rất nhiều những trường hợp như vậy...

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần hiểu rằng các bậc tiền bối đó của chúng ta đều đã tham gia cách mạng khi mới 16, 17 tuổi, từ nhỏ đã có vốn sống rất lớn, sau đó lại được tổ chức thực hiện "vô sản hoá" đưa về hoạt động "3 cùng, 5 cùng" trong phong trào nông dân, công nhân nên kiến thức thực tế rất sâu sắc, thực sự là những người giỏi nhất khi đó, cả về lý luận và thực tiễn. Không như tuổi trẻ hiện nay chỉ mài đũng quần trên ghế nhà trường, học xong Đại học cha mẹ vẫn phải nâng như nâng trứng, lo cho từng lời ăn tiếng nói, đường đi nước bước..

Quan điểm của tôi ở đây là khi sử dụng cán bộ, thực hiện trẻ hoá cần phải đặt ra yêu cầu cao, chặt chẽ về năng lực thực tiễn của những cán bộ đó. Bỏ qua không bàn những yếu tố mà dư luận đã đào xới như "con ông cháu cha" (thực tế cũng là một thế mạnh khỏi bàn cãi), "quy trình làm tắt" này khác mà chỉ bàn về phẩm chất cá nhân.

Không thể phủ nhận rằng thế hệ trẻ hiện nay có trí tuệ cao hơn hẳn trước đây, nhờ điều kiện dinh dưỡng cho đến giáo dục đào tạo và môi trường của một xã hội phát triển. Tuy nhiên, chỉ số trí tuệ đó mới chủ yếu được thể hiện trong môi trường học tập, rõ ràng không thể so sánh được với kiến thức thực tiễn của các thế hệ cha anh. Khi đã thiếu kinh nghiệm thực tiễn, thì việc lúng túng trong lãnh đạo điều hành công việc thường xuyên, hoặc trong việc đề ra các chủ trương, ban hành các văn bản chính sách "trên giời" không hợp lòng dân hoặc không thể thực hiện nổi là điều rất dễ hiểu và đã được minh chứng trong thời gian vừa qua.

Bởi vậy, khi cất nhắc, bổ nhiệm cán bộ ngoài việc xem xét đánh giá trình độ qua bằng cấp, qua phỏng vấn khảo sát IQ, EQ và qua xem xét..lý lịch, cần đồng thời đánh giá kỹ về năng lực thực tiễn điều hành công việc ra sao, cần có thời gian để những cán bộ "trong tầm ngắm" lăn lộn với thực tế công việc ở cơ sở để tự bồi dưỡng, rèn luyện như các bậc tiền bối trước đây đã làm. Đó cũng chính là chủ trương luân chuyển cán bộ đang được thực hiện, nhưng lại chưa thực sự ...đến nơi đến chốn nên mục đích yêu cầu đạt được còn khá xa vời.

Việc trẻ hoá cán bộ hiện nay là cực kỳ cần thiết, trong điều kiện lớp cán bộ thế hệ trước đều đã đến tuổi xưa nay hiếm. Song, trẻ hoá không nhất thiết cứ phải là "bổ nhiệm ngay vào vị trí lãnh đạo".

Điều đặt ra hiện nay là cần có một chiến lược về công tác tổ chức - cán bộ, không thể mãi "đốt đuốc đi tìm" hoặc "móc trong túi ra" rồi thành khiên cưỡng, vội vàng mà chín ép, hoặc mang tính nhất thời, chắp vá thì sẽ đều để lại những hệ luỵ lâu dài.

Việt Nam ta dân chủ nhất quả đất, toàn dân làm công tác tổ chức, nên em chém gió tý, các bác ở trển lượng thứ.

Sen Hồng

TU SỬA KIẾN TẠO CỬA

Luận về tu sửa kiến tạo cửa

    Con người sinh hoạt trên đất bao la, thân này toàn ở trong khí, cho nên nói “phân minh nhân tại khí trung du” vậy. Khí trong phòng ốc chổ ở cách biệt nhau, làm cho khí thông lưu chỉ nhờ ở cửa nẻo. Cửa nẻo là chổ cho khí thông lưu, hòa khí thì lành đến, quái khí thì nguy đến, đó là lý nhất định của tạo hóa. Cho nên ngày xưa cổ nhân thánh hiền chế tạo “môn xích” (thước đo cửa) để lập định phương tốt lành. Thận trọng chọn lựa ngày tháng để mở cửa, sửa chữa, làm cửa, bởi vì cửa và sinh hoạt của con người có quan hệ rất lớn.
    Khai môn, tu sửa kiến tạo cửa nên có Thiên đức Nguyệt đức. Ngày mở nên hợp “môn quang đinh” thì tốt.
    Phàm muốn an môn thì lấy Phúc nguyên làm chủ, chỉ cần vượng hợp cát tinh, không có là không phát được.
    Phải cần tránh các ngoại vật xung thẳng vào cửa (như sơn, thủy, đường đi...) đó là thừa sát nhập môn. Phương thủy, phương sơn nên đối triều nghênh đón là tốt.
    Mùa xuân không nên làm cửa đông, mùa hạ không nên làm cửa nam, mùa thu không nên làm cửa tây, mùa đông không nên làm cửa bắc.
    Ngày canh dần, ngày giáp tý không nên làm cửa.

Tu môn tạp kỵ

    Cửu lương tinh: năm đinh hợi, quý tỵ chiếm đại môn (“chiếm” tức là thần sát đương trị phương vị đó hay thời gian đó). Năm nhâm dần, canh thân chiếm phòng cửa, năm đinh tỵ chiếm tiền môn (cửa trước), năm đinh mão, kỷ mão chiếm cửa sau.
   Khâu công sát: Năm giáp kỷ tháng 9 chiếm, năm canh tháng 11 chiếm, năm đinh nhâm tháng 3 chiếm, măm mậu quý tháng 5 chiếm.
   Đại tiểu hao: Tháng giêng, tháng 7 chiếm.
   Thai thân: Xuân hạ chiếm.
   Du long: Tháng 4, tháng 5, tháng 11 chiếm.
   Phục long: Tháng 3, tháng 4, tháng 10 chiếm.
   Trạch long: Tháng 4, tháng 5 chiếm.
   Ngọ hoàng: Tháng 5, tháng 7, tháng 11 chiếm.
   Ngọ thai: Tháng 3, tháng 9 chiếm.
   Trư thai: Tháng 3, tháng 4 chiếm.
   Ngày mộc tinh chiếm: Đại nguyệt  mùng 3, 19, 27; Tiểu nguyệt  mùng 2, 10, 18, 26. Những ngày này không nên an môn.
   Ngày chu tước nhập cung Ly: Canh ngọ, Kỷ mão, Mậu tý, Đinh dậu, Bính ngọ, Ất mão những ngày này tránh an môn.

Môn quang tinh khởi lệ

   Phàm làm cửa, sửa cửa, an môn lớn nhỏ đều nên dùng môn quang tinh.
   Chữ có thủy điểm là môn quang cát tinh, còn lại đều xấu. Đại nguyệt dùng hết ba mươi chữ, tiểu nguyệt dùng hai mươi chín chữ.

Môn hộ

   Về nhà ở, tuy có 24 sơn, nhưng chỉ có 8 sơn là chủ:

   Khai môn phương Nhâm, Tý, Quý thuộc Khảm. Khai môn phương Sửu, Cấn, Dần thuộc Cấn. Khai môn phương Giáp, Mão, Ất thuộc Chấn. Khai môn phương Thìn, Tốn, Tỵ thuộc Tốn. Khai môn phương Bính, Ngọ, Đinh thuộc Ly. Khai môn phương Mùi, Khôn, Thân thuộc Khôn. Khai môn phương Canh, Dậu, Tân thuộc Đoài. Khai môn phương Tuất, Kiền, Hợi thuộc Kiền. Tứ chính môn đều thuộc Kim (Khảm, Ly, Chấn, Đoài là tứ chính).

Friday, October 16, 2015

CHÍNH BIẾN THÁI LAN VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆT NAM

Đầu năm 2004, tại các tỉnh miền Nam Thái Lan (nơi có đa số người Hồi giáo Pisinh sống) bắt đầu xuất hiện tình hình căng thẳng. Hàng loạt vụ tấn công vào các trụ sở cơ quan chinh quyền, trụ sở cảnh sát, cơ sở giáo dục công lập, địa điểm đồn trú của các đơn vị quân đội (những biểu tượng của chính quyền Trung ương Thái Lan) đã diễn ra, cướp đi sinh mạng nhiều người, trong đó có nhiều người dân vô tội. 

Thái Lan luôn nằm trong tình trạng bất ổn

Đặc biệt, những vụ tấn công nhằm vào các chức sắc Phật giáo tại đây diễn ra liên tiếp, khiến nhiều người nghĩ đến các mâu thuẫn tôn giáo, thậm chí là sự hận thù tôn giáo đã hiện diện ở khu vực này. Trong mười năm qua, đã có gần 5.400 người bị chết, gần 9.600 người bị thương, gồm thường dân theo Phật giáo, Hồi giáo, cảnh sát, binh lính và cả lực lượng khủng bố, trong đó đông nhất là thường dân, tài sản của Nhà nước và người dân bị phá hủy, hư hại chưa thống kê được.

Tình hình ở miền Nam Thái Lan luôn rất căng thẳng, vì người dân không thể biết mối nguy hiểm đe dọa mình đang đến từ đâu và vào lúc nào để phòng tránh. Trong khi đó, hình ảnh phổ biến và đậm nét ở khu vực này là bất kỳ ở nơi nào cũng đều có các trạm canh gác, kiểm soát được dựng lên, các công sự phòng thủ được thiết lập bằng những bao cát chống đạn, binh lính lăm lăm súng trong tay với tinh thần cảnh giác cao... khiến người ta luôn cảm thấy tình hình an ninh ở đây không đảm bảo, sự thanh bình bị đe dọa, cuộc sống luôn diễn ra trong nơm nớp lo sợ. An ninh, trật tự ở khu vực này đến bao giờ được lập lại vẫn luôn là câu hỏi lớn, chưa có lời giải đối với mọi thành phần liên quan, trong đó trách nhiệm của chính phủ Thái Lan và của lực lượng Hồi giáo ly khai phải được đặt lên hàng đầu.

Khu vực miền Nam Thái Lan và một số bang phía Bắc Malaysia hiện nay vốn là lãnh thổ của Vương quốc Hồi giáo Pattani có từ thế kỷ XIII. Đến thế kỷ XVI, do nhiều nguyên nhân phức tạp về lịch sử, dân tộc và địa lý, một phần của Vương quốc này bị sáp nhập vào Vương quốc Siam (từ ngày 11/5/1949 đổi tên là Thailand - Thái Lan ngày nay). Đến năm 1902, được chính quyền Bangkok tuyên bố chính thức sáp nhập vào Vương quốc Sỉam. Vùng đất này ở cực Nam Thái Lan, giáp, với Malaysia và hiện được chia thành các tình là Narathivvat, Pattani, Yala và 4 quận thuộc tỉnh Songkhla. Người dân theo đạo Hồi chiếm đa số, nhưng họ lại là thiểu số (gần 4%) trong đa số dân theo Phật giáo của đất nước Phật giáo Thái Lan. 

Người theo đạo Hồi ở khu vực này có khoảng 4 triệu người, trong đó có 2,2 triệu người từ 15 tuổi trở lên, hầu hết đều mang hai quốc tịch Thái Lan và Malaysia. Các phần từ Hồi giáo cực đoan đã lợi dụng đặc điểm đó để phạm tội trên đất Thái Lan, sau đó vượt biên giới sang Malaysia lẩn trốn khi Thái Lan mở những cuộc tấn công truy lùng (người theo Hồi giáo ở miền Nam Thái Lan thường cố nguồn gốc Malaysla. Trong khi đó, người theo Phật giáo Thái Lan chủ yếu có nguồn gốc Thái Lan). 

Thực tế trên gây rất nhiều khó khăn cho lực lượng An ninh Thái Lan (cho dù họ có nhận được sự ủng hộ của chính quyền Malaysia..). Biên giới Thái Lan - Malaysia là vùng rừng rậm nhiệt đới. Với những yếu tố lịch sử và địa lý làm ảnh hưởng sâu sắc đến yếu tố sắc tộc, tôn giáo, người Hồi giáo hiện đang sống tập trung tại khu vực cực Nam Thái Lan ngẫu nhiên cổ sự bắt đồng về ngôn ngữ, văn hoá, tôn giáo với các vùng, miền khác của đất nước Phật giáo Thái Lan.

Theo cựu Thủ tướng Thaksin Shinavvatra, ý đồ của những kẻ khủng bố là nhằm tạo ra xung đột tôn giáo ở khu vực này. Các thủ lĩnh Hồi giáo tạỉ đây đã và đang tích cực tập hợp lực lượng Hồi giáo ly khai, như Tổ chức Giải phóng thống nhất Pattanỉ (PULO), tổ chức PULO mới, Phong trào ly khai “Mặt trận Cách mạng Dân tộc Melayu Thống nhất” (BRN)... nhằm đấu tranh với chính quyền Trung ương để đòi lại quyền tự trị và khôi phục Vương quốc Pattani. Vấn đề trở nên nghiêm trọng do liên quan trực tiếp đến tôn giáo, đặc biệt khó kiểm soát sau sự kiện 11/9/2001, khỉ các tổ chức này bị kích động bởi tư tưởng cực đoan và nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ nhiều mặt từ các tồ chức khủng bố quốc tế.

Sự thật là, người theo Phật giáo chiếm thiểu số ở miền Nam, nhưng thường là những người giàu có hơn người Hồi giáo địa phương, đồng thời đa số những chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo các cơ quan hành chính, cảnh sát, an ninh nội địa... ở đây lại nằm trong tay những người theo đạo Phật. Thực tế này đã tạo nên tâm lý bất mãn, cảm thấy bị ức hiếp trong đa số người dân Hồi giáo tại đây. 

Đã có nhiều nhà phân tích cho rằng, nếu Chính phủ Thái Lan tôn trọng nhân quyền trong chính sách đối xử với người Hồi giáo, không chà đạp các đặc trưng văn hóa của người Hồi giáo và nếu cộng đồng người Hồi giáo ở miền Nam Thái Lan được Nhà nước Thái Lan đối xử công bằng như với những cộng đồng người Thái khác, thì sự nổi loạn sẽ dịu đi rắt nhiều, thậm chí đã không cố xung đột đẫm máu như đã diễn ra trong thời gian qua. 

Vì vậy, có thể hiểu mục tiêu nổi dậy của người Hồi giáo ở miền Nam Thái Lan là để chống lại điều mà họ gọi là sự kỳ thị, bất công mà chính quyền Trung ương của Nhà nước Phật giáo Thái Lan dành cho người gốc Malaysia theo đạo Hồi. Tính chất hoạt động khủng bố ở miền Nam Thái Lan không giống như hoạt động Hồi giáo thánh chiến (thông qua các tỏ chức khủng bố Hồi giáo cực đoan) đã và đang diễn ra ở nhiều nước Hồi giáo khác trên thế giới. Bên cạnh đó, có ý kiến cho rằng, việc giải thể Trung tâm quản lý các tỉnh biên giới phía Nam theo mô hình tỉnh trưởng của cựu Thủ tướng Thaksỉn Shinavvatra, chuyển giao cơ chế và lực lượng giành nhau quyết liệt về quyền lực, khi ngấm ngầm, lúc bùng phát, làm cho tình hình chính trị ở Thái Lan tiếp tục rơi vào tình trạng bất ổn trầm trọng, xã hội Thái Lan bị chia rẽ sâu sắc.

Xung đột ở miền Nam Thái Lan mang đậm màu sắc tôn giáo và đã trải qua 3 đời thủ tướng chính thức (Thaksỉn kiểm soát khu vực này từ quân đội sang cảnh sát đập phá vỡ thế cân bằng và ổn định tại đây được quân đội và cảnh sát tạo lập từ thập niên 70 của thế kỷ trước cũng là một trong những nguyên nhân chính làm cho tình hình miền Nam Thái Lan căng thẳng, khó kiểm soát. Chính phủ Thái Lan thực hiện chính sách vừa đàm phán với lãnh tụ các nhóm ly khai, dụ dỗ, lôi kéo một số nhân vật cầm đầu, nổ lực đưa họ hòa nhập vào chính sách quốc gia đối với khu vực này, vừa tiến hành các hoạt động chia rẽ, ly gián nội bộ các nhóm khùng bố, đầy các đối tượng “cứng đầu" vào thế bị cô lập, kết hợp tấn công trấn áp các băng, nhóm khùng bố, nhưng hiệu quả chưa đạt được như mong đợi. 

Diễn biến tình hình phức tạp, khó lường ở miền Nam Thái Lan với những hoạt động khủng bố do các nhóm Hồi giáo ly khai tiến hành mang đậm màu sắc dân tộc và tinh thần tôn giáo, diễn ra thường xuyên, đầy bạo lực sẽ có những tác động nhất định và nhanh chóng về mọi mặt, nhất là tới  Việt Nam, đặc biệt là tác động xấu đến những vấn đề nhạy cảm như dân tộc, tôn giáo ờ các vùng chiến lược Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ. 

Các hoạt động tuyên truyền thông và ngoài nước đòi thành lập “Nhà nước Mông”, hoạt động “xưng vua”, “đón vua”... ở các tỉnh Tây Bắc; hoạt động xúc tiến thành lập “Tổng hội Tin lành Đêgar” ở Tây Nguyên, các hoạt động riêng lẻ hoặc liên kết của các hội, nhỏm phản động lưu vong người Chăm, Khmer, người Thượng đòi quyền tự quyết, hoạt động kích động hận thù dân tộc, xuyên tạc lịch sử vùng đất Tây Nam Bộ, tuyên truyền “đất nước KKK”... Đang không ngừng diễn biến phức tạp và chắc chắn sẽ được khích lệ tinh thần dân tộc và tôn giáo từ hoạt động khủng bố mang đậm màu sắc dân tộc và tôn giáo diễn ra ờ miền Nam Thái Lan, theo quy luật là tình hình ở miền Nam Thái Lan càng diễn biến căng thẳng, phức tạp thì ảnh hưởng, tác động tiêu cực của nó vào các hoạt động nêu trên ờ các vùng chiến lược của Việt Nam càng rõ ràng, mạnh mẽ.

Trước những khả năng thực tế như đã phân tích, các lực lượng liên quan có nhiệm vụ đảm bảo an ninh các vùng chiến lược cần phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, nhận thức sâu sắc tính chất nguy hiểm của những diễn biến bạo loạn tôn giáo ở miền Nam Thái Lan và nguy cơ tác động tiêu cực đến an ninh chính trị các vùng chiến lược; tuân thủ triệt để quan điểm, tư tưởng chì đạo và các phương châm, nguyên tắc trong công tác đảm bảo an ninh các vùng chiến lược, trong đó đặc biệt coi trọng lấy an ninh cơ sở, an ninh tại chỗ làm ưu tiên hàng đầu trong đảm bảo an ninh các vùng chiến lược; chủ động tăng cường nắm tình hình mọi mặt, mọi diễn biến có lên quan đến an ninh chính trị trên địa bàn; kịp thời phát hiện những dấu hiệu bất thường trên địa bàn tương ứng với thời điểm những diễn biến phức tạp ở miền Nam Thái Lan xảy ra và mối liên hệ giữa chúng; chủ động nghiên cứu, đưa ra các dự báo chính xác về khả năng xuất hiện các tình huống phức tạp, các hoạt động biểu tình, gây rối, gây bạo loạn và các hoạt động phá hoại khác lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo xây dựng và triền khai các kế hoạch, phương án, đề án đảm bảo an ninh chính trị trên địa bàn trong mọi tình huống...

Nguy cơ tác động xấu của bạo loạn tôn giáo ở miền Nam Thái Lan đến tình hình các vùng của ta cần được coi là một sự tấn công từ bên ngoài, nhưng không khó dự báo và nếu xảy ra cũng không phải là khó ngăn chặn hoặc vô hiệu hóa. 

Hoạt động chống đối của các thế lực thù địch ở mỗi địa bàn chiến lược của Việt Nam đều có những đặc trưng riêng, nhưng có điểm chung là đều liên quan đến việc lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo để thực hiện âm mưu ly khai. Tính chất của hoạt động đó tương tự như các hoạt động bạo loạn tôn giáo ờ miền Nam Thái Lan xảy ra trong thời gian qua và đang tiếp diễn phức tạp. 

Cảnh giác, phòng ngừa, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động lợi dụng những diễn biến xấu về tình hình dân tộc và tôn giáo ở miền Nam Thái Lan để chống Đảng, Nhà nước tại các vùng chiến lược là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị, nhất là của các lực lượng đảm bảo an ninh trên địa bàn trong tình hình hiện nay.

Hải Trang