Saturday, February 14, 2015

Tìm…

Đời người là quãng đường vừa dài vừa ngắn, với bao trăn trở khôn nguôi, cứ miệt mài đi trong thời gian để kiếm tìm điều mình khát vọng. Tìm. Tìm hoài. Tìm mãi. Và chợt một chiều thấy tóc trắng như vôi. Bừng giấc đời. Con người bỗng thấy mình chưa tìm được gì – ngay cả chính mình.

Chiều. Quán café vắng khách. Tôi thu mình để nghe tiếng mưa tí tách như thầm trách. Một cơn mưa bất chợt. Cô chủ quán để rơi nụ cười xinh xắn bên tôi khi cô nhẹ nhàng đặt tách café đen trên bàn. Từng giọt buồn đặc quánh chầm chậm nhỏ xuống. Vô tình đúng lúc ca sĩ Khánh Ly “bước đi” chầm chậm trong giai điệu êm đềm…

Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi
Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt
Trên hai vai ta đôi vầng Nhật Nguyệt
Dọi suốt trăm năm một cõi đi về

Thì ra có người đã mang tâm trạng mênh mang đó – cố NS Trịnh Công Sơn, trong “Một Cõi Đi Về”. Tôi đã bao năm sống lưu lạc theo bước chân phù lãng nhân. Và, hình như rất vô tình, tôi không biết từ bao giờ và vì sao đã vương nghiệp dĩ Âm Nhạc – Thi Ca. Coi đó như cõi ngu-lạc-trường riêng mình. Chợt nhớ câu nói của Cô Bé Cà Mau (nay định cư tại Utah, USA), từ 20 năm trước, đã có lần trách tôi “vô tình và tàn nhẫn” khi nàng giận tôi. Phải chăng vì tôi mê Thơ Nhạc quá mà hóa thành vừa “khô” vừa “lạnh” mỗi khi nói chuyện? Hình như tôi chợt nhận ra mình. Thú thật, dù sao tôi cũng cảm ơn nàng đã phần nào giúp tôi nhận diện chính mình!

Ngày tháng cứ trôi qua, trôi đi mãi một cách vô tình. Tôi cứ đi, đi mà chẳng biết mình đi đâu! Tìm gì giữa dòng đời xôn xao xuôi ngược? Tìm hoài cũng chỉ thấy cô đơn và bâng khuâng ngay giữa lòng phố thị nhộn nhịp. Vừa động vừa tĩnh. Tôi như con ruồi sa lưới nhện, giãy giụa mãi chỉ thêm rối rắm. Ai cũng soi chung đôi vầng Nhật Nguyệt để khả dĩ tìm được cho mình một lối riêng, rất riêng, ngay trong cái chung. Thế mà tôi vẫn chưa thể tìm thấy cho mình “một cõi đi về” giữa cuộc đời này! Một ngày như mọi ngày, bình thường mà nhiêu khê, tưởng lặng mà rất động, miên man sóng cứ xô bờ tôi…

Viên-cuội-tôi lăn mòn trên bao con dốc đời, vẫn thấy cỏ dại đung đưa trong gió, vẫn nghe côn trùng kêu da diết,… Tôi như con dế trũi rung cánh ưu phiền. Và tôi vẫn “lăn” tiếp, loanh quanh bên dọc đường gió bụi với bao trăn trở khôn nguôi, nhất là những đêm về đối diện với chính mình. Rời rã vì mệt mỏi nhưng không thể thúc thủ, dù hoàn cảnh khắc nghiệt. Là con người, vốn chỉ là “cây sậy có lý trí” (Pascal), không thể không có những phút xao lòng, yếu đuối, nao núng, hoang mang,…

Bao năm rồi nhỉ? Tôi hóa thành khó hiểu và càng trầm lặng hơn đến nỗi khiến nhiều người “khó chịu”. Tôi biết mà không thể trần tình “nỗi oan Thị Kính”. Tôi thấy tâm hồn mình yếu đuối trong một thể xác đang mục nát theo thời gian. Chùn chân không muốn bước nhưng vẫn phải tiếp tục đi, đi nữa, đi cho đến khi hóa thân làm cát bụi. Viên đá cuội nằm chết lẻ loi bên vệ đường trần gian mà chưa nguôi trăn trở. Và như vậy, cũng lại rất ngẫu nhiên, tôi vẫn tiếp tục loanh quanh bước dò tìm, tìm mãi, tìm chính mình!

Âm nhạc của NS họ Trịnh mang nhiều triết-lý-sống, rất gần gũi với tôi, cũng mang những nỗi trăn trở không nguôi của thân phận con người nhỏ bé và hữu hạn, trong khi tình yêu lại quá vĩ đại và bao la.

Chiều lên cao, gần chạm vào đêm. Tại một góc quán, đôi tình nhân ngồi nép sát nhau cười rúc rích như giai điệu hạnh phúc, lảnh lót, trong veo như tiếng thủy tinh. Ca khúc Một Cõi Đi Về đã dứt mà điều gì đó còn ray rứt, chưa dứt hẳn!

Cõi lòng tôi đắm trong cõi trầm tư, bâng khuâng, mênh mang và khó tả. Tôi lại tiếp tục hành trình cuộc đời, và vẫn miệt mài đi tìm, tìm chính mình, tìm cái gì đó trong nhạc và trong thơ…

TRẦM THIÊN THU

Friday, February 13, 2015

NHÂN NGÀY LỄ TÌNH YÊU CỦA TÂY!

Thật ra ngày Lễ Tình yêu của Châu Á là ngày 07/7 âm lịch (tức ngày Thất tịch) và lịch sử về ngày này gắn bó với câu chuyện về Ngưu Lang - Chức Nữ.



Truyền truyết kể rằng ngày xưa, dưới hạ giới có chàng chăn bò trẻ tuổi có tên gọi Ngưu Lang (nghĩa là chàng chăn bò – tiếng Tây là cowboy :3). Một lần chàng tình cờ (hay cố ý không biết) nhìn thấy bảy nàng tiên xinh đẹp đang tắm “nút” dưới hồ, được cổ vũ bởi người bạn đồng hành tinh quái là chú bò đực (con bò này khôn bà cố!), chàng đã lấy trộm váy áo của họ. Các nàng tiên cử cô em út xinh đẹp nhất có tên gọi là Chức Nữ (nghĩa là cô gái dệt vải) ra để lấy lại váy áo. Không hiểu thế nào mà Chức Nữ gặp Ngưu Lang rồi thì lại không muốn lấy lại váy áo quay về trời nữa mà cam tâm tình nguyện cùng chàng nên đôi Biểu tượng cảm xúc colonthree

Hai anh chị Ngưu Lang và Chức Nữ sống bên nhau rất hạnh phúc và sinh được hai đứa con kháu khỉnh. Nhưng Chức Nữ vì mải vui bên chồng mà quên mất nhiệm vụ của nàng là dệt các đám mây ngũ sắc trên bầu trời nên đã bị lãnh hậu quả. Sếp của nàng là bà Thiên Hậu đã giận dữ rút cái kẹp tóc của mình vạch ra một con sông rộng trên bầu trời (chính là dải Ngân Hà) để chia cắt đôi vợ chồng mãi mãi. Từ đó, Chức Nữ phải vĩnh viễn ngồi trên một bờ sông, buồn bã dệt vải, còn Ngưu Lang chỉ nhìn thấy vợ mình từ xa và phải chịu trách nhiệm nuôi hai con. Thật là đau khổ!

Nhưng có một ngày, tất cả các con quạ cảm thấy thương họ và chúng bay lên trời dựng thành chiếc cầu Ô Thước bắc qua sông Ngân để cho đôi vợ chồng được đến bên nhau (có lẽ đây là cái việc tử tế nhất mà lũ quạ làm được trong đời chúng nó!).

Vậy là, hàng năm vào mùng 7 tháng 7 âm lịch, vợ chồng Ngưu Lang - Chức Nữ lại được đoàn tụ dù chỉ một lần trong năm, nước mắt họ khóc khi gặp nhau rơi xuống trần thành mưa ngâu. Và ngày mùng 7 tháng 7 hàng năm được gọi là lễ Thất Tịch (nghĩa là: đêm mùng bảy).

Một câu chuyện rất cảm động! Vậy thì trong ngày này dân Châu Á làm gì?

- Ở Trung Quốc: đây là ngày hội truyền thống để các cô gái trẻ trưng bày các vật dụng nghệ thuật tự tạo trong ngày này và để cầu mong lấy được ông chồng tốt. Ngày này còn có các tên gọi khác như ngày Khất xảo tiết, ngày Thất thư đản, ngày Xảo tịch.

- Ở Nhật Bản cũng có lễ hội Thất Tịch, kỷ niệm ngày gặp gỡ giữa Orihime (Chức Cơ) tức sao Chức Nữ và Hikoboshi (Ngạn Tinh) tức sao Ngưu, được gọi là lễ Tanabata (tại Hàn Quốc gọi là Chilseok). Theo phong tục, những người yêu nhau hay xếp hình giấy theo các hình thông dụng như cánh hạc (Orizuru), bộ Kimono bằng giấy(Kamigoromo), túi xách(Kinchaku), lưới(Toami), bao (Kuzukago),... để tặng nhau hay để trang trí cầu chúc cho may mắn và tốt lành...

Tóm lại thường trong ngày này các bạn gái sẽ tự tay làm một món đồ nào đó dành tặng cho người yêu. Ở Nhật thì ngày này phụ nữ phải mua quà cho đàn ông!. Các cặp đôi cũng thường tìm một nơi không có ánh đèn để cùng nhau nhìn lên trời đêm ngắm sao Ngưu Lang Chức Nữ và hẹn thề sẽ mãi mãi bên nhau.

Cách này xem ra rất lãng mạn, nhân văn… dễ thực hiện hơn rất nhiều so với việc tặng hoa hòe, kẹo bánh hay trang sức trong ngày Valentine của Tây!

Dù sao thì cũng chúc bà con có một “ngày tình yêu” lãng mạn và có thành quả!

Mai Anh

Chả trứng chay–Kim

chaTrungChay

Hôm nay Kim làm món chả trứng chay, nếu các bạn ai ăn chay mà không kiêng trứng thì hãy làm thử món này nhé.

Vật Liệu:
  • 6 cái trứng
  • 1 chén bún tàu
  • 2-3 miếng tàu hũ chiên
  • 1/2 cup nấm button hoặc nấm oyster
  • 1 khoanh ham chay
  • ½ chén đậu, bắp, cà rốt đông đá (frozen peas, corn, carrots)
  • Đường, muối, bột nêm chay, xì dầu
Cách Làm:
  • Nấm xào sơ, khi thấy nấm hơi teo teo là đựơc.
  • Quậy 4 trứng lấy lòng trắng lòng đỏ, còn 2 trứng chỉ lấy lòng đỏ lát sau cho lên mặt.
  • Ham chay và tàu hũ chiên xắt hột lựu.
  • Ngâm bún tàu trong nước ấm cho mềm rồi cắt khúc dài 1 inch.
  • Cho tí xì dầu và 1-2 muỗng cà phê nước vào chén, cho muối đường, bột nêm nghiền cho tan đều. Đổ gia vị vô tô trứng.
  • Cho tất cả những vật liệu trên vào tô trộn cho đều. Xịt chút  dầu vô khuôn, xong đổ trứng vào.
  • Vặn lò trước (Pre heat) cho ngóng 375 độ F. Cho khuôn trứng vào. Nướng trong vòng 10 phút, lấy khuôn ra tráng lên mặt chả với 2 lòng đỏ, rồi cho vào lò lại nướng tiếp 5 phút nữa là được.

Kim

ĐÃ NGU DỐT VỀ LỊCH SỬ VÀ QUÂN SỰ MÀ THÍCH NÓI NHIỀU

Lại nhắc đến cuộc chiến tranh biên giới với Trung Quốc năm 1979, nhiều tên chống cộng cực đoan (CCCĐ) đã đọc không kỹ lại thích phán bừa về cuộc chiến như thể chúng đã từng ở đó mà chứng kiến nó như thế nào vậy. Nhưng thực tế có đúng như vậy không?



Thứ nhất rằng ai bảo ở biên giới phía bắc không có quân chính quy? Lực lượng quân chính quy tuy ít nhưng cũng tham chiến cùng dân quân và bộ đội địa phương, nhất là ở Lạng Sơn. Trung đoàn 12 thuộc sư đoàn Sao Vàng đã phải gồng mình chiến đấu bảo vệ Đồng Đăng từ ngày 17 trước sức tấn công của 2 sư đoàn bộ binh, 1 trung đoàn xe tăng và 6 trung đoàn pháo binh Trung Quốc. Đến tận ngày 22, quân Trung Quốc gọi quân trong Pháo Đài hàng nhưng không được đã cho tấn công bằng thuốc nổ, súng phun lửa, lựu đạn và vũ khí hóa học làm chết tất cả những người cuối cùng cố thủ bên trong. Bên cạnh đó là sự có mặt của các sư đoàn 3, 327, 338, 337, 347 trực thuộc quân đoàn 14 tại Sao Mai, Lạng Sơn cũng tham gia chiến đấu.

Sự giúp đỡ của Liên Xô không có nhiều, chủ yếu là lời đe dọa sẽ tấn công, điều động các đơn vị quân sự ở Siberi sẵn sàng tham chiến khiến Trung Quốc đã phải sơ tán dân chúng ra khỏi một số nơi tại khu vực biên giới giáp ranh với Liên Xô. Bên cạnh đó, Liên Xô cũng hỗ trợ vận tải bằng máy bay AN-12 cho Việt Nam để đưa quân đoàn 2 từ Campuchia ra Lạng Sơn và không vận vũ khí cho nước ta.

Nên nhớ lúc đó chiến sự mới chỉ bắt đầu, nhiều đơn vị chủ lực còn đang phải điều từ chiến trường miền nam và Campuchia trước kia ra bắc để sẵn sàng ứng phó khi chiến tranh lan rộng và kéo dài hơn. Lúc đấy còn chưa ai biết Trung Quốc có thể tiến xa đến đâu, tiến vào đâu mà quân của chúng thì quá đông, do đó việc có 5 sư đoàn gồm 30000 quân lập tuyến phòng thủ cánh cung từ Yên Bái tới Quảng Yên với nhiệm vụ bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng là một hành động hợp lý, chứ không phải dốc hết toàn quân trên toàn bộ miền bắc lúc đó để ra đối đầu với Trung Quốc ở biên giới khi mà còn chưa biết liệu không quân và hải quân của chúng có tham chiến, đổ bộ sau lưng quân ta hay không. Thực tế trong lịch sử quân sự đã có những vụ “đánh lén” nguy hiểm khi quân tấn công không bảo vệ được hai bên sườn và sau lưng, ví dụ như khi quân Triều Tiên dốc toàn lực lượng xuống để dứt điểm số quân Hàn cuối cùng còn sót lại cộng với các đơn vị bổ sung của Mỹ đang cố thủ ở Pusan vào tháng 9 năm 1950, lúc này Mỹ và Hàn chỉ còn giữ được 10% lãnh thổ bán đảo Triều Tiên, thống chế Douglas MacArthur đã cho một cuộc đổ bộ từ biển vào bờ xa phía sau phòng tuyến của Triều Tiên tại Incheon khiến quân Triều Tiên tiến xuống nam thì rất nhanh mà rút về nhanh không kém.

Và cuối cùng trong cuộc chiến này ta chưa hề có ý định chiến tranh căng thẳng lâu dài hay đánh sang chiếm vùng biên giới Trung Quốc. Việc các đơn vị phòng thủ ở biên giới tuy trang bị không nhiều nhưng có thể gây thiệt hại nặng nề cho quân Trung Quốc suốt 1 tháng trời và làm chúng khốn đốn tiến ì ạch ở biên giới đã là một thành tích to lớn, trong khi đó các binh chủng pháo binh, tăng thiết giáp, không quân và hải quân ở đằng sau đều đang tập hợp càng ngày càng đông đã áp sát mặt trận để sẵn sàng phản công. Quân đoàn 14 với các sư đoàn 337, 327, 338 hầu như còn nguyên vẹn đang bố trí quân quanh thị xã Lạng Sơn. Quân đoàn 2, chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam, đã tập kết sau lưng Quân đoàn 14. Tất cả đã sẵn sàng tấn công để quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi.

Khởi điểm ban đầu khi Trung Quốc bất ngờ tấn công và ta chưa có chuẩn bị gì, nhưng việc giam chân chúng thành công ở biên giới suốt 1 tháng đã cho thấy lòng yêu nước của mọi người dân, mọi người lính Việt Nam không phân biệt dân quân địa phương hay quân chính quy. Còn tiến hành chiến tranh thế nào, điều động quân ra sao thì phải xem xét vào các yếu tố địa lý, trang bị của các binh chủng, quân số ở các nơi và tình hình chiến sự cụ thể chứ không phải ngồi đấy mà phán như thể mình là tổng tư lệnh mọi mặt trận. Mà nhất là với những kẻ bỏ nước chạy theo Mỹ mà ngồi nhìn cuộc chiến thì càng không có tư cách để mà phán xét những người đã thực sự tham gia cuộc chiến để bảo vệ Tổ quốc.

Victor Charlie – CT03

CHẾT VÌ TUYỆT THỰC

Một con ma chết xuống âm phủ được dẫn vào chầu Diêm Vương:


- Tên kia - Diêm Vương quát - nói ta nghe tại sao người chết?!

- Dạ thưa Diêm Vương, con chết vì "tuyệt thực" ạ!

- Nhà ngươi dám lừa ta sao - Diêm Vương đập bàn quát - Chết vì tuyệt thực mà trông mi hồng hào, béo tốt thế kia?!

- Dạ, trăm lậy Diêm Vương soi xét, Dân Chủ chúng con tuyệt thực có phương pháp, vừa đảm bảo sức khoẻ, vẫn tạo tiếng vang để nhận tiền tài trợ ở "bển" gửi về ạ!

- Nói ta nghe!


- Dạ, kinh nghiệm được truyền từ nhà Dân chủ dzĩ đại Cù Huy Hà Vũ. Thực đơn tuyệt thực của chúng con là: sáng sớm khi bạn tù chưa dậy, tu 2 bịch sữa tươi; trưa, khi bạn tù đi ăn về ngủ trưa thì lẻn vào wc nhai vội cái lương khô và nước tăng lực; tối, khi mọi người mải ra cantin xem TV, đọc báo thì ăn vội cái bánh bò và 1 gói ngũ cốc. Tuyệt thực như thế vẫn đảm bảo sức khoẻ nhưng hơi "nhạt mồm" ạ!

- Khá, ta khen, nhà ngươi xảo trá như thế, ta miễn cho đại hình, bổ sung vào đám quỷ xứ, dạo này lắm lũ chống cộng, rận chủ, dân oan...làm nhiều điều xằng bậy nên phải tăng quân số quỷ sứ. Nhưng nói ta nghe: người tuyệt thực như thế sao mà chết được?!

- Vấn đề là nhạt mồm ạ! Con tuyệt thực được 1 tuần thì mồm miệng nhạt phèo vì thiếu thịt. Hôm đó gia đình tiếp tế cho 2 cái bánh bao nhân thịt ngon quá. Lợi dụng lúc bạn tù đi lao động, con cáo ốm do tuyệt thực lên giường rên "hừ hừ", khi chúng đi rồi con lôi bánh bao ra ăn. Ôi chao là ngon, ăn được 1 cái rưỡi thì bọn chúng lũ lượt về buồng. Vứt đi thì tiếc, con vội nhét nốt nửa cái bánh bao vào miệng, chùm chăn úp mặt vào tường. Khổ nỗi ngậm cái bánh bao ko rên "hừ hừ" được nên mấy người bạn tù xúm lại hỏi thăm. Con đành nuốt vội miếng bánh trong miệng để còn rên khỏi lộ. Miếng bánh to quá, nuốt không trôi nên chết nghẹn ạ!

Xứ Huế

Wednesday, February 11, 2015

Bồ tát quan âm do tưởng sao có sự linh thiêng?

Hỏi: Kính thưa Thầy! Bồ Tát Quan Thế Âm do tưởng mà có, nhưng cũng có sự linh thiêng và cứu độ? Xin Thầy giảng cho chúng con được hiểu.

Đáp: Chính vì người ta thấy những bóng ma phảng phất, những sự linh thiêng của những nhân vật tưởng tượng nên thế giới siêu hình mới có. Không ai giải thích được những hiện tượng kỳ lạ đó, do đâu mà có, khoa học cũng đành bó tay. Chỉ có những người nhập được chánh định, vượt qua cảnh giới hữu sắc và vô sắc tức là vượt qua các loại định tưởng thì mới thấy được thế giới siêu hình rõ ràng và sự linh thiêng đó do đâu mà có.

Thân chúng ta gồm năm ấm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

- Sắc là thế giới hữu hình.
- Tưởng là thế giới vô hình.

Người ta hiểu tưởng là do sự tưởng tượng. Tưởng ở đây không phải là tưởng tượng, là tưởng ấm cũng như sắc ấm vậy, chứ không phải sự tưởng tượng. Sắc ấm có cảnh giới của sắc ấm như: nhà cửa, cây cỏ, vạn vật, cầm thú, vạn hữu, v.v.. thì cảnh giới tưởng ấm cũng vậy nó chỉ khác là vô sắc. Vì nó là hình ảnh bóng dáng theo khuôn mẫu  của thế giới sắc ấm (hữu hình), nó cũng giống như cây cổ thụ kia, hình và bóng của nó. Cây là thế giới hữu hình, còn bóng của nó là thế giới siêu hình, cho nên cây không có thì bóng cũng không có. Vì thế, thân người mất thì linh hồn người cũng không còn.

Cảnh giới hữu hình và siêu hình của một người nó theo nhau như hình với bóng. Phước đến thì nó hiện ra giải nạn do một niềm tin ở vị Thần, Thánh nào đó, ngược lại người đó không tin Thần, Thánh thì nó khiến người đó lỡ tàu, lỡ xe để thoát nạn.

Đồng thời mọi người cùng thấy ở một góc độ nào đó, thì đó là do cộng nghiệp và do lòng tin, nhưng nó còn tùy ở tưởng ấm hoạt động giao cảm mạnh hay yếu.

Người tu tập thiền định, trạng thái tưởng xuất hiện kỳ lạ, nếu không có thiện hữu tri thức thì không thể nào ngồi yên nổi để tu. Trường hợp đó người tu nào cũng đều cho đó là thế giới oan hồn đến phá. Thấy một tảng đá, hoặc một người ngồi giữa đường, người lái xe lạc tay lái, gây tai nạn, đó là nghiệp ác đến, tưởng ấm xuất hiện ra. Một người té xuống sông, có cảm giác như có người lôi họ xuống nước, đó là nghiệp ác lôi họ xuống, nhờ tạo thiện nên có người cứu thoát họ.

Luật nhân quả nghiệp báo sử dụng sắc ấm và tưởng ấm rất là vi diệu mà loài người không thể lường được.

Hàng ngày, một người không tu tập và không trau dồi thân tâm bằng thiện pháp, nhân quả nghiệp báo sai sắc ấm của họ làm những điều tội ác mà họ không hề hay biết, đến khi tội khổ thì họ lại than trời trách đất, đi cầu khẩn Thần, Thánh gia hộ.

Còn nhân quả nghiệp báo sai tưởng ấm của họ gây tai họa hoặc cứu họ thoát chết thì họ cho oan hồn, quỷ ma tác họa, ngược lại được phước báo thì cho là Thần Thánh, chư Phật, chư Bồ Tát gia hộ bình an.

Mọi người sống trong thế giới đối đãi mà không thấy đối đãi. Sống trong thế giới nhân quả mà không thấy nhân quả.

Con người từ nhân quả sanh ra, chết đi về nhân quả, lại không thấy, cho rằng có những linh hồn người chết, có những Thần, Thánh, quỷ, ma. Cho nên Đức Phật dạy: “Con người là thừa tự nhân quả”. Đã thừa tự nhân quả thì làm sao có ma được? Có thế giới linh hồn người chết được?

Tất cả các tôn giáo khác đều không vén màn vô minh này, nên tôn giáo nào cũng xây dựng thế giới siêu hình có thật. Và vì thế, cuộc đời này đã làm mất đi sự công bằng và công lý của loài người.

Người ta theo các tôn giáo thì được cứu rỗi, được gia hộ; còn ai không theo tôn giáo thì chẳng được ai cứu rỗi và gia hộ cả. Như vậy có bất công không? Chỉ có Phật giáo dám xác định thế giới siêu hình khách quan không có, mà có thế giới siêu hình chủ quan do từ tưởng ấm lưu xuất. Khi một người còn sống thì có, nhưng khi đã chết thì không có. Vì thế, đức Phật cả quyết xác định thế giới siêu hình là do tưởng tri sản xuất sanh ra chứ không có thế giới thật: “Tưởng tri chứ không phải Liễu tri”.

Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sưu tập (tạm thời) sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã download từ các trang web trên, bạn có thể tải về: Click tại đây

Người đắc đạo không cần giữ giới luật

Hỏi: Kính bạch Thầy, có sự khác biệt nào giữa việc uống rượu của Tế Điên Tăng và việc tự sát bằng dao của Ngài Channa trong kinh Tương Ưng tập 4 trang 99? Có vị nói, đối với người đã đắc đạo, thân có thể phạm giới nhưng tâm không bao giờ phạm, từ đó đánh đồng hai hành động nêu trên?

Đáp: Những lý luận của các nhà học giả “Người chứng đạo không cần giữ giới luật” điều đó là sai cả.

Tế Điên Tăng là một nhân vật Đại Thừa thể hiện sự phá giới phi đạo đức của đạo Phật, là một vị tăng đại diện cho giáo pháp Đại Thừa nên hành động Tế Điên Tăng thiếu oai nghi tế hạnh nghiêm trang của một tu sĩ chân chánh. Tế Điên Tăng chỉ lòe thần thông tưởng lừa đảo người, mà đức Phật đã cho những thần thông đó là huyễn hóa không đáng cho chúng ta ca ngợi.

Tế Điên Tăng là một tu sĩ thiếu đức hạnh của một bậc Thánh Tăng thì không đáng cho chúng ta cung kính, chỉ có những người ham mê thần thông thì mới cung kính còn những tu sĩ đệ tử của đức Phật chân chánh tu hành giải thoát thì xem đó là những kẻ tà đạo bàng môn, không phải là những tu sĩ Phật giáo.

Đức Phật so sánh mũi dao của tỳ kheo Channa và Tứ Thiền tịnh chỉ hơi thở không có khác nhau.

Đọc qua bài kinh này chúng ta mới thấy rõ thâm ý của đức Phật dám đem thiền định so sánh với mũi dao thì thật là tuyệt vời, vì đức Phật muốn bài bác thần thông một cách quyết liệt, vì thần thông chẳng đem đến ích lợi cho con người thiết thực. Mặc dù Tứ Thiền là một loại thiền định tuyệt vời và mầu nhiệm làm chủ được sự sống chết có nghĩa là người nhập được thiền định này muốn chết, muốn sống không còn khó khăn chút nào cả.

Tự tại trong sanh tử như thế mà Ngài dám đem mũi dao của Tỳ kheo Channa mà so sánh thì Thầy xin tán thán đức Phật đúng là một bậc Ứng Cúng Chánh Biến Tri Minh Hạnh Túc Thiện Thệ Thế Gian Giải Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu Thiên Nhân Sư Phật Thế Tôn.

Sự so sánh này hay tuyệt, thần thông và Tứ Thánh Định được đức Phật xem như đồ bỏ, như một chiếc dép hư không còn dùng được nữa.

Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sưu tập (tạm thời) sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã download từ các trang web trên, bạn có thể tải về: Click tại đây