Thursday, February 26, 2015

XHDS CÓ NGUY HIỂM KHÔNG?

Cái tên rất kêu XHDS là một trong những thủ đoạn để hình thành các tổ chức chống đối chính quyền núp dưới danh nghĩa các tổ chức phi chính phủ hoạt động vì các mục tiêu xã hội. Cha đẻ của nó chính là một trong những thằng già lõi hôi hám kiếm ăn trên xương máu các dân tộc khác G.Soros và tổ chức - công cụ của ổ đĩ điếm chính trị của bọn tài phiệt quốc tế CIA. 


Về bản chất, nghe thì rất là hay ho và tốt đẹp, hình thành các tổ chức phi chính phủ để giải quyết các vấn đề xã hội mà không phải "phiền" đến chính phủ. Nhưng thực chất, nó đang cố gắng làm xóa bỏ ảnh hưởng của chính quyền trên mọi mặt của đời sống xã hội. Một chính quyền mà không còn ảnh hưởng trên mọi mặt hoặc ảnh hưởng đó bị suy yếu là đã lung lay đến tận gốc rễ. Và khi ảnh hưởng chính trị của những tổ chức "phi chính phủ" đó đủ lớn, chúng sẽ liên kết để đòi hỏi chính trị. 

Đối với trường hợp Việt Nam mục tiêu nhắm tới là suy yếu ảnh hưởng của các tổ chức đoàn thể do Đảng Cộng Sản lãnh đạo, làm suy yếu ảnh hưởng của chính quyền và khi ảnh hưởng của chúng đủ lớn, sẽ liên kết để tấn công vào chế độ hiện tại, đòi đa nguyên, đa đảng, mà không ai khác chính những tổ chức đó sẽ là "hạt giống" của những chính đảng. Nói cách khác, chúng là những công cụ để lật đổ chính quyền và chuyển quyền lực vào tay chủ - những người đã tài trợ cho chúng hoạt động.

Những tổ chức NGOs này có hoạt động rất rộng rãi cả về địa lý lẫn lĩnh vực. Về địa lý, hầu hết những chính quyền "ngứa mắt" với Mỹ đều có mầm mà CIA cấy vào. Một số đã "đơm hoa kết trái" như Lybia, Syria, Ukraine... hay đang ở giai đoạn ủ mầm củng cố lực lượng như Trung Quốc, Cuba, Việt Nam.... hay đang hoạt động mạnh như Nga, Belarus, Venezuela...

Nhiệm kỳ trước của TT Putin, "phe đối lập và các tổ chức dân sự" mà đầu tiên là học sinh, sinh viên đã huy động hàng chục nghìn người để phản đối kết quả bầu cử tại Maxcova. Mới đây, Hồng Kong, Venezuela thực hiện một âm mưu đảo chính.

Ở Việt Nam, như đã nói, do đang trong giai đoạn củng cố lực lượng và hình thành mạng lưới nên hoạt động chủ yếu của chúng là:

Lôi kéo và tuyển mộ lực lượng, nhất là lực lượng trẻ. Lực lượng này sẽ được chọn lọc và tiếp tục mở rộng mạng lưới. Để làm được điều đó, chúng có đầu tư khá mạnh cho đào tạo và dạy kỹ năng chính trị hẳn hoi cho những phần tử đó. Joshua Wong là một thanh niên ốm đói của Hương Cảng đã được đào tạo hẳn hoi và cho kết quả khá ấn tượng. Nhưng Việt Nam thì chưa có ai, một phần vì công tác tuyển chọn của húng ở Việt Nam đang gặp một số vấn đề nhất định.

Thành lập các tổ chức ban đầu và làm hạt nhân, cơ sở để mở rộng các tổ chức NGOs. Từ những người đã được đào tạo, chúng đào tạo lại cho người khác, gây dựng mạng lưới, ban đầu tham gia vào các hoạt động xã hội như từ thiện, dạy kỹ năng, thể thao.... để gây ảnh hưởng, cuối cùng là truyền đạt tư tưởng chính trị và lôi kéo lực lượng chống chính quyền. Bạn hãy tự thắc mắc trên trời rơi xuống những trang như "Chúng ta xanh lá cây" hay những lớp dạy tiếng Anh miễn phí đôi lúc có giáo viên nước ngoài, những "câu lạc bộ dạy kỹ năng", những "trại hè sinh viên quốc tế" được những tập đoàn to đùng tài trợ.. ở đâu ra? Trên đời này, không ai cho không ai cái gì, nếu bạn ngây thơ tin rằng họ là người tốt và không cảnh giác, có ngày họ sẽ không chỉ đốt nhà mà còn đốt cháy cả quốc gia của bạn! Cái khó của chính quyền là rất khó trong việc ngăn cản những hoạt động xã hội như vậy. Và cách duy nhất đó là gia tăng ảnh hưởng bằng cách xây dựng đoàn thể của chính quyền mạnh hơn, hoạt động tốt hơn. Và VN đang làm dở ẹc! Ví dụ: Đoàn thanh niên

Liên kết với các tổ chức chống đối có sẵn. Tất nhiên, để tồn tại, chúng phải liên kết với nhau ở mức độ nhất định. Có rất nhiều "ngôi nhà của Chúa" ấm ấp che chở cho chúng. Và không thiếu những bọn lưu vong sẵn sàng chia phần kinh phí gửi về cho chúng hoạt động!

Ở Việt Nam, tạm thời chúng vẫn đang trong giai đoạn củng cố lực lượng và đào tạo con người, nhưng mục tiêu của chúng đã có, và chúng là át chủ bài trong chiến lược và quy trình lật đổ chính quyền đã được nghiên cứu kỹ.

Hãy thôi giếu cợt bọn chống cộng to mồm ngô nghê kiểu "ỉa không ra tại Cộng Sản". Bởi vì chúng đã lạc hậu, và những thằng loa phường chỉ là những kẻ đánh lạc hướng vì suy cũng chỉ là cái loa, còn những kẻ hành động thực sự mới là con bài đặt cược. Và tiền thì đang không ngừng chi cho đào tạo những kẻ như thế!

Xã hội dân sự là một thủ đoạn cực nguy hiểm. Con bài tẩy ấy đã cực kỳ thành công ở nhiều nước!

Wednesday, February 25, 2015

Chuyện người Việt ăn cắp: Những lí giải không thuyết phục

Câu chuyện người Việt bị bắt phạt vì ăn cắp ở nước ngoài dấy lên một số phản ứng khá gay gắt. Tuy đa số đều cảm thấy bức xúc và tức giận, nhưng một số không nhỏ có những phản ứng có thể nói là rất thiếu thuyết phục, nếu không muốn nói là nực cười. Người thì cho rằng ở Mĩ, Pháp, Nhật cũng có người ăn cắp, chứ có riêng gì người Việt Nam đâu; người thì cho rằng nói ra sự thật như thế là bôi nhọ Việt Nam; có người còn đi xa hơn đổ thừa cho ... Việt Tân! Đành rằng trong thế giới mạng thì có người này kẻ khác, nhưng những phản ứng trên làm cho chúng ta phải suy nghĩ là chúng ta đang sống bên cạnh những con vi khuẩn văn hoá rất nguy hiểm.

Trước hết là lí giải kiểu "Ở Nhật cũng có người ăn cắp" theo tôi là vô duyên nhất. Người ta đang nói chuyện người Việt ăn cắp, tự dưng chuyển sang chuyện người Nhật! Đó là một kiểu nguỵ biện gọi là "đánh tráo vấn đề" hay distraction. Thật ra, kiểu nguỵ biện đó rất thô, bởi vì đó là cách nói "Họ ăn cắp, tôi cũng có quyền ăn cắp"! Logic này rõ ràng là nghe không được, vì nó lấy cái xấu biện minh cho cái xấu.

Thật ra, câu cho rằng người Nhật cũng ăn cắp là đáng nghi ngờ. Giáo sư Gregory Pflugfelder, một chuyên gia văn hoá Nhật Bản, nhận xét rằng “ăn cắp đơn giản là không xảy ra ở Nhật Bản. Tôi thậm chí còn không chắc rằng trong ngôn ngữ Nhật Bản có từ nào để mô tả chính xác hành động này.”

Nên nhớ rằng thói ăn cắp và qui mô ăn cắp của người Việt ở Nhật đã trở thành một vấn nạn. Tôi nói vấn nạn là không quá đáng, vì gần đây có thông tin từ cảnh sát Nhật cho thấy trong 6 tháng đầu năm 2013 đã có 401 vụ liên quan tới người Việt, và con số này chiếm 40% tổng số vụ ăn cắp có dính dáng đến người nước ngoài (1). Con số 40% đó không thể xem là ngẫu nhiên, là cá biệt được. Bốn mươi phần trăm là một con số mang tính quần thể, liên quan đến một cộng đồng. Thật vậy, trong con mắt của nhiều người Nhật, có lẽ họ nghĩ người Việt là một cộng đồng ăn cắp, cũng giống như một cộng đồng [xin không nói tên] ở bên Âu châu nổi tiếng ăn cắp ở những ga xe điện. Mà, ăn cắp là một thói cực kì xấu đối với bất cứ nền văn hoá nào. Một cộng đồng mà nổi tiếng ăn cắp thì chỉ có thể nói là nhục nhã.

Kế đến là phản ứng cho rằng nói ra sự thật người Việt ăn cắp ở nước ngoài là bôi nhọ dân tộc, là không có ý xây dựng. Những người này thường hay đặt câu hỏi "sao không đề ra giải pháp" như là một phản bác thích thú của họ. Nhưng đó là cách phản bác kém thông minh. Phải khẳng định rằng nói ra sự thật về thói quen tật xấu của người Việt là một cách đóng góp gián tiếp vào việc xây dựng cộng đồng tốt hơn. Chính cách nói hết và nói tất cả đó là một giải pháp, và giải pháp nó chẳng đâu xa mà nằm ngay ở mỗi cá nhân. Chúng ta không có quyền thế để thay đổi xã hội một sớm một chiều, nhưng chúng ta có khả năng thay đổi chính mình theo chiều hướng tốt hơn. Và, khi tất cả thành viên trong xã hội thay đổi tích cực thì cộng đồng cũng sẽ thay đổi theo.

Nói đến đây tôi chợt nhớ đến một câu nói của bác Cung Đình Thanh, một học giả đáng kính và người bạn vong niên của tôi. Bác Thanh kể rằng có một học giả Úc chuyên về văn hoá Việt Nam, và ông thường được mời cho ý kiến, cố vấn cho các chính trị gia cao cấp sắp đi thăm Việt Nam. Ông học giả này chuyên chỉ ra những thói hư tật xấu của người Việt và các chính trị gia cộng sản. Một hôm, bác Thanh gặp ông trong hội thảo, và phàn nàn rằng sao ông chỉ nói cái dở, cái xấu của người Việt, mà không đề cập đến cái hay, cái đẹp về văn hoá Việt Nam và người Việt. Ông học giả Úc vỗ vai bác Thanh, rồi nhẹ nhàng nói rằng: Nhiệm vụ của tôi là nói ra sự thật về những thói hư tật xấu của đối tác để chính trị gia Úc chuẩn bị; còn nói ra những cái hay, cái đẹp của người Việt là việc của các bạn chứ không phải việc của tôi.

Thật ra, thói xấu, kể cả thói ăn cắp của người Việt chẳng phải là cái gì mới; nó đã được chính sử gia người Việt ghi lại. Trong "Việt Nam sử lược" (1919) của Trần Trọng Kim, phần viết về người Việt, tác giả viết:

“Tâm địa thì nông nổi, hay làm liều, không kiên nhẫn, hay khoe khoang và ưa trương hoàng bề ngoài, hiếu danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Hay tin ma quỉ, sùng sự lễ bái, nhưng mà vẫn không nhiệt tin tôn giáo nào cả. Kiêu ngạo và hay nói khoác …”.

Thú vị là khi cuốn sách được tái bản vào năm 1999 thì đoạn trên bị cắt bỏ!

Còn Linh mục dòng Tên J. Baldinotti nhận xét về người Việt khi ông ghé qua miền Bắc như sau: "[...] đó là những người bệ vệ dễ giao thiệp, trung thành, vui vẻ; họ không có những tật xấu như người Trung Hoa và Nhật Bản [...] Dân thường thì hay trộm cắp, vì thế người ta phạt kẻ ăn trộm ăn cắp cũng như ngoại tình bằng án tử hình."

Léopold Pallu, một sĩ quan từng đi theo đoàn quân của Phó thủy sư đề đốc Charner đánh chiếm Nam Kì đầu tiên, đã viết trong cuốn Lịch sử cuộc viễn chinh Nam Kì năm 1861: "Những người An Nam ta thấy lúc nào cũng hối hả đem những gì họ kiếm ra để chơi cờ bạc và hình như họ không tìm thấy sự thích thú khi gom góp của cải để làm giàu; họ có những rung cảm cao độ về cảnh nghèo khó.”

Nói “không mới lạ” vì chuyện người Việt có thói quen ăn cắp vặt từ lâu đã “nổi tiếng” ở nước ngoài. Một độc giả báo Tuổi Trẻ (13/4/2014) viết qua lời kể của thầy ông rằng 50 năm trước ở Pháp, ngay trên một bãi biển có hàng chữ “Coi chừng người ăn cắp vặt Việt Nam” (Attention aux voleurs vietnamiens).

Do đó, không ngạc nhiên khi người Việt bị kì thị ở nước ngoài, và sự kì thị rõ ràng nhất thường là ở phi trường. Tôi có một kinh nghiệm chẳng hay ho gì về sự kì thị của hải quan Pháp đối với người Việt. Năm đó, tôi bay sang Pháp từ Sài Gòn trong một chuyến bay của Vietnam Airlines. Chuyến bay tuy chẳng có gì xuất sắc, nhưng nói chung là ok. Chỉ khi đến phi trường mới có vấn đề. Tôi rất ngạc nhiên khi mới ra khỏi máy bay đã có 3-4 người cảnh sát đứng chờ ngay tại cửa đường ống! Họ đứng đó và đòi khách phải xuất trình hộ chiếu. Tôi chú ý thấy rõ ràng là tất cả những người mang hộ chiếu VN đều bị hỏi vớ vẩn vài ba câu và có khi hoạnh hoẹ (như trường hợp một chị có con nhỏ, giống như là du học sinh, đứng trước tôi). Đến phiên tôi, vì mang hộ chiếu Úc, họ không thèm nhìn mà chỉ khoát tay cho tôi đi. Đến khi vào khu immigration (di trú) lại thấy thêm một sự kì thị như thế. Lần này thì tôi thấy cả người Việt và người da đen (chắc là từ Phi châu) đứng chờ khá lâu và họ nói gì đó tôi nghe không rõ. Đến phiên tôi, không có vấn đề gì cả, không đầy 1 phút tôi đã ra khỏi khi di trú. Cùng là người Việt Nam, cùng đi một chuyến bay từ Việt Nam, vậy mà nhân viên Pháp rõ ràng phân biệt người dựa vào hộ chiếu.

Cứ nhìn vào thứ hạng về hộ chiếu được chấp nhận trên thế giới (hạng 81 trên thế giới, sau cả Lào Và Campuchea) thì biết chúng ta đang ở đâu và được đánh giá như thế nào trên thế giới.

Kinh nghiệm của tôi cho thấy người Việt mình rõ ràng là không được xem trọng, nếu không muốn nói là bị khinh thường ở nước ngoài. Đừng nghe những tuyên truyền về "chiến công vang dội" trong quá khứ, cũng đừng nghe lời tuyên truyền hoa ngữ rằng người Việt là lương tri thời đại [gì gì đó] mà thất vọng lớn khi ra ngoài. Đừng tin những đồn thổi rằng những phát minh của người Việt làm thế giới ngả mũ, vì đó chỉ là huyền thoại chứ không có trong thực tế. Đừng bao giờ nghĩ rằng vài giải thưởng nào đó là làm cho thế giới kính nể, vì giới khoa học thế giới trưởng thành hơn nhiều chứ không phản ứng như trẻ con đâu. Trong thực tế, người Việt không được đánh giá cao, và chắc chắn chẳng có ai nể phục như nhiều người lầm tưởng. Không có ai “Mơ ước một buổi sáng thức dậy, thấy mình được trở thành một người Việt Nam” như báo chí đồn thổi.

Tôi nghĩ rằng mỗi chúng ta chọn cho mình một thái độ và cách ứng phó trước những tin tiêu cực về người Việt. Nếu mỗi cá nhân dám ghi nhận những thói xấu, và tìm cách tránh chúng thì xã hội dần dần sẽ tốt hơn. Tôi nghĩ chúng ta không nên quá tự hào, nhưng cũng không tự ti dân tộc. Ngẫm đi nghĩ lại câu "Sống tử tế với nhau" của ông Trịnh Công Sơn rất có lí. Riêng tôi thì sống theo tỉ số Thiền (Zen Ratio).


(1) http://kienthuc.net.vn/…/40-nguoi-viet-an-cap-va-noi-kho-ng…
(2) http://infonet.vn/ho-chieu-cua-quoc-gia-nao-duoc-uu-ai-nhat…

Bí quyết giải thoát

LỜI PHẬT DẠY

“Bí quyết thành tựu của Đạo Phật chỉ có hai điều kiện quan trọng nhất:

1. Giữ tâm không phóng dật.
2. Thích sống nhàn tịch, độc cư, trầm lặng một mình”.
  
CHÚ GIẢI:

Con đường tu tập giải thoát của Phật giáo, không phải cần nhiều pháp môn, chỉ có hai pháp quan trọng nhất cho con đường tu tập này. Đó là “Giữ tâm không phóng dật và thích sống nhàn tịch, độc cư, trầm lặng một mình”. Vậy giữ tâm không phóng dật và thích sống nhàn tịch, độc cư, trầm lặng một mình như thế nào?

1. “Giữ tâm không phóng dật”. Các bạn đều biết những pháp môn tutập này chứ? Đó là Tứ Chánh Cần, Tứ Niệm Xứ, Thân Hành Niệm. Nhờ các pháp này tu tập tâm lần lượt sẽ không phóng dật. Vậy các bạn hãy cố gắng tu tập đừng biếng trễ.

2. “Thích sống nhàn tịch, độc cư, trầm lặng một mình”. Chắc các bạn đều biết những pháp môn tu tập này chứ? Đó là pháp môn phòng hộ sáu căn, pháp môn như lý tác ý.

Khi tu tập, các bạn phải thiện xảo khéo léo áp dụng đúng thời, đúng lúc thì rất hữu hiệu, đạt kết quả rất cao.

Người nào tu tập thích sống nhàn tịch, độc cư, trầm lặng một mình là con đường tu tập sắp đến đích, còn ngược lại không thích sống nhàn tịch, độc cư, trầm lặng một mình, thích nói chuyện, thích tập họp thì con đường tu tập sẽ còn xa lắm, biệt mù. Biết rõ những điều này các bạn cần lưu ý hai pháp trên đây. Vì thương xót chúng ta mà đức Phật mới nhắc nhở. Vậy chúng tôi mong các bạn cố gắng tu tập nhiều hơn nữa, để chứng minh cho các nhà Đại Thừa biết rằng chúng ta tu theo pháp thiền định của Nguyên Thủy mà kết quả rõ ràng và cụ thể.

Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sưu tập (tạm thời) sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã download từ các trang web trên, bạn có thể tải về: Click tại đây

Giới bất tịnh

Bắt đầu học, tu tập và muốn đạt được một đời sống GIỚI BẤT TỊNH HÀNH nghiêm chỉnh thì phải thông hiểu: giới đức, giới hạnh và giới hành của nó. Vậy giới đức, giới hạnh và giới hành của giới bất tịnh hành là gì?

Giới đức giới bất tịnh hành là những lời dạy đạo đức về đời sống của con người tức là Chánh nghiệp.

Giới hạnh giới bất tịnh hành là những lời dạy về Phạm hạnh tức là oai nghi tế hạnh thường thể hiện qua giới bất tịnh hành như: nói, nín, tiếp giao với mọi người, v.v.. Những oai nghi tế hạnh như vậy được gọi là Chánh nghiệp.

Chúng ta thường tu tập Định Vô Lậu. Trong Định Vô Lậu có pháp dạy quán thân này bất tịnh. Từ đó, chúng ta quán xét thân bất tịnh, thuần biết thân chúng ta hoàn toàn là những chất thứ bất tịnh hôi thối không có vật gì trong đó là quý báu, chỉ toàn là các duyên bất tịnh hợp thành. Do nhiều đời lầm chấp cho thân này là tốt đẹp, là quý báu là của ta, là ta, là bản ngã của ta. Do sự lầm chấp như vậy nên có những việc xảy ra xúc phạm đến thân tâm của ta thì ta lại phát sân hận, tức tối, phiền não khổ đau. Sự sân hận, tức tối, phiền não khổ đau là do tâm tham ái thân này vậy. Vậy chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy La Hầu La: “Này La Hầu La, hãy tu tập sự tu tập về bất tịnh, này La Hầu La, do tu tập sự tu tập về bất tịnh cái gì thuộc về tham ái được diệt trừ”.

Như lời Phật dạy trên đây chúng ta quán thân bất tịnh thì sẽ diệt trừ được tâm tham ái. Vậy muốn quán thân bất tịnh thì xin các bạn vui lòng đọc lại kinh Thân Hành Niệm dạy về cách thức quán thân bất tịnh: “Này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo nên quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên trên cho đến đỉnh tóc bao bọc bởi da chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt: “Trong thân này đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tuỷ, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, phân, mật, đàm, miên dịch, mủ, máu, mồ hôi, nước ở khớp xương, nước tiểu, v.v.. Này các Tỳ kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại hột như: gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt và đổ các hột ấy ra và quán sát: “Đây là hột gạo đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hột lúa đã xay rồi”. Cũng vậy này các Tỳ Kheo, một Tỳ Kheo quan sát thân này dưới từ bàn chân trở lên, trên chỗ đến đỉnh tóc, bao bọc bởi da chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt”.

Trên đây là lời Phật dạy quán thân bất tịnh. Khi quán sát thân thấu suốt thân này bất tịnh như thật thì còn đâu tham ái thân này nữa. Phải không các bạn?

Thấy biết như thật những chất trong thân này quá dơ bẩn, không thể che dấu được chúng ta nhìn thấy thật sự trên thân ta và mọi người: phân phẩn, mồ hôi, nước tiểu, đờm dãi, ghèn, nước mũi, nước miếng đều có mùi hôi thối, nếu ai nghe, thấy, ngửi đều ghê tởm, đều muốn tránh xa. Ai ai cũng biết nó bất tịnh dơ bẩn thì còn ai dám sờ mó, đụng chạm đến những đồ bất tịnh đó. Phải không các bạn?

Còn những người nào chưa quan sát xem xét thấy thân này bất tịnh, dơ bẩn, hôi thối, thì tâm còn ưa thích. Tâm còn ưa thích thân này là còn tâm sắc dục; tâm sắc dục còn là còn thấy sắc dục là hạnh phúc, là khoái lạc; còn thấy sắc dục là hạnh phúc, là khoái lạc là tâm còn tham ái. Cho nên khi tu tập giới bất tịnh hành thì đối trị tâm tham ái. Tâm tham ái diệt là tham, sân, si diệt. Tham, sân, si, diệt là giải thoát. Vậy các bạn hãy tu tập và giữ gìn giới bất tịnh hành này nghiêm chỉnh thì tâm tham ái của các bạn sẽ được diệt trừ.

Vì thế hằng ngày chúng ta phải chuyên tu tập đúng pháp như lý tác ý nương thân hành nội ngoại.

Câu tác ý thứ nhất: “Sắc dục chỉ là tâm tham ái nên không thấy thân này bất tịnh, uế trược, bẩn thỉu, hôi thối phải từ bỏ, phải xa lìa chúng, tâm phải luôn luôn thanh thản, an lạc và vô sự”.

Câu tác ý thứ hai: “Thân này bất tịnh, uế trược, hôi thối chúng ta phải từ bỏ tâm sắc dục, tôi biết tôi hít vô, tôi biết tôi thở ra”.

Câu tác ý thứ ba: “Thân này là thân bất tịnh hôi thối ta phải xa lìa, đừng tham ái nó tôi biết tôi đang đi kinh hành”.

Pháp như lý tác ý quá cụ thể rõ ràng, hằng ngày phải siêng năng tu tập một cách nhiệt tâm, nhiệt tình thì mới có hiệu quả làm chủ được cuộc sống sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt tái sanh luân hồi.

Chúng ta lại tiếp tục quán xét thân bất tịnh như trong kinh Tứ Niệm Xứ hay kinh Thân Hành Niệm. Nếu thân này chết khoảng 4, 5 ngày thì trương phồng lên, xanh đen, lại nứt nẻ, nước vàng chảy ra, mùi hôi thối xông lên rất khó chịu, khiến cho mọi người không ai dám lại gần, nếu đem thân này quăng bỏ trong nghĩa địa đừng chôn thì các loại chim như: quạ, diều hâu, chim kên, chó, gà và tất cả các loại côn trùng ăn. Thân này tánh chất là như vậy, không có cách nào vượt khỏi tánh chất ấy, dù ta đem phơi khô hay ướp một thứ thuốc nào thì thân bất tịnh vẫn là bất tịnh, tính vô thường hoại diệt thì không thể nào thoát ra qui luật vô thường hư hoại được.

Chúng ta hãy đọc lại đoạn kinh Tứ Niệm Xứ mà đức Phật đã dạy: “Lại nữa này các Tỳ kheo, Tỳ kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại nát thối ra. Tỳ kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tính chất là như vậy, bản tính là như vậy không vượt khỏi tính chất ấy”.

Nhìn thấy xác thân bất tịnh, tính chất hôi hám trương phồng rữa thối bất tịnh khiến ta không còn chấp trước cho thân này là đẹp đẽ cao quí; cho thân này là ta, là của ta, là bản ngã của ta. Mọi người lầm chấp thân này tốt đẹp, trong sạch, sự thật chỉ là tấm thân bất tịnh hôi thối tan rã hoại diệt. Khi tư duy như vậy nhiều lần khiến ta nhàm chán thân tứ đại, nhàm chán đến mức độ ghê tởm không còn xem thân là vật quý trọng nữa.

Trưởng lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây

KHÔNG THỂ MẤT NƯỚC...

Ngồi đọc sách lịch sử, ngẫm nghĩ mấy chuyện của tiền nhân những lúc sơn hà xã tắc lâm nguy. Hơn 160 năm trước, năm 1841 vua Miến Tông nhà Nguyễn lên ngôi, đặt niên hiệu là Thiệu Trị. Lúc này thực dân đế quốc các nước châu Âu đang lăm le bành trướng thuộc địa, nhòm ngó nước ta đã lâu. Nhà vua đặt quan điểm trị nước của mình bằng 4 bài châm mà có lẽ muôn đời sau vẫn đúng. Đó là Kính thiên (kính trọng đất trời); Pháp tổ (học hỏi cha ông đi trước); Cần chính (Chăm lo việc nước) và Ái dân (thương yêu dân chúng)… Tuy nhiên hậu thế nhiều người đã không làm được. Triều đình nhà Nguyễn suy thoái, đớn hèn, dâng non sông cho đế quốc ngoại bang, mở ra thời kỳ nô lệ, thuộc địa lầm than suốt cả trăm năm sau…
"Nước ta mất bởi vì đâu?
Tôi xin kể hết mấy điều tệ nhânMột là vua sự dân chẳng biết,Hai là quan chẳng thiết gì dân.Ba là dân chỉ biết dân,Mặc quân với quốc, mặc thần với ai."
                    Phan Bội Châu (trích Hải Ngoại Huyết Thư)

Đó chính là lời của chí sĩ Phan Bội Châu đã viết trong “Hải ngoại huyết thư” để nói lên sự tình dân tộc khi rơi vào cảnh nước mất nhà tan…Cuối thời vua Tự Đức, hầu như tất cả các quốc gia châu Á phong kiến đều suy tàn và đứng trước nạn xâm lăng của tư bản phương Tây. Có nước kịp nhận ra tình thế, thấy sự yếu kém của mình, ra sức học hỏi, cương quyết canh tân thì vươn lên như Nhật Bản. Lại có nước khôn ngoan, mở rộng cửa bang giao, tạo thế cân bằng, tránh họa xâm lăng như Thái Lan…

Nước ta không có được lãnh đạo đất nước với tầm nhìn như thế. Vua thì nhu nhược, thiển cận, không quyết đoán, đình thần thì chỉ chăm việc văn chương, khéo nghề nghiên bút, bàn đến quốc sự thì bệ rạc, cải lương… Tuy vậy quốc gia dân tộc không thiếu hiền tài, thấy rõ sự trì trệ của đất nước, bảo thủ của nho giáo, tác hại của bế quan tỏa cảng, quay lưng với tiến bộ khoa học kỹ thuật… Nhiều người gửi sớ tấu lên triều đình những biện pháp cần thi hành gấp rút, canh tân đất nước từ kinh tế, kỹ thuật đến quân sự, ngoại giao, lối sinh hoạt… Nhưng tất cả bị bác bỏ do thói ngạo mạn của các đại thần trong Viện Cơ mật. 

Thậm chí những điều trần của bậc chí nhân như Nguyễn Trường Tộ còn bị vua Tự Đức phê rằng: "Những lời của tên Tộ thật khám phá sự tình. Nhưng y vốn không phải tộc loại với ta, vội vàng thi hành e chưa tiện…”. Kỳ thị tôn giáo, bài hại người ngoại quốc, hành hạ các bậc tôn trưởng… đã đẩy chia rẽ dân tộc ngày càng sâu sắc, đến nỗi sau này sử gia Trần Trọng Kim phải thốt lên rằng: Sức đã yếu không đủ giữ nước lại cứ làm điều ác… Thêm vào đó, đời sống nhân dân khổ sở, thiên tai, mất mùa, dịch bệnh, rồi đến đạo dụ 1861 cho phép mua quan, bán chức để thu tiền đã khiến cho xã hội càng bị đẩy đến quẫn cùng. Vàng bạc, đồ thờ trong cung điện cũng phải mang ra nấu để chi dùng… Quân đội yếu kém không được quan tâm xây dựng củng cố, tinh thần chủ hòa nhu nhược bao trùm đến mức Phan Bội Châu lên tiếng: Khi giặc đến người trong phản trước/ Đem của dân vạch chước hòa thân.

Khi dân chúng nổi lên đấu tranh thì bị đàn áp dã man, triều đình coi trọng “dẹp loạn” trong nước hơn chống ngoại xâm. Ngay cả các cuộc khởi nghĩa yêu nước chống giặc cùng bị ngăn chặn, đàn áp. Năm 1874, thực dân Pháp đem quân ra Bắc lần thứ nhất, chỉ trong vòng 20 ngày chúng đã hạ chiếm thành lũy 4 tỉnh Bắc Kỳ. Sau này một sử gia người Pháp đã viết: “Các hoàng đế An Nam phải chịu trách nhiệm về sự đổ vỡ và xuống dốc của đất nước họ. Dân xứ này, quan lại, binh lính xứ này xứng đáng có được những người cầm đầu có giá trị hơn thế. Chính quyền họ đã mù quáng vì không dự liệt, không chuẩn bị gì hết”.

Về mặt khách quan, chúng ta đã gặp một kẻ thù mạnh hơn bội phần, âm mưu xảo quyệt và quyết tâm cao hơn. Song việc để đất nước rơi vào tay ngoại bang không phải là một tất yếu lịch sử, một sự bất khả kháng và có thể biện minh. Bởi chính trong lúc can qua, binh biến này, lịch sử dân tộc đã càng xuất hiện nhiều anh hùng kiệt xuất với các cuộc khởi nghĩa liên tục để nhằm một mục tiêu duy nhất, độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ cho người Việt Nam.




Và hôm nay, thế hệ chúng ta phải soi lại bài học lịch sử rút ra những điều cốt yếu nhất, bằng mọi giá phải giữ được nước nhà độc lập tự chủ, dù có phải chiến đấu, hy sinh và đánh đổi rất nhiều điều. Như người anh hùng Phan Đình Phùng, khi bị giặc bắt dọa giết hết người thân, đào mồ quật mả tổ tiên, ông vẫn một lòng khẳng khái:


Rồi đến những lời gan góc, bất khuất của Hùm thiêng Yên thế Hoàng Hoa Thám, dù cuộc khởi nghĩa thất bại, nghĩa quân tiêu vong, và bản thân ông cũng sa cơ lỡ vận nhưng tinh thần của Đề Thám sẽ còn mãi với muôn đời.

“Tôi ở đất nước tôi, đất của tổ tiên tôi. Chúng tôi đây, những thần dân trung thành của nước Việt. Chúng tôi vô cùng thiết tha với phong tục trong nước, không bao giờ chịu dời bỏ phong tục đó, cho dù đứng trước cái chết, vì chúng tôi hoàn toàn tin tưởng vào Trời Đất, thần linh phù hộ cho chúng tôi làm tròn sứ mệnh”.

Hôm nay bè lũ phương Bắc lại trở mặt gây hấn, sự chẳng quá khó lường, bởi năm xưa Anh hùng Nguyễn Trãi từng nói:

…Tưởng chúng biết lẽ ăn năn nên đã thay lòng đổi dạ
Ngờ đâu vẫn đương mưu tính lại còn chuốc tội gây oan.
Giữ ý kiến một người, gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác
Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế gian.

Chúng ta muốn:

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy chí nhân để thay cường bạo.

Nhưng nếu cần sẽ lại:

Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc
Sĩ tốt kén người hùng hổ
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Đánh một trận, sạch không kình ngạc
Đánh hai trận tan tác chim muông.
Cơn gió to trút sạch lá khô
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ…

Để cho:

Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
Chẳng những mưu kế kì diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay
Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Càn khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
Muôn thuở nền thái bình vững chắc
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ…

Xin được cảm ơn, trân trọng những con người kiên trung đang ngày đêm bám biển, đấu tranh kiên quyết với kẻ thù bất chấp cả hy sinh.

Hoàng Trường

HUYỆT ĐẠO QUỐC GIA AM TIÊN TRÊN ĐỈNH NGÀN NƯA XỨ THANH

Kỳ bí huyệt đạo Quốc gia Am Tiên trên đỉnh ngàn Nưa xứ Thanh


     Văn hóa và tín ngưỡng Việt Nam chịu ảnh hưởng đạo Lão rất mạnh mẽ, không ít địa danh trên toàn quốc đã gắn với " tiên" và mang màu sắc huyền bí như chùa Tiên, đền Tiên, giếng Tiên, động Tiên, am Tiên, cồn Tiên, bãi Tiên. Có ba nơi là địa danh nổi tiếng: 
1. Động Am Tiên ở Hoa Lư tỉnh Ninh Bình.
2. Núi Am Tiên là hệ thống gồm 99 ngọn của dãy núi Hồng Lĩnh tỉnh Hà Tĩnh. 
3. Huyệt đạo Am Tiên tỉnh Thanh Hóa 
         Trong đó, huyệt đạo Am Tiên là quan trọng nhất trong ba huyệt đạo quốc gia ( huyệt đạo thứ hai là ở Đá Chông trên đỉnh Ba Vì; huyệt đạo thứ ba ở núi Bà Đen tỉnh Tây Ninh).
Huyệt đạo Am Tiên nằm trên đỉnh núi Nưa ( còn có tên là núi Na), ở độ cao 585m so với mặt biển, thuộc địa phận xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn tỉnh Thanh Hóa. Địa danh đã gắn liền với cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu năm 248 chống giặc Ngô xâm lược. Theo quốc lộ 47 nhằm hướng Tây đi từ thành phố Thanh Hóa khoảng 30 km, bạn đã có mặt ở chân núi Nưa, hoặc đi xe Bus số 17 xuống điểm đỗ ngã ba xã Tân Ninh... nhưng vẫn còn đường đi tắt khác ngắn hơn, chỉ khoảng 15 km. Từ thành phố Thanh Hóa đến ngã ba cầu Trầu khoảng 200m, rẽ trái vào xã Đông Yên và đi tiếp trên con đường liên xã. Hai bên đường là cánh đồng mạ xuân xanh non, ngút tầm mắt.
Trên đỉnh núi Nưa nên thơ và quyến rũ này, ngoài động Am Tiên, Giếng Tiên, Bàn cờ Tiên, Vườn Thuốc Tiên và Vườn Đào Tiên mà sử sách và truyền thuyết đã nhắc đến như một chốn tu tiên đắc đạo, còn có ngôi chùa cổ gọi là chùa Am Tiên (sách Đại nam nhất thống chí có chép về chùa này), đền chúa Thượng Ngàn (dân gian cho rằng đó là Bà Triệu hoá thân ) và miếu Tu Nưa, thờ vị đạo sĩ thời Trần – Hồ. Ngoài ra ở đây còn có cả một ban thờ lộ thiên thờ thần núi Tản Viên. Năm 2009 thắng cảnh này được nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
       Theo tín ngưỡng dân gian, huyệt đạo trên đỉnh núi Nưa là huyệt khí thiêng- là nơi giao hòa linh khí trời đất. Ngày mùng 9 tháng giêng là ngày mở cửa Trời, chính hội từ 15 tháng giêng đến 20 tháng giêng. Người dân các nơi hành hương về đây cầu cho quốc thái dân an, sức khỏe, hạnh phúc, công danh. Khách du lịch vẫn đến huyệt thiêng suốt các tháng trong năm.
       Bên cạnh các di tích trên, còn các địa danh có trong truyền kỳ: " Truyện người tiều phu núi Na" của Nguyễn Dữ thế kỷ XVI có liên quan đến chúa Hồ Hán Thương mà có lẽ người tiều phu ấy chính là kẻ sĩ đắc đạo; vết tích của ẩn sĩ Trần Tu hiệu Hoàng Mi tiên sinh đời Trần- gặp cuộc loạn đến tu trên đỉnh núi; vết tích nhà ở của Nguyễn Thượng Hiền dưới chân núi...Sự linh thiêng trên đỉnh Ngàn Nưa còn lưu truyền trong dân gian câu:
“Na Sơn nhất phiến, nhất hộ thiên hạ biến!”,.
tạm dịch: 
“Một tiếng hô ở núi Nưa chuyển cả thiên hạ!”.
Các ẩn sĩ có rất nhiều thơ phú, đều thuộc về loại văn chương lãng mạn của Đạo học, giàu tâm lý và nghệ thuật.
Bài thơ thứ nhất bày tỏ cái lý tưởng sống ngoài vòng lễ giáo phép tắc của nhân quần xã hội đã đặt ra để trói buộc con người, coi rẻ tất cả giá trị nhân văn, hoàn toàn buôn thả theo thiên nhiên, không lo nghĩ tính toán "được-mất-sống-chết". Bởi có cái tâm trạng vô tâm, quên mình vào thiên nhiên, không nghĩ việc đã qua, không mong việc sắp tới, không thắc mắc tính toán việc hiện tại nên: 


...Ngẫm lại cổ kim bao đời khanh tướng,
Rêu phủ bia tàn. 
Sao bằng ta: mặt trời đã cao ba thước, 
Giấc điệp hãy mơ màng
Đến hai bài sau (Thích ngủ và Thích cờ), đề trên vách am, thì bày tỏ hai phương diện mâu thuẫn biện chứng của thực tại Sống: "tĩnh" và "động". Thích ngủ, nghĩa là muốn yên ổn, thư thái tâm hồn, thích hợp với bản tính tự nhiên. Nhưng nhà xử sĩ Núi Na còn thích cờ nữa, vì thế sự chẳng khác chi cuộc cờ, biến hóa không thường như mây với gió. Đấy là phương diện động của thực tại. Theo đấy thì nhà xử sĩ trên có lý tưởng muốn thể hiện cả hai phương diện của một thực tại sống, cả "thể" lẫn "dụng", chứ không hẳn một mặt thiên lệch mà quên đời.... Là danh sơn kỳ thú nổi tiếng nên từ xưa núi Nưa đã trở thành nơi hò hẹn của các kẻ sĩ và tao nhân mặc khách. Nhiều người đã lấy núi Nưa làm đề tài sáng tác, ngâm vịnh, mà hiện nay vẫn còn những bài thơ về núi Nưa đặc sắc như: "Na Sơn ca"; "Bài ca thích ngủ" và "Bài ca thích cờ" của Nguyễn Dữ thế kỷ thứ XVI... v.v... 
     Cổng Nghinh môn được xây dựng từ thời Vua Tự Đức, đây là cổng đền có kiểu dáng kiến trúc giống cổng Nghinh môn các đền đài lăng tẩm ở Huế. Mặt trước mặt sau Nghinh môn trang trí những bức tranh sơn thuỷ đắp nổi, tô mầu cảnh núi sông đất nước, linh vật rồng phượng và hoa lá cúc dây hình triện.


    
Cổng tam quan ngôi đền Na Sơn ngay dưới khu chân núi Nưa-  trước và sau khi tôn tạo để vào mùa lễ hội xuân 2013.


 
Đường lên đỉnh huyệt đạo vô cùng cheo leo và hiểm trở.


Có những chỗ dốc cua tay áo như thế này, trập trùng…


Đây vốn là con đường mòn đi lấy củi của những người tiều phu xưa



 .... đầy lau lách trắng xóa giờ đây đang được mở rộng



  Đi trong sương mây mù mịt bằng xe chuyên dùng Uoat để biết cảm giác mạnh, xe luôn cài số 1.



 
Cũng có thể trải nghiệm xe đua như thế này cùng với bạn “ phượt”.


 Rất nhiều các cấp lãnh đạo của Đảng và nhà nước đã đến thăm, trồng cây lưu niệm và đặt đá ở đây.
Người ta đặt xung quanh chùa và cả con đường các cây cổ thụ quý và những phiến đá có hình thù đẹp mắt.


  Phía sau chùa Tiên có một ban thờ ngoài trời. Không thấy có biển đề tên, nhưng xem qua trang phục và thần thái pho tượng, thấy toát nên vẻ đạo cốt giống như một vị tiên của Đạo Lão, có người nói đây là tượng Sơn Thần ( thần núi).



 
   Giếng Tiên- nguồn nước mát trên đỉnh ngàn Nưa không bao giờ cạn. Ai lên đến huyệt đạo cũng muốn mang về một can nước lấy may, để thờ cúng và rửa mặt cho da dẻ thêm phần sáng sủa đẹp đẽ.


 
Sương mù đậm đặc, phủ trắng không gian. Từ rất sớm khách hành hương đã có mặt ở cổng nơi dẫn tới huyệt đạo 
Hai bên đường đi là vườn đào, sắc đào làm ấm hồng một khoảng không trắng bạc.


Lối vào là một con đường nhỏ mờ sương, hai bên rào bằng nứa tép rất thơ mộng


Cổng vào của huyệt đạo


Toàn cảnh huyệt đạo...


...là một khoảng đất rộng được rào nứa xung quanh , chừa ra một lối vào nhỏ.


Khí trời thật thoáng đãng tạo cảm giác vô cùng sảng khoái.


Toàn cảnh huyệt đạo giữa đỉnh ngàn Nưa.



Sau khi thắp hương, khách hành hương đứng giữa trời đất vái 4 phương, họ ngồi xuống đặt tay lên 3 phiến đá xếp giữa huyệt đạo, nhắm mắt lại và lầm rầm cầu xin. Được biết, họ làm như vậy với mong muốn được tiếp thêm một chút năng lượng, sinh khí từ trời đất vào cơ thể




...hoặc đặt bàn tay vào phiến đá giữa huyệt đạo với mong muốn được truyền năng lượng từ trời đất.
 

  
 Một điều kỳ diệu và vô cùng kỳ lạ là : Đứng trong giới hạn của huyệt đạo, thả lỏng cơ thể , nhắm mắt lại thì sẽ thấy một toàn bộ là một màu đỏ lựng bao trùm, màu đỏ ấy tiếp tục đỏ rực lên và chuyển dần sang màu vàng rồi màu xanh nhạt và sau nữa là màu trắng với các hạt bụi li ti lơ lửng…



 Nhưng chỉ cần bước chân ra khỏi vòng rào giới hạn huyệt đạo, nhắm mắt lại thì mọi cái trở nên bình thường, không có gì xảy ra cả. Nếu không tự mình trực tiếp trải nghiệm bằng tâm thức thì khó lòng mà tin được.



 * Mời các bạn xem bản đồ đường đi đến Huyệt đạo



. Mời các bạn xem đường (bấm xem) Video về huyệt đạo: 


INTERNET