Showing posts with label dân oan dương nội. Show all posts
Showing posts with label dân oan dương nội. Show all posts

Wednesday, April 29, 2015

DÂN TỘC - ĐỘC LẬP DÂN TỘC!

Là một người con của dân tộc Việt Nam, sinh ra và lớn lên trong cái nôi của một dân tộc anh hùng có truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất trước các thế lực ngoại xâm, dũng cảm, cần lao trong lao động, cải tạo, chống thiên tai. Tôi không bao giờ dám đòi hỏi ở một cá nhân, một tổ chức, một dân tộc nào khác trên thế giới thấu hiểu hơn bản thân tôi, nhân dân tôi về những gì mà chính tổ tiên, ông cha cùng bao lớp lớp các thế hệ người Việt trên quê hương tôi đã sống, lao động và chiến đấu như thế nào. 





Sự lựa chọn của tạo hóa đã đặt dân tộc Việt Nam nhỏ bé vào một tiến trình vận động lịch sử đầy cam go, thử thách với những giai đoạn, thời kỳ lịch sử mà sự sinh tồn rơi vào tình thế gang tấc của ranh giới sinh tử, để rồi với ý chí, lòng dũng cảm quật cường, sự mưu trí dân tộc đã lần lượt vượt qua những trở ngại ấy và tiến lên một trình độ phát triển cao hơn, xác lập được vị thế vững chắc trên bản đồ thế giới. Tuy vậy, với vị trí địa lý có dải đất hình chữ S mỏng manh, kéo dài với ¾ là diện tích núi đồi, cùng với hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, đường bờ biển dài 3260 km, trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa châu Á, cộng với một vùng biển Đông tiếp giáp luôn luôn là cái nôi phát xuất của những cơn bão biển có cường độ và tần suất hoạt động vô cùng dày đặc và dữ dội. Chính những điều ấy, sự ưu đãi của thiên nhiên cùng với những khó khăn phải đối mặt thường xuyên với ngoại xâm và thiên tai đã không ngừng vun đắp, ươm mầm và nuôi dưỡng bao tâm hồn, khí phách thanh cao của các thế hệ người Việt, làm nên một nền văn hóa bản sắc, đa dạng, thống nhất mang đậm tính nhân văn, hướng nội. Với sức mạnh và vẻ đẹp của truyền thống dân tộc qua hàng mấy ngàn năm lịch sử, cùng những tác động của tình hình thế giới hiện nay đặt ra yêu cầu nhiệm vụ cho sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc là vô cùng quan trọng và bức thiết, liên quan đến sự sống còn của một dân tộc.

Sự hình thành và phát triển của dân tộc do các điều kiện khách quan và chủ quan quy định đã tạo nên một nét điển hình, đặc trưng, trở thành thuộc tính đó là quá trình xây dựng luôn gắn liền với bảo vệ.

Lịch sử dân tộc trong tiến trình đi lên vận động không ngừng ấy, đã để lại cho chúng ta nhiều bài học bổ ích đắt giá, bài học xương máu về xây dựng và bảo vệ nền độc lập. Không phải tổ tiên, cha ông và bao lớp người Việt đã vô cớ hay mơ hồ về những giá trị của tạo hóa, nhân sinh ban tặng để rồi họ phải từ bỏ sự sống lao vào chiến đấu quên mình đặng duy trì mạch chảy linh thiêng của dòng máu Việt, tâm hồn Việt hay cần lao trên những cánh đồng sỏi cát để làm giàu đẹp cho quê hương, dân tộc. Tất cả sự hy sinh ấy đều có cội nguồn của truyền thống và sự nhận thức thấu triệt về giá trị nhân sinh, nhân văn, vị tha, bao dung, nhân đạo, chủ nghĩa anh hùng cao đẹp. Lịch sử thế giới cũng đã chứng kiến những dân tộc bị mất tổ quốc, con người của những dân tộc ấy không có mảnh đất, không có tổ quốc để dung thân, phải phiêu bạt khắp thế giới để rồi luôn mặc cảm, tự ti và trống rỗng nơi tận cùng của tâm hồn, điển hình là người Do Thái ở Itxaren- một thời họ bị coi là người không có tổ quốc. Do đó họ đã quyết tâm xác lập, xây dựng cho mình một vùng lãnh thổ như ngày hôm nay. Lịch sử của các dân tộc nhỏ bé ở Trung Hoa cổ đại và phong kiến cũng vậy, khi cố hương, cố quốc đã mất dường như con người của những dân tộc, đất nước ấy trở nên cô quạnh, trống trải, u sầu, hoài niệm và luôn luôn tìm mọi cách để phục quốc.

Vì những lẽ ấy, với mỗi con người thì tổ quốc, dân tộc là nơi để họ gửi gắm tất cả cuộc sống, sinh mệnh, tình yêu, là cái nôi để tâm hồn và thể xác bám trụ, là nơi để mỗi cá nhân khẳng định giá trị bản thân, để được làm người đúng nghĩa và đầy đủ nhất ( gia đình, dòng tộc, quê hương, bằng hữu, tiếng nói mẹ đẻ, phong tục tập quán, các giá trị vật chất, tinh thần nuôi dưỡng con người từ ấu thơ đến trưởng thành và ngay cả khi đã trở về cõi vĩnh hằng). Chẳng vậy mà dân tộc, tổ quốc, đất nước được ví như người Mẹ, cũng là cái nôi, là cội nguồn cảm hứng bất tận của tâm hồn văn nghệ sĩ nói riêng, thi ca nói chung, là tiếng gọi thiêng liêng mỗi khi vận mệnh dân tộc, tổ quốc rơi vào lâm nguy, là động lực thôi thúc ý thức mỗi con người luôn ra sức bảo vệ đến cùng, và là niềm tự hào trước mỗi chiến thắng, trước những thành tích trên đấu trường quốc tế.

Đối với Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh, thấu hiểu nỗi nhục mất nước, mất độc lập, cảm thông với đồng bào, dân tộc đang bị kẻ thù xâm lược đàn áp tàn bạo Người đã quyết tâm đi tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Cùng chí hướng và lòng yêu nước, tinh thần dân tộc mà tất cả người Việt Nam đã không ngần ngại theo tiếng gọi non sông gác lại những niềm vui, lợi ích cá nhân, gia đình lên đường giết giặc, để rồi hơn 2 triệu người phải hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, hàng triệu người bị thương tật. Ở nước Nga, trước họa diệt chủng của Đức Quốc Xã, các dân tộc ở Nga đã vùng lên chiến đấu oanh liệt, xả thân vì tổ quốc, vì dân tộc để rồi có đến vài chục triệu người đã vĩnh viễn không trở lại.

Dân tộc là vậy, tổ quốc là vậy. Và có lẽ, trên thế giới này chỉ có dân tộc Việt Nam, cùng với các dân tộc ở Liên Bang Nga là hai quốc gia dân tộc “tiên phong, điển hình của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời đại mới” (TG). 

Giá trị của độc lập dân tộc nảy sinh từ trong lòng dân tộc, độc lập dân tộc là yêu cầu tất yếu, tự nhiên, khách quan, không riêng gì một dân tộc nào và nó càng trở thành hệ giá trị bất di bất dịch, hệ giá trị tối thượng, tiên quyết cho những dân tộc có ý thức về bản thân, ý thức về tinh thần tự tôn, và là lẽ sống tự nhiên, về các quyền mà tạo hóa ban cho như: tự do, bình đẳng, độc lập, tự quyết. Vì vậy Hồ Chí Minh nói: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” một câu nói trở thành chân lý của các dân tộc, phản ánh một khát vọng, lẽ sống và quyền sống, quyền tự quyết của mỗi dân tộc trong thời đại mới.

Trong mọi hoàn cảnh, mọi thời kỳ thì vấn đề dân tộc, độc lập dân tộc luôn là vấn đề được các nhà nước, các triều đại phong kiến cho đến các nhà nước hiện đại quan tâm, xây dựng và ban hành nhiều chính sách cũng như tập trung mọi nguồn lực ra sức bảo vệ độc lập bằng mọi giá. Chủ Tịch Hồ Chí Minh từng kêu gọi đồng bào ta: “ thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” và “dù phải đốt cháy cả dãy Trường sơn cũng phải giành cho được độc lập, giải phóng miền nam, thống nhất nước nhà”.

*****
Hiện nay, loài người đã bước sang nền văn minh hậu công nghiệp, nhiều thành tựu và những giá trị to lớn mà loài người đã tạo ra trong lịch sử không ngừng được vun đắp, kế thừa, phát triển. Các dân tộc trên thế giới đều có khát vọng hòa bình, hợp tác, phát triển. Tuy nhiên chủ nghĩa tư bản, cùng các thế lực phản động, hiếu chiến không ngừng ra sức chống phá cách mạng, phá vỡ, triệt tiêu nền độc lập của các dân tộc thông qua các chính sách, thủ đoạn chia rẽ và lợi dụng vấn đề dân tộc, sắc tộc, chủng tộc và tôn giáo, tự do, nhân quyền...hòng can thiệp vào các nước, đòi thống trị các dân tộc trên thế giới.

Để đảm bảo cho sự sinh tồn của một dân tộc nói chung trên thế giới và ở Việt nam, một dân tộc có bề dày truyền thống, tinh thần đoàn kết, cố kết, thống nhất một lòng cùng chung tay xây dựng độc lập, hòa bình, tự do và phát triển trước những tác động có nguy cơ ảnh hưởng đến sự vững chắc của nền độc lập thì sự nghiệp bảo vệ càng có ý nghĩa quan trọng và cấp bách hơn bao giờ hết.

Kế thừa truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất của dân tộc, phát huy những giá trị cốt lõi làm nên một dân tộc anh hùng trong lao động, sản xuất, chiến đấu thế hệ người Việt Nam hôm nay đang ra sức thực hiện công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa sớm đưa đất nước trở thành nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020.

Hoàng Trung

Monday, February 23, 2015

ĐI LÍNH ....

Nhân chuyện thế sự nóng bỏng, nhiều người mong mỏi viết đơn, hăng hái sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ khi Tổ quốc cần, thậm chí xác định cả hy sinh xương máu và cuộc đời... Nhưng cũng không ít kẻ hoang mang, lo sợ tích trữ vàng bạc, ngân lượng để chuẩn bị cho một cuộc tháo chạy, hay có khi né trốn khỏi nghĩa vụ với Đất nước, dân tộc khi sơn hà xã tắc lâm nguy...





Mình ngồi đọc lại “Hịch tướng sĩ” mà càng thấm vì sao trên nhiều đảo của Trường Sa đều có xây đặt tượng đài Quốc công tiết chế, Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Ngót 800 năm trước, năm 1284, đế chế hùng mạnh nhất thế giới khua vó ngựa hòng thôn tính nước Nam, tướng quân Trần Hưng Đạo đã viết bài hịch kêu gọi binh lính bất hủ:

“... Huống chi, ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Lén nhìn sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình; đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ. Ỷ mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để phụng sự lòng tham khôn cùng; khoác hiệu Vân Nam Vương mà hạch bạc vàng, để vét kiệt của kho có hạn. Thật khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau. Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm.

... Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo; thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức; nghe nhạc thái thường đãi yến sứ ngụy mà không biết căm. Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích. Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung phụng gia đình; có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước; có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm. Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lược nhà binh. Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng; vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc. Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc; chó săn tuy hay không đuổi được quân thù. Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết; giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai. Lúc bấy giờ chúa tôi nhà ta đều bị bắt, đau xót biết chừng nào!

Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng thuộc về tay kẻ khác; chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị kẻ khác giày xéo mà phần mộ cha ông các ngươi cũng bị kẻ khác bới đào; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến trăm năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi thỏa thích, phỏng có được chăng?

Nay ta bảo thật các ngươi: nên lấy việc đặt mồi lửa dưới đống củi nỏ làm nguy; nên lấy điều kiềng canh nóng mà thổi rau nguội làm sợ. Phải huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho ai nấy đều giỏi như Bàng Mông, mọi người đều tài như Hậu Nghệ, có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt dưới cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhaị Như thế chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền mà bổng lộc các ngươi cũng suốt đời tận hưởng; chẳng những gia thuộc ta được ấm êm giường nệm, mà vợ con các ngươi cũng trăm tuổi sum vầy; chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu mà tổ tiên các ngươi cũng được bốn mùa thờ cúng; chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí, mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm; chẳng những thụy hiệu ta không hề mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu truyền. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui chơi, phỏng có được không?...”. (Trần Quốc Tuấn).

Nhìn lại thời phong kiến, có lúc có khi việc đăng lính kém cỏi, người thì thuê mướn kẻ nghèo khó đi thay cho mình. Người thì tiếng đi lính nhưng quan bán phòng cho, lấy ít tiền mà cho ở nhà, chỉ khi ứng điểm mới phải ra. Mà đến lúc điểm quân lại buồn nữa, binh lính phân nửa là kẻ bủng beo gầy yếu, gươm giáo thì hoen rỉ, súng bắn chẳng nên, bao điều hủ bại...

Nay nhờ Nhà nước bảo hộ, chỉnh đốn lại ngạch binh, nhờ cách trang bị, luyện tập cũng cường tráng hơn xưa bội phần. Nhưng còn một điều là ta chưa mấy người hiểu được đi lính là một nghĩa vụ rất lớn của con người và là trách nhiệm chung với xã hội. Gọi lính ở làng nào, xã nào, phường nào... người ta đều có ý đùn đẩy, tị nạnh nhau, vẫn tỏ ra sợ hãi phải đi xông pha nơi này nơi khác. Trừ ra mấy người nghèo khó, còn những nhà khấm khá, không mấy khi chịu ra lính. Chính điều ấy làm dân khí nhút nhát, gây ra sự hèn yếu.

Xem như ở nhiều nước phát triển, bất cứ hạng người nào, ai ai cũng phải đăng một khóa lính mà những khi có việc chiến tranh thì nhân dân lại vui lòng mà tranh nhau ra ứng mộ. Thế có phải là người ta trọng nghĩa vụ mà lại càng làm cho nước được cường thịnh, vẻ vang hay không !

Binh lính là người giữ cuộc an bình cho đất nước và cũng là một phần người làm cho danh giá quốc gia với hoàn cầu, thì họ chính là người nên trọng. Trừ nhà nước đã có cách hậu đãi, còn về trong dân, mọi người cũng nên đem lòng hảo tâm, hữu ái mà đối xử với người đi lính để người ta nức lòng mà mong ra. Mà người đi lính cũng nên lấy việc đó làm vẻ vang chứ đừng cho là một việc khổ sở. Như vậy thì lòng người mới phấn chấn, quốc gia mới cường thịnh được.

Hoàng Trường

Saturday, January 10, 2015

SỨC SỐNG TRONG LÒNG DÂN

Ngày anh Nguyễn Bá Thanh về nước, hàng nghìn người dân Đà Nẵng đã ra đón, dù chỉ để mong có thể ít nhiều nhìn thấy anh. Dư luận cả nước cũng từng giờ ngóng chờ và cầu mong A khỏi bệnh để tiếp tục cống hiến.



Nhiều người đã nói "Chúng tôi ra đây để được thể hiện tình cảm với Bá Thanh, mong tiếp thêm sức mạnh cho bác ấy chống chọi với bệnh tật".

Dù có như thế nào, Anh đã luôn sống trong lòng dân, vì Anh cùng các đồng chí đồng sự của mình đã tạo ra cuộc sống mới cho nhân dân, cả đời sống vật chất cũng như những giá trị văn hoá tinh thần.

Chiều tối 8/1, trời mưa lạnh buốt, lang thang vào quán bánh xèo đặc sản quê Anh ở cổng Tỉnh uỷ Thái Nguyên, ngồi mở máy tranh thủ lướt tin tức thì một bác nữ tầm trung niên co ro đến ngồi gần cùng xem, vẻ ngậm ngùi lắm... Hỏi ra mới biết bác ấy là người Đà Nẵng, ra thăm con gái lấy chồng Thái Nguyên, vẫn hàng ngày ngóng tình hình sức khoẻ và lịch trình về nước của người con quê hương.

Nghẹn lời trong nước mắt, bác ấy nói: "dân Đà Nẵng chúng tôi mang ơn Bá Thanh nhiều lắm, nhất là người nghèo...".

Từng đến và ở Đà Nẵng, tôi cũng khá tường tận về những việc làm "không giống ai" của Anh, những việc không hẳn đã được lòng tất cả mọi người, nhưng được đại đa số nhân dân và những đồng chí đồng nghiệp chân chính ủng hộ.

Nhiều lái xe taxi, xe ôm, rất lịch sự với khách nhưng khi được hỏi chuyện đã nói: "lên xe, nếu ai nói xấu Bá Thanh là tôi mời xuống ngay".

Đánh giá, nhận xét của xã hội thì vô cùng. Nhưng khi dân đã thờ ai, tin ai thì không nhầm bao giờ.

Với Nguyễn Bá Thanh, một người dám nghĩ dám làm, làm được và nói được, tâm đắc rất nhiều về những điều Anh nói.

Trong đó có câu "cán bộ chúng ta phải học để biết xấu hổ".

Xấu hổ cho mình, dù không đớn hèn nhưng vẫn còn quá nhạt nhoà. Xấu hổ thay cho nhiều người, vẫn đang đắm chìm trong những tầm thường, ti tiện.

Nhưng tin rằng, vẫn còn nhiều lắm những Nguyễn Bá Thanh, và hơn thế nữa, với sức sống từ nhân dân, trong lòng dân!

Mạnh Hùng

Friday, January 9, 2015

CHUYỆN ANH "DÂN CHỦ" VÀ CHỊ "DÂN OAN"

Trong một chiến dịch vận động dân oan khiếu kiện chính quyền "cướp" đất của dân, các nhà "hoạt động dân chủ" đã thành công trong việc rêu rao rằng đất canh tác của bà con chỉ được đền bù "bằng giá mớ rau". Quá bức xúc, "dân oan" kéo lên Hà Nội tụ tập, biểu tình nhiều lần bất chấp chính quyền khẳng định chưa hoàn thành thủ tục đền bù, chưa xác định được giá trị đền bù đất bị giải tỏa...


Trong cuộc đấu tranh đó, phát sinh mối tình lãng mạn giữa một anh "dân chủ" chừng ngoại lục tuần dù vẫn có vợ con đàng hoàng và một chị "dân oan" ngoài ngũ tuần goá bụa. Anh Dân chủ thường xuyên động viên, tặng quà gia đình chị Dân oan, ngược lại mỗi khi anh Dân chủ về làng sát cánh cùng bà con để đấu trang đều được chị Dân oan làm cơm khoản đãi, thi thoảng ngủ lại cho đỡ phải về khuya vất vả...

Thế rồi ngày Nhà nước công bố giá trị đền bù cho mỗi hộ gia đình cũng đến. Thằng con trai lớn của chị Dân oan ra xã nhận quyết định mới té ngửa vì số tiền được đền bù là hơn 1 tỷ đồng, khác xa so với những gì các nhà hoạt động dân chủ rêu rao. Lo lắng cho sức khoẻ của mẹ có tiền sử bệnh tim, nếu nghe tin được đền bù nhiều thế có thể ngồi máu mà chết nên cậu này điện thoại nhờ anh Dân chủ đến để báo tin cho chị Dân oan một cách khéo léo. Anh Dân oan liền đồng ý, đến nhà tỉ tê tâm sự với chị Dân oan:

- Em này, nếu nhà em được đền bù 10 triệu thì em làm gì?

- Không được, ít thế thì em sẽ ko lấy, em kiện đến cùng...

- Thế nếu được đền bù 100 triệu thì em làm gì?

- 100 triệu vẫn ít em phải đòi thêm...

- Nếu được 200 triệu thì em làm gì?

- Ừ, 200 triệu nghe còn được, em sẽ xây sửa lại cái nhà này, mua cho thằng lớn cái xe máy mới, mua sắm đồ đạc...

- Nếu được 500 triệu thì em làm gì?

- 500 triệu cơ á? Được nhiều thế thì tốt quá, xây sửa nhà cửa, mua sắm xong còn dư đôi trăm thì em gửi tiết kiệm dưỡng già...

- Thế nếu được 1 tỷ thì em làm gì?

Chị Dân oan đã quá sốt ruột vì anh Dân chủ cứ nói chuyện vòng vo mà không chịu "tâm sự" như mọi hôm. Chị nhoẻn cười quàng tay ôm cổ anh Dân chủ thì thào:

- Thì em chia cho anh 1/2, anh yêu ạ!

Ặc...ặc... Anh Dân chủ lăn đùng ra chết vì...vỡ tim.

Xứ Huế